1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY

42 946 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Thực Trạng Tạo Việc Làm Cho Người Lao Động Ở Nông Thôn Việt Nam Hiện Nay
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 72,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiếu việc làm, kiến thức của người lao động nông thôn thấp làm cho đất nước Việt Nam nói chung và nông nghiệp nông thôn Việt Nam nói riêng chậm phát triển không theo kịp với xu thế của

Trang 1

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI

LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY

I ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA NÔNG THÔN VIỆT NAM CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẠO VIỆC LÀM.

1 Đặc điểm tự nhiên

1.1 Đất đai

Đất đai là cơ sở tự nhiên là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất Ở Việt Nam, đất nông nghiệp chiếm diện tích lớn ( 9345,4 nghìn ha chiếm 28,4% diện tích đất sử dụng năm 2000) Tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp được sử dụng phân bố giữa các vùng chưa đều Theo số liệu điều tra của Tổng cục địa chính cho thấy hiện trạng sử dụng đất năm 2000 phân theo vùng

Bảng1: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp phân theo vùng

Đơn vị: nghìn haTổng diện tích Đất nông nghiệp Tỷ lệ(%)

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2000 của Tổng cục Thống kê

Theo biểu trên ta thấy diện tích đất đai ở Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên khá lớn: Đông Bắc là 6532,6 (nghìn ha) chiếm 19,84%; Bắc Trung Bộ là 5150,1 (nghìn ha) chiếm 15,64% và Tây Nguyên chiếm 16,55% so với diện tích

Trang 2

dụng ít chưa đến 15% so với diện tích đất sử dụng của vùng đó Trong khi đó, ở đồng bằng diện tích đất ở, đất chuyên dùng và đất lâm nghiệp có rừng là 2936,9(nghìn ha) chiếm 44,95% diện tích đất sử dụng của vùng đó Như vậy, còn 2697,8 (nghìn ha) đất là chưa sử dụng và sông ngòi Nếu so với đồng bằng sông Hồng một trong những vựa lúa lớn nhất của cả nước với số dân đông thứ nhất trong 8 vùng kinh tế mà diện tích đất lại ít nhất Từ đây có thể thấy dân số đông tập trung ở thành thị và đồng bằng là rất lớn song đất sử dụng ở đây lại hạn chế Hiện tượng đất chật người đông đã gây ra sức ép về việc làm lớn Vẫn biết rằng mỗi vùng có đặc điểm riêng về vị trí địa lý, về kinh tế - xã hội song cùng với việc thiếu việc làm, sử dụng ít thời gian lao động nông thôn làm thất nghiệp giảm, con cái không được chăm sóc, giáo dục đầy đủ gây ra các tệ nạn xã hội Chính điều đó khiến cho đời sống của người nông dân từ đời này qua đời khác không khá lên được Thiếu việc làm, kiến thức của người lao động nông thôn thấp làm cho đất nước Việt Nam nói chung và nông nghiệp nông thôn Việt Nam nói riêng chậm phát triển không theo kịp với xu thế của thời đại.

Trong nông nghiệp, chính sự khác nhau về chất lượng và số lượng đất đai kết hợp với khí hậu, nguồn nước; các hệ sinh thái ở các vùng khác nhau dẫn đến việc hình thành các cơ cấu sản xuất khác nhau Điều này cho phép hình thành cơ cấu sản xuất nông nghiệp khác nhau trên các vùng sinh thái Mặt khác do sự phân

bố không đồng đều giữa các nguồn lực ở các vùng dẫn đến việc hình thành các ngành kinh tế khác nhau trong mỗi vùng lãnh thổ Điều này thể hiện rõ ở sự hình thành cơ cấu ngành kinh tế nói chung và nông thôn nói riêng Từ đây có thể thấy

sự hình thành các vùng kinh tế trọng điểm

Thấy được tầm quan trọng của đất đai là đối tượng cơ bản nhất của quá trình sản xuất và phát triển việc làm, Nhà nước có những chính sách cơ bản trong lĩnh vực ruộng đất, góp phần to lớn giải phóng tiềm năng lao động và tạo mở việc làm đảm bảo khai thác và sử dụng có hiệu quả ruộng đất tạo ra giá trị kinh tế cao trên 1 đơn vị diện tích đất canh tác

Trang 3

1.2 Dân số

1.2.1 Nguồn lao động ở nông thôn chiếm tỷ trọng lớn

Nguồn lao động ở nông thôn nước ta hiện nay khá đông Theo kết quả tổng điều tra dân số, năm 1990 nguồn lao động nông thôn là 27000 (nghìn người) chiếm 73,5% lực lượng lao động của cả nước đến năm 2000 là 29925 (nghìn người) chiếm 77,4% lực lượng lao động của cả nước Như vậy, tỷ trọng nông nghiệp không giảm mà vẫn tăng mặc dù nước ta đã có định hướng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ

Nguồn: Thực trạng lao động việc làm qua các năm

1996,1997,1998,1999,2000 của Bộ Lao động- Thương binh xã hộiDân số nông thôn tăng nhanh trong 10 năm qua Năm 1990 dân số nước

ta gần 51,9 triệu người Đến năm 2000 là 59,065 triệu người Như vậy, năm

2001 so với năm 1990 dân số nông thôn đã tăng 7,1 triệu người (đặc biệt năm 1992,1993 dân số nông thôn tăng rất nhanh, mỗi năm tăng khoảng 1,5 triệu người - đây là thời kỳ có sự giảm biên chế trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước, do đó một số lớn lao động quay trở lại khu vực nông thôn) Trong mấy năm gần đây chính sách ở khu vực này có xu hướng giảm kết hợp với việc thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá làm giảm mức sinh, năm 2000

so với năm 1995 dân số chỉ tăng khoảng trên dưới 1 triệu người

Cùng với sự gia tăng của dân số cả nước dân số nông thôn cũng gia tăng

và chiếm một tỷ trọng lớn trong dân số cả nước Năm 1986 dân số nông thôn

Trang 4

76,03% Như vậy sự phát triển yếu ớt của khu vực đô thị ở nước ta chưa đủ sức làm giảm đáng kể tỷ trọng dân số ở nông thôn.

Chiếm phần lớn dân số cả nước nên nguồn lao động nông thôn cũng rất dồi dào Năm 1996 nguồn lao động nông thôn là 29,028 triệu người chiếm 80,9% lực lượng lao động và đến năm 2001 là 30,307 triệu người chiếm 76,7% lực lượng lao động xã hội Như vậy mỗi năm nông thôn tiếp nhận thêm khoảng hơn 20 vạn người bước vào tuổi lao động Nguồn lao động nông thôn tăng lên không chỉ cung cấp nguồn lực dồi dào cho ngành nông nghiệp mà còn cung cấp cho cả công nghiệp và dịch vụ nữa Song khi nguồn nhân lực tăng lên tức là nhu cầu về việc làm tăng lên Với nền nông nghiệp nước ta hiện nay, khi đất nông nghiệp dần bị thu hẹp, dân số nông thôn ngày càng tăng thì tạo việc làm cho người lao động ở đây luôn là vấn đề bức xúc nhất Tuy nhiên, để người lao động có cơ hội tìm việc làm chỉ có nhà nước mới giúp được bằng các chính sách hỗ trợ vốn, chính sách di dân, đặc biệt là các chính sách khuyến khích mở rộng và phát triển kinh tế vùng trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế hiện nay

1.2.2 Nguồn lao động nông thôn phân bố không đồng đều giữa các ngành và vùng

Thực tế cho thấy, cơ cấu nguồn lao động ở nông thôn phân bố chưa hợp lý Gần 85% lao động làm nông nghiệp, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi song lao động nông nghiệp chủ yếu tập trung ở đồng bằng và các thành phố lớn.(Bảng 3)

Từ bảng số liệu (Bảng 3) ta thấy năm 2000 dân số tập trung đông nhất ở hai đồng bằng lớn đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long chiếm 21,2%

và 21,06% dân số cả nước Dân số nông thôn ở đồng bằng sông Hồng chiếm 23,01% dân số lao động nông thôn của cả nước và đồng bằng sông Cửu Long là 22,84% dân số lao động nông thôn của cả nước Trong khi đó, ở Tây Bắc chỉ có 2009,9 (nghìn người) chiếm 3,4% dân số nông thôn của cả nước như đã nêu ở phần trên mỗi vùng có điều kiện tự nhiên khác nhau, tài nguyên, kinh tế xã hội và trình độ phát triển lực lượng sản xuất khác nhau thì số lượng lao động tập trung gia tăng ở đó cũng khác nhau Điều này dẫn tới sự mất cân đối giữa lao động và

tư liệu sản xuất, kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội nông thôn và trình độ phát

Trang 5

triển không đều giữa các vùng thêm trầm trọng Hiện nay, Đảng và Nhà nước đã

có chương trình phát triển nông nghiệp nông thôn tránh hiện tượng di dân tự do, phần lớn ổn định kinh tế chính trị đặc biệt chương trình đưa người dân nông thôn

đi xây dựng vùng kinh tế mới góp phần rất lớn vào việc giảm khoảng cách chênh lệch giữa các vùng và khai thác được tiềm năng kinh tế ở mỗi vùng

Vẫn biết rằng mỗi vùng có một vị trí địa lý khác nhau, có điều kiện phát triển từng loại cây trồng, vật nuôi khác nhau song chính sự tập trung quá đông ở các vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng làm cho số người thiếu việc làm ở đây chiếm tỷ lệ lớn (đồng bằng sông Cửu Long: 2.239,752 ngàn người, đồng bằng sông Hồng là 1.111,837 ngàn người) và nguyên nhân chủ yếu ở đây là lượng lao động làm nông nghiệp nhiều song lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật kém Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vựa lúa lớn của cả nước nên lao động làm nông nghiệp tập trung đông nhưng hàng năm diện tích đất ở và đất chuyên dùng ngày càng tăng còn diện tích đất trồng có xu hướng thu hẹp, chính điều đó đã làm cho thời gian rảnh rỗi ở nông thôn tăng lên

Chúng ta đều biết sự phân công lao động xã hội là cơ sở để hình thành cơ cấu ngành kinh tế Phân công lao động càng sâu sắc thì cơ cấu ngành được phân chia càng đa dạng và tỉ mỉ Từ năm1994, vốn đầu tư cho ngành dịch vụ tăng cao

do tỷ suất lợi nhuận của đầu tư trong nông nghiệp thấp, đồng Việt Nam lên giá mạnh, FDI chảy vào nhiều, các nhà đầu tư đã đổ dồn vào ngành dịch vụ và các công nghiệp được Nhà nước bảo hộ Quá trình tăng vốn đầu tư kéo theo quá trình thu hút lao động xã hội ngày càng tăng vào nhóm ngành dịch vụ Hàng năm có hơn một triệu thanh niên bắt đầu tham gia lực lượng lao động và nếu không có thêm cơ hội việc làm trong ngành công nghiệp nằm ngoài các trung tâm tăng trưởng, đa số các thanh niên này sẽ gia nhập vào nông nghiệp hoặc khu vực phi chính thức Hiện nay mặc dù đã có sự chuyển biến trong cơ cấu ngành kinh tế nhưng vẫn tỏ ra rất lạc hậu và tập trung vào sản xuất nông nghiệp

Trang 6

BẢNG3: DÂN SỐ LAO ĐỘNG NÔNG THÔN PHÂN THEO VÙNG

Bộ

9.696,1 8.611,6 9.813,1 8.633,0 9.927,2 8.731,1 10.030,6 8.787,6 10.120,6 8.832,9

Trang 7

Nguồn: Niên giám thống kê 2000 của Bộ Lao động-Thương binh và xã hội

Trang 8

Ở các vùng sớm tiếp cận với phương thức sản xuất hàng hoá, có công nghiệp phát triển, tốc độ đô thị hoá nhanh, dịch vụ mở rộng cũng là những vùng

có cơ cấu phân công lao động thay đổi nhanh và cơ cấu sản xuất cũng phát triển như Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng lao động phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao hơn con số trung bình cả nước từ 1 đến 6% Điều này cho thấy ở nơi đây thu hút nhiều lao động từ nông nghiệp, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Đất nước ta đang trên con đường đi lên công nghiệp hoá thì trước tiên phải công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên cần phải xem xét đến chất lượng nguồn nhân lực

1.2.3 Chất lượng nguồn lao động ở nông thôn có nhiều đặc tính phù hợp với

sự phát triển nhưng cũng còn nhiều hạn chế.

Do nguyên nhân lịch sử kinh tế sâu xa, nguồn lao động ở nông thôn nước ta

có bản sắc, văn hoá độc đáo, có truyền thống đoàn kết yêu nước nồng nàn; có phẩm chất cần cù chịu khó, thông minh, sáng tạo Tuy nhiên, nguồn lao động ở nông thôn còn có nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội và sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Về thể lực: chiều cao trung bình của lao động nông thôn là 156cm và trọng

lượng trung bình là 48kg Để đánh giá thể lực của lao động, trong điều tra mức sống dân cư năm 1997-1998 đã sử dụng chỉ số cơ thể (BMI), theo cách này có tới 62,51% lao động nam và 36,93% lao động nữ ở nông thôn dưới mức bình thường, trong khi trên phạm vi cả nước tỷ lệ tương ứng của lao động nam là 59,29% và nữ

là 34%

Về trình độ học vấn: trình độ học vấn của lao động ngày càng được nâng

cao Năm 2000, trên phạm vi cả nước tỷ lệ lao động biết chữ là 96% tương đương với một số nước phát triển trong khu vực như Singapore, Malaysia Đối với khu vực nông thôn, tốt nghiệp phổ thông cơ sở và trung học phổ thông khoảng 45,8% thấp hơn khu vực thành thị 19,7% Điều này không chỉ hạn chế lao động nông thôn trong việc tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ của khoa học công nghệ và

Trang 9

sản xuất mà còn là nhân tố cản trở họ trong việc theo học các khoá đào tạo nghề, bởi điều kiện học nghề tối thiểu phải có trình độ văn hoá ở bậc trung học cơ sở

Tuy trình độ học vấn của nông thôn không phải quá thấp nhưng đại bộ phận lại không được đào tạo chuyên môn kỹ thuật Năm 1996, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo mới đạt 7,8%; năm 2000, tỷ lệ này tăng lên 9,3% so với tỷ lệ chung toàn quốc thì tỷ lệ này còn thấp hơn khoảng 10% Nếu tính riêng số lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật thì chiếm khoảng 15% tổng số lao động kỹ thuật của cả nước

Có sự khác biệt đáng kể trong phân bố lao động qua đào tạo giữa các vùng Phần lớn lao động qua đào tạo tập trung ở các vùng đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, hai vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ đào tạo thấp nhất Cơ cấu chuyên ngành được đào tạo cũng có sự mất cân đối nghiêm trọng Theo kết quả khảo sát của Ngân hàng thế giới, cứ 1000 lao động nông thôn có 75 người qua đào tạo, trong đó chỉ có 4,4 người được đào tạo về chuyên ngành nông-lâm-ngư nghiệp Hiện nay, tình trạng này hầu như chưa được cải thiện, số cơ sở đào tạo và

số học sinh theo học các chuyên ngành thuộc các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp còn rất khiêm tốn so với các ngành khác Lao động nông nghiệp vẫn chủ yếu là canh tác, sản xuất theo kinh nghiệm, năng suất thấp Gần đây, nhờ công tác khuyến nông và phổ biến kỹ thuật, trình độ canh tác của nông dân bước đầu được cải thiện nhưng do phần lớn lao động nông thôn thiếu kiến thức cơ bản để tiếp thu

và áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp nên hiệu quả sản xuất nhìn chung còn thấp

Như vậy, cả về thể lực và trí lực, lao động nông thôn còn nhiều hạn chế trước yêu cầu phát triển hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

2 Đặc điểm kinh tế xã hội

2.1 Thu nhập

Trước khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới kinh tế, kinh tế nông nghiệp nông thôn rất thấp trong khi là khu vực thu hút nhiều lao động nông thôn nhất Một số nguyên nhân là: nước ta vừa trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt đã làm

Trang 10

hai, hình thức sở hữu lúc đó là sở hữu nhà nước mang tính “bao cấp” vì vậy không phát huy được năng lực của mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình dẫn đến phát triển chậm chạp Thứ ba, do trình độ kỹ thuật của lao động nông thôn còn kém nên trong nông nghiệp hình thức lao động chủ yếu là lao động giản đơn chưa áp dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, chi phí thời gian lao động nhiều nên việc phát triển công nghiệp và dịch vụ còn chậm chạp.

Nhưng kể từ sau khi “đổi mới kinh tế” xu hướng tự do hoá kinh tế trong nông nghiệp, sự thừa nhận chính thức các thành phần kinh tế tư nhân và ngoài quốc doanh đã phát huy được những nguồn lực vốn có của người nông dân (trong

đó có nguồn nhân lực) Sự phát triển của kinh tế hộ và hình thức phát triển tất yếu của kinh tế hộ- kinh tế trang trại, sự phát triển của các hộ sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn trong các ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ,

đã là những yếu tố quyết định tạo nên sự tăng trưởng lâu dài và ổn định của nông nghiệp trong suốt một thập niên vừa qua, luôn ổn định ở mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 4,17% (giai đoạn 1989-1999) Sự tăng trưởng nông nghiệp, quá trình các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn đã tạo thêm việc làm mới, thu hút nhiều lao động Theo điều tra mức sống dân cư Việt Nam 1997-1998 cơ cấu thu nhập của dân cư được phân bổ như sau:

Bảng 4: Cơ cấu thu nhập của dân cư

Đơn vị (%) Tiền công-Tiền

lương

Thu từ nông nghiệp – phi nông nghiệp

Thu từ ngành nghề nông nghiệp

Nguồn: Điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê

Khu vực nào ở nông thôn có nguồn thu nhập từ các ngành nghề nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn thì thu nhập bình quân đầu người thấp Cụ thể: vùng núi và trung du Bắc bộ có tỷ lệ thu từ các nghề nông- lâm- thuỷ sản cao nhất là 58% thì thu nhập bình quân người /năm theo giá so sánh chỉ có 2036 (ngàn đồng),

Trang 11

vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ thu từ nông- lâm- thuỷ sản thấp nhất là 9 % thì thu nhập bình quân người /năm lên tới 6017 (ngàn đồng) Điều đó lý giải vì sao đa số người nghèo sống ở nông thôn và làm nông nghiệp là nghề chính.

Khi thu nhập nông thôn tăng làm tăng thu nhập quốc dân dẫn tới năng suất nông nghiệp tăng và có khoản vốn dành cho các chương trình hỗ trợ và tạo việc làm thu hút lao động Có việc làm ổn định người dân lao động sẽ chăm chỉ làm việc, chăm lo cho mảnh đất của mình khiến cho thu nhập nông nghiệp nói riêng

và thu nhập quốc dân nói chung tăng Đây có thể nói là một chu kỳ kinh tế của sự tăng trưởng nhưng trên thực tế giải quyết việc làm không phải vấn đề đơn giản vì tạo việc làm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Thu nhập là một trong những yếu

tố chủ quan có ảnh hưởng khá lớn tới tạo việc làm Thu nhập thấp sẽ làm cho tỷ lệ

Nguồn: Điều tra mức sống dân cư của Tổng cục Thống kê

Trong 8 vùng lãnh thổ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc và Đông Bắc

là những vùng có tỷ lệ nghèo đói cao hơn cả.Tây nguyên có hộ nghèo cao nhất chiếm 24,53% tổng số hộ cả nước.Tuy nhiên năm 1999 có giảm xuống 21,27% nhưng vẫn là vùng đứng đầu.Thấp nhất là Đông Nam Bộ tỷ lệ hộ nghèo chiếm 9,6%(năm 1996) và đến năm 1999 có giảm xuống 5,17%.Khu vực nông thôn có

Trang 12

số hộ nghèo nhiều hơn khu vực thành thị vì thu nhập bình quân đầu người/tháng ở nông thôn là 80.000 đồng trong khi ở thành thị là 150.000 đồng (theo chuẩn mới)

2.2 Văn hoá xã hội

Nước ta đi lên từ một nước thuộc địa nghèo và lạc hậu Bằng bàn tay và trí

óc của con người, con người Việt Nam đã đưa đất nước mình trở thành một cường quốc độc lập về kinh tế, chính trị xã hội Có thể nhận thấy điều đó qua nhận thức của người lao động nông thôn nói riêng và của người Việt Nam nói chung

- Người Việt Nam có phản ứng tích cực, nhận thức nhanh nhạy đối với thời

kỳ mở cửa Những năm 1986-1990 khi công cuộc đổi mới bắt đầu gây xáo động tâm lý xã hội sâu sắc, mạnh mẽ Nhưng tình hình đã nhanh chóng ổn định và ngày càng tiến triển theo chiều hướng tích cực Họ thấy rằng mở cửa là xu thế tất yếu của thời đại, vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với dân tộc cũng như đối với cá nhân; có mở cửa cọ xát với nền văn hoá thế giới tinh thần văn hoá Việt Nam mới được thử thách tự khẳng định và phát triển Điều này cho thấy sự nhất trí cao đối với chủ trương, chính sách đổi mới mở cửa của Nhà nước

- Người Việt Nam thấy được mở cửa dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo giữa các khu vực, giữa các nhóm xã hội, mở cửa sẽ dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội, dễ mắc vào âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch; mở cửa sẽ du nhập văn hoá, lối sống phương Tây làm hại truyền thống dân tộc dễ bị hoà mất độc lập

tự chủ

- Con người Việt Nam chăm chỉ, chịu khó vượt qua được những trở ngaị để vươn lên trên cuộc sống

Trên đây chỉ là một vài đặc điểm tích cực khiến con người nhận thức tiến

bộ hơn Điều này ảnh hưởng gián tiếp đến tạo việc làm vì nó là suy nghĩ và nhận thức của con người Do vậy, ảnh hưởng đến môi trường tiêu thụ Có lẽ đây là yếu

tố tích cực vì cùng với sự phát triển của xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thì nhận thức của con người cũng rộng hơn dần dần bỏ đi tư tưởng phong kiến và lạc hậu Tuy nhiên, con người Việt Nam nhất là người lao động nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế về nhận thức

- “Đua theo nhóm” làm những việc vi phạm pháp luật: chặt cây, xây nhà trái phép, lấy của công, lấn chiếm đất công, đổ rác bừa bãi, họp chợ trên

Trang 13

đường thậm chí không phải chỉ do “ đói ăn vụng túng làm liều” mà còn có những người có chức có quyền, giàu có cũng liều.

- Dễ bắt chước nước ngoài, pha trộn lai tạp đi đến xa rời tinh hoa, bản sắc dân tộc Về khoa học công nghệ, sản xuất, kinh doanh ta phải học theo cách làm ăn tiên tiến là đúng nhưng những giá trị văn hoá, đạo đức, lối sống ta có nhiều cái tốt phải biết giữ gìn và nâng cao

- Nước ta còn nghèo, dân ta còn nhiều người túng thiếu, gần 50% trẻ em suy dinh dưỡng nhưng vẫn còn bộ phận đua đòi, tiêu xài lãng phí Điều này đặc biệt là ở nông thôn chưa bỏ được tục lệ cưới xin, ma chay, giỗ tết… linh đình tốn kém Mức sống thấp, lối sống không hợp lý làm sao phát triển nhanh được!

- Dễ mắc vào các tệ nạn xã hội do sống thiếu bản lĩnh cá nhân Đó là các tệ nạn buôn lậu, hối lộ, mại dâm, ma tuý, đã ảnh hưởng tới tư duy, nhân cách con người

Để hạn chế những mặt xấu trên cần phải phát triển hệ thống giáo dục đặc biệt với giới trẻ hiện nay Tương lai là nguồn lực tri thức phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước nên không chỉ cần có trình độ chuyên môn kỹ thuật mà cần có trình độ văn hoá và nhận thức đúng về thời đại Một xã hội phát triển trong tương lai là xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

II THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM.

1 Quy mô tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn Việt Nam

Để người lao động có việc làm, Bộ Luật lao động đã quy định: “ Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn thể xã hội”(Điều 13) Như vậy, do nguồn lao động hàng năm tăng lên làm cho nhu cầu

về việc làm cũng tăng lên tức là quy mô về việc làm mới cũng tăng lên Trong những năm qua, nhận thức được vai trò của con người và tầm quan trọng của việc làm trong việc phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước cùng với sự giúp đỡ của các cấp, các ngành, các địa phương số việc làm mới được tạo ra hàng năm tăng lên

Bảng6: Số việc làm mới được tạo ra hàng năm

Trang 14

Đơn vị: Triệu người

Trang 15

Như vậy, hàng năm số việc làm mới tạo ra vẫn không ngừng tăng để đáp ứng nhu cầu lao động cần việc làm Trong những năm tới mục tiêu sẽ tạo việc làm mới cho 1,5 Triệu lao động Việc làm mới đòi hỏi kỹ năng mới và trình độ chuyên môn nhất định vì vậy việc làm mới chủ yếu được tạo ra ở các hoạt động kinh doanh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngay cả nông thôn cũng vậy.

Tốc độ tăng trưởng hàng năm của ngành nghề phi nông nghiệp đạt 9,8% trong vòng 12 năm qua, đạt tỷ lệ cao nhất, 10-11%năm vào các năm 1993-

8,6-1996 Sự tăng trưởng này của ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn góp phần tăng tỷ lệ lao động trong nghề tiểu thủ công nghiệp từ 20% năm 1990 lên 29,5% năm 1996 và giá trị sản lượng ngành nghề nông thôn lên 27.500 tỷ đồng năm 1996 Đồng thời khu vực này thu hút một phần lao động ở nông thôn mà lao động chủ yếu rút ra từ nông nghiệp nông nhàn và một phần lao động trẻ ở nông thôn Những lao động này được thuê vào làm việc thường xuyên hoặc thời vụ tại các doanh nghiệp công nghiệp, các cơ sở TTCN, các hộ kinh doanh tự tạo việc làm bằng cách tự lập doanh nghiệp mới, doanh nghiệp mi ni, doanh nghiệp gia đình, quy mô nhỏ hoặc một số hoạt động thêm ở các hộ kiêm và chuyển dần thành lao động phi nông nghiệp

Theo thống kê cả nước có 24.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, phi nông nghiệp ở các vùng nông thôn, gồm các doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, tổ hợp, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hộ gia đình, cá thể Nếu tính cả các hộ kiêm thì cả nước có 1.350.000 cơ sở (trong đó 97,1% là các đơn vị kinh tế hộ Số lượng các doanh nghiệp chỉ chiếm dưới 3%, còn lại là các dạng tổ hợp tác… Trong số các doanh nghiệp thì doanh nghiệp nhà nước chiếm 14,16% ,các hợp tác

xã chiếm 5,76%, còn lại 80,08% là các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn Khoảng 17,3% các cơ sở hoạt động trong lĩnh vực chế biến nông-lâm-thủy sản, gần 32,5% -trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và 49,8%-trong ngành dịch vụ (Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang chủ biên – Phát triển nông nghiệp và nông thôn trong giai đoạn CNH-HĐH ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà nội, 2000) Tổng số việc làm được tạo ra ở trên 1,35 triệu đơn vị, cơ sở kinh doanh ngành nghề ở nông thôn là gần 10 triệu bằng khoảng 29,25% lực lượng lao động nông thôn

Trang 16

Quy mô tạo việc làm theo thành phần, 90% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn được tạo ra ở các hộ ngành nghề, 10% được tạo ra ở các doanh nghiệp

cơ sở ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Nhìn từ góc độ ngành thì các hoạt động chế biến nông-lâm-thuỷ sản tạo được việc làm cho 17,9% lao động phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tạo được 40,7% và dịch vụ, thương mại tạo được 41,34% tổng số việc làm cho lao động phi nông nghiệp nông thôn

Quy mô sử dụng lao động ổn định trung bình của các cơ sở, đơn vị ngành nghề từ 4-6, và 2-3 lao động thời vụ; khoảng 90% đơn vị sử dụng dưới 50 lao động và chỉ có 7% cơ sở sử dụng trên 100 lao động Tính riêng, bình quân mỗi doanh nghiệp tạo được 27 việc làm và một hộ thu hút được 4-6 lao động ổn định Trong đó, 5 lao động nông nghiệp được thu hút vào một cơ sở công nghiệp và 2 lao động vào hộ ngành nghề

Nông thôn Việt Nam có đặc trưng phát triển các làng nghề truyền thống do vậy ngoài việc tạo việc làm ở các hộ ngành nghề, ở các doanh nghiệp, các doanh nghiệp cơ sở ngành nghề tiểu thủ công nghiệp còn tạo việc làm ở các làng nghề.Hiện nay các nước có trên 1000 làng nghề, trong đó nhiều làng nghề có lịch sử hoạt động và phát triển nhiều năm và những làng nghề mới hình thành trong thời

kỳ đổi mới kinh tế Tiềm năng để phát triển ngành nghề truyền thống ở nông thôn

là lớn, với số lượng các đơn vị, cơ sở ngành nghề phi nông nghiệp, các làng nghề truyền thống hiện hành, đội ngũ các nghệ nhân và lao động nông thôn dồi dào, trẻ

và đang có nhu cầu việc làm, có trình độ học vấn ở mức có thể đào tạo và nâng cao về chuyên môn kỹ thuật để làm việc được Tuy nhiên vấn đề đào tạo nghề, truyền nghề là hết sức quan trọng

Ở các vùng có nhiều làng nghề phát triển, hệ thống hạ tầng cơ sở vật chất được xây dựng tốt hơn và đời sống văn hoá được nâng cao rất nhiều trong thời gian vừa qua Tóm lại khôi phục làng nghề truyền thống và phát triển các làng nghề mới, sản phẩm mới đã tạo thêm được việc làm, thu hút dần lao động nông nghiệp, tăng thu nhập, sức mua của thị trường nông thôn Kết quả là các làng

Trang 17

nghề đã giảm lao động nông nghiệp ngày một rõ hơn: tỷ trọng lao động nông nghiệp đã giảm 80% năm 1990 xuống 76,44% năm 2001 Cụ thể trong từng ngành:

Trang 18

Bảng 7: Cơ cấu lao động nông thôn theo ngành và vùng kinh tế

Nông, Lâm, Ngư nghiệp

CôngNghiệp

Dịch vụ

Nông, Lâm, Ngư nghiệp

Công nghiệp

Dịch vụ

Nguồn: Bài của Hoàng Kim Ngọc - Tạp chí Lao động và xã hội T12/2001

Như vậy, năm 1996 cơ cấu lao động là nông, lâm, ngư nghiệp là 81,64%; công nghiệp và xây dựng là 6,83%; dịch vụ là 11,53% Sau 5 năm, cơ cấu lao động nông thôn chuyển dịch theo xu hướng tăng tỷ trọng lao động phi nông nghiệp, giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp (năm 2000 tỷ lệ nông, lâm nghiệp - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ tương ứng là 76,66% - 8,86% - 14,48%) Nếu với điều kiện nước ta có thể thấy sự chuyển dịch này là tích cực Các ngành nông, lâm, ngư nghiệp tiếp tục có tốc độ tăng trưởng khá nhưng tỷ trọng GDP đã giảm mạnh từ 38,7% (năm 1990) xuống còn 27,5%(năm 1995) và 24,3% năm 2000, công nghiệp và xây dựng từ 22,7% tăng lên 28,7% và 36,6%; dịch vụ từ 38,6% tăng lên 44,1% và 39,1% song so với các nước trên thế giới thì sự chuyển biến này lại là chậm và có sự khác biệt giữa các vùng Đồng bằng sông Hồng có sự chuyển biến nhanh nhất, sau 5 năm tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ 85,21% xuống còn 75% (tức giảm hơn 10%) trung bình mỗi năm giảm 2% trong khi cả nước chỉ giảm 1% Điều này phần nào thể hiện lợi thế của vùng trong việc khôi phục và phát triển làng nghề, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp Đông bắc và Tây Bắc lao động nông thôn chiếm tỷ lệ lớn nhất cả nước song sự chuyển dịch cơ

Trang 19

cấu lại diễn ra gần như chậm nhất cả nước (đặc biệt nông, lâm, ngư nghiệp năm

2000 giảm 0,44% so với năm 1999, trung bình giảm 0,43%) Riêng ở Tây Nguyên

sự chuyển dịch cơ cấu lao động lại theo chiều hướng ngược lại, sau 5 năm (từ

1996 tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ 89,65% lên 90,24%; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng lại giảm từ 2,99% xuống 2,08% còn dịch vụ có tăng nhưng không đáng kể (7,36% lên 7,68%)

Nhìn vào bảng trên ta thấy Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có tỷ trọng công nghiệp năm 2000 so với năm 1996 giảm, còn một số vùng đồng bằng sông Cửu Long, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc có sự chuyển dịch nhanh tỷ trọng công nghiệp tăng rất ít Sự chuyển dịch cơ cấu lao động như vậy chứng tỏ mức độ công nghiệp hoá nông thôn còn chậm và chưa tạo được sự chuyển dịch Nói cách khác quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế chung của cả nước mà còn phụ thuộc đáng kể vào sự phát triển của khu vực phi nông nghiệp ngay tại các vùng nông thôn, mức độ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, khả năng mở mang và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị mới

Trong những năm qua, nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự

cố gắng của các hộ sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn trong các ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ là yếu tố quan trọng tạo nên sự tăng trưởng lâu dài và ổn định của nông nghiệp (mức độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 4,17% giai đoạn 1989-1999) Tuy nhiên, do lực lượng lao động tăng tự nhiên hàng năm ở khu vực nông nghiệp, do diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, do nhu cầu phát triển công nghiệp và đô thị hoá (bình quân đất mỗi năm canh tác giảm từ 2,5 - 3 vạn ha, tỷ lệ đất canh tác bình quân cho một lao động giảm từ 0,27 ha (1990) xuống còn 0,23 ha (1995), đến năm 1998 cả nước

có 12 triệu hộ nông dân nhưng chỉ còn 8,2 triệu ha đất canh tác ( báo cáo lao động thất nghiệp việc làm của viện kinh tế học ), trong đó chỉ có 4,2 triệu ha đất trồng lúa, diện tích đất canh tác ngày càng hạn hẹp, lao động nông thôn ngày một tăng thêm, song sự thay đổi cơ cấu ngành nghề chưa có thay đổi đáng

kể, lao động nghề nông vẫn chiếm đa số Theo điều tra của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong tổng số hội nông thôn thì có tới 68,26% thuần nông; 14,1% phi nông nghiệp và 17,64% làm nông nghiệp kiêm phi nông

Trang 20

kém, đã khiến cho tình trạng thiếu việc làm của lao động ở nông thôn diễn ra triền miên

Trang 21

Bảng 8: Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn (%)

Đồng bằng sông Hồng 75,69 72,88 72,51 73,98 74,98 75,63Đông Bắc

Đồng bằng sông Cửu Long 68,16 71,56 71,40 73,16 73,10 73,39

Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam 2001-2002

Trong 8 vùng kinh tế có hai vùng đạt tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng

ở nông thôn cao hơn các vùng khác và cao hơn tỷ lệ thời gian sử dụng lao động của cả nước Đó là Tây Nguyên (77,16% năm 2001); Đông Nam Bộ là 76,5% (năm 2001) Tuy nhiên, so với năm 1999 tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn của Tây Nguyên lại giảm xuống còn 77,16% Như vậy, lao động ở nông thôn của Tây Nguyên tăng 0,49% (năm 2001 so với năm 1999), tỷ

lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn giảm nhanh làm cho tỷ lệ thiếu việc làm sẽ tăng Vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có sự tăng nhanh, năm 1996 là 61,76% đến năm 2001 là 76,50%, bình quân mỗi năm tăng 2,4% (Đông Nam Bộ) và 1,53%(Đồng bằng sông Cửu Long) nhưng so với năm 1999 thì tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn là giảm Nói chung tỷ

lệ thời gian lao động được sử dụng của dân số hoạt động kinh tế thường xuyên khu vực nông thôn là đồng đều giữa các vùng

Theo Tạp chí Lao động- xã hội số chuyên đề III/2001 trong 61 tỉnh thành

có 17 tỉnh đạt tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn lớn hơn 75% Ở đồng bằng sông Hồng có 4 tỉnh trên 9 tỉnh; Đông Nam Bộ có 5 trên 9 tỉnh; vùng Đông Bắc có 2 trên 13 tỉnh; duyên hải Nam Trung Bộ có 1 trên 6 tỉnh; đồng bằng sông Cửu Long có 2 trên 12 tỉnh Đặc biệt ở Tây Nguyên cả 3 tỉnh đều

Ngày đăng: 05/11/2013, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Cơ cấu thu nhập của dân cư - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 4 Cơ cấu thu nhập của dân cư (Trang 10)
Bảng 7: Cơ cấu lao động nông thôn theo ngành và vùng kinh tế - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 7 Cơ cấu lao động nông thôn theo ngành và vùng kinh tế (Trang 18)
Bảng 8: Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn (%) - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 8 Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở nông thôn (%) (Trang 21)
Bảng 11: Lao động được giải quyết việc làm thông qua Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm hàng năm 1996-2000 - PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 11 Lao động được giải quyết việc làm thông qua Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm hàng năm 1996-2000 (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w