Trong điều kiện hiện nay của Hà Tây, thì cơ cấu các loại hình quản lý điện nông thôn như vậy là khá phù hợp nhưng trong thời gian tới Hà Tây nên tiếp tục nghiên cứu áp dụng thêm một số m
Trang 11. Tiếp tục khuyến khích phát triển các mô hình quản lý điện nông thôn cho phù hợp.
Để từng bước đưa công tác quản lý điện nông thôn vào nền nếp thì việc tìm
ra mô hình quản lý điện nông thôn thích hợp là hết sức cần thiết, có ý nghĩa đặc biệt
Hà Tây cũng như nhiều tỉnh Đồng Bằng phía Bắc, sau khi Nghị định
45NĐ-CP của chính phủ được ban hành, đã nhanh chóng tìm được cho mình một mô hình quản lý phổ biến đó là mo hình hợp tác xã Giống như Hải Dương, Thái Bình,
ở Hà Tây mô hình HTX đã chiếm ưu thế và phát huy những ưu điểm của nó, nó đã giúp cho Hà Tây chở thành một trong những tỉnh hoàn thành chuyển đổi mô hình quản lý điện nông thôn sớm nhất cả nước Tuy nhiên đề có thể giữ cho việc quản
lý điện nông thôn tiếp tục đi vào nề nếp thì tỉnh Hà Tây không nên chỉ áp dụng phổ biến một mô hình quản lý điện, bởi vì địa bàn Hà Tây khá rộng và phức tạp bao gồm một số xã miền núi, cơ cấu dân cư ở một mức độ nào đó phân bố không đồng đều Theo nghị định 45NĐ-CP thì có loại mô hình quản lý điện nông thôn là: Doanh nghiệp nhà nước, các loại hình doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể Hiện nay tổng số 509 tổ chức kinh doanh điện ở Hà Tây mới chỉ áp dụng được một số mô hình sau:
Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp (HTX dịch vụ nông nghiệp): 450 tổ chức (chiếm 88,4% tổng số tổ chức kinh doanh điện)
Hợp tác xã dịch vụ điện năng:10 tổ chức (chiếm 2%)
Công ty TNHH:1 tổ chức (chiếm 0,2%)
Doanh nghiệp tư nhân: 2 tổ chức (chiếm 0,4%)
Hộ kinh doanh cá thể: 45 tổ chức (chiếm 8.8%)
Công ty xây dựng điện và dịch vụ phát triển nông thôn: 1 tổ chức (chiếm 0,2%)
Như vậy mô hình hợp tác xã nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn nhât, sau đó đến
hộ kinh doanh cá thể Trong điều kiện hiện nay của Hà Tây, thì cơ cấu các loại hình quản lý điện nông thôn như vậy là khá phù hợp nhưng trong thời gian tới Hà Tây nên tiếp tục nghiên cứu áp dụng thêm một số mô hình khác cũng như một số mô hình đã áp dụng nhưng chưa thực sự phát huy được hết được ưu điểm của nó
Mô hình hợp tác xã dịch vụ tổng hợp (HTX DV tổng hợp)
Trang 2Sau khi Nghị định 45NĐ-CP của chính phủ ban hành thì ở những tỉnh đồng bằng phía Bắc đã nhanh chóng đưa mô hình này vào áp dụng Nó có rất nhiều ưu điểm để có thể áp dụng ở các tỉnh này Khi chưa chuyển đổi mô hình thì hầu như ở
xã nào cũng đã có HTX nông nghiệp, các uỷ ban xã đang giữ nhiệm vụ quản lý bán điện nông thôn, chính vì vậy việc chuyển đổi sang mô hình quản lý điện nông thôn theo loại hình này là rất nhanh chóng, thuận tiện, các thành viên hợp tác xã cũng đã quen với loại hình kinh doanh Do là HTX kinh doanh tổng hợp, nên chi phí quản
lý cho việc quản lý điện nông thôn tính theo từng đơn vị giảm, mức độ rủi ro sẽ giảm đi, do có thể bù lỗ nếu từ những lĩnh vực kinh doanh khác cho kinh doanh điện khi có sự cố xảy ra Hơn nữa, tỉnh Hà Tây là một tỉnh có mật độ dân cư khá cao, số xã có nghề và làng nghề nhiều chính vì vậy mô hình này càng có điều kiện
áp dụng
Tuy nhiên cần phải nhận thấy một số nhược điểm của nó Do là mô hình kinh doanh tổng hợp nên mức độ chuyên môn của các cán bộ quản lý không cao Hơn nữa không thể chánh trường hợp, các tổ chức lấy lãi của kinh doanh điện đập vào các loại hình kinh doanh khác làm giảm mức tích luỹ khấu hao bảo dưỡng, sửa chữa lớn Tuy ở Hà Tây, mật độ dân cư cao nhưng ở một số huyện miền núi như Ba
Vì mật độ dân cư thấp, địa bàn phức tạp, hiện nay khoảng 180 hộ ở huyện này còn phải sử dụng giá điện sinh hoạt trên 700đ/kWh do họ phải sử dụng điện của trạm bơm, tổn thất điện năng lớn Chính vì vậy mô hình hợp tác xã không phù hợp ở đây, nên chăng có thể nghiên cứu áp dụng một mô hình khác
Nhược điểm của mô hình HTX dịch vụ tổng hợp có thể được khắc phục bằng mô hình HTX dịch vụ điện năng tuy nhiên mô hình này đòi hỏi chi phí quản
lý lớn và mức độ rủi ro cao hơn Vì vậy tuỳ vào điều kiện của từng địa phương mà lựa chọn mô hình cho phù hợp Hiện nay mô hình HTX dịch vụ điện năng chưa được phổ biến rộng rãi do trước đây mô hình này chưa tồn tại trong kinh doanh điện, vì vậy cần phải từng bước tạo điều kiện đưa mô hình này áp dụng rộng rãi
Một số loại hình doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Nhược điểm của các loại hình này là do kinh doanh điện là một loại hình kinh doanh cần có chuyên môn cao, vốn bỏ ra lớn, thu hồi vốn chậm, mà các công
ty tư nhân hầu như có số vốn rất ít ỏi, việc đầu tư cho sửa chữa, bảo dưỡng, đầu tư cải tạo nâng cấp lưới điện hầu như không có Riêng công ty cổ phần còn có thêm nhược điểm là việc xác định giá trị còn lại của lười điện rất khó khăn
Trang 3Tuy nhiên trong thời gian tới Hà Tây nên tìm ra các biện pháp để có thể phát triển các mô hinh này, bởi vì các mô hình như công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nếu được tổ chức tốt có thể huy động được một số vốn rất lớn ở các tổ chức khác và của nhân dân.
Mô hình đại lý bán lẻ điện
Hiện nay, việc các công ty điện lực bán điện trực tiếp đến tất cả các hộ dân nông thôn là không thể thực hiện được Tuy vậy, không thể không chuẩn bị các tiền
đề cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao việc quản lý về các công ty điện lực trong điều kiện lâu dài ở Hà Tây, Công ty Điện lực Hà Tây đang chuẩn bị tiếp nhận lưới điện của một số xã làng nghề, và sẽ thực hiện mô hình đại
lý bán lẻ điện năng Vì vậy Hà Tây cần tham khảo kinh nghiệm của một số tỉnh đã thí điểm Mô hình đại lý bán lẻ điện đã được thí điểm ở một số tỉnh đồng bằng nam
bộ Nhìn chung hoạt đôngj của các loại đại lý đang thí điểm là rất tốt Nhân viên đại lý nhiệt tình, làm việc có trách nhiệm Số hoá đơn tồn thu là rất nhỏ Trên thực
tế các đại lý đã tự ứng tiền nộp cho điện lực với số hoá đơn tồn thu để hưởng thêm tiền thưởng, vì vậy điện lực không bị tồn thu và đại lý cũng vẫn thu được các hoá đơn tồn thu vào tháng kế tiếp Nhân viên đại lý mong muốn được điện lực tiếp tục bồi huấn thêm các kiến thức cơ bản về kỹ thuật điện năng Chính quyền và nhân dân các địa phương rất ủng hộ mô hình đại lý vì thực chất các hộ dân trong xã vẫn được ngành điện quản lý trực tiếp nên không phải chịu giá điện cao so với các dạng mô hình quản lý trung gian khác
Kết quả phân tích ở một số tỉnh như Sóc Trăng, Kiên Giang cho thấy với một xã có khoảng 2000 khách hàng sử dụng điện, nếu áp dụng mô hình đại lý bán
lẻ, ngành điện có thể tiết kiệm được mỗi năm từ 40 triệu đồng đến 70 triệu đồng cho xã so với mô hình Điện ly quản lý trực tiếp Thù lao cho đại lý chiếm khoảng 3,7% đến 5,7% doanh thu Tỷ lệ% của thù lao trên doanh thu với một điện lực hoặc công ty điện lực sẽ giảm xuống nếu áp dụng rộng rãi mô hình đại lý cho nhiều xã
vì với những xã phát triển thì tỷ lệ này có giá trị thấp hơn
kinh nghiệm bước đầu cho thấy, quy mô đại lý không nên quá lớn Trên địa bàn một xã có thể tổ chức từ một đến ba đại lý để tăng tính cạnh tranh Tuy nhiên mức doanh thu cho một đại lý không nên vượt quá 50 triệu đồng/tháng, thậm chí
có thể quy định ở mức thấp hơn
Quy mô đại lý nhỏ có nhược điểm là phải tổ chức nhiều đại lý, tăng đầu mối quản lý cho điện lực, nhưng lại có những ưu điểm cơ bản như sau: Mức ký quỹ thế
Trang 4chấp không lớn nên dễ tuyển chọn được nhân viên đại lý là người địa phương đại
lý quy mô nhỏ, có độ rủi ro thấp về nhiều mặt Trong trường hợp có rủi ro, Điện lực dễ dàng khắc phục Mặt khác, tránh được tình trạng đại lý là dạng cai thầu, làm cho nhân viên trực tiếp của đại lý không nhiệt tình và thiếu tinh thần trách nhiệm với công việc được giao, vì mức thu nhập thấp
Quy mô đại lý lớn có ưu điểm là tạo thuận lợi cho điện lực trong quản lý, nhưng lại có nhược điểm như: Chủ đại lý phải là những người giàu trong xã hoặc
là những người có tiền từ địa bàn khác đến vì mức thế chấp cao Đại lý lớn thì độ rủi ro lớn, điện lực khó khăn hơn trong việc khắc phục hậu quả Đại lý sẽ chuyển thành hình thức cai thầu kém hiệu quả như đã phân tích ở trên
Ưu tiên tuyển chọn người cư trú trên địa bàn xã làm đại lý là rất có lợi vì họ thông thạo địa bàn, hiểu rõ tập quán sinh hoạt và tâm lý người dân sử dụng điện trong khu vực, do đó việc đi lại, ghi thu tiền điện và kiểm tra phát hiện các vi phạm
sử dụng điện được dễ dàng Ngoài ra còn giúp tạo công ăn việc làm cho lao động tại chỗ, và Điển lực dễ nhận được sự đồng tình ủng hộ của chính quyền và nhân dân trong xã
Chính vì vậymà nên áp dụng hình thức tuyển chọn đại lý trên cơ sở chào giá cạnh tranh để giảm chi phí thù lao đến mức hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương dựa trên cơ sở những người tham gia tuyển chọn đáp ứng được các yêu cầu cơ bản về trình độ, năng lực, tư cách đạo đức, mức thế chấp… Chỉ nên áp dụng hình thức thế chấp bằng ký quỹ tiền mặt tại ngân hàng không quá lớn vì nếu không, người dân tại các xã khó có khả năng đáp ứng Ngoài ra, cũng là để tránh rủi ro, nguy hiểm cho nhân viên đại lý khi mang một số tiền lớn trên đường tới nộp cho điện lực ở địa bàn nông thôn rộng, vắng vẻ Có thể quy định mức thế chấp nhỏ hơn 30 triệu đồng Trong trường hợp mức ký quỹ thế chấp nhỏ hơn doanh thu một tháng của khu vực giao cho đại lý thì áp dụng hình thức giao hoá đơn cho đại lý làm nhiều lần trong một tháng Số lần giao hoá đơn tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đại lý mà điện lực sẽ quy định Giá trị một lần giao hoá đơn tối đa chỉ bằng mức tiền ký quỹ của đại lý Chỉ sau khi đại lý nộp tiền điện của đợt trước đạt tỷ lệ thu róc trên 90% thì mới giao hoá đơn đợt kế tiếp Công tác quyết toán được thực hiện ngay sau mỗi lần giao hóa đơn và thêm một lần tổng hợp vào cuối tháng Tiền
ký quỹ của Đại lý được giữ ở một số ngân hàng uy tín do Điện lực quy định Không nên chọn nhiều ngân hàng và chỉ ký gửi tập trung ở Hội sở Ngân hàng tỉnh nằm ở thành phố, thị xã để tiện cho việc quản lý và giao dịch Tuy Điện lực nắm giữ sổ tiết kiệm và đơn tự nguyện ký quỹ của đại lý, nhưng Điện lực phải thoả
Trang 5thuận với ngân hàng bằng biên bản để đảm bảo trách nhiệm của ngân hàng không cho đại lý rút tiền gốc ký quỹ nếu không có thoả thuận của Điện lực Tiền ký quỹ của đại lý nên là hình thức gửi tiết kiệm có kỳ hạn nhưng có thể rút ra trước kỳ hạn khi cần thiết Với hình thức gửi có kỳ hạn sẽ có được mức lãi suất cao, đảm bảo quyền lợi cho đại lý.
Tuy nằm trong đại bàn của đại lý nhưng đối với những khách hàng lớn, khách hàng có hoá đơn phân kỳ, Điện lực vẫn quản lý trực tiếp mà không giao cho đại lý để tránh các hiện tượng tiêu cực Điện lực phải có kế hoạch kiểm tra, phúc tra định kỳ và đột xuất với khu vực giao cho đại lý Có kế hoạch hoán đổi khâu ghi điện khách hàng để kiểm tra, chống tiêu cực Riêng khâu thu tiền điện thì cần cố định số khách hàng, sẽ có nhiều thuận lợi nhờ nhân viên đại lý thông thuộc địa bàn
và có quan hệ mật thiết với khách hàng trong xã… Điện lực phải có kế hoạch bồi huấn chuyên môn, nghiệp vụ cho các đại lý; chuẩn bị trước các tài liệu, giáo trình
để cấp cho các đại lý, đồng thời có chương trình bồi dưỡng, tập huấn thêm trong quá trình hoạt động Điện lực làm việc trực tiếp với các cấp chính quyền, các đoàn thể và nhân dân ở các xã, các khu vực có đại lý để báo cáo và bàn biện pháp phối hợp giám sát kiểm tra Vận động chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương tham gia giám sát, kiểm tra hoạt động của các đại lý, thông báo cho Điện lực những biểu hiện bất thường, những thiếu sót, vi phạm của nhân viên đại lý để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời
Tuỳ theo số lượng và quy mô của đại lý trên địa bàn mà Điện lực có phương
án bố trí lực lượng dự phòng vừa để hoán đổi khâu ghi điện nhằm mục đích kiểm tra hoạt động của đại lý, vừa để thay thế đại lý không hoàn thành nhiệm vụ được giao hoặc gặp hoàn cảnh đột xuất, bất khả kháng
2. Về lâu dài cần phải trích khấu hao TSCĐ theo đúng quy định của nhà nước.
Hiện nay ở Hà Tây mức trích khấu hao TSCĐ còn tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố
và có rất ít các tổ chức thực hiện trích khấu hao 10% như Nhà nước quy định do lưới điện cũ nát nên tổn thất rất cao, nếu thực hiện đúng quy định thì giá đội lên rất lớn Cho nên giải quyết vấn đề này cần phải giải quyết được vấn đề tính tổn thất điện năng và đầu tư cải tạo lưới điện Dưới đây là một số biện pháp để giải quyết vấn đề này
Cần sử dụng vốn hoàn trả lưới điện trung áp nông thôn đúng mục đích để giữ ổn định giá điện nông thôn
Ngay sau khi Liên Bộ Tài chính – Bộ Công nghiệp ban hành thông tư 06/2002/TTLT/BCN-BTC ngày 23/8/2001(thay thế thông tư
Trang 604/1999/TTLT/BCN-BTC ngày 27/8/1999) để thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại kỳ họp Quốc Hội khoá IX về giao nhận và hoàn trả vốn LĐTANT UBND tỉnh, Hội đồng định giá tài sản LĐTANT tỉnh Hà Tây đã chỉ đạo các ngành liên quan và các huyện thị xã và hai bên giao nhận thực hiện lập
hồ sơ hoàn trả vốn khẩn trương, đồng bộ, đúng trình tự và quy định của Nhà nước Vì vậy đến 25/10/2002, tỉnh Hà Tây đã hoàn thành việc lập hồ sơ hoàn trả vốn của 100% số xã (286/286) trong diện được xét hoàn trả vốn và đã được Tổng công ty Điện lực Việt Nam kiểm tra và chấp thuận hoàn trả vốn đầu tư của HTX và vốn huy động của dân theo giá trị còn lại của các công trình LĐTANT với số vốn được hoàn trả lớn nhất cả nước (trên 46 tỷ đồng) Hà Tây là tỉnh đầu tiên trong cả nước hoàn thành việc lập hồ sơ và tiếp nhận vốn hoàn trả về địa phương, vượt thời gian theo kế hoạch ban đầu của tỉnh quy định là 8 tháng Tổng giá trị tiền hoàn trả vốn LĐTANT đã được Tổng công ty Điện lực Việt Nam, công ty Điện lực 1 chuyển toàn bộ (100%) về tỉnh Hà Tây để trả cho 286
xã là 46.031.851.323đồng Trong đó có 1.703.919.270 đồng vốn huy động của dân và 44.327.932.053 đồng là phần vốn đầu tư của HTX
Để chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương sử dụng vốn hoàn trả LĐTANT đúng mục đích, ngày 14/9/2001 UBND tỉnh Hà Tây đã có chỉ thị số 21/2001/CT-UB và ngày 6/12/2001 Hội đồng định giá tài sản LĐTANT tỉnh Hà Tây đã có hướng dẫn
cụ thể về việc thực hiện hoàn trả và sử dụng vốn hoàn trả LĐTANT trên địa bàn tỉnh Hà Tây trong đó quy định UBND xã chịu trách nhiệm hoàn trả vốn cho dân và
sử dụng vốn hoàn trả của HTX và của xã Chủ tịch HĐND xã giám sát việc hoàn trả vốn cho dân và sử dụng vốn được hoàn trả của xã Phương án sử dụng vốn hoàn trả của HTX xã do Ban chủ nhiệm HTX xã xây dựng, trên cơ sở bàn bạc dân chủ với dân và do Hội nghị xã viên quyết định, đồng thời báo cáo với thường trực Đảng uỷ, Chủ tich, Phó chủ tịch HĐND xã và UBND xã Phương án sử dụng vốn hoàn trả phải ưu tiên cho cải tạo lưới điện hạ áp ở địa phương và ứng vốn xây dựng trạm biến áp mới (cho ngành điện vay không tính lãi để xây dựng thêm TBA, sau 3 năm sẽ được ngành điện hoàn trả đầy đủ) Yêu cầu các xã phải kiểm tra toàn bộ lưới điện hạ áp và tập trung mọi nguồn vốn được hoàn trả ưu tiên cải tạo, nâng cấp, tạo điều kiện để giảm gía bán điện đến hộ dân UBND xã chịu trách nhiệm trình UBND huyện, thị xã phê duyệt các phương án sử dụng phần vốn được hoàn trả
Từ cuối năm 2001 số tiền hoàn trả cho các xã đã được Sở Tài chính Vật giá chuyển về ngân sách các huyện thị xã Trong gần một năm qua, 240 xã thuộc 14 huyện, thị xã đã lập phương án trình UBND các huyện, thị xã phê duyệt và đã sử
Trang 7dụng 21,403tỷ đồng (chiếm 46,5% số tiền được hoàn trả), trong đó có 68 xã đã thoả thuận cho ngành điện vay để xây dựng TBA với số tiền là:5,689tỷ đồng (chiếm 26,58% số tiền đã sử dụng); số tiền trả nợ cho việc xây dựng các công trình điện là: 4,231 tỷ đồng (chiếm19,77% số tiền đã sử dụng); Đã đầu tư cải tạo lưới điện hạ thế: 4,145 tỷ đồng (chiếm 19,37% số tiền đã sử dụng); Đã dùng vào các công việc khác chưa ưu tiên để đầu tư cải tạo nâng cấp lưới điện hạ áp hiện có là: 7,337 tỷ đồng (chiếm 34,28% số tiền đã sử dụng) Tổng số tiền các xã chưa sử dụng là: 24,628 đồng (chiếm 53,5% số tiền được dự kiến sẽ dùng vào các công việc khác là: 2,892 tỷ đồng Có 43 xã ở các huyện: Đan Phượng, Chương Mỹ, Phú Xuyên, Quốc Oai chưa lập phương án sử dụng và dự kiến dùng vào việc gì với tổng số tiền: 5,831 tỷ đồng Có 20 xã đã sử dụng 100% số tiền hoàn trả vốn LĐTANT vào các công việc khác và 5 xã dự kiến sẽ dùng số tiền này vào các công việc khác mà không sử dụng cho việc cải tạo lưới điện hạ áp của xã trong khi nhu cầu đầu tư thực sự là rất lớn và cấp thiết nhằm mục đích giữ ổn định giá cả bán điện sinh hoạt không vượt quá giá trần Chính phủ quy định sau khi Nhà nước điều chỉnh giá bán buôn điện nông thôn phục vụ mục đích sinh hoạt từ 360 đ/KWh lên 429đ/KWh (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng) kể từ ngày 1/10/2002 nhưng vẫn quy định giá bán lẻ đến hộ dân nông thôn là <=700đ/KWH Ví dụ ở xã Tuy Lai huyện
Mỹ Đức số tiền được hoàn trả là 281 triệu đồng thì xã đã đầu tư xây dựng kênh mương 150 triệu, xây dựng trường học 100 triệu, còn lại có 31 triệu đầu tư cho tu sửa lưới điện hạ thế của xã
Theo báo cáo của các tổ chức quản lý điện nông thôn và qua điều tra khảo sát lưới điện hạ áp và tỉnh hình quản lý kinh doanh điện ở các xã, thị trấn có giá bán điện sinh hoạt đến hộ trên 630đ/KWh của Điện lực Hà Tây trong thời gian qua cho thấy tổn thất điện năng thực tế tính trong kết cấu giá bán điện đến hộ của các
xã còn cao, phần lơn lưới điện hạ áp (gồm các đường trục, nhánh rẽ vào hộ dân, công tơ, trang thiết bị đóng cắt và bảo vệ) của các xã không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật vận hành và kinh doanh (dây chuẩn…) dẫn đến vận hành kém an toàn, tổn thất điện năng tăng cao (trung bình 15-20%, cao 30-40%, cá biệt đến 45% và chất lượng điện xấu (tổn thất điện áp lớn) Qua quá trình sử dụng lại không được bảo dưỡng sửa chữa thường xuyên và cải tạo nâng cấp làm cho lưới điện ngày càng xuống cấp Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho chi phí tổn thất điện năng cao dẫn tới giá bán điện của các xã này còn cao Vì vậy để giữ ổn định giá bán điện sinh hoạt đến hộ dân nông thôn đảm bảo vẫn ở mức <=700đ/KWh sau khi nhà nước điều chỉnh tăng giá thì việc sử dụng nguồn vốn hoàn trả LĐTANT cho đầu tư cải
Trang 8tạo nâng cấp lưới điện hạ thế của các xã cần được các địa phương quan tâm trong điều kiện nguồn tích luỹ khấu hao sửa chữa lớn tính trong giá bán điện còn ít, việc huy động nhân dân ở nông thôn đóng góp để cải tạo lưới điện hạ thế gặp nhiều khó khăn.
Từ thực tế sử dụng vốn hoàn trả LĐTANT trong thời gian qua, đề nghị các
cơ quan chức năng: Hội đồng định giá tài sản LĐTANT, Sở Tài chính Vật giá, Sở công nghiệp, UBND các huyện thị xã,… tăng cường kiểm tra giám sát, tăng cường chỉ đạo kiểm tra, các tổ chức đoàn thể quần chúng và nhân dân địa phương giám sát chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn hoàn trả LĐTANT đúng mục đích, chống tiêu cực, ưu tiên sử dụng cho việc cải tạo lưới điện hạ áp để đảm bảo an toàn, giảm tổn thất điện năng và giữ ổn định giá bán điện đến hộ dân nông thôn không vượt quá giá trần Chính phủ quy định là 700đ/KWh
2.1 Cần xây dựng công thức xác định chi phí tổn thất điện năng tính trong giá bán điện đến hộ dân ở nông thôn phù hợp.
Với mức giá trần Nhà nước đưa ra là 700đ/KWh, trong khi mức bán buôn là 429đ (trước kia là 360đ) thì việc trích khấu hao 10% theo quy định là rất khó khăn cho các tổ chức kinh doanh điện Trên thực tế theo các số liệu báo cáo thì tổn thất điện năng chiếm một phần lớn chi phí cấu thành giá điện, điều này ảnh hưởng lớn đến mức trích khấu hao, trong khi đó các tổ chức kinh doanh điện một phần thiếu
do chuyên môn, phần vì cố tình tính sai mức tổn thất, cho mức tổn thất lên rất cao
để tăng giá bán điện Trước tình hình trên, tỉnh Hà Tây cần xây dựng một công thức tính tổn thất sao cho phù hợp, bắt buộc các tổ chức phải thực hiện Tuy nhiên, mới có rất ít tài liệu đề cập tới việc xây dựng biểu thức toán học tổng quát giúp cho việc xác định thuận tiện, nhanh chóng và chính xác chi phí tổn thất điện năng tính trong gía bán điện và mối quan hệ giữa giá mua buôn của ngành điện và tổn thất điện năng thực tế với chi phí tổn thất điện năng tính trong giá bán điện đến hộ dân
ở nông thôn Sau khi tham khảo một số bài báo và hỏi ý kiến của các kỹ sư điện,
em xin đề cập đến cách tính chi phí tổn thất điện năng mà kỹ sư Nguyễn Đăng Thắng (Phó trưởng chi nhánh điện lực Phú Xuyên, Hà Tây) đưa ra
Trang 910000kWh x 360 đ/kWh = 3.600.000 đ
Nếu không có tổn thất điện năng thì lượng điện năng bán được cho các hộ dùng điện trong xã đúng bằng lượng điện mua buôn của ngành điện, tức là 10.000 kWh
Nhưng vì có tổn thất điện năng, giả thiết là 20%, nên thực tế lượng điện năng bán đến hộ chỉ còn là 80%, tức là:
Xây dựng biểu thức tổng quát bằng công thức toán học.
Giả sử một xã mua điện của ngành điện trong một tháng với sản lượng là Am
kWh với giá mua là Gm Khi đó tiền phải trả ngành điện là:
Trong đó, Gm là giá mua của ngành điện (đ/kWh)
G∆ là chi phí tổn thất điện năng tính theo đ/kWh
Khi chỉ xét tới chi phí tổn thất điện năng, mà chưa tính tới các chi phí khác trong quá trình quản lý kinh doanh điện từ công tơ tổng của trạm biến áp đến công
tơ các hộ dân thì:
Trang 10Số tiền thu được theo giá bán Gb với giá sản lượng Ab là Tb =Ab x Gb phải bằng số tiền trả cho ngành điện là Tm = Am x Gm tức là ta có:
tế, vì thế khi Nhà nước điều chỉnh tăng gía bán buôn điện phục vụ sinh hoạt ở nông thôn từ 360 đ/kWh lên 429 đ/kWh từ ngày 1-10-2002 (đã tính thuế VAT) thì các tổ chức quản lý bán điện nông thôn không chỉ đơn thuần là lấy giá bán điện sinh hoạt hiện tại đang bán cộng thêm 69 đồng/kWh là có giá bán điện mới Bởi vì nhà nước vẫn giữ nguyên mức giá trần
T
T
Mức tổn thất điện năng (%) 1
0
1 5
2 0
2 5
3 0
3 5
4 0
4 5
5 0
5 5
Trang 116 3,53
9 0
1 20
1 54,3
1 93,8
2 40
2 94,5
3 60
4 40
7 5,71
1 07,3
1 43
1 83,9
2 31
2 86
3 51
4 29
5 24,33
3 Mức chi
phí tổn thất điện
năng do thay đổi
giá mua buôn của
ngành điện
7 ,667
1 2,18
1 7,25
2 3
2 9,57
3 7,15
4 6
5 6,45
6 9
8 4,33
6 81,2
6 86,3
6 92
6 98,6
7 06,2
7 15
7 25,5
7 38
7 53,33
7 31,2
7 36,3
7 42
7 48,6
7 56,2
7 65
7 75,5
7 88
8 03,33
Trang 127 81,2
7 86,3
7 92
7 98,6
8 06,2
8 15
8 25,5
8 38
8 53,33
- Sử dụng công thức trên để xác định tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) được khấu trừ đối với lượng điện năng dùng cho mục đích khác ngoài sinh hoạt theo công văn số 3298 TC/TCT ngày 05-07-1999 của bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thuế GTGT đối với hoạt động bán điện của Ban quản lý điện lực huyện, xã, thôn cho các hộ tiêu dùng ở nông thôn
Tiền thuế GTGT được khấu trừ bằng Tiền thuế GTGT tính trong giá bán điện đến hộ trừ đi Tiền thuế GTGT đã trả trong giá mua của ngành điện tại công tơ tổng dùng cho các mục đích khác đã quy đổi có xét đến tổn thất điện năng của lưới điện hạ thế
Tiền thuế GTGT được khấu trừ =GGTGTMx∆A%/(100-∆A%) (đ/kWh)
Trong đó: +GGTGTM là tiền thuế giá trị gia tăng tính trong giá mua buôn của ngành điện (đồng/kWh)
+∆A%=∆A/Am x 100% là tổn thất điện năng của lưới điện hạ thế trong toàn xã, hoặc toàn thôn tính theo phần trăm
Tổng số tiền khấu trừ thuế GTGT được tính theo sản lượng điện năng ghi được ở các công tơ đặt tại các hộ dùng điện cho các mục đích khác ở sau công tơ tổng phía thứ cấp của MBA cấp điện
Ví dụ:Một HTX mua của ngành điện sản lượng điện dùng cho mục đích khác (ngoài mục đích sinh hoạt) tại công tơ tổng ở TBA với giá mua hiện nay là
830 đ/kWh (trong đó giá mua điện chưa có thuế GTGT là 730 đ/kWh, thuế GTGT
là 73 đ/kWh) và bán đến hộ dân dùng điện cho kinh doanh dịch vụ với giá bán là
1551 đ/kWh (trong đó giá bán điện chưa có thuế GTGT là 1410 đ/kWh, thuế GTGT tính trong giá bán là 141 đ/kWh) Lưới điện của xã có tổn thất điện năng là
Trang 1330,3% Khi hạch toán bán điện và nộp thuế GTGT cho cơ quan thuế địa phương,
số tiền phải nộp đối với 1 kWh điện thương phẩm bán đến hộ sẽ là:
141 – 73 x 20/(100-20) = 141 –18,25 = 122,75 đ/kWh
- Một số biện pháp nhằm giảm tổn thất điện năng để giảm chi phí tổn thất điện năng và giữ ổn định giá bán điện đến hộ dân nông thôn không vượt quá giá trần Chính phủ quy định khi nhà nước tăng giá bán buôn điện phục vụ sinh hoạt từ 360 đ/kWh lên 429 đ/kWh
Như trên đã phân tích chi phí tổn thất điện năng phụ thuộc vào hai biến số là giá mua và tổn thất điện năng thực tế, nhưng giá mua buôn của ngành điện là do Nhà nước quyết định, vì vậy để giảm chi phí tổn thất điện năng các tổ chức quản lý điện nông thôn càng phải nỗ lực áp dụng các biện pháp giảm tổn thất điện năng thực tế Hiện nay ở nông thôn tổn thất điện năng bao gồm tổn thất do chất lượng kỹ thuật của lưới điện (gọi là tổn thất kỹ thuật) và tổn thất do quản lý (còn gọi là tổn thất thương mại)
Để giảm tổn thất kỹ thuật của lưới điện ngoài việc các tổ chức quản lý điện nông thôn ở địa phương phải chủ động huy động các nguồn vốn để đầu tư cải tạo nâng cấp mạng lưới điện hạ thế hiện có còn rất cần sự đầu tư cải tạo lưới điện trung
áp nông thôn của các xã đã bàn giao cho ngành điện quản lý nhằm đưa sâu mạng lưới điện trung áp vào trung tâm phụ tải và giảm bán kính cấp điện đến hộ tiêu thụ điện Từ đó sẽ nâng cao chất lượng điện và giảm tổn thất điện năng Trong công tác cải tạo lưới điện hạ thế của các địa phương cũng rất cần sự giúp đỡ tư vấn của ngành điện, đặc biệt là các chi nhánh điện để nâng cao hiệu suất chi phí đầu tư Kinh nghiệm ở một số nơi cho thấy có nhiều xã nhờ được sự giúp đỡ của ngành điện nên chỉ với số vốn đầu tư không lớn nhưng đã nâng cấp và cải thiện cấu trúc của đường dây hạ thế, có tiết diện hợp lý, giảm thiểu tổn thất do rò rỉ điện qua sứ, các mối nối và các điểm tiếp xúc vì vậy đã giảm được khá nhiều thất thoát lưới điện
Để giảm tổn thất thương mại, việc quan trọng nhất là cần hoàn thiện hệ thống đo đếm điện năng và tăng cường công tác kiểm tra xử lý vi phạm sử dụng điện Hiện nay ở hầu hết các xã, công tơ do các hộ gia đình tự trang bị, trước khi treo lên lưới lại không được kiểm định theo quy định Nhà nước nên đa số không đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật dẫn đến sai số lớn Tình trạng vi phạm hành lang lưới điện hạ thế và vi phạm sử dụng điện ở nhiều nơi còn nghiêm trọng dẫn đến thất thoát điện năng lớn Vì vậy các tổ chức quản lý điện nông thôn ở địa phương