Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống lúa mới trong vụ mùa năm 2017 tại thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống lúa mới trong vụ mùa năm 2017 tại thành phố Hòa Bình tỉnh Hòa Bình luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1TẠ NGỌC DOANH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA MỚI TRONG VỤ MÙA NĂM 2017 TẠI THÀNH PHỐ
Trang 2TẠ NGỌC DOANH
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA MỚI TRONG VỤ MÙA NĂM 2017 TẠI THÀNH PHỐ
HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Lân
Thái Nguyên – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hòa Bình, ngày 15 tháng 08 năm 2018
Tác giả luận văn
Tạ Ngọc Doanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của cơ sở đào tạo và nơi thực hiện đề tài nghiên cứu, của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp này, Tôi xin được gửi lời cảm ơn trân thành tới PGS.TS Nguyễn
Thị Lân - Giảng viên khoa Nông Học - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
giảng viên hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong quá trình làm thí nghiệm và hoàn thành luận văn này
Xin được cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện, chia sẻ công việc và động viên tôi hoàn thành khoá học
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu trên
Tác giả luận văn
Tạ Ngọc Doanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam 5
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 5
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 8
1.3 Tình hình nghiên cứu về giống lúa trên thế giới và ở Việt nam 12
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về giống lúa trên thế giới 12
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về giống lúa tại Việt Nam 17
1.3.3 Tổng quan nghiên cứu về giống lúa chất lượng cao và giống lúa đặc sản 22
1.4 Tình hình sản xuất và sử dụng giống lúa ở tỉnh Hòa Bình 25
1.4.1 Tình hình sản xuất lúa của tỉnh Hòa Bình 25
1.4.2 Thực trạng sử dụng các giống lúa tại Hòa Bình 26
1.4.3.Tình hình sâu bệnh hại lúa tại Hòa Bình 27
1.5 Giới thiệu các giống lúa thí nghiệm 28
Trang 61.6 Kết luận rút ra từ phần tổng quan tài liệu 32
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 34
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.5 Phương pháp nghiên cứu 34
2.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 34
2.5.2.Điều kiện thí nghiệm 35
2.5.3.Quy trình kỹ thuật 35
2.5.4.Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 36
2.5.5 Phương pháp xử lý số liệu 41
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Khả năng sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hoà Bình 42
3.1.1 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 42
3.1.2 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 44
3.1.3 Động thái ra lá của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 46
3.1.4 Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 49
3.1.5 Khả năng đẻ nhánh của giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 53
3.2 Một số đặc điểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 55
Trang 73.3 Tình hình sâu, bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại
thành phố Hòa Bình 59
3.4 Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 59
3.4.1 Yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 60
3.4.2 Năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 63
3.4.3 Một số chỉ tiêu chất lượng của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hoà Bình 65
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70
1 Kết luận 70
2 Đề nghị 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 8FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (Food and
Agriculture Organization of the United Nations)
NSLT Năng suất lý thuyết
NSTT Năng suất thực thu
P Xác xuất (Probability)
STT Số thứ tự
TGST Thời gian sinh trưởng
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên Thế giới giai đoạn
2010 - 2016 6
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất lúa gạo của 5 nước sản xuất lúa gạo lớn nhất trên thế giới năm 2016 6
Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2016 10
Bảng 1.4 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2012 - 2017 25
Bảng 1.5: Tình hình sâu, bệnh hại lúa ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011 - 2016 27
Bảng 2.1: Lí lịch các giống lúa nghiên cứu 33
Bảng 2.2: Các công thức thí nghiệm 35
Bảng 3.1: Thời gian sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 42
Bảng 3.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 44
Bảng3.3 Động thái ra lá của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 47
Bảng 3.4: Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 50
Bảng 3.5: Khả năng đẻ nhánh và tỷ lệ nhánh hữu hiệu của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 53
Bảng 3.6: Chiều cao cây, số lá/thân chính, chiều dài bông và góc lá của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 55
Bảng 3.7: Một số đặc điểm nông sinh học của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 57
Trang 10Bảng 3.8: Tình hình sâu, bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa
2017 tại thành phố Hòa Bình 59 Bảng 3.9: Số bông/ m2 và khối lượng 1000 hạt của giống các giống lúa
thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 60 Bảng 3.10: Số hạt/ bông, số hạt chắc/ bông và tỷ lệ hạt chắc của các giống
lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 62 Bảng 3.11: Năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại
thành phố Hòa Bình 63 Bảng 3.12: Chất lượng thóc, gạo của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa
2017 tại thành phố Hòa Bình 66 Bảng 3.13: Kết quả đánh giá chất lượng cơm của các giống lúa thí
nghiệm vụ Mùa 2017 tại thành phố Hòa Bình 68
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Động thái ra lá của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại xã
Hòa Bình 48 Hình 3.2 Động thái ra lá của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại xã
Yên Mông 48 Hình 3.3: Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại
xã Hòa Bình 51 Hình 3.4: Động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ Mùa 2017 tại
xã Yên Mông 52 Hình 3.5: Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2017 tại
thành phố Hòa Bình 64
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativaL) là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới,
xếp thứ hai sau cây lúa mỳ về diện tích gieo trồng và sản lượng Khoảng 40% dân số thế giới coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, 25% sử dụng lúa gạo trên 2/1 khẩu phần lương thực hàng ngày, ở các nước nhiệt đới Châu Á: Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia, Philippin có hơn 80% dân số sống bằng nghề trồng lúa (Hiệp hội lương thực, 2016) [27]
Đối với Việt Nam cây lúa có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu an ninh lương thực đối với Quốc gia Cùng với sự lao động sáng tạo áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, đặc biệt công tác về giống các giống lúa năng suất cao được đưa vào áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã đưa sản lượng lương thực của Việt Nam ngày càng tăng cao Theo thống kê của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn: năm 2016 diện tích trồng lúa cả nước đạt 7,75 triệu ha, sản lượng đạt 43,6 tiệu tấn, xuất khẩu gạo ra nước ngoài đạt 4,89 triệu tấn, hiện nay Việt Nam tiếp tục duy trì là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới sau Thái Lan (Hiệp hội lương thực, 2016) [27]
Tuy ngành sản xuất lúa gạo đã có những bước tiến rõ rệt, nhưng Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là sức ép cạnh tranh ngày một gia tăng của quá trình hội nhập quốc tế Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo của Việt Nam thường thấp hơn giá gạo của các nước trong khu vực và thế giới, nguyên nhân
là do chất lượng gạo của Việt Nam còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu (Nguyễn Trọng Khanh, 2013) [12]
Tỉnh Hòa Bình có tổng diện tích gieo cấy lúa 77,9 nghìn ha (Cục thống kê
tỉnh Hòa Bình, 2016) [3] Trong đó, diện tích lúa nước của tỉnh là 41,8 nghìn ha, năng suất 51,89 tạ/ha, sản lượng 123,81 nghìn tấn Cơ cấu giống lúa đa dạng để phù hợp với điều kiện tự nhiên, các giống chủ yếu như: Lúa thơm LT2, BC 15 TBR-1, CR03, Nếp 87, IR64, Bắc thơm số 7, VS1, Nhị Ưu 838, Nhị Ưu 63…[3;1] Ngày 17/5/2011 Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình đã ban hành quyết định số 890/QĐ-
Trang 13UBND về việc phê duyệt Quy hoạch vùng an ninh lương thực tỉnh Hoà Bình đến năm 2020 Diện tích gieo trồng cây lương thực cả tỉnh là 114.000 ha, trong đó: Diện tích lúa 40.000 ha; ngô: 37.000 ha; cây lương thực khác: 37.000 ha Định hướng của tỉnh: phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao đời sống nhân dân và từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ (nguồn: Congbaohoabinh) [27]
Thành phố Hòa Bình là trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa Diện tích đất trồng lúa 1.041,2 ha, năng suất lúa cả năm 53,75 tạ/ha, trong đó diện tích lúa đông xuân 530,2 ha, năng suất trung bình đạt 59,1 tạ/ha; diện tích vụ mùa 511 ha, năng suất trung bình đạt 48,2 tạ/ha (Nguồn: Cục thống kê thành phố Hòa Bình năm 2016) [3] Vụ mùa tại Hòa Bình do điều kiện khí hậu gặp nhiều bất thuận như: mưa bão, lũ ống, lũ quét, sâu bệnh hại ảnh hưởng trực tiếp đến việc canh tác lúa của nông dân Nhận thức rõ tầm quan trọng về sản xuất nông nghiệp của Thành phố, trong nhiều năm qua sản xuất lúa của thành phố Hòa Bình đã có những bước thay đổi quan trọng Các biện pháp sử dụng giống mới có chất lượng, ứng dụng kỹ thuật canh tác hiện đại áp dụng vào trong sản xuất lúa, nhiều bộ giống lúa mới xuất hiện trên thị trường có thể đáp ứng được nhu cầu về giống cho người dân, tuy nhiên chưa có nghiên cứu cụ thể nào về các giống lúa có năng suất, chất lượng phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai tại thành phố Hòa Bình đặc biệt là lựa chọn giống lúa cho vụ lúa mùa, người dân không nắm rõ đặc tính và yêu cầu kỹ thuật của từng giống để điều chỉnh cho phù hợp Xuất phát từ thực tiễn trên tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống lúa mới trong
vụ mùa năm 2017 tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xác định được 1-2 giống lúa có khả năng sinh trưởng, chống chịu tốt, năng suất và chất lượng cao, thích hợp với điều kiện sinh thái trong vụ mùa để giới thiệu cho sản xuất tại thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm
Trang 14- Đánh giá được mức độ nhiễm sâu, bệnh hại và khả năng chống đổ của một
số giống lúa thí nghiệm
- Đánh giá được năng suất và chất lượng của các giống lúa thí nghiệm
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về thời gian sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng, mức nhiễm sâu bệnh hại của các giống lúa mới có triển vọng
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho việc đề xuất chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng theo định hướng của thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nâng cao nhận thức của người dân địa phương đối với việc ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật mới trong sản xuất nông nghiệp tạo nên hiệu quả sản xuất cao
Đề tài thành công sẽ lựa chọn được từ 1-2 dòng, giống lúa mới bổ sung thêm vào cơ cấu giống trong vụ mùa, các giống này phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện sinh thái và điều kiện canh tác của người dân Góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật do phòng trừ sâu bệnh hại
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng của khoảng 3,5 tỷ người trên thế giới Trong khi dân số thế giới tiếp tục tăng thì diện tích đất dùng cho trồng lúa không tăng Do đó vấn đề lương thực đặt ra mối đe dọa đến sự an ninh và ổn định của thế giới và tương lai Đối với Việt Nam, lúa gạo chiếm tới 90% sản lượng lương thực và ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của 70% dân số ở nông thôn
“Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa” đó là câu nói mà ông cha ta đã đúc rút để
khẳng định vai trò quan trọng của giống cây trồng Đặc tính của giống, yếu tố môi
trường và kỹ thuật canh tác quyết định đến năng suất, chất lượng cây trồng Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường Những giống được so sánh qua một loạt môi trường khác nhau thì biểu hiện cho năng suất thường khác nhau Vì vậy, tính ổn định và thích nghi của giống với môi trường
thường được sử dụng để đánh giá giống
Giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng trong sản xuất chưa bao giờ đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất, hầu hết các nước trên thế giới đều nghiên cứu giống Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research Institute (IRRI) đã
có chương trình nghiên cứu lâu dài về lúa, các vấn đề về chọn tạo giống nhằm đưa
ra những giống có đặc trưng chính như thời gian sinh trưởng, năng suất, tính chống chịu sâu, bệnh hại, chất lượng gạo, tính mẫn cảm với quang chu kỳ, thích hợp nhất
với những vùng trồng lúa khác nhau …
Giống lúa mới được coi là tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ yếu tố
di truyền của giống đó, chống chịu tốt với các điều kiện bất thuận của từng vùng khí hậu đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh hại tốt, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ Muốn phát huy hết tiềm năng của một giống tốt phải sử dụng chúng một cách hợp lý, phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu, kinh tế
xã hội vùng đó
Trang 16Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái mỗi vùng khác nhau Do đó việc xác định được một giống tốt cho một vùng sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi phải có thời gian Bởi vậy việc xác định tính thích nghi của một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên diện rộng thì giống đó phải được trồng ở những vùng sinh thái khác nhau Mục đích là để đánh giá tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định, khả năng thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh hại, khả năng thích ứng với các điều kiện bất thuận, khả năng cho năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó
Giống là tiền đề của năng suất và phẩm chất Một giống lúa tốt cần thỏa mãn một số yêu cầu sau:
- Sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu, đất đai và điều kiện canh tác của địa phương
- Cho năng suất cao và ổn định qua các năm khác nhau trong biến động của thời tiết
- Có tính chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận
- Có chất lượng đáp ứng được yêu cầu sử dụng
Tất cả các giống lúa (trong đó có lúa lai) trước khi đưa ra khuyến cáo sản xuất đại trà cần phải qua khảo nghiệm khu vực hóa
1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Trong vài thập kỉ gần đây, tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới đã có sự chuyển biến rõ rệt So với những năm 70 diện tích trồng lúa là 134,390 triệu ha, sản lượng đạt 308,767 triệu tấn thì đến năm 1992 diện tích trồng lúa trên 148 triệu ha chiếm hơn 10% diện tích canh tác toàn thế giới, cho sản lượng 520 triệu tấn
Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa trên thế giới có nhiều biến động và có
xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ở mức 153,51 triệu ha, và năm 2016 là 159,8 triệu ha (Ngồn FAOSTAT, 2018)[23]
Theo Tổ chức Lương nông Quốc tế FAO sản lượng lúa thế giới trong giai đoạn từ năm 2010-2013 xu hướng tăng dần nhưng chậm Không những chỉ tăng về
Trang 17diện tích (năm 2010 diện tích lúa 161,7 triệu ha, năm 2013 diện tích lúa 164,5 triệu ha) mà còn tăng về năng suất (năm 2010 năng suất đạt 43,3 tạ/ha, năm 2013 năng suất đạt 45,1 tạ/ha), từ đó dẫn đến tổng sản lượng tăng lên năm 2010 là 701,1 triệu tấn, đến năm 2013 tổng sản lượng đã tăng lên đến 741,9 triệu tấn
Sản lượng lúa từ năm 2014 đến năm 2016 có xu hướng giảm dần: Do diện tích sản xuất lúa giảm năm 2014 là 162,9 triệu ha đến năm 2016 là 159,8 triệu ha;
Dù năng suất có tăng từ năm 2014 đạt 45,6 tạ/ha đến năm 2016 đạt 46,4 tạ/ha nhưng sản lượng lúa vẫn giảm (năm 2014 đạt 742,4 triệu tấn đến năm 2016 còn 740,9 triệu tấn)
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa trên Thế giới
Trang 18Năm 2015 sản lượng lúa của thế giới thấp hơn 2014 do mùa mưa đến muộn ở vùng Nam Á và vài nơi khác, với sản lượng 740,1 triệu tấn lúa (hay 496,6 triệu tấn gạo), được trồng trên 160,7 triệu ha Năng suất lúa trung bình là 46 tấn/ha Nguyên nhân chính là do khí hậu gió mùa bất thường làm sản xuất lúa tại Ấn Độ giảm 3%
và cũng ảnh hưởng đến một số nước khác, như Indonesia, Campuchia, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Bắc Triều Tiên và Thái Lan Trong khi đó, khí hậu tương đối thuận lợi tại các nước: Trung Quốc, Indonesia, Myanmar, Malaysia, Nam Hàn, Nigeria và Việt Nam Vùng Phi Châu sản xuất tăng nhưng không bắt kịp mức tiêu thụ Năm 2014, vùng Bắc Phi (Ai Cập) và Tây Phi bị ảnh hưởng khí hậu bất thường, trong khi miền Đông và Nam Phi Châu (Madagascar và Tanzania) được mùa Vùng Nam Mỹ và Caribbean sản xuất tăng khoảng 1% do một số nước được mùa, như Argentina, Brazil, Cuba, Guyana và Paraguay; trong khi khí hậu không thuận hòa tại Colombia, Ecuador và Venezuela Tại Hoa Kỳ, sản xuất lúa được phục hồi 16% so với 2013 Châu Âu sản xuất lúa gạo tăng 2,8% đến 4,1 triệu tấn lúa, phần lớn do phục hồi sản xuất tại Liên Bang Nga Sản xuất lúa tại Úc Châu giảm 28% so với 2013, do hạn hán và thiếu nước trồng (FAO, 2018)[23]
Các nhà chọn giống tiên đoán trong vòng 10 năm tới, năng suất lúa thế giới tiếp tục tăng bình quân trên 0,7% hằng năm, trong đó 70% tăng trưởng về sản lượng lúa thế giới sẽ từ Ấn Độ (37%), Indonesia, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar và Nigeria Trong khi mức tiêu thụ gạo cũng tăng bình quân 0,7% Tuy nhiên do tốc độ tăng dân số nhanh hơn nên hàng năm mức tiêu thụ gạo bình quân đầu người sẽ giảm khoảng 0,4% mỗi năm Ấn Độ và Trung Quốc vẫn sẽ là nước tiêu thụ gạo nhiều nhất và ước khoảng 50% lượng gạo tiêu thụ toàn thế giới Giá gạo thế giới sẽ tăng bình quân 0,3% mỗi năm và lượng gạo lưu thông trên thị trường thế giới cũng gia tăng trung bình 1,8%/năm Khoảng năm 2016, lượng gạo trao đổi toàn cầu sẽ đạt 33,4 triệu tấn Cùng với tăng năng suất và giảm mức tiêu thụ trên đầu người, Ấn Độ
và Thái Lan sẽ là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thế giới Gạo xuất khẩu từ Pakistan
sẽ giảm, trong khi Việt Nam sẽ ổn định vì mức tiêu thụ trong nước tăng nhanh hơn mức sản xuất (Nguyễn Ngọc Đệ, 2009)[6]
Trang 19Dân số thế giới trung bình tăng thêm 1 tỷ người sau 14 năm Diện tích cây trồng trên đầu người: 0,45 ha/năm (1966); 0,25 ha/năm (1998), và dự đoán còn 0,15
ha vào năm 2050 Mức độ gia tăng năng suất thấp: tăng 2,1%/năm trong thập niên
1980, và 1,0% trong thập niên 1990 Thách thức đặt ra cho nhân loại là diện tích nông nghiệp giảm (1,5 tỷ ha) vào năm 2050, nước tưới cho nông nghiệp giảm, nhưng phải tăng sản lượng lương thực gấp đôi (Nguyễn Thị Lang, 2013)[13]
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay đối với ngành sản xuất lúa gạo nói chung cũng như các nhà nghiên cứu nói riêng phải nâng cao hơn nữa năng suất, sản lượng đảm bảo an ninh lương thực
1.2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Ở nước ta, cây lúa là cây trồng quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp, nó không chỉ cung cấp lương thực cho trên 80 triệu dân, còn là cây trồng có giá trị xuất khẩu đem lại nguồn doanh thu đáng kể cho nền kinh tế quốc dân
Trong thời kỳ pháp thuộc, trước năm 1945 việc sản xuất lúa gạo chủ yếu phục vụ người Pháp và cộng sự của họ Đa số nông dân Việt Nam lâm vào cảnh vô cùng khốn khó, năm 1945 nạn đói làm chết 2 triệu người là một minh chứng Ở thời
kỳ này những tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và lúa gạo đã được người Pháp du nhập vào Việt Nam để nâng cao năng suất lúa từ 1,3 tấn/ ha ở đầu thế kỷ XX lên 2,0 tấn/ha vào đầu thập niên 1960
Giai đoạn 1868 đến năm 1873, diện tích trồng lúa của Việt Nam ước khoảng
600 - 700 nghìn ha, đến năm 1912 diện tích trồng lúa tăng lên 2,3 triệu ha và 4,4 triệu ha trong năm 1927; diện tích lúa phát triển cao nhất 5 triệu ha, với sản lượng 6 triệu tấn (thời kỳ pháp thuộc 1942) Trong đó Nam kỳ chiếm 50% tổng số diện tích
cả nước Bắc kỳ chiếm 27%, Trung kỳ chiếm 23% (Trần Văn Đạt, 2002) [5]
Đầu năm 1960, năng suất lúa của Việt Nam đạt 1,9 tấn/ ha do nông dân bắt đầu sử dụng phân bón hóa học, công tác tuyển chọn giống lúa được Đảng và Nhà nước quan tâm, các nhà khoa học vào cuộc đã nâng sản lượng lúa đạt 9 triệu tấn/ năm
Cuộc cách mạng xanh được thực hiện trên thế giới từ giữa năm 1960 - 1970 Việt Nam là một trong những nước tiên phong của phong trào này Năm 2000, diện
Trang 20tích lúa được tưới chiếm 65%, đến nay đạt 85%, đó là tiền đề quan trọng cho sự gia tăng năng suất lúa Giống lúa IR8 được nhập vào miền Nam từ rất sớm và được đặt tên là Thần nông 8, sau đó phát triển ra phía Bắc được đặt tên là Nông nghiệp 8 Dạng hình cây lúa có lá thẳng đứng, không cảm quang, năng suất cao 5 - 6 tấn/ha và
có thể đạt 8 - 9 tấn/ ha, đã phát triển mạnh thay thế giống cổ truyền địa phương
Sau năm 1986 tới nay, nhất là sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (4/1998) Việt Nam bắt đầu đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển kinh tế hộ gia đình Cơ chế này đã thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển đạt được nhiều thành tựu to lớn, được xem là mốc dấu son trong phát triển nông nghiệp Từ đó đã đưa nước ta từ nước phải nhập khẩu lương thực trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ 2 trên thế gới vào cuối thập niên 90 của thế kỷ XX Năng suất lúa bình quân cả nước hiện nay dẫn đầu các nước trong khu vực Đông Nam Á
Đến nay Việt Nam đã xuất khẩu gạo sang trên 85 nước trên thế giới Trong
đó Châu Á và Châu Mỹ là thị trường tiêu thụ lớn nhất, đứng thứ 2 sau Thái Lan về xuất khẩu gạo Song chất lượng lúa gạo của ta thấp không đồng đều, độ bạc bụng, chiều dài hạt gạo, hương vị kém…làm cho giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực Nguyên nhân sâu xa của việc này là chưa có bộ giống quốc gia có chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh tốt Xu hướng yêu cầu gạo chất lượng cao trên thị trường châu Á và châu Mỹ ngày càng tăng Bên cạnh mục tiêu đề ra năm 2005 cả nước xuất khẩu gạo đạt 3,5 - 3,8 triệu tấn/ năm và vào năm 2010 xuất khẩu gạo được 4 - 4,5 triệu tấn/ năm, đề án quy hoạch 1,5 triệu han lúa chất lượng cao đạt 5 triệu tấn gạo ngon/ năm
Ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam đã có những thành công lớn trong những năm gần đây, sản xuất lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp Việt Nam, với 80 % dân số làm nông nghiệp Hầu hết nông dân coi công việc trồng lúa đem lại nguồn thu nhập chính của họ
Trang 21Bảng 1.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Việt Nam
giai đoạn 2000 - 2016
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Nguồn: Cục Thống kê, niên giám thống kê năm 2018 [4]
Diện tích trồng lúa giai đoạn 2000 - 2009, tuy diện tich trồng lúa có xu hướng giảm từ 7,666 triệu ha năm 2000, xuốngcòn 7,437 triệu ha năm 2009, nhưng năng suất lúa tăng từ 42,43 tạ/ ha năm 2000 lên 52,29 tạ/ ha năm 2009, do đó sản lượng lương thực cả nước tăng từ 32,530 triệu tấn năm 2000 lên 38,95 triệu tấn năm 2009; từ năm 2010 đến năm 2013 diện tích trồng lúa có xu hướng tăng từ 7,489 triệu ha lên 7,903 triệu ha năm 2013, diện tích đất trồng lúa tăng lên 405 nghìn ha, tuy nhiên giảm từ năm 2014 từ 7,816 triệu ha xuống còn 7,790 triệu ha năm 2016,
Trang 22năng suất lúa tăng từ 53,42 tạ/ ha năm 2010 lên 55,7 tạ/ ha năm 2013, sản lượng lương thực cả nước tăng từ 40,006 triệu tấn năm 2010 lên 44,039 triệu tấn năm
2013 Từ năm 2014 đến nay diện tích trồng lúa lại có xu hướng giảm xuống, song năng suất lúa lại tăng lên 57,5 tạ/ ha năm 2014 và năm 2015 năng suất lúa đạt 57,7 tạ/ ha nhưng đến năm 2016 giảm còn 56 tạ/ha Sản lượng lương thực tăng từ 40,06 triệu tấn năm 2010 lên 45,216 triệu tấn năm 2015 và giảm còn 43,609 năm 2016
Việt Nam tiếp tục là nước đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng, song ngành lúa gạo Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn Chất lượng lúa gạo đang là vấn đề khá nan giải, vì tập quán sản xuất của đại bộ phận nông dân vẫn còn chú trọng số lượng hơn chất lượng, nhiều loại giống được gieo trồng trong cùng một vùng nên chất lượng gạo không thuần chủng và không đồng đều Vấn đề bảo quản sau thu hoạch còn nhiều bất cập, gây hao hụt lớn và làm ảnh hưởng đến chất lượng hạt gạo, vì vậy phẩm cấp hạt gạo sau khi chế biến không cao khó tiếp cận được với thị trường khó tính Vấn đề hiện nay đang đặt ra câu hỏi làm thế nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như hiện nay
Trong nghiên cứu hệ thống sản xuất nông nghiệp hàng hóa phải được bắt đầu
từ công tác đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng canh tác là hết sức quan trọng Việc cải tiện hệ thống canh tác được các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam quan tâm, nghiên cứu, bước đầu đạt được nhiều kết quả tốt Cải tiến cơ cấu cây trồng trong thời gian tới cần nghiên cứu bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp với các điều kiện đất đai và chế độ nước khác nhau, phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, nhằm khai thác cao nhất các nguồn lợi tự nhiên, lao động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đa dạng giống cây trồng (Trần Đình Long, 1997) [14]
Cũng theo tác giả này thì giống cây trồng cũng là tư liệu sản xuất sống, có liên quan chặt chẽ với điều kiện ngoại cảnh, có vai trò quan trọng trong thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp Để tăng năng suất, chất lượng cần tác động các biện
Trang 23pháp kỹ thuật thích hợp theo yêu cầu của giống Sử dụng giống tốt là một biện pháp
để tăng chất lượng và ít tốn kém
Thực trạng điều kiện sản xuất nông nghiệp ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn, chịu nhiều rủi ro (bão, lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh hại…) làm cho năng suất chất lượng cây trồng thấp và không ổn định ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản của nước ta Do vậy cần phải có những cơ cấu giống cho phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng cụ thể để giống có thể phát huy hết tiềm năng của nó
và cho hiệu quả cao nhất
Tóm lại, sản xuất lúa gạo thế giới vẫn tiếp tục cải thiện trong năm 2017 và
2018, trong khi thương mại dao động tùy thuộc vào nguồn cung cấp, chất lượng, khí hậu, chương trình sản xuất tiêu thụ của các nước liên hệ và sự cạnh tranh mạnh mẽ thị trường thế giới Theo tiên đoán FAO, sự xuất khẩu của Ấn Độ, Việt Nam và châu Úc sẽ phục hồi ở mức độ nào đó, của Pakistan và Hoa Kỳ có thể tăng thêm; trong khi Cambodia, Myanmar giảm sút do khó khăn xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới Sự xuất khẩu của các nước khác như Argentina, Brasil, Guyana, Paraguay và Uruguay có thể giảm sút trong 2017 Sản xuất lúa gạo Việt Nam đã và đang gặp khó khăn đầu vào do biến đổi khí hậu, nông dân nghèo và đầu ra do thị trường tiêu thụ luôn biến đổi và chất lượng không đạt tại các nước có yêu cầu khó tính Đất nước đã hội nhập thế giới và bước vào nền kinh tế thị trường nên cần phải thay đổi tư duy quản lý, cơ chế kinh tế để có thể cạnh tranh với các nước khác Những nông dân nhỏ sản xuất manh mún không thể cạnh tranh với các nông trại lớn, và khó có thể xây dựng thương hiệu gạo Việt trên thị trường quốc tế
1.3 Tình hình nghiên cứu về giống lúa trên thế giới và ở Việt nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu về giống lúa trên thế giới
Đối với sản xuất nông nghiệp, giống luôn đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng cây trồng, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm chi phí sản xuất
Đặc điểm di truyền của giống (kiểu gen), kỹ thuật canh tác và yếu tố môi trường quyết định năng suất của giống Những thay đổi về khí hậu, đất, nước ảnh
Trang 24hưởng rất lớn đến năng suất của giống Một kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi trường, khi đó kiểu gen mới thể hiện được đúng bản chất của nó Để đánh giá chất lượng giống việc khảo sát tính ổn định và thích nghi của giống với môi trường là rất cần thiết Trong công tác chọn tạo giống, cần đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời gian sinh trưởng, tính chống sâu bệnh hại, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận, năng suất, chất lượng gạo…
Giống lúa mới được coi là giống tốt thì phải có đặc trưng: có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ các yếu tố di truyền của giống đó, chịu thâm canh, có khả năng chống chịu tốt các điều kiện ngoại cảnh bất lợi của từng vùng khí hậu, đồng thời có khả năng kháng sâu bệnh hại, năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định Các nghiên cứu vai trò của giống trong sản xuất nông nghiệp cho thấy: Giống luôn là yếu tố quan trọng làm tăng năng suất, sản lượng, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm
Chương trình dài hạn về chọn giống của của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI nhằm đưa vào những dòng lúa thuộc kiểu cây cải tiến những đặc trưng chính như: thời gian sinh trưởng, kể cả tính mẫn cảm quang chu kỳ thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhau, tính chống bệnh và sâu hại, những đặc điểm cải tiến của hạt, kể cả hàm lượng protein cao, chịu nước sâu, khả năng trồng khô và tính chịu lạnh Trong năm 1970, Viện đã đưa ra những dòng lúa mới, chín sớm như: IR
747, B2-6; các dòng chống bệnh bạc lá như IR497-83-3 và IR498-1-88; dòng chống sâu đục thân IR747, B2-6 (Chang T và cs) [21] Tại Thái Lan, qua thí nghiệm tại các trại nhân giống, 2 dòng lúa tẻ Goo-Muangluang và Dawk-Payom được phổ biến ở Miền Nam Thái Lan, có tiềm năng năng suất cao < 2 tấn/ha Giống lúa nếp Sewmaeian được trồng Miền Bắc Thái Lan có tiềm năng năng suất cao nhất là 2,8 tấn/ ha
Những năm gần đây các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu và đưa ra mô hình kiểu cây mới Theo Lu và Lorestto (1980) [24], kiểu cây lúa mới có đặc điểm hình thái như sau:
Trang 25* Khái niệm về kiểu cây mới
- Cao từ 90 - 110 cm
- Khả năng đẻ nhánh thấp (3 - 4 nhánh với lúa gieo vãi, 5 - 8 nhánh với lúa cấy)
- Không có nhánh vô hiệu
Kiểu cây mới ít đẻ nhánh hơn các giống hiện nay, có số hạt trên bông bằng 2
- 3 lần giống IR72, một số giống mới cho năng suất cao hơn IR72 khoảng 20% trong khi đó tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000 hạt không đổi Khả năng quang hợp cao hơn IR72 từ 10 - 15%, có bộ lá đứng hơn, dày hơn, xanh hơn, có nhiều lá công năng hơn, lá đòng dài hơn IR72, điều này rất quan trọng cho quá trình tích lũy vật chất khô vào hạt
Kiểu cây ở vùng đất trũng
- Thân rất cứng
- Cao 130 cm
- Lá xanh đậm, đứng hoặc rũ vừa phải
- Thời gian sinh trưởng 120 - 150 ngày
Trang 26- Năng suất có thể đạt từ 50 - 70 tạ/ ha
* Hướng chọn tạo giống lúa trên thế giới
Phương hướng chọn tạo giống lúa thay đổi tùy theo vùng sinh thái khác nhau nhưng các nhà chọn giống hiện nay có phương hướng chung như sau:
- Chiều cao cây trung bình (110 - 130cm), khả năng đẻ nhánh khá từ 3 - 4 dảnh/ khóm lên dần tới 20 dảnh/ khóm
- Có dạng hình phong phú, thích nghi với từng điều kiện sinh thái cụ thể của vùng
- Thân cứng, chống đổ tốt
- Mạ khỏe, bộ rễ khỏe, ăn sâu
- Có đặc điểm về chất lượng hạt phong phú
- Năng suất cao, ổn định
- Chuyển từ dạng bông to sang dạng nhiều bông trong điều kiện sinh thái thuận lợi
- Tỷ lệ hạt lép thấp, hạt chắc nhiều, hạt đều, chín tập trung
- Phản ứng với quang chu kỳ ở các mức độ khác nhau
- Chịu hạn tốt, khả năng cạnh tranh được với cỏ dại
- Chống chịu được với bạc lá, bệnh đạo ôn, khô vằn, đốm nâu, bệnh biến màu hạt, chống sâu đục thân, rầy nâu…
- Chịu được đất nhiều dinh dưỡng, thiếu lân, thừa nhôm hoặc đất chua Theo Chang T và cs [22] thì mục tiêu chung của các nhà chọn tạo giống lúa vùng Đông Nam Á và IRRI:
- Nâng cao năng suất bằng cách phát triển kiểu hình có chiều cao cây trung bình, đẻ nhánh khá để thay thế các giống lúa cổ truyền cao cây thân yếu đẻ nhánh kém
- Khả năng chống chịu các đối tượng sâu bệnh có liên quan đến ổn định năng suất, tính chống chịu được với bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, khả năng chịu hạn, khả năng phục hồi đẻ nhánh sau mỗi đợt hạn
- Tạo ra được những giống có thời gian sinh trưởng khác nhau để thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau
Trang 27- Đặc tính nhạy cảm với quang chu kỳ có thể là một yêu cầu cho một số vùng như ở Đông Bắc Thái Lan
- Giữ được hoặc nâng cao tính chống chịu với các yếu tốt bất lợi của đất như: thiếu lân, độc tố nhôm, mangan trong đất chua, mặn và thiếu kẽm, sắt trong đất kiềm
- Giữ được đặc tính nông học tốt: Bông dài, dinh dưỡng bông cao, hạt không
hở vỏ, hàm lượng amylose thấp đến trung bình
Kiểu cây mới có đặc trưng nhờ sự kết hợp giữa các tính trạng của lá, thân và bông lúa Các giống lúa có nhiều kiểu cây khác nhau, các nhà chọn giống trên thế giới cho rằng có thể chia các giống lúa thành "kiểu cây bông to" và "kiểu cây nhiều bông"
Dựa vào quan hệ giữa kiểu cây và năng suất, đã nhấn mạnh rằng biện pháp chọn giống có thể tiến đến một kiểu cây cải tiến (nửa lùn) cho vùng nhiệt đới đó là những giống chín sớm, chống được bệnh bạc lá và đạo ôn, thấp cây, chống đổ, ngoài những giống nhiệt đới tương tự hiện có Mặt khác ông cũng cho rằng nhờ biện pháp chọn giống có thể tạo được những giống nhiệt đới có năng suất cao, có phản ứng với đạm và có cả những đặc trưng đặc biệt mà không thường thấy ở những giống thương mại trồng ở vùng nhiệt đới:
- Thời gian sinh trưởng ngắn, khoảng 100 - 125 ngày (từ khi gieo mạ đến chín) và không mẫn cảm với quang chu kỳ chiếu sáng
- Những đặc trưng dinh dưỡng kể cả mọc khỏe vừa phải và có số nhánh vừa phải, kết hợp với lá tương đối nhỏ, màu lục sẫm, mọc thẳng đứng
- Chiều cao cây thấp và cứng, có khả năng chống đổ tốt
- Chống được những nòi nấm bệnh đạo ôn đã được phát hiện Kết quả nghiên cứu củ Viện lúa Quốc tế IRRI về hiện tượng lốp đổ có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, có thể làm giảm đến 75% nếu lúa đổ trước chín 30 ngày hoặc sớm hơn Phần lớn năng suất bị giảm khi đổ sớm là do tỷ lệ hạt lép tăng Nên cần chọn tạo giống thích hợp, thấp cây, thân cứng, chống đổ là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược cải tạo giống của Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI (Vũ Thu Huyền, 1999) [11] Mục tiêu của những nhà chọn tạo giống là tạo ra các giống lúa vừa có năng suất cao, vừa chống chịu được với sâu bệnh để đảm bảo hiệu quả kinh tế lớn
Trang 28Trước năm 1960, ở Ấn Độ người ta đã có nhiều công trình nghiên cứu chọn tạo giống lúa Kết quả của những công trình đó đã đi tới những hướng chọn giống sau: (Nguyễn Xuân Hiển và cộng sự, 1976) [7]
- Chọn giống có năng suất cao
- Chọn giống theo khả năng phản ứng mạnh với việc bón nhiều phân
- Chọn giống theo tính chống mặn và chống kiềm của đất
- Chọn giống theo tính chín sớm
- Chọn giống chịu nước và chịu úng
- Chọn giống theo tính chống hạn
- Chọn giống theo tính chống đổ
- Chọn giống lúa không rụng hạt
- Chọn giống lúa theo tính chống bệnh
- Chọn giống lúa để chống lúa dại
1.3.2 Tình hình nghiên cứu về giống lúa tại Việt Nam
Để đạt được năng suất từ 6 - 8 tấn/ha thì công tác nghiên cứu và chọn tạo các giống lúa mới là một khâu quan trọng trong sản xuất nông nghiệp hiện đại Nghiên cứu của các tính trạng di truyền các cặp gien điều khiển và khống chế các tính trạng Từ đó các nhà khoa học chọn tạo giống đã tìm ra các giải pháp để khống chế hoặc phát huy các khả năng của nó theo mẫu hình lai tạo phù hợp với mục đích yêu cầu Sử dụng ưu thế lai đã tạo bước nhảy vọt và làm tăng khả năng tính chống chịu sâu bệnh của giống cây trồng và giống lúa nói riêng Các giống lúa cũ có thời gian sinh trưởng dài, ít chịu thâm canh, năng suất thấp Việc lai hữu tính nhân tạo ra đời, nhiều giống lúa cải tiến, năng suất cao đã thay thế phần nào những nhược điểm của giống lúa cũ Việt Nam trong hơn 3 thập kỷ qua, những giống lúa được tạo ra phần lớn bằng phương pháp lai Giống đầu tiên được lai tạo ở nước ta là NNI được chọn
từ tổ hợp lai Ba thác Bun co
Việc chọn tạo các giống lúa có phẩm chất gạo cao, đáp ứng xuất khẩu, đáp ứng mở rộng vùng sản xuất hàng hóa chất lượng cao là nhiệm vụ lớn của các nhà chọn tạo giống (Trần Văn Đạt, 2002) [5]
Trang 29Theo tác giả Đào Thế Tuấn (1992) [18], khi nghiên cứu mối tương quan giữa sức chứa và nguồn ở cây lúa, ông đã đưa ra kết luận rằng: Những giống lúa có năng suất cao phải có đủ những điều kiện sau:
- Phải có chỉ số diện tích lá cao từ khi trỗ để có sức chứa lớn, vì vậy phải có
Nguyễn Văn Hoan (1994) [8] cho rằng: Một trong những nguyên nhân làm hạn chế năng suất lúa là do các giống lúa cải tiến đã đạt đến năng suất tới hạn, chọn tạo giống lúa mới có năng suất siêu cao từ 8 -10 tấn/ha hay cao hơn nữa là mục tiêu cần vươn tới của các nhà chọn tạo giống lúa trong nước cũng như trên thế giới Muốn thực hiện thành công chương trình chọn tạo giống lúa, nhiệm vụ đầu tiên của các nhà chọn tạo giống là phải xác định được mục tiêu cho từng chương trình cụ thể
Trong những năm gần đây công tác nghiên cứu, chọn tạo, thử nghiệm và đưa
ra sản xuất nhiều giống lúa mới đã được đẩy mạnh ở các viện nghiên cứu, các trường Đại học, các trung tâm, các công ty trong cả nước
Từ năm 1998 - 1999, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng và phân bón quốc gia đã tiến hành khảo nghiệm trên 100 giống lúa mới tại các tỉnh phía Bắc, qua
đó xác định được một số giống có tiềm năng, năng suất cao: Xi23, P4, Xuân số 12, DT12, DT17, IV1, NX30, BM9820… Một số giống có tiềm năng, năng suất tương đối cao và ổn định: P6, DV108, AYT77, ĐH104, D116, N29…
Viện lúa ĐBSCL áp dụng kỹ thuật tạo biến dị bằng nuôi cấy mô và túi phấn,
đã thành công trong chọn tạo giống lúa Các giống lúa mới tạo ra bằng kỹ thuật này
Trang 30được đưa ra sản xuất như; Khao 39, NCM16-27, NCM42-94 Kết quả nghiên cứu cho thấy kỹ thuật tạo biến dị nuôi cấy mô áp dụng rất có hiệu quả trong cải tiến dạng hình, thời gian sinh trưởng của các giống địa phương, trong khi vẫn giữa được các đặc tính tốt như phẩm chất gạo… Kỹ thuật nuôi cấy bao phấn đặc biệt có lợi trong việc rút ngắn thời gian tạo giống có độ thuần di truyền cao
Áp dụng kỹ thuật tạo đột biến hóa chất và nuôi cấy mô trên giống lúa thơm Jasmine 85 với mục đích tạo giống lúa thơm có phẩm chất như Jasmine 85 nhưng khắc phục được một số nhược điểm của giống này Viện đã đưa ra được 4 dòng triển vọng đó là: OM3566-14, OM3566-15, OM3566-16, OM3566-70 Ưu điểm của các dòng này là chín sớm hơn Jasmine khoảng 1 tuần, kháng rầy nâu và giữ được mùi thơm
Việc gieo trồng các giống lúa mới có tiềm năng năng suất và thay đổi theo cơ cấu cây trồng, mùa vụ là cơ sở dẫn đến mức tăng nhanh về sản lượng lúa ở Việt Nam trong những năm gần đây Trong hơn 2 thập kỷ qua Chương trình chọn tạo giống lúa đã thu được những thành tựu to lớn Nhờ vận dụng tốt những kết quả nghiên cứu của mạng lưới quốc tế về đánh giá nguồn tài nguyên di truyền cây lúa (INGER, chương trình IRTP) do viện lúa quốc tế điều phối thông qua việc nhập nội,
sử dụng nguồn gen phong phú đồng thời phát triển các dòng cải tiến
Từ năm 1990 - 1995 đề tài KN08 - 01 đã chọn tạo và được công nhận 26 giống lúa cho vùng thâm canh ở Việt Nam Từ năm 1996 - 2000 đề tài KN08 - 01 chọn tạo một số giống lúa thuần và lúa lai có tiềm năng, năng suất cao cho các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước: Đã chọn tạo và được công nhận 35 giống quốc gia, 44 giống khu vực hóa, một số giống triển vọng được sản xuất chấp nhận rộng rãi Trong thời gian tới đặc biệt chú ý đến các giống lúa chất lượng đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu
Học viên Nông nghiệp Hà Nội ngoài công tác đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học… thu thập, đánh giá và bảo quản 750 mẫu giống lúa, các giống lúa này đều được đánh giá đầy đủ các mặt như: tiềm năng năng suất, phẩm chất, phản ứng với sâu bệnh hại, khả năng chống chịu với điều kiện ngoại
Trang 31cảnh bất lợi Nhà trường đã đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ sinh học vào lai tạo các giống cây trồng ưu thế lai, các giống lúa lai VN10, VL 20, ĐH60, TH 3-3,
TH 3-4 là những giống lúa lai đầu tiên được chọn tạo từ Việt Nam
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên ngoài công tác đào tạo đội ngũ cán
bộ kỹ thuật, nghiên cứu khoa học nhà trường còn nghiên cứu chọn tạo được giống lúa K3 trước đây và hiện nay là giống Nông Lâm 7 Giống lúa này có tiềm năng cho năng suất cao, đưa vào sản xuất thử và thu được những kết quả khả quan góp phần vào tăng năng suất và sản lượng lúa cho các tỉnh vùng Trung du và các tỉnh miền núi phía Bắc
Viện Cây lương thực và cây thực phẩm là cơ quan đứng đầu và có nhiều nghiên cứu về chọn tạo giống lúa, viện đã đưa ra hàng chục giống lúa mới thâm canh như X21, Xi 23, ĐB1, ĐB5, ĐB6, BM9603, BM9830, MT163 …và một số giống lúa chất lượng cao, có hàm lượng protein cao (P1, P4, P6, P290, AC5 ) được công nhận là giống quốc gia và hiện đang phát huy rất tốt trong sản xuất Tuy nhiên, một số giống lúa này có thời gian sinh trưởng hơi dài (120 - 125 ngày) nên khó mở rộng vào sản xuất nhất là các vùng đất lúa của ĐBSH có xu hướng mở rộng cây vụ đông và Bắc Trung bộ nơi mà nông dân đang rất cần bộ giống lúa có TGST ngắn để canh tác trong vụ hè thu (hiện tại chỉ canh tác giống P6 trong vụ ĐX) Để nâng cao hơn nữa năng suất, chất lượng và hiệu quả canh tác các giống lúa thâm canh, chất lượng cần phải tiếp tục và tăng cường công tác tạo giống để có thể tạo ra các giống lúa mới có thời gian sinh trưởng ngắn hơn (khoảng 95 - 115 ngày), năng suất 60-75 tạ/ha/vụ, hàm lượng amylose 20-22%
và chất lượng thương phẩm tốt Nếu có được những giống lúa mới đạt các tiêu chuẩn nêu trên sẽ là một thành công rất lớn của KHCN đóng góp cho sản xuất (Viện Cây lương thực và cây thực phẩm, 2007) [20]
Trong giai đoạn 2011 - 2013, các nghiên cứu chọn tạo giống lúa mới của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã thu được một số kết quả đáng ghi nhận Trong 3 năm với việc sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp truyền thống (lai hữu tính, xử lý đột biến hóa chất, chọn lọc phả hệ, ) và kế thừa
Trang 32nghiên cứu chọn tạo giống ở giai đoạn trước, Viện đã chọn tạo thành công nhiều giống lúa mới cho vùng đồng bằng sông Hồng Các giống lúa này với năng suất cao, chất lượng tốt đã góp phần tích cực vào mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và nâng cao thu nhập của người nông dân trồng lúa Mục tiêu của đề tài là
“Chọn tạo và phát triển bộ giống lúa thâm canh (năng suất đạt 65 tạ/ ha trở lên)
và lúa chất lượng cao (năng suất đạt 55 tạ/ ha trở lên), chống chịu được một số loại sâu bệnh hại chính, thích hợp cho cho các vùng lúa thâm canh và vùng lúa chất lượng của đồng bằng sông Hồng và các địa phương có điều kiện tương tự ở phía Bắc (Nguyễn Hữu Hồng, 2011) [10]
Viện Di truyền Nông nghiệp đã có nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giống lúa Viện đã có nhiều giống lúa chất lượng cao được công nhận quốc gia như: DT122, DT16, Tám thơm đột biến và nếp DT21
Viện Bảo vệ thực vật đến nay cũng đã nghiên cứu và đưa nhiều giống lúa vào sản xuất gồm những giống có đặc tính tốt, chống chịu sâu bệnh khá như CR101, CR104, CR203, C70, C71, IR1820, IR250 Các giống lúa này được trồng nhiều ở các vùng trồng lúa trong cả nước vì chúng cho năng suất cao và ổn định, khả năng chống chịu với sâu bệnh tốt Tại Viện Di truyền nông nghiệp, bằng các phương pháp chọn lọc, lai tạo, nhập nội, xử lý đột biến đã cho ra nhiều giống mới chịu thâm canh cao như DT10; DT11; DT13 Mới đây Viện đã thành công trong việc sản suất các giống lúa lai như VL901 và nhiều giống lúa khác góp phần đáng
kể vào việc tăng năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam
Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long đã chọn tạo và đưa vào sản xuất 90 giống lúa, trong đó có 40 giống lúa được công nhận chính thức Hầu hết các giống lúa chọn tạo đều có thời gian sinh trưởng ngắn 90 - 100 ngày, có khả năng chống chịu sâu bệnh, đáp ứng nhu cầu sản xuất
Tại hội nghị toàn quốc về khoa học và khuyến nông tại Hà Nội ngày 15 - 17 tháng 7 năm 2005 đã kết luận: giai đoạn 1986 - 2004, các nhà khoa học nông nghiệp Việt Nam đã chọn tạo được 345 giống cây trồng nông nghiệp mới trong đó có 149 giống lúa mới (trung bình 8,2 giống lúa mới được chọn tạo/ năm)
Trang 331.3.3 Tổ ng quan nghiên cứu về giố ng lúa chấ t lư ợ ng cao và
1.3.3.1 Tổng quan nghiên cứu về giống lúa chất lượng cao
Cùng với sự phát triển của loài người, nghề trồng lúa được hình thành và phát triển Trình độ thâm canh cây lúa của nông dân ngày một nâng cao Các giống lúa địa phương không ưa thâm canh, khả năng chống chịu kém, năng suất thấp Vì thế việc tạo ra các giống lúa có năng suất cao, ưa thâm canh thích nghi với điều kiện sinh thái từng vùng là vấn đề hết sức cần thiết Viện nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) trải qua hơn 40 năm tồn tại và phát triển đã lai tạo, chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt trồng phổ biến trên thế giới Các giống lúa: IR8; IR5; IR6; IR30,… và những giống lúa khác đã tạo ra sự nhẩy vọt về năng suất
Để làm cơ sở cho việc chọn tạo giống lúa chất lượng cao nhiều nghiên cứu
về chất lượng gạo đã được thực hiện Matsushima S (1995)[25] cho rằng: Tinh bột
là thành phần chính dự trữ trong nội nhũ hạt ngũ cốc Hạt tinh bột có kích thước từ 1-150 nm, có thành phần chính là 2 dạng: amylose (chiếm 15-30%) và amylopectin
(chiếm 70-85%) Hương thơm là một trong những tính trạng quan trọng quyết định
đến giá trị thương phẩm và chất lượng gạo Hương thơm đựơc hình thành là nhờ ảnh hưởng của hợp chất 2- acetyl-1pyroline gây ra Gen điều khiển hương thơm của hạt gạo đã được nghiên cứu và đưa ra nhiều kết luận khác nhau
Kích thước hạt có thể được biểu hiện bởi các chỉ tiêu về khối lượng, thể tích hoặc chiều dài hạt, chiều dài và chiều rộng hạt là hai chỉ số được sử dụng phổ biến Tính trạng chiều dài hạt rất ổn định và ít bị ảnh hưởng bởi môi trường, nó được điều khiển bởi đa gen Thứ tự mức độ tính trội được ghi nhận như sau: hạt dài> hạt trung bình> hạt ngắn> hạt rất ngắn Thị hiếu người tiêu dùng về hình dạng hạt rất thay đổi, có nơi thích hạt tròn, có nơi thích hạt trung bình nhưng dạng hạt thon dài là được ưa chuộng nhiều nhất trên thị trường quốc tế (Matsushima S.1995)[25]
Trong những nghiên cứu về di truyền độ bạc bụng của gạo Ấn Độ và Mỹ, người ta nhận thấy độ bạc trắng ở trung tâm hạt bị ảnh hưởng bởi tương tác giữa
Trang 34gen và môi trường Độ bạc bụng của hạt gạo được điều khiển bởi đa gen và đa gen này có ảnh hưởng tương hỗ và phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh Độ bạc bụng có tần xuất liên kết với tính trạng hạt tròn hơn hạt thon dài Độ bạc bụng của hạt gạo một mặt do yếu tố di truyền, mặt khác do tác động của điều kiện môi trường, đó là nhiệt độ Giai đoạn sau trỗ, nhiệt độ cao làm tăng độ bạc bụng, ngược lại nhiệt độ thấp làm giảm độ bạc bụng
Nhiều giống lúa thơm khác cũng được các nhà khoa học chọn tạo thành công như giống lúa thơm MRQ50, MRQ74 ở Malaysia, giống lúa cải tiến Tainung sen 74 của Đài Loan, chín giống lúa thơm được giới thiệu từ năm 1993 đến 2000 ở Hàn Quốc có hàm lượng amylose biến động từ 15,1 – 19% (Choi H.C 2004)[22] Ấn Độ cũng có giống lúa Dubraj có chất lượng rất cao nhưng năng suất thấp, cây cao và dài ngày, dễ đổ nên khó mở rộng trong sản xuất Khắc phục nhược điểm đó Patnaik
A và cs., (2015) [26] đã sử dụng phương pháp lai phả hệ để chọn lọc quần thể lai của tổ hợp Pusa 44/Dubraj Việc chọn lọc nghiêm ngặt chiều cao cây, chất lượng hạt và hương thơm đã chọn được dòng IET 21.044 có năng suất cao, cây thấp, hạt lúa ngắn và thơm, sau 4 năm khảo nghiệm đã được giới thiệu ra sản xuất tại Ấn Độ
1.3.3.2 Tổng quan nghiên cứu về phục tráng giống lúa đặc sản ở Việt Nam
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước khẳng định, giống cây trồng là yếu tố tiền đề quyết định năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp Nhờ có bộ giống cây trồng phong phú, đa dạng đã góp phần quan trọng để nhiều địa phương đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng về đất đai, thời tiết khí hậu, nhân lực, làm đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
Tại nhiều xã thuộc tỉnh Hòa Bình nông dân đã áp dụng tốt và nghiêm túc các biện pháp kỹ thuật chọn tạo, phục tráng giống lúa cung cấp cho nhu cầu sản xuất
Có tới 6 huyện (Kim Bôi, Cao Phong, Tân Lạc, Kỳ Sơn, thị xã Hòa Bình) và 15 xã
ở các huyện khác đã phục tráng được 49 giống lúa có tiềm năng năng suất và khả năng chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh và 17 giống lúa địa
Trang 35phương bị thoái hóa nhằm làm giàu thêm quỹ gen và tập đoàn giống lúa của Hòa Bình Từ kinh nghiệm phục tráng giống lúa ở Hòa Bình, kỹ sư Cận đã đưa ra 3 phương pháp chính để phục tráng lại các đặc tính tốt ban đầu của giống (Công ty Cổ phần Phân bón miền Nam, 2008)[28] đó là:
- Chọn lọc quần thể: Phương pháp này có 2 cách chọn lọc là chọn lọc âm và chọn lọc dương Chọn lọc âm là khi trên ruộng lúa giống có số cây khác dạng ít thì
ta tiến hành nhổ bỏ (khử lẫn) các cây khác dạng này ở tất cả các thời kỳ từ mạ, sau khi cấy đến trước khi thu hoạch Chọn lọc dương là khi trên ruộng lúa giống có số cây khác dạng thoái hóa nhiều thì chỉ chọn thu hoạch những bông đúng giống trước
để làm giống
- Chọn giống nguyên chủng: Phương pháp này cần phải được tiến hành liên tục qua 3 vụ Vụ đầu từ mỗi giống chọn từ 300-500 bông tốt, bông đúng giống để gieo, cấy tiếp cho vụ thứ 2 Với vụ thứ 2, từ mỗi bông trong số 300-500 bông đem gieo, cấy riêng từng hàng và thường xuyên theo dõi, khử lẫn cho đến trước khi thu hoạch Hàng nào có từ 1 cây trở lên khác dạng thì không lấy làm giống Từ mỗi hàng không có cây khác dạng, tiếp tục thu trước 300-500 bông tốt nhất, đúng giống
để làm vật liệu gieo cấy tiếp vụ 3 Đến vụ 3 cũng làm tương tự như vụ 2
- Chọn lọc dòng thuần: Về kỹ thuật của phương pháp này như kỹ thuật trồng dòng cải tiến của cách chọn dòng phân ly
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành và cs., (2008)[31] cho biết: Sau
2 năm nhóm nghiên cứu đã thu thập 17 mẫu lúa nếp Tú Lệ và 8 mẫu nếp đặc sản khác (nếp Cái hoa vàng, nếp Hương, nếp Cái, nếp Hoa vàng, nếp Cái nương, nếp Nương thơm, nếp Đập và nếp Cẩm) tổng cộng là 25 mẫu
Từ năm 2008 – 2011, Dương Gia Định và cs., (2012)[29], thực hiện đề tài
“Phục tráng và phát triển giống lúa Tan Hin, Tan Lo, Săm Pa Tong trên địa bàn huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La” Kết quả là: Đã phục tráng được 3 giống lúa có số hạt trên bông đạt từ 524 - 1028 hạt/bông, số hạt chắc đạt 390 - 897 hạt/bông Năng suất thực thu của 3 giống đạt 30-40 tạ/ha cao hơn năng suất chưa phục tráng từ 4,9 - 8,7 lần Các giống đã được cải thiện năng suất sau khi chọn dòng và phục tráng, chất
Trang 36lượng gạo dẻo, thơm, tỉ lệ bạc bụng ít, có khả năng chống chịu tốt với ngoại cảnh,
độ thuần trên 99% và đảm bảo chất lượng để làm giống cho những năm tiếp theo
Dự án "Phục tráng giống lúa Bao thai Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn" do Viện Di truyền Nông nghiệp (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) chủ trì phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Chợ Đồn thực hiện tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Trong 2 năm, Dự án đã tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá hiện trạng sản xuất giống lúa Bao Thai, cơ cấu giống lúa và thu thập các mẫu giống lúa của địa phương; nghiên cứu, phục tráng giống lúa Bao Thai Chợ Đồn; xây dựng 10 ha mô hình phục tráng giống lúa thử nghiệm và chuyển giao công nghệ; nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh giống lúa và đào tạo, tập huấn cho 300 lượt người về kỹ thuật thâm canh lúa Bao Thai Chợ Đồn (Trịnh Thị Thanh Hương
và cs., 2011)[30]
Từ năm 2007 – 2011, Trường Đại học Nông Lâm, Thái Nguyên đã phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Bắc Hà thực hiện Dự án “Phục tráng và phát triển giống lúa đặc sản khẩu Nậm xít tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai” Kết quả chọn được 2 dòng NX1 và NX5 có năng suất cao, chất lượng tốt,
có đặc điểm đúng với giống gốc Xây dựng được quy trình thâm canh để giống Khẩu nậm xít đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao Xác định một số thành phần dinh dưỡng cơ bản trong gạo của giống Khẩu nậm xít, làm cơ sở để chọn lọc giống và đăng ký thương hiệu của sản phẩm trên thị trường Chuyển giao tiến bộ
kỹ thuật cho cán bộ kỹ thuật và nông dân tại địa phương (Phan Thị Vân và cs., 2011)[19]
1.4 Tình hình sản xuất và sử dụng giống lúa ở tỉnh Hòa Bình
1.4.1 Tình hình sản xuất lúa của tỉnh Hòa Bình
Bảng 1.4 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của tỉnh Hòa Bình giai
đoạn 2012 - 2017
Diện tích (ha) 41.227 41.093 40.186 39.229 39.592 39.467 Năng suất (ta/ha) 52,499 51,14 53,60 51,352 53,25 50,974
Trang 37Sản lượng (tấn) 216.700 210.149 215.400 201.450 210.827 201.180
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình).[17]
Diện tích lúa của tỉnh Hòa Bình trong 6 năm gần đây có xu hướng giảm, năm
2012 diện tích đạt 41.227 ha giảm xuống còn 39.467 ha năm 2017
Năng suất lúa tăng giảm thất thường, năng suất cao nhất đạt 53,60 tạ/ ha năm
2014 và thấp nhất năm 2017 đạt 50,974 tạ/ ha Diện tích và năng suất giảm kéo theo
đó sản lượng giảm, năm 2012 đạt 216.700 tấn giảm xuống còn 201.180 tấn năm
2017 Nguyên nhân giảm diện tich là do quá trình đô thị hóa, nên diện tích lúa có xu hướng giảm dần; ngoài yếu tố trên ảnh hưởng thời tiết và sâu bệnh hại phát sinh cũng làm năng suất và sản lượng lúa của tỉnh giảm xuống
1.4.2 Thực trạng sử dụng các giống lúa tại Hòa Bình
Tại Hòa Bình, cây lúa được gieo trồng trong 02 vụ: vụ xuân và vụ mùa Trong những năm gần đây người dân sản xuất nông nghiệp có xu hướng quay trở lại sử dụng các giống lúa thuần thay cho các giống lúa lai Cơ cấu giống được khuyến cáo:
Cơ cấu giống được đưa vào sản xuất gồm: Sử dụng các giống ngắn ngày (Lúa thơm TBR1,ĐS1, BC15, RBT,MĐ1,MĐ25, Khang dân đột biến, Q5, Xi23, HT1 (Hương thơm số 1), HT6, Bắc thơm số 7, Bắc thơm số 9…; giống trung bình ngày ( C70, C71, Nhị Ưu 838, Nhị Ưu 63 và Nếp địa phương) (Sở Nông nghiệp và PTNT Hòa Bình, 2016) [16]
Năm 2016, trong vụ lúa mùa tại Hòa Bình chia làm 02 trà lúa chủ yếu các giống sau: nếp 87, nếp 97, nếp địa phương thơm TBR1, ĐS1, BC15, RBT, MĐ1, MĐ25, Khang dân đột biến, Q5, nhị ưu 838, nhị ưu 63, bao thai, BC 15, Nghi hương 2308…
Lúa mùa sớm, thời gian gieo cấy 20 - 30/6, thời gian trỗ tập trung 5 - 15/9, diện tích gieo cấy chiếm 35% diện tích vụ mùa
Lúa mùa chính vụ, thời gian gieo cấy 15/7 - 20/7, thời gian trỗ tập trung 25/9
- 1/10, diện tích gieo cấy chiếm 65% diện tích vụ mùa
Phần lớn giống lúa trên các diện tích trồng lúa của Hòa Bình là giống lúa thuần và giống lúa lai, mặc dù năng suất lúa lai cao hơn so với năng suất lúa thuần
Trang 38(từ 10 - 20%), song giống lúa lai đòi hỏi thâm canh cao, thường sâu bệnh gây hại nặng hơn chi phí cho sử dụng thuốc bảo vệ lớn và gặp nhiều rủi ro hơn Thực trạng
ở Hòa Bình cho thấy nông dân trồng lúa phụ thuộc quá nhiều vào các công ty giống, việc sử dụng giống dựa trên cơ sở các công ty giống họ tuyên truyền về năng suất, chất lượng…hoặc xây dựng các mô hình trồng lúa được đầu tư mang tính chất
“trình diễn” do vậy khi sử dụng giống vào đồng đất cụ thể của bản thân người nông dân gặp rất nhiều khó khăn trong canh tác lúa do không nắm rõ đặc điểm nông sinh học của giống lúa
1.4.3.Tình hình sâu bệnh hại lúa tại Hòa Bình
Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thời tiết diễn biến bất thường sự phát sinh, phát triển của các sinh vật gây hại trên cây lúa không theo quy luật, do vậy việc đầu tư chi phí cho công tác phòng, trừ dịch hại trong sản xuất nông nghiệp có chiều hướng gia tăng, hiệu quả thu được thấp
Diện tích nhiễm (ha) sâu bệnh hại qua một số năm (từ năm 2011 - 2016) được thể hiện ở bảng 1.5
Bảng 1.5: Tình hình sâu, bệnh hại lúa ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn
2011 - 2016
Loại sâu bệnh hại Diện tích lúa bị nhiễm ở các năm…(ha)
2011 2012 2013 2014 2015 2016
Sâu cuốn lá nhỏ 9.421 1.172 104 3.599 2.110 224 Rầy (rầy lưng trắng, rầy
nâu, rầy nâu nhỏ) 7.529 4.067 1.967 5.593 2.192 1.002 Sâu đục thân 544 504,6 402 40,35 Bệnh đạo ôn 76 93,5 52,2 424,6 82 Bệnh khô vằn 5.489 4.278 8.779 3.601 3.903 Bệnh bạc lá 972 914,5
(Nguồn: Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Hòa Bình) [2]
Qua bảng 1.5 cho thấy diễn biến sâu, bệnh phát sinh hại trên cây lúa ở Hòa Bình qua các năm có sự sai khác rất khác nhau Một số đối tượng sâu, bệnh hại
Trang 39trước đây gây hại nghiêm trọng chủ yếu thì hiện nay trở thành thứ yếu và ngược lại Tùy từng điều kiện về thời tiết, khí hậu các năm, sâu, bệnh phát sinh gây hại khác nhau và đặc biệt là yếu tố giống, một số giống phù hợp với điều kiện tự nhiên, nhu cầu về chất lượng nhưng do nhiễm sâu, bệnh nặng nên người dân buộc phải lựa chọn giống khác Ngoài biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (biện pháp chính nhằm ngăn chặn sâu, bệnh hại lúa tại Hòa Bình) thời gian gần đây người dân đã quan tâm đến việc sử dụng luân phiên các giống lúa để hạn chế sâu, bệnh phát sinh gây hại giảm thiểu rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
1.5 Giới thiệu các giống lúa thí nghiệm
1 Giống lúa TBR225
Nguồn gốc: TBR225 là giống lúa thuần do Công ty CP Tổng Công ty Giống
cây trồng Thái Bình lai tạo, được công nhận giống Quốc gia năm 2015
Đặc tính giống: TBR225 là giống cảm ôn, ngắn ngày, thích ứng rộng, đẻ
nhánh khỏe, chịu thâm canh Thời gian sinh trưởng miền Bắc: Vụ Xuân 120 - 132 ngày, vụ Mùa 105 - 110 ngày;
Chiều cao cây 110 - 115 cm, cứng cây, trỗ bông tập trung; bông to, dài, nhiều hạt, hạt thon dài, khối lượng 1000 hạt 24 - 25 gam Nhiễm nhẹ bệnh đạo ôn, bạc lá
Năng suất trung bình 70 - 75 tạ/ ha, thâm canh tốt đạt 85 - 90 tạ/ ha
Tỷ lệ gạo xay xát cao (72 - 74%); chất lượng gạo ngon, gạo trắng, trong, cơm mềm, vị đậm, có mùi thơm đặc trưng
Về chất lượng, giống TBR225 cho cơm dẻo, ngon, có mùi thơm nhẹ Giá lúa bán trên thị trường hiện cao hơn BC15 khoảng 1.500 đồng/ kg nên bà con có thể yên tâm sản xuất
Giống có khả năng đẻ nhánh khá, lá đứng, cứng cây, trỗ bông tập trung, bông
to, dài Các đặc điểm khác như chiều cao cây, chiều dài lá đòng, chiều rộng lá đòng, chiều dài hạt gạo lật đều biểu hiện ở mức của một giống lúa tốt TBR225 đã tái tổ hợp được các tính trạng tốt từ bố và mẹ Khối lượng 1.000 hạt của TBR225 đạt 23,5 - 24,0 g, trung bình 154 hạt/ bông, tỷ lệ chắc khoảng 90% Năng suất cá thể đạt 16,4
Trang 40gam (ở mật độ cấy 50 khóm/ m2 ) Hạt gạo TBR225 có chiều dài trên 6,8 mm, thuộc nhóm hạt dài, trắng trong, hàm lượng amylose thấp (13,7%), cho cơm mềm dẻo