Nghiên cứu chế tạo màng mỏng kim loại được chức năng hóa nhằm ứng dụng làm cảm biến sinh học Nghiên cứu chế tạo màng mỏng kim loại được chức năng hóa nhằm ứng dụng làm cảm biến sinh học Nghiên cứu chế tạo màng mỏng kim loại được chức năng hóa nhằm ứng dụng làm cảm biến sinh học luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1
-
LÊ NGỌC ANH
NGHIÊN CỨU, CHẾ TẠO MÀNG MỎNG KIM LOẠI
ĐƢỢC CHỨC NĂNG HÓA NHẰM ỨNG DỤNG LÀM CẢM BIẾN SINH
HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội 2015
Trang 2
LÊ NGỌC ANH
NGHIÊN CỨU, CHẾ TẠO MÀNG MỎNG KIM LOẠI
ĐƯỢC CHỨC NĂNG HÓA NHẰM ỨNG DỤNG LÀM CẢM BIẾN SINH
HỌC
Chuyên ngành: Vật lý chất rắn
Mã số: 60040104
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VIỆT TUYÊN
Hà Nội 2015
Trang 3
giáo TS Nguyễn Việt Tuyên và TS Nguyễn Hoàng Nam Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, các thầy luôn tận tình chỉ bảo và giúp em định hướng để hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn thầy Lưu Mạnh Quỳnh đã trực tiếp hướng dẫn và đưa ra những ý kiến đóng góp quý báu giúp em hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình của sinh viên Nguyễn Quang Lộc trong quá trình làm thực nghiệm
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, anh, chị tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên nói chung và Trung tâm Khoa học vật liệu nói riêng đã giúp
đỡ trong suốt quá trình tôi học tập là thực hiện đề tài tại đây
Luận văn này được thực hiện và hoàn thành tại phòng thí nghiệm Trung tâm Khoa học vật liệu trường Đại học Khoa học tự nhiên- Đại học Quốc gia Hà Nội
Em cũng xin cảm ơn Ban giám đốc trung tâm Khoa học Vật liệu đã tạo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị để em hoàn thành luận văn này
Trong luận văn này có sử dụng thiết bị kính hiển vi trường tối tại Trung tâm Khoa học vật liệu- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, được sự hỗ trợ của dự án Công nghệ nano và ứng dụng- Đại học Quốc gia Hà Nội
Sau cùng, sự cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi từ gia đình, người thân là động lực to lớn giúp tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2015
Học viên
Lê Ngọc Anh
Trang 4
1.2 Màng nano vàng và ứng dụng……… 3
1.2.1 Cộng hưởng Plasmon bề mặt……….3
1.2.2 Điện cực dẫn và khả năng liên kết với nhóm –SH……….5
1.2.3 Tăng cường tín hiệu Raman……… 7
1.3 Các phương pháp chế tạo 9
1.3.1.Phương pháp Lắng đọng chùm điện tử……… 9
1.3.2.Phương pháp phún xạ- Sputtering……….10
1.3.3.Phương pháp điện hóa……… 11
1.3.4.Phương pháp lắng đọng hóa học……… 12
1.4 Mục tiêu của luận văn 15
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHÉP ĐO KHẢO SÁT………16
2.1 Các bước tiến hành thí nghiệm 16
2.1.1 Hóa chất thí nghiệm……….16
2.1.2.Chế tạo màng vàng………17
2.2 Các yếu tố khảo sát 20
2.2.1 Khảo sát sự hình thành màng vàng trên đế lamen………20
2.2.2 Nghiên cứu sự ảnh hưởng của nhóm hydroxyl ( –OH)………21
Trang 5
2.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dung dịch mầm……… 22
2.2.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH dung dịch mầm đến quá trình hấp thụ các hạt mầm……… 22
2.2.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian ngâm mầm………23
2.3.Các phép đo khảo sát 23
2.3.1 Khảo sát cấu trúc màng nano vàng- Phép đo nhiễu xạ tia X………… 23
2.3.2 Phép đo phổ hấp thụ……….24
2.3.3 Khảo sát hình thái của mẫu màng vàng- Kính hiển vi điện tử quét SEM (Scaning Electron Microscope)……… 24
2.3.4 Phép đo hiển vi trường tối………25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……….26
3.1 Chế tạo màng nano vàng 26
3.1.1 Khảo sát cấu trúc màng nano vàng……… 26
3.1.2.Khảo sát hình thái của màng nano vàng………27
3.1.3.Khảo sát mật độ hạt nano vàng trên đế lamen……… 28
3.1.3.Phổ hấp thụ của mẫu màng nano vàng……… 28
3.2 Khảo sát độ lặp lại của các mẫu chế tạo cùng điều kiện 29
3.3 Ảnh hưởng của nhóm hydroxyl (-OH) 31
3.4 Ảnh hưởng của pH đến hiệu suất phản ứng của APTES với bề mặt lamen 32
3.5 Ảnh hưởng của nồng độ dung dịch HAuCl4 tạo mầm 33
3.6 Ảnh hưởng của pH dung dịch mầm đến quá trình hấp thụ các hạt mầm 35
3.7 Ảnh hưởng của thời gian ngâm vàng 37
Trang 7
Hình 1.1.Sự tạo thành dao động Plasmon bề mặt của các hạt nano
kim loại
1
Hình 1.3 Mô hình cảm biến sinh học nghiên cứu tương tác
protein – kháng thể giữa BSA (huyết thanh) và anti BSA sử
dụng màng nano vàng
4
Hình 1.4 Sự dịch đỉnh hấp thụ cộng hưởng Plasmon của cấu trúc cảm
biến nhận biết BSA/anti BSA khi độ dày lớp EMA thay đổi theo thời
gian
4
Hình 1.5 Mô hình cảm biến xác định nồng độ DNA, trước khi DNA bắt
cặp (a) và sau khi bắt cặp (b)
Hình 1.10 Ảnh SEM của màng nano vàng xốp chế tạo bằng phương
pháp phún xạ - sputtering trước khi ủ (A) và sau khi ủ nhiệt (B)
Trang 8
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Hình 2.7 Thiết bị Shimadzu UV-24500 tại Trung tâm Khoa học vật
liệu- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên- ĐHQGH
24
Hình 2.8 Kính hiển vi điện tử quét S-4800 tại Viện vệ sinh dịch tễ
Trung Ương
25
Hình 2.9 Kính hiển vi trường tối AXIO- A1 Zeiss tại Trung tâm Khoa
học vật liệu- Trường Đại học Khoa học tự nhiên
25
Hình 3.1 Phổ nhiễu xạ tia X mẫu màng nano vàng M 0 chế tạo với nồng
ngâm= 2h
26
Hình 3.2 Ảnh SEM màng nano vàng M0 chế tạo với nồng độ HAuCl 4 =
1mM, pH (APTES)= 9, pH (mầm vàng)=8, thời gian ngâm= 2h
27
Hình 3.6 Phổ hấp thụ của mẫu màng nano vàng ngâm với dung dịch
KOH 1M
31
Hình 3.7 Phổ hấp thụ và ảnh hiển vi trường tối của mẫu màng Au trên 33
Trang 9
Hình 3.8 Hấp thụ của mẫu màng vàng với các giá trị pH dung dịch
APTES khác nhau
35
Hình 3.9 Phổ hấp thụ của các mẫu màng vàng với các nồng độ dung
36
Hình 3.10 Phổ hấp thụ của mẫu màng vàng thay đổi giá trị pH dung
dịch mầm
37
Hình 3.11 Ảnh hiển vi trường tối mẫu màng vàng
thay đổi giá trị pH dung dịch mầm
Hình 3.14 Phổ hấp thụ của các mẫu màng Au được chế tạo với thời
gian ngâm mầm khác nhau (a) và đường fit hàm (b)
39
Hình 3.16.Ảnh kính hiển vi trường tối các màng Au hình thành trên đế
lamen
41
Trang 111
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Hiện tượng Plasmon bề mặt
Các hạt nano kim loại: Au, Ag, Pt hoặc các oxit như Fe2O3, trong đó Au, Ag được sử dụng nhiều nhất trong các ứng dụng quang học do các hạt này có hiện tượng plasmon bề mặt
Plasmon là dao động tập thể của các điện tử tự do Trong đó, plasmon bề mặt
là dao động của các điện tử tự do ở bề mặt của kim loại dưới tác dụng của điện trường ngoài Ở kích thước nhỏ (nhỏ hơn quãng đường tự do trung bình của điện tử) khi điện trường ngoài có tần số trùng với tần số dao động riêng của các điện tử tự
do sẽ dẫn đến sự cộng hưởng đồng thời của tất cả các điện tử dẫn trên bề mặt thành một dao động đồng pha, gọi là hiện tượng cộng hưởng Plasmon bề mặt
Hình 1.1.Sự tạo thành dao động Plasmon bề mặt của các hạt nano
kim loại [22]
Khi tần số của ánh sáng trùng với tần số dao động của riêng của hạt nano sẽ gây ra hiện tượng cộng hưởng và hấp thụ mạnh chùm sáng tới tạo ra vị trí đỉnh phổ hấp thụ như Hình 1.2
Trang 122
Hình 1.2 Phổ hấp thụ plasmon bề mặt của hạt nano vàng.[22]
Ở đây, đỉnh hấp thụ Plasmon bề mặt của các hạt nano vàng dịch về phía bước sóng dài khi kích thước hạt tăng lên và độ rộng phổ tăng khi kích thước bắt đầu lớn hơn 20 nm
Lý thuyết Mie
Lần đầu tiên Mie giải thích sự thay đổi màu sắc của hệ keo hạt nano vàng bằng phương trình Maxwell Bằng cách này ông đã mô tả tính chất quang học của hạt nano vàng ở bất kì kích thước nào Lý thuyết cho rằng điện trường được sinh ra
là do kích thích cộng hưởng plasmon bề mặt khi một hạt đơn lẻ không tương tác với phần còn lại của môi trường xung quanh Bản chất của phổ hấp thụ không phải là do
sự dịch chuyển giữa các mức năng lượng mà là do hiện tượng cộng hưởng plasmon
bề mặt Theo tính toán của Mie cho các hạt cầu thì vị trí đỉnh cộng hưởng plasmon phụ thuộc vào ba yếu tố cơ bản sau [6]:
Thứ nhất: Hình dạng, kích thước của hạt nano
Thứ hai: Bản chất của vật liệu đó (hằng số điện môi của vật liệu)
Thứ ba: Môi trường xung quanh kim loại đó
Trang 131.2 Màng nano vàng và ứng dụng
Màng nano vàng có rất nhiều ứng dụng trong khoa học kỹ thuật như làm cảm biến sinh học [14,16,18,20], điện cực [17]; ứng dụng trong việc sử dụng phương pháp đo Raman tăng cường bề mặt [18,19,21] Thông thường, trong các ứng dụng làm cảm biến sinh học, vàng được lắng đọng dưới dạng màng trên bề mặt của đế hoặc chất nền Màng vàng lúc này trở thành một phần của bộ phận chuyển đổi vừa có tác dụng cố định các đầu thu sinh học để làm địa điểm cho các phản ứng tương tác giữa đầu thu sinh học và chất phân tích [16,20]; vừa có tác dụng làm điện cực [17] Dưới đây là một số ứng dụng thông qua các tính chất nổi bật của màng nano vàng
Nhóm nghiên cứu của Rakesh Singh Moirangthem đã nghiên cứu và đưa
ra mô hình cảm biến quang - sinh học ứng dụng màng nano vàng [20] (Hình 1.3)
Mô hình này là ứng dụng của màng vàng nhằm xác định số lượng tương tác sinh học bằng cách xác định số lượng tương tác giữa huyết thanh bovine serum albumin (BSA) và anti-BSA – Kháng thể đặc hiệu để nhận biết BSA
Trang 144
Hình 1.3 Mô hình cảm biến sinh học nghiên cứu tương tác protein
– kháng thể giữa BSA (huyết thanh) và anti BSA sử dụng màng
nano vàng [20]
Cấu tạo của cảm biến gồm một đế thủy tinh được phủ lớp màng Titan 5
nm, kế tiếp là lớp màng vàng dày 40 nm được chế tạo bằng phương pháp lắng đọng chùm điện tử Kháng nguyên gắn với các hạt nano vàng, trong khi đó kháng thể được gắn với màng vàng Tương tác kháng nguyên – kháng thể giữa các phân tử BSA và anti-BSA đã lôi các hạt nano vàng về phía màng mỏng; hình thành một lớp cấu trúc dạng màng bên trên bề mặt màng mỏng nano (lớp EMA) Theo thời gian tương tác, số lượng hạt Au-BSA bám trên bề mặt ngày càng nhiều và được đo thông qua khảo sát cộng hưởng Plasmon của lớp màng EMA kể trên
Kết quả thu được như trong Hình 1.4 Khi độ dày lớp EMA tăng lên thì đỉnh hấp thụ plasmon cũng dịch về phía bước sóng dài
Hình 1.4 Sự dịch đỉnh hấp thụ cộng hưởng Plasmon của cấu trúc cảm biến
nhận biết BSA/anti BSA khi độ dày lớp EMA thay đổi theo thời gian [20]
Trang 155
1.2.2 Điện cực dẫn và khả năng liên kết với nhóm -SH
Nhóm nghiên cứu Pallavi Daggumati tại Đại học California đã chế tạo cảm biến sinh học DNA nhờ sử dụng lớp màng vàng làm điện cực [17] Cảm biến xác định nồng độ DNA thông qua xác định tương tác DNA-Methylen Blue (MB)
Tín hiệu đầu vào là các xung vuông, tín hiệu đầu ra là dòng điện Mô hình của cảm biến được mô tả như trong Hình 1.3 Đầu 5‟ của Au-p1 và Au-p2 được đính với nhóm thiol SH để dễ dàng gắn với bề mặt của điện cực thông qua liên kết Au-S, đầu 3‟ của Au-p2 được gắn với nhóm amin và liên kết với MB Trong đó:
Đầu nhận biết DNA (Au-p1): 5ThioMC6-D/CGT GTT ATA AAA TGT AAT TTG GAA TT
Đầu nhận biết DNA (Au- p2): 5ThioMC6-D/CGT GTT ATA AAA TGT AAT TTG GAA TT/3AmMO
Đối tượng khảo sát (Au-t): AAT TCC AAA TTA CAT TTT ATA ACA
CG
Điện cực được nhúng trong dung dịch MB Các phân tử MB được cho là liên kết hydro với các phân tử Guanine (G) chưa bắt cặp; vì vậy sẽ xuất hiện ở gần điện cực ngay cả khi điện cực đã được rửa bằng dung môi PBS Pallavi Daggumati đã đo tín hiệu điện hóa của các phân tử MB này Trước khi có sự bắt cặp đặc hiệu DNA-DNA (Au-p1 hoặc Au-p2 với đối tượng khảo sát Au-t), MB tồn tại khá nhiều (tham khảo Hình 1.5a) Sau khi DNA bắt cặp, các đầu Guanin tự do bị giảm đi dẫn tới nồng độ MB giảm, kéo theo với đó nồng độ DNA giảm đi rõ rệt (Hình 1.5b)
Trang 166
Hình 1.5 Mô hình cảm biến xác định nồng độ DNA, trước khi DNA bắt cặp
(a) và sau khi bắt cặp (b)
Có thể nhận thấy, khi nồng độ của đối tượng khảo sát tăng lên, số lượng MB gắn trên bề mặt điện cực giảm đi; ứng với đó là số lượng chuỗi đơn DNA nhận biết (Au-p1) không bắt cặp tồn tại ở trên bề mặt điện cực giảm đi Sự suy giảm tín hiệu điện hóa phụ thuộc vào nồng độ đối tượng Au-t được biểu diễn ở trong Hình 1.4 Từ đây, Pallavi Daggumati đã tính toán suy giảm tín hiệu điện hóa theo công thức: [(Ip
- It )/Ip]×100% Trong đó Ip, It lần lượt là cường độ dòng điện cực đại thu được tại hiệu điện thế điện hóa đặc trưng của MB trước và sau khi cho Au-t
Như vậy, cảm biến đã xác định được sự thay đổi tín hiệu điện hóa khi thay đổi nồng độ DNA
Trang 177
Hình 1.6.Sự thay đổi tín hiệu đầu ra theo các nồng độ DNA khác nhau
của cảm biến [17]
1.2.3 Tăng cường tín hiệu Raman
Peter Owens và các cộng sự đã xác định được nồng độ protein bằng phương pháp Raman tăng cường bề mặt (SERS) [18] Họ đã sử dụng 4-aminothiophenol (4-ATP) và 6-mercaptopurine (6- MP) để tạo ra các nhóm chức amin-NH2 trên bề mặt điện cực trước khi gắn chúng với các kháng nguyên, kháng thể Từ đó nghiên cứu
sự ảnh hưởng của nồng độ protein p53 và EGFR (Epidermal Growth Factor Receptor) tới phổ Raman
Mô hình của ứng dụng này được chỉ ra như trong Hình 1.7 Cấu tạo của cảm biến gồm một đế silicon được phủ một lớp màng mỏng vàng hoặc bạc Tiếp theo, một lớp kháng nguyên- kháng thể với các nồng độ khác nhau được nhỏ lên lớp màng này Cấu trúc này được đo SERS trước và sau khi nhỏ kháng nguyên- kháng thể nhằm nhận biết sự có mặt của chúng trên phổ Raman
Trang 18xuất hiện mode dao động của nhóm thiol (Hình 1.8b)
Hình 1.8 Phổ Raman của 4-ATP/ p53 (a) và 6-MP/ EGFR (b)[18]
Trang 199
Hình 1.9 Ảnh hưởng của nồng độ protein trên phổ Raman của 4ATP[18]
Khi có sự xuất hiện của protein p53 và anti p53 thì đỉnh phổ Raman của ATP đã có sự thay đổi Đỉnh phổ của 4-ATP dịch từ vị trí 1078 cm -1
đến 1079 cm-1khi có anti p53 và đến 1080 cm-1
khi có p53 Khoảng dịch đỉnh này tăng lên khi số lượng tương tác p53-antip53 tăng lên trên bề mặt của màng vàng (Hình 1.9)
1.3 Các phương pháp chế tạo
Màng nano vàng có rất nhiều phương pháp chế tạo như: phương pháp hóa học [1,12,18,21,24], phương pháp vật lý như phún xạ- sputtering [11, 17], lắng đọng chùm điện tử [20], điện hóa [21] Trên thế giới và trong nước đã có rất nhiều nhóm nghiên cứu chế tạo thành công màng nano vàng bằng các phương pháp kể trên
1.3.1 Phương pháp Lắng đọng chùm điện tử
Rakesh Singh Moirangthem [20], đã chế tạo thành công màng nano vàng bằng phương pháp lắng đọng chùm điện tử nhằm ứng dụng làm cảm biến sinh học phát hiện huyết thanh BSA
Trang 2010
Nhóm nghiên cứu Jakub Siegel và Olexiy Lyutakov [11] đã nghiên cứu các tính chất quang điện của màng vàng cấu trúc nano lắng đọng trên đế thủy tinh bằng phương pháp phún xạ theo các thông số: Plasma Ar độ sạch 99,995%, công suất 7,5W, tốc độ xả khí 0,3 l/s, khoảng cách bia-đế 50 mm, diện tích đế 48 cm2 Các mẫu được nghiên cứu tính chất theo độ dày khác nhau nhờ điều khiển được thời gian phún xạ từ 4-500s
Tháng 4 năm 2015, nhóm nghiên cứu Pallavi Daggumati đã sử dụng phương pháp sputtering kết hợp với khử hóa học để chế tạo thành công màng vàng nano xốp trên đế thủy tinh [17] Đầu tiên một lớp màng vàng mỏng có độ dày 80 nm được phún xạ lên một lớp chrom Lớp màng này được coi là mầm để tiếp tục phún xạ thêm một lớp màng hỗn hợp Ag-Au có độ dày 600 nm Sau đó, phần Ag có trong màng hỗn hợp kể trên được loại bỏ bằng cách ngâm trong HNO3 70% Kết quả nhận được là một lớp Au xốp có độ dày 600 nm (Hình 1.10)
Hình 1.10 Ảnh SEM của màng nano vàng xốp chế tạo
bằng phương pháp sputtering trước khi ủ (A) và sau
khi ủ nhiệt (B) [17]
Trang 2111
Với môi trường chế tạo vật liệu chặt chẽ, các phương pháp vật lý nói chung -
ở đây là phương pháp phún xạ - thường cho các màng mỏng có độ đồng đều cao với
độ dày theo ý muốn; thông qua việc điều khiển các thông số kỹ thuật như áp suất chân không, tốc độ thổi khí, thời gian phún xạ, nhiệt độ hay khoảng cách giữa bia với đế Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi thiết bị chế tạo cũng như nguyên liệu làm bia với chất lượng cao, giá thành lớn
1.3.3 Phương pháp điện hóa
Sheng-Qing Zhu đã lắng đọng các hạt nano vàng trên đế ITO bằng phương pháp điện hóa để nghiên cứu các tính chất bằng phương pháp tán xạ Raman tăng cường bề mặt [21] Ban đầu, dung dịch nano vàng được chế tạo bằng phương pháp nuôi mầm từ các tiền chất HAuCl4, NaBH4, CTAB, Acid Ascobic Sau đó, hai đế ITO kích thước 30 × 10 × 0,6 mm được nhúng vào dung dịch nano vàng ở trên, và được sử dụng làm anode và cathode Sơ đồ của phương pháp này được biểu diễn
như Hình 1.11
Hình 1.11 Quy trình chế tạo màng vàng bằng phương pháp điện hóa [21]
Trang 2212
Đây là phương pháp khử các muối để tạo ra các ion kim loại lắng đọng trên
bề mặt đế [1,18] Phương pháp này sử dụng các hợp chất có nhóm amin NH2 như aminopropytriethoxydilane (APTES) , aminopropyltrimethoxysilane (APTMS) để gắn các hạt nano nhỏ lên đế thủy tinh Sau đó tiến hành phát triển tăng kích thước hạt bằng phương pháp khử Sản phẩm của phản ứng khử là các ion kim loại sẽ bám dính lên các hạt mầm khiến kích thước hạt tăng dần Đến khi các hạt có kích thước
3-đủ lớn và kết dính với nhau sẽ hình thành màng
Dung dịch ban đầu là muối vàng HAuCl4 Tác nhân khử ion kim loại Au3+
thành Au0 là các chất hóa học như: Acid Citric, Sodium Borohydride NaBH4, Aicd
Ascobic… Nguyên tắc khử của như sau:
pH dung dịch… Tuy nhiên phương pháp này không đòi hỏi các điều kiện khắt khe
về chân không, áp suất… và thực hiện với chi phí thấp
Quy trình chế tạo của một số nhóm nghiên cứu trong và ngoài nước [1,5,7,12,23,24] gồm 4 bước chính như sau: Tạo nhóm ưa nước trên bề mặt đế lamen: Ngâm đế lamen trong dung dịch KOH nhằm tạo nhóm –OH trên bề mặt đế; chức năng hóa đế lamen đã có sẵn nhóm –OH bằng dung dịch APTES; tạo lớp mầm
Trang 23=Si-OH + (C2H5-O)3- Si-(CH2)3-NH2 =Si-O-Si-(CH2)3- NH2 + C2H5OH (1) Càng nhiều nhóm –OH trong Si-OH thì khả năng tạo nhóm NH2 càng lớn và khả năng lượng vàng đính kết càng nhiều Chính vì vậy, việc tạo ra nhóm ưa nước bằng việc ngâm đế lamen trong dung dịch KOH rất quan trọng
Ở bước 2, phản ứng khi chức năng hóa bề mặt đế lamen chịu ảnh hưởng của
pH dung dịch APTES [1] Phản ứng (1) xảy ra theo hai chiều, tạo ra (CH2)3- NH2 như phương trình (1) Ở pH cao, tức là trong môi trường kiềm hơn, liên kết Si-OH bền nên lượng =Si-O-Si-(CH2)3- NH2 hình thành ít, nói cách khác phản ứng nghịch có thể xảy ra, do đó hiệu suất tạo màng thấp Nhưng pH thấp thì
Trang 24=Si-O-Si-14
thường gọi là mầm vàng [5,12] – được chế tạo bằng phương pháp hóa khử trước khi cho hấp phụ lên trên bề mặt của đế lamen đã được chức năng hóa Các nghiên cứu trước đó đã cho rằng sau khi chức năng hóa bởi nhóm chức –NH2 thì bề mặt lớp SiO2 sẽ tích điện dương [9] sẽ hút các hạt vàng có điện tích bề mặt âm [21] thông qua tương tác Coulomb
Việc tạo lớp mầm vàng trên đế lamen đã được chức năng hóa ở bước 3 rất quan trọng Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như: pH dung dịch mầm, nồng độ muối vàng HAuCl4, thời gian ngâm mầm có ảnh hưởng sâu sắc tới khả năng bám dính của các hạt vàng trên đế [5,12,24]
Khi giá trị pH của dung dịch mầm tăng thì điện tích dương của lớp NH2 trên
bề mặt tăng, nhưng điện tích của bề mặt của các hạt vàng tích điện âm lại giảm Vì vậy, tồn tại một giá trị pH mà tại đó lực tĩnh điện giữa lớp NH2 và các hạt mầm Au
là lớn nhất [24] Bên cạnh đó, nồng độ của dung dịch HAuCl4 là một trong những yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến lượng mầm vàng bám dính trên bề mặt lớp NH2[5,12]
Trong các nghiên cứu chế tạo thanh nano vàng [5,12], thời gian phù hợp để
sử dụng các hạt mầm được cho là từ 2 đến 5 h Vì vậy, việc nghiên cứu thời gian ngâm đế lamen sau khi được chức năng hóa vào dung dịch chứa mầm cũng rất quan trọng
Như vậy, mỗi bước trong quy trình chế tạo màng vàng nói trên đều chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Một số nghiên cứu về các yếu tố này còn đơn lẻ, chưa sâu [1,5,7,12,23,24]
Trang 2515
1.4 Mục tiêu của luận văn
Như đã nói ở trên, việc chế tạo màng vàng bằng phương pháp hóa học đã có một số nhóm nghiên cứu thực hiện, nhưng khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng tới quy trình chế tạo còn đơn lẻ
Vì vậy, luận văn này tập trung tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng như: ảnh hưởng của nhóm hydroxyl (-OH) tạo bề mặt ưa nước, ảnh hưởng của giá trị pH dung dịch APTES, nồng độ HAuCl4, thời gian ngâm mầm và pH của dung dịch mầm Nghiên cứu này đưa ra quy trình tối ưu cho việc chế tạo màng vàng, định hướng ứng dụng trong cảm biến sinh học
Trang 2616
trong bảng 2.1
Hóa chất/ Dụng cụ thí nghiệm Công thức hóa học Xuất xứ
Chloroauric acid (HAuCl4)
Đức
(3-Aminopropyl)triethoxysilane
(APTES)
Đức
Sodium borohydride (NaBH4)
Trang 27Quy trình tổng quát để chế tạo màng vàng như sau:
Hình 2.1 Quy trình chế tạo màng nano vàng
Nhiệm vụ của phần này là chế tạo được màng vàng trên đế lamen bằng phương pháp hóa học, quy trình tổng quát gồm 4 bước như sau:
Trang 2818
Hình 2.2 Sơ đồ tạo nhóm –OH trên bề mặt đế lamen
Bước 2: Gắn kết nhóm chức amin –NH2 lên bề mặt đế lamen ở Bước 1 Các
đế larmen sau khi được hydroxyl hóa để có các gốc –OH tự do trên bề mặt liền được ngâm trong dung dịch chứa APTES Sản phẩm phụ của phản ứng là C2H5OH Sau phản ứng, các gốc silane sẽ bám lên trên đế larmen thông qua liên kết Si-O-Si;
để hình thành các gốc amin (-NH2) tự do trên bề mặt Phương trình phản ứng như sau[1]:
=Si-OH + (C2H5-O)3- Si-(CH2)3-NH2 =Si-O-Si-(CH2)3- NH2 + C2H5OH
Sơ đồ bước 2 như sau:
Hình 2.3 Sơ đồ chức năng hóa đế lamen bằng dung dịch APTES