1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở luận cứ khoa học và các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

117 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu cơ sở luận cứ khoa học và các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Nghiên cứu cơ sở luận cứ khoa học và các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Nguyễn Thị Hòa

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LUẬN CỨ KHOA HỌC VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ

HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

CHUYÊN NGHÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN SÂU: QLGD KỸ THUẬT VÀ NGHỀ NGHIỆP

Hà Nội – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Nguyễn Thị Hòa

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LUẬN CỨ KHOA HỌC VÀ CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ

HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

CHUYÊN NGHÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHUYÊN SÂU: QLGD KỸ THUẬT VÀ NGHỀ NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Thái Thế Hùng

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả luận văn xin cam đoan nội dung luận văn này là do bản thân tác giả luận văn thực hiện , các kết quả của tác giả khác đƣợc sử dụng trong luận văn đều đƣợc trích dẫn nguồn gốc cụ thể Các kết quả nghiên cứu của luận văn này không trùng lặp với bất kỳ luận văn nào đã đƣợc bảo vệ và không trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã đƣợc công bố

Tác giả luận văn xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tác giả luận văn cam đoan trên đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hòa

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn PGS.TS Thái Thế Hùng - Viện trưởng, Viện Sư phạm kỹ thuật , Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể thầy , cô giáo trong Viện Sư phạm kỹ thuật, Viện Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Bách khoa

Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất về chuyên môn , tài liệu, thiết bị để tác giả luận văn nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn cũng xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tác giả có thể hoàn thành được luận văn này

Tuy đã rất nỗ lực và cố gắng , song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót

và hạn chế Vì vậy, tác giả luận văn mong nhận được những ý kiến đóng góp của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp và bạn đọc để luận văn được hoàn thiện hơn Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn!

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hòa

Trang 5

MỤC LỤC

Trang TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Mục đích nghiên cứu 11

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11

4 Giả thuyết khoa học 11

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

6 Phạm vi nghiên cứu 11

7 Phương pháp nghiên cứu 12

8 Cấu trúc luận văn 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 14

1.1 Các khái niệm 14

1.1.1 Giáo dục đại học 14

1.1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục 15

1.1.3 Cơ sở giáo dục đại học 16

1.1.4 Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học 16

1.2 Sự phát triển giáo dục đại học 17

1.2.1 Lược sử phát triển giáo dục đại học 17

1.2.2 Giáo dục đại học với các vấn đề kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của quốc gia 20

Trang 6

1.2.3 Xu hướng phát triển giáo dục đại học thời đại 4.0 22

1.3 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học[19] 23

1.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục 24

1.3.2 Các công cụ quản lý nhà nước về giáo dục 26

1.4 Tổng quan về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học 28

1.4.1 Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học 28

1.4.2 Vấn đề quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục [20] 30

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quy hoạch mạng lưới 34

1.4.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của một mạng lưới cơ sở giáo dục đại học 35

1.4.5 Kinh nghiệm quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học của một số nước 41

Kết luận chương 1 53

Chương 2 THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI CÁC CỞ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM 54

2.1 Bối cảnh kinh tế – chính trị, văn hóa, xã hội 54

2.1.1 Trên thế giới 54

2.1.2 Trong nước 56

2.2 Giáo dục đại học và nguồn nhân lực của xã hội trong thời đại công nghệ 4.0 58

2.2.1 Giáo dục trong thời đại 4.0 58

2.2.2 Xu hướng giáo dục đại học trong thời đại 4.0 62

2.2.3 Đặc điểm nguồn nhân lực của thời đại mới 66

2.2.4 Mối quan hệ giữa giáo dục đại học và nguồn nhân lực trong thời đại mới 69

2.3 Thực trạng mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam 70

2.3.1 Về mạng lưới các trường cao đẳng, đại học 70

2.3.2 Về quy mô, cơ cấu ngành nghề trong đào tạo ở bậc đại học 72

2.3.3 Về quản lý, quản trị giáo dục, chất lượng giáo dục 77

2.3.4 Về đội ngũ giảng viên 78

2.3.5 Về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng 80

Kết luận chương 2 82

Trang 7

Chương 3 CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN

ĐẠI HÕA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 83

3.1 Căn cứ xây dựng giải pháp 83

3.2 Các nguyên tắc xây dựng giải pháp 83

3.2.1 Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học 83

3.2.2 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 83

3.2.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 84

3.2.4 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 84

3.2.5 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 85

3.3 Các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế 86

3.3.1 Giải pháp 1: Xây dựng và ban hành các tiêu chí, tiêu chuẩn cho phân tầng, xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam 86

3.3.2 Giải pháp 2: Xây dựng và ban hành các chính sách, cơ chế tài chính, đầu tư và huy động vốn cho các cơ sở giáo dục đại học nhằm đảm bảo sự tự chủ, minh bạch, công khai và có hiệu quả 87

3.3.3 Giải pháp 3: Xây dựng và đưa vào thực hiện các chính sách hỗ trợ tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng công nghệ thông tin cho các cơ sở giáo dục đại học 91

3.3.4 Giải pháp 4: Nghiên cứu và xây dựng cơ chế quản lý, phân cấp quản lý, tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học phù hợp điều kiện thực tiễn 92

3.3.5 Giải pháp 5: Xây dựng quy định về kiểm định và đảm bảo chất lượng, thực hiện tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động kiểm định và đảm bảo chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học 95

3.3.6 Giải pháp 6: Xây dựng các trung tâm chức năng nhằm tạo sự liên kết chặt chẽ giữa đào tạo và các lĩnh vực khác 96

3.3.7 Giải pháp 7: Xây dựng tài nguyên công nghệ thông tin, tài nguyên toàn hệ thống các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam 98

Trang 8

3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp 99

3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 100

3.5.1 Lấy ý kiến chuyên gia cho các giải pháp 100

3.5.2 Phân tích kết quả khảo nghiệm 102

Kết luận chương 3 106

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107

1 Kết luận 107

2 Kiến nghị 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 111

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

CMCN 4.0 Cách mạng công nghiệp lần thứ 4

CSGDĐH Cơ sở giáo dục đại học

R&D Nghiên cứu và phát triển

THCN Trung học chuyên nghiệp

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ quản lý nhà nước của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam [20] 26

Hình 2.1.Số lượng các trường đại học, cao đẳng qua các năm từ 2010 đến nay và năm 2020* (theo QĐ 37/2013/QĐ-TTg) (Nguồn Tổng cục thống kê) 71

Hình 2.2.Số lượng các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng công lập và ngoài công lập (riêng từ 2016-2017 không bao gồm các trường cao đẳng) (Nguồn Tổng cục thống kê) 71

Hình 2.3.Các trường ĐH Việt Nam phân bố theo vùng (Nguồn Bộ GD&ĐT) 72

Hình 2.4.Số sinh viên giai đoạn 2010 – 2017 (Từ năm 2016-2017 số liệu không bao gồm cao đẳng) (Nguồn Tổng cục thống kê) 73

Hình 2.5 Phân bố chỉ tiêu theo vùng miền (Nguồn Bộ GD&ĐT) 74

Hình 2.6.Phân bố chỉ tiêu trong cả nước theo khối ngành 75

Hình 2.7 Phân bố chỉ tiêu khối ngành ở các vùng miền 76

Hình 2.8.Trình độ giáo viên ở các CSGDĐH trên cả nước 79

Hình 3.1.Tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của 7 giải pháp quy hoạch 104

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Chỉ tiêu tuyển sinh theo khối ngành trên cả nước (Nguồn Bộ GD&ĐT) 74 Bảng 2.2 Trình độ giảng viên các trường đại học, cao đẳng các năm (Từ năm 2016

không bao gồm cao đẳng) 78

Bảng 3.1 Bảng điểm đánh giá mức độ của tính cần thiết, tính khả thi trong phiếu

điều tra 101

Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả chấm điểm từ phiếu điều tra 102

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng thế giới gọi thế kỉ XXI là kỉ nguyên của kinh tế dựa vào kĩ năng (Skills Based Economy) Tức là nền kinh tế của một quốc gia sẽ phụ thuộc rất lớn vào kỹ năng, năng lực của nguồn nhân lực mà đất nước đó sở hữu Đây sẽ là nguồn tài nguyên cực lớn và không bao giờ cạn kiệt Trong quá trình phát triển của đời sống kinh tế – xã hội và KHCN của các quốc gia, vai trò và vị trí của giáo dục đại học nói chung và của các trường đại học nói riêng ngày càng trở nên quan trọng Các trường đại học không chỉ có vai trò chủ chốt trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao mà thực sự đã và đang trở thành các trung tâm nghiên cứu lớn về sản xuất tri thức mới và phát triển, chuyển giao công nghệ hiện đại, góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia và nhân loại Ở nhiều nước phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Nhật Bản,…, hệ thống giáo dục còn trở thành một ngành dịch vụ tri thức cao cấp góp phần đáng kể vào thu nhập quốc dân GDP của quốc gia thông qua các hoạt động đào tạo và khoa học, công nghệ [20], và có cả việc xuất khẩu dịch vụ đó ra nước ngoài Nhiều nước trong khu vực ASEAN như Thái lan, Malaisia, Philipin đã và đang thực hiện đổi mới, cải cách giáo dục đại học theo hướng phát triển đa dạng hoá, chuẩn hoá, hình thành hệ thống bảo đảm chất lượng đại học với nhiều tiêu chí và chuẩn mực đánh giá chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, dịch vụ phát triển cộng đồng [20] Nghị quyết 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của Chính phủ Việt Nam về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 cũng đã đặt ra yêu cầu: “ Hiện đại hóa hệ thống giáo dục đại học trên cơ sở kế thừa những thành

quả giáo dục và đào tạo của đất nước, phát huy bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa

nhân loại, nhanh chóng tiếp cận xu thế phát triển giáo dục đại học tiên tiến trên thế giới.” [6]

Theo thống kê của Bộ GD-ĐT [1], tính đến hết năm học 2016-2017, hệ thống hiện có 235 trường đại học, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài, không tính các trường thuộc khối quốc phòng – an ninh), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 33 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm Như vậy là số lượng trường đã vượt chỉ tiêu quy hoạch đề ra theo Quyết định số 37 năm 2013 của Thủ tướng chính phủ là 224 trường đại học [7] Về quy mô đào tạo,

Trang 13

năm học 2016-2017, tổng quy mô sinh viên đại học 1.767.879 sinh viên (trong khi

đó tổng quy mô đề ra đến năm 2020 là 2.2 triệu), quy mô đào tạo thạc sĩ là 105.801 (tăng 12,8% so với năm học 2015-2016), quy mô đào tạo tiến sĩ là 15.112 (tăng 21% so với năm học 2015-2016) Tính từ đầu năm 2016 đến 31/7/2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ đại học là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học

xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ GD-ĐT, nhiều trường vẫn chưa quan tâm đầu tư các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo để đáp ứng quy mô tuyển sinh; đội ngũ giảng viên, đặc biệt là giảng viên cơ hữu chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ chuyên môn; nguồn lực tài chính phân tán; chưa đầu tư dự báo thị trường nên các ngành đào tạo còn trùng lặp, chồng chéo trong một địa bàn Nhiều nơi mở ngành đào tạo vẫn dựa vào năng lực và kinh nghiệm vốn có, dẫn đến những ngành xã hội cần thì lại thiếu Đó là những nguyên nhân khiến cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý và chất lượng đào tạo hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển KT-XH của đất nước

Năm học 2016-2017, học sinh tốt nghiệp THPT vào đại học, cao đẳng khoảng 41%, vào cao đẳng nghề, trung cấp khoảng 23%, học nghề tại trung tâm đào tạo nghề khoảng 13%, đi làm khoảng 10% Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và đăng ký xét tuyển đại học năm nay, tỷ lệ học sinh không đăng ký xét tuyển đại học là 26%[1] Thực tế cho thấy đã có sự chuyển biến về nhận thức của học sinh trong việc lựa chọn ngành nghề và hướng đi phù hợp với năng lực của mình

Đến hết năm học 2016-2017, có 23 cơ sở giáo dục đại học công lập được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án thí điểm tự chủ đổi mới cơ chế hoạt động theo quy định của Nghị quyết, trong đó Trường ĐH Trà Vinh là cơ sở đại học trực thuộc địa phương đầu tiên thực hiện thí điểm Tuy nhiên, theo Bộ GD-ĐT, cơ sở pháp lý

về tự chủ đại học chưa vững chắc và thiếu đồng bộ nên việc triển khai còn nhiều lúng túng, chưa thống nhất; một số nội dung cam kết của Chính phủ (theo tinh thần của Nghị quyết 77) chưa được thực hiện (cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, hỗ trợ lãi suất vay) gây khó khăn cho nhiều cơ sở GDĐH Tự chủ chưa gắn liền với đổi mới quản trị đại học và trách nhiệm giải trình xã hội

Các chương trình đào tạo kỹ sư chất lượng cao, chương trình đào tạo kỹ sư, cử nhân tài năng, chương trình tiên tiến được nhiều trường đại học quan tâm phát triển Tới nay đã có 35 chương trình tiên tiến ở 23 cơ sở đào tạo; 16 chương trình kỹ sư chất lượng cao theo tiêu chuẩn của Cộng hoà Pháp ở 04 cơ sở đào tạo; 50 chương

Trang 14

trình đào tạo theo định hướng ứng dụng nghề nghiệp (POHE) và gần 200 chương trình chất lượng cao ở các cơ sở khác Ngoài ra, các trường đại học còn có hơn 500 chương trình liên kết đào tạo quốc tế với các trường đại học ở các nước trên thế giới [1] Theo Bộ GD-ĐT, chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước; tình trạng sinh viên tốt nghiệp ra trường chưa tìm được việc làm còn nhiều Việc triển khai đào tạo chất lượng cao trình độ đại học không đồng đều, chủ yếu tập trung ở những trường đại học lớn trong khi các trường đại học do địa phương quản lý còn chậm được triển khai

Trước thực trạng các trường đại học phát triển quá nhanh về số lượng cũng như tuyển sinh, cùng với tình trạng sinh viên thất nghiệp sau khi tốt nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 46/2017/NĐ–CP quy định rõ trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Rà soát Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020 để xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học giai đoạn

2017 - 2025 và tầm nhìn đến 2030”[5] Nghị quyết 19-NQ/TW hội nghị Trung ương

6 đã đề ra nhiệm vụ đối với giáo dục đại học[8]: “Sáp nhập, hợp nhất hoặc giải thể các trường đại học, cơ sở giáo dục - đào tạo hoạt động không hiệu quả, không nhất thiết tỉnh nào cũng có trường đại học Sắp xếp, tổ chức lại, tập trung xây dựng một

số trường sư phạm trọng điểm để đào tạo đội ngũ giáo viên và quản lý giáo dục Nhà nước tập trung đầu tư chiều sâu, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực chất lượng cao đối với các trường đại học công lập ở một số lĩnh vực mang tầm cỡ khu vực và quốc

tế Các trường trong Quân đội, Công an chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho lực lượng vũ trang.” Các nghị quyết 19, nghị định 46 được ban hành trong thời gian qua đã cho thấy quyết tâm cao của Đảng và Nhà nước trong việc quy hoạch sắp xếp mạng lưới các trường đại học Nếu không tái cấu trúc và quy hoạch mạng lưới thì sẽ không thể kiếm đâu ra nguồn tài chính đầu tư cho một bộ máy giáo dục đại học quá lớn như hiện nay

Để có thể thực hiện được công cuộc tái cấu trúc và quy hoạch mạng lưới thành công, có hiệu quả thì việc nghiên cứu các cơ sở lý luận, thực tiễn và các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là rất cần thiết Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất các giải pháp quy hoạch phù hợp trong điều kiện của Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu của thời kỳ

Trang 15

CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Đó cũng là lý do đề tài: “Nghiên cứu cơ sở luận

cứ khoa học và các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”

được chọn thực hiện

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luậnvà thực tiễn về vấn đề quy hoạch mạng lưới các

cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế,đề xuất các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục Việt

Namnhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Hệ thống giáo dục đại học

- Đối tượng nghiên cứu:Các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo

dục đại học

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam có tính khả thi, tối ưu thì sẽ có tác động tích cực tới việc nâng cao chất lượng của giáo dục đại học trong thời kỳ mới

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.Nghiên cứu về cơ sở lý luận, các tiêu chí đánh giá hiệu quả mạng lưới các

cơ sở giáo dục đại học

5.2.Làm rõ sứ mệnh, mục đích, mục tiêu của giáo dục đại học trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và chịu sự tác động mạnh

mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4

5.3.Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học

5.4.Đề xuất các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH và hội nhập quốc tế

6 Phạm vi nghiên cứu

Đề xuất giải pháp quy hoạch đối với các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam

Trang 16

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh nhằm tìm hiểu các kinh nghiệm trong nước và quốc tế để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi

- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếp

- Phương pháp chuyên gia

7.3 Các phương pháp khác

Phương pháp thống kê toán học

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1:Cơ sở lý luận về quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học

trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

1.1 Các khái niệm

1.2 Sự phát triển giáo dục đại học

1.3 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học

1.4 Tổng quan về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học

Chương 2: Thực trạng mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam

2.1 Bối cảnh kinh tế - chính trị, văn hóa, xã hội

2.2 Giáo dục đại học và nguồn nhân lực của xã hội trong thời đại công nghệ 4.0

2.3 Thực trạng mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học

Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

3.1 Căn cứ xây dựng giải pháp

3.2 Các nguyên tắc xây dựng giải pháp

3.3 Các giải pháp quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Trang 17

3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp

3.5 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp

Trang 18

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH MẠNG LƯỚI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI

HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1.1 Các khái niệm

1.1.1 Giáo dục đại học

Giáo dục đại học (GDĐH) theo từ điển Encarta (Microsoft® Encarta® 2009)

là hoạt động giáo dục thường được thực hiện tại một trường đại học hoặc cao đẳng,

và liên quan đến việc học lấy bằng cấp, bằng tốt nghiệp, hoặc bằng cấp tương đương

Luật GDĐH năm 2012 có nêu[17]:

Điều 5 Mục tiêu của giáo dục đại học

1 Mục tiêu chung:

a) Đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế;

b) Đào tạo người học có phẩm chất chính trị , đạo đức; có kiến thức , kỹ năng thực hành nghề nghiệp , năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo ; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp , thích nghi với môi trường làm việc ; có ý thức phục vụ nhân dân

2 Mục tiêu cụ thể đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ:

a) Đào tạo trình độ cao đẳng để sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản, kỹ năng thực hành thành thạo, hiểu biết được tác động của các nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội trong thực tiễn và có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc ngành được đào tạo;

b) Đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo;

Trang 19

c) Đào tạo trình độ thạc sĩ để học viên có kiến thức khoa học nền tảng, có kỹ năng chuyên sâu cho nghiên cứu về một lĩnh vực khoa học hoặc hoạt động nghề nghiệp hiệu quả, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo;

d) Đào tạo trình độ tiến sĩ để nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và ứng dụng, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát triển tri thức mới, phát hiện nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn

Điều 6 Trình độ và hình thứcđào tạo của giáo dục đại học

1 Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ kỹ năng thực hành, ứng dụng chuyên sâu cho người đã tốt nghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc thù

2 Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học được thực hiện theo hai hình thức

là giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên

1.1.2 Quản lý nhà nước về giáo dục

Theo Từ điển bách khoa về Giáo dục học, khái niệm "quản lý nhà nước về

giáo dục" được giải nghĩa là việc: "Thực hiện công quyền để quản lý các hoạt động

giáo dục trong phạm vi toàn xã hội" Có thể hiểu: Quản lý nhà nước về giáo dục là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của quốc gia

Quản lý nhà nước về giáo dục là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền do nhà nước qui định, phân cấp trong các hoạt động quản lý giáo dục ở địa phương và các cơ sở giáo dục, quản lý nhà nước về giáo dục thực chất là quản lí các hoạt động hành chính-giáo dục, vì vậy nó có hai mặt quản lí thâm nhập vào nhau, đó là quản lý hành chính sự nghiệp giáo dục và quản lí chuyên môn trong quá trình sư phạm

Trang 20

1.1.3 Cơ sở giáo dục đại học

Theo luật Giáo dục Đại học năm 2012 có định nghĩa: “cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học.”[17]

Điều 7 Cơ sở giáo dục đại học

1 Cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm :

a) Trường cao đẳng;

b) Trường đại học, học viện;

c) Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học);

d) Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ

2 Cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được tổ chức theo các loại hình sau đây: a) Cơ sở giáo dục đại học công lậpthuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu

3 Cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài gồm:

a) Cơ sở giáo dục đại học có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài;

b) Cơ sở giáo dục đại học liên doanh giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước

1.1.4 Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học

1.1.4.1 Quy hoạch

Theo từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2000, quy hoạch là “bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch dài hạn”.[13]

Trang 21

1.1.4.2.Mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học

Mạng lưới các CSGDĐHhay còn có cách gọi khác là hệ thống GDĐH được hiểu là hệ thống các trường cao đẳng , trường đại học , học viện , đại học thu ộc hệ thống giáo dục quốc dân

1.1.4.3 Quy hoạch mạng lưới CSGDĐH

Theo Luật GDĐH năm 2012, điều 11 [17]:

“Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học là sự phân bố , sắp xếp hệ thống các trường cao đẳng, trường đại học, học viện, đại học, với cơ cấu ngành nghề, trình

độ đào tạo phù hợp với quy mô dân số, vị trí địa lý, vùng lãnh thổ trên toàn quốc và từng địa phương, cho từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước.”

Quy hoạch mạng lưới GDĐH là tổ chức sắp xếp các cơ sở GDĐH thành một

hệ sinh thái đại học đa dạng, trong đó mỗi loại trường có một sứ mạng khác nhau để

có thể bổ sung cho nhau, và mỗi loại trường đều có một khuôn khổ chính sách phù hợp để kích thích nó lớn mạnh

1.2 Sự phát triển giáo dục đại học

1.2.1 Lược sử phát triển giáo dục đại học

1.2.1.1 Giáo dục đại học phương Đông

Nền giáo dục đại học phương Đông gắn liền với quá trình phát triển của các nền văn minh phương Đông Nền giáo dục đại học đi từ nền giáo dục “phản ánh và truyền bá các hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo và các giá trị văn hoá –

xã hội, trong đó chủ yếu là dạy hệ thống các triết lý, quan niệm, tín điều, văn chương, một số kỹ năng tính toán và rất ít tính duy lý, phân tích” [20] đến thời hiện đại là nền giáo dục có hệ thống phát triển theo mô hình châu Âu và mô hình Mỹ

1.2.1.2 Giáo dục đại học phương Tây [20]

Giáo dục đại học phương Tây hình thành và phát triển gắn liền với quá trình phát triển của các nền văn minh phương Tây, gắn liền với các cuộc cải cách tôn giáo, cách mạng xã hội, cách mạng KHCN với sự phát triển mạnh mẽ của các tư tưởng tiến bộ – nhân văn, tư duy khoa học

Trang 22

Giáo dục đại học phương Tây phát triển qua gần 10 thế kỷ qua 4 giai đoạn:

 Từ thế kỷ XII – XV (cuối thời trung cổ châu Âu): Giáo dục đại học thời kỳ này chịu ảnh hưởng và chịu sự chi phối của các giáo lý, hệ tư tưởng của nhà thờ; nền giáo dục tinh hoa, phục vụ cho nhu cầu cho nhà nước và nhà thờ

 Từ thế kỷ XVI – XVII (thời kỳ Khai sáng và Phục hưng): Giáo dục đại học thời kỳ này dần thoát khỏi sự chi phối của Nhà thờ và Giáo hội; các trường đại học trở thành trung tâm khoa học, văn hoá tri thức của xã hội Mặc dù vậy vẫn là nền giáo dục tinh hoa

 Từ thế kỷ XVIII – XIX (thời kỳ các cuộc cách mạng kỹ thuật và công nghiệp): Giáo dục đại học thời kỳ này xuất hiện các loại hình trường đại học/ cao đẳng kỹ thuật và công nghệ, các trường cơ khí ở Anh, các trường bách khoa về kỹ thuật – công nghệ ở Đức và Pháp Các trường kiểu mới này đã trở thành trung tâm đào tạo đội ngũ nhân lực trình độ cao trong nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ có các ngành sản xuất – dịch vụ, góp phần phát triển nhân lực kỹ thuật có trình độ cao cho các ngành kinh tế – xã hội, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghiệp Thời kỳ này cũng xuất hiện mô hình đại học nghiên cứu, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, lý thuyết với ứng dụng, phát triển các khoa học ứng dụng và thực nghiệm Sự ra đời của trường đại học Berlin (1810) đã đánh dấu bước chuyển căn bản của mô hình giáo dục đại học phương Tây từ khoa học thuần tuý sang khoa học ứng dụng cao cấp, phát triển khoa học và công nghệ tiên tiến với nhiều ứng dụng rộng rãi trong sản xuất và dịch vụ

 Từ giữa thế kỷ XIX – nay (thời kỳ hậu công nghiệp và kinh tế tri thức): Giáo dục đại học thời kỳ này diễn ra song hành cùng với quá trình phát triển của KHCN

và nền sản xuất hiện đại, những tiến bộ trong quá trình dân chủ hóa đời sống xã hội tiếp tục phát triển mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng, hiệu quả đào tạo Mô hình giáo dục Mỹ ra đời trên cơ sở kế thừa các mô hình đại học Anh, châu Âu với những

cơ sở nổi tiếng thế giới và nằm trong tốp đầu những trường đại học đẳng cấp quốc

tế

Trang 23

1.2.1.3 Giáo dục đại học Việt Nam [20]

 Thời kỳ phong kiến (1076 – 1885): Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ này chủ yếu là giáo dục Nho học Năm 1076 với sự ra đời của Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam đã đánh dấu sự ra đời của hệ thống giáo dục Nho học

 Thời kỳ Pháp thuộc (1885 – 1945): trường Đại học Đông Dương (1906) là trường đại học đầu tiên của giáo dục đại học Việt Nam ở thời kỳ cận đại và là trường đại học đầu tiên theo mô hình hiện đại của Pháp (mô hình châu Âu) Giáo dục cao đẳng, đại học ở Việt Nam chỉ có bước phát triển mới về trình độ dào tạo và loại hình từ năm 1941 Sau gần 40 năm phát triển (1906 – 1945), nền giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc tuy quy mô còn nhỏ bé do chính sách thực dân chủ trương “phát triển giáo dục theo chiều ngang” nhưng đã định hình khá đồng bộ các loại hình đào tạo chuyên gia ở bậc đại học trong khuôn khổ của mô hình đại học đa ngành Mặc dù có những hạn chế, nhưng mô hình đào tạo đại học nói trên đã tạo ra được một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển giáo dục đại học Việt Nam Nhiều sinh viên của đại học Đông Dương ra trường đã trở thành những trí thức dân tộc, yêu nước góp phần tích cực vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc và xây dựng nền giáo dục đại học của nước Việt Nam mới sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Thời kỳ 1945 – 1985: (i) giai đoạn 1945 – 1954:Sau cách mạng tháng Tám,

chính phủ cho mở lại các cơ sở giáo dục đại học hiện có, trường Đại học Quốc gia Việt Nam – trường đại học đầu tiên của nền giáo dục đại học cách mạng Việt Nam

ra đời đánh dấu sự khởi đầu củamột kỷ nguyên giáo dục đại học dân tộc hiện đại của nước Việt Nam độc lập Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng

nổ đã làm gián đoạn sự phát triển của mô hình đào tạo đa lĩnh vực của Đại học Quốc gia Việt Nam Ngoài các cơ sở giáo dục đại học/ cao đẳng sẵn có thì chính phủ cũng mở thêm một số trường khác Từ 1953 tiếng Việt đã hoàn toàn được dùng làm chuyển ngữ ở bậc đại học Các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng thời kháng chiến đã thực sự trở thành những cơ sở đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật phục vụ công cuộc kháng chiến và các nhà khoa học, tri thức cho các

trường đại học sau này; (ii) giai đoạn 1954 – 1975:năm 1954 hòa bình lập lại ở

Trang 24

miền Bắc, đối với bậc đại học, hình thành hệ thống các trường đại học và cao đẳng theo mô hình của Liên Xô cũ bao gồm các trường đại học tổng hợp, các trường đại học chuyên ngành Ở miền Nam, hình thành hệ thống giáo dục đại học theo mô hình

Mỹ với các viện Đại học: Sài Gòn (1955), Huế (1957), Cần Thơ (1966) và một số

viện đại học cộng đồng ở Nha Trang, Mỹ Tho, Đà Nẵng ; (iii) giai đoạn 1985:Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, hệ thống giáo dục quốc

1976-dân được xây dựng thống nhất trong cả nước

 Thời kỳ 1986 đến nay: Từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986, hệ thống giáo dục quốc dân cũng như hệ thống giáo dục đại học đã có những thay đổi đáng kể về mặt cơ cấu bậc học cũng như loại hình đào tạo Hệ thống giáo dục đại học đã từng bước được hoàn thiện và thống nhất trên toàn quốc Công cuộc Đổi mới đã mang diện mạo mới cho hệ thống giáo dục theo hướng hiện đại hóa, chuẩn hóa, dân chủ hóa, đa dạng hóa Đây cũng là tiền đề để hệ thống giáo dục nước ta phát triển kịp xu thế toàn cầu nhưng đồng thời cũng là một thử thách lớn đối với công tác quản lý giáo dục đại học

Trong lịch sử hình thành và phát triển của mình, nhà trường nói chung và nhà trường đại học nói riêng là sản phẩm của một xã hội, luôn vận động và phát triển theo quy luật chung của đời sống xã hội – chính trị và quy luật phát triển nội tại của

nó Đối với một nền giáo dục nói chung và nhà trường đại học nói riêng, chất lượng giáo dục đại học có liên quan chặt chẽ với chất lượng nhà trường từ các điều kiện bảo đảm chất lượng đến chất lượng tổ chức, quản lý quá trình giáo dục và quá trình dạy – học Việc nghiên cứu những đặc trưng, quy luật, xu hướng phát triển của xã hội và những đặc trưng của nhà trường đại học trong giai đoạn phát triển của các nền văn minh tạo cơ sở khoa học cho quá trình đổi mới và phát triển giáo dục đại học [20]

1.2.2 Giáo dục đại học với các vấn đề kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của quốc gia

Tuyên bố Paris 1998 và tuyên bố UNESCO 2009 đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục cũng như triết lý của đại học: “Không những đào tạo cho sinh viên có kiến

Trang 25

thức vững chắc và biết vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh hiện thời và cả cho tương lai Hơn nữa, còn đào tạo những công dân có ý thức trách nhiệm, sẵn sàng bảo vệ hòa bình, nhân quyền và những giá trị dân chủ” Tuyên bố UNESCO 2009 cũng trở lại một vấn đề tâm điểm của giáo dục đại học: “Giáo dục đại học để chống nghèo đói, để phát triển bền vững, để thiết lập công bằng xã hội” Sự phát triển của hệ thống GDĐH một mặt bị tác động, chi phối và mặt khác cũng góp phần thúc đẩy các xu hướng phát triển chung của đời sống xã hội hiện đại

Trước đây trong điều kiện đời sống xã hội chậm phát triển (xã hội của nền văn minh nông nghiệp và tiền công nghiệp), những đặc trưng cơ bản của đời sống xã hội tồn tại hàng ngàn năm hoặc hàng trăm năm không thay đổi hoặc ít thay đổi (phương thức sản xuất; tri thức khoa học, trình độ công nghệ, lối sống; ) việc nghiên cứu

mô hình phát triển, dự báo tương lai thường dựa trên kinh nghiệm và nhìn vào quá khứ để dự báo xu hướng phát triển trong tương lai Thế hệ trẻ chủ yếu được giáo dục thích ứng với một đời sống xã hội ít thay đổi và hành xử theo kinh nghiệm của các thế hệ trước truyền lại Trong giai đoạn mới của sự phát triển xã hội hiện đại, phương pháp trên bộc lộ những hạn chế căn bản Xã hội hiện đại với sự ra đời của nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp (văn minh tin học) đã và đang phát triển với tốc độ nhanh chóng và làm đảo lộn mọi khía cạnh của đời sống xã hội chỉ trong một giai đoạn ngắn (vài chục năm hoặc thậm chí chỉ trong vòng vài năm Nếu trước kia, một hình thái kinh tế - xã hội hay một giai đoạn phát triển đặc trưng (các nền văn minh nông nghiệp, tiền công nghiệp) kéo dài nhiều năm, bao trùm đời sống nhiều thế hệ con người, thì ngày nay tình thế đã đảo ngược Ở các nước công nghiệp phát triển, một đời người có thể chứng kiến nhiều giai đoạn phát triển của xã hội công nghiệp và hậu công nghiệp hoặc sự quá độ nhanh chóng từ nền văn minh nông nghiệp lên nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp (như

ở Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan v.v) tính chất tương tự với đặc trưng phát triển của quá khứ trong vòng vài chục năm của các mô hình phát triển đã bị phá vỡ trong một vài năm Thế giới mới phát triển nhanh chóng, năng động và đa dạng với những mối liên hệ tương tác phức tạp cả chiều dọc và chiều ngang, mang tính toàn

Trang 26

cầu.Thực trạng đó đòi hỏi việc nghiên cứu phát triển giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng ở Việt Nam nói riêng cần tiếp cận theo hướng chủ yếu là sự thích hợp với hiện tại và nhu cầu phát triển xã hội và cá nhân, của thế giới nói chung và của từng quốc gia, dân tộc nói riêng

Với quan niệm hiện đại về giáo dục như là một cơ sở hạ tầng xã hội với các chức năng cơ bản là nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, giáo dục phát triển dựa trên 4 trụ cột chính là: học để biết, học để làm, học để làm người

và học để chung sống, mô hình phát triển của nhà trường đại học hiện đại đương nhiên phải được định hướng vào yêu cầu bảo đảm hình thành và phát triển nhân cách con người có trình độ học vấn cao trong xã hội hiện đại: một xã hội với trình

độ phát triển cao chưa từng có trong lịch sử của mỗi quốc gia nói riêng cũng như lịch sử phát triển xã hội loài người nói chung

Trong giai đoạn hiện nay và tương lai, các quan điểm giáo dục liên tục, giáo dục suốt đời, giáo dục cộng đồng, giáo dục kỹ năng sống, phát triển cá nhân v.v đã

và đang trở thành các quan điểm chủ đạo chi phối xu hướng và quy định những đặc trưng cơ bản của nền giáo dục hiện đại nói chung cũng như chất lượng giáo dục và

mô hình phát triển nhà trường đại học hiện đại nói riêng Định hướng phát triển trên bảo đảm mối liên kết khoa học – công nghệ – văn hoá – xã hội – phát triển cá nhân trong toàn bộ quá trình vận động và phát triển của nhà trường đại học hiện đại

1.2.3 Xu hướng phát triển giáo dục đại học thời đại 4.0

Trong bối cảnh sôi động của các xu hướng phát triển của đời sống xã hội hiện đại, GDĐH ở các nước đã và đang có nhiều cơ hội phát triển, đồng thời phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn, đặc biệt là vấn đề giải quyết các mối quan hệ quy

mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo; giữa đào tạo và nghiên cứu, dịch vụ; giữa nhu cầu và nguồn lực cho phát triển, kể cả những vấn đề dung hoà và xung đột do sự khác biệt của các nền văn hoá Để giải quyết các yêu cầu đó, giáo dục đại học các nước đã và đang thực hiện các cuộc đổi mới và cải cách sâu rộng với các xu hướng sau[19]:

Trang 27

Xu hướng đại chúng hóa: Chuyển từ giáo dục tinh hoa (Elite) sang giáo dục

đại chúng và phổ cập (Massification &Univerzalization) Quy mô GDĐH tăng nhanh Ở nhiều nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Ọuốc tỷ lệ SV đại học trong độ tuổi

18 – 26 lên đến 50 – 70%

Xu hướng đa dạng hóa (Diversification): Phát triển nhiều loại hình trường với

cơ cấu đào tạo đa dạng về trình độ và ngành nghề theo huớng hàn lâm (Academy) hoặc nghề nghiệp và công nghệ nặng về thực hành (Professional)

Tư nhân hoá (Privatization): Để tăng hiệu quả đào tạo và thu hút nhiều nguồn

lực ngoài ngân sách nhà nước cho GDĐH, ở nhiều nước như Mỹ, Nhật Bản, Philipin phần lớn các trường đại học là đại học tư

Bảo đảm chất lượng (Quality Assurance) và nâng cao khả năng cạnh tranh

Tập đoàn hoá và công nghiệp hoá (Corporatization and Indutrialization) hệ thống GDĐH

Phát triển mạng lưới các đại học nghiên cứu để trở thành các Trung tâm sản

xuất, sử dụng, phân phối, xuất khẩu tri thức và chuyển giao công nghệ mới, hiện đại.Thông qua đào tạo và nghiên cứu để phát hiện và thu hút nhân tài khoa học và công nghệ

Đẩy mạnh các loại hình dịch vụ đào tạo nhân lực quốc tế và khu vực Các

trường đại học trở thành các cơ sở dịch vụ đào tạo nhân lực cao cấp thu hút vốn đầu

tư vào đào tạo từ nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển có nhu cầu tiếp cận với khoa học và công nghệ hiện đại

1.3 Quản lý nhà nước về giáo dục đại học[19]

Quản lý giáo dục đại học có hai cấp cơ bản là quản lý nhà nước về giáo dục đại học và quản lý nhà trường

Nếu xem quản lý nhà nước như là một hệ thống thì quản lý nhà nước về giáo dục là một hệ thống bao gồm các thế chế, cơ chế quản lý giáo dục; tổ chức bộ máy quản lý giáo dục và đội ngũ cán bộ và công chức quản lý giáo dục ở các cấp Ba bộ phận này có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau rất chặt chẽ Chúng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm lẫn nhau trong quá trình vận hành, tác nghiệp

Trang 28

Cơ chế quản lý giáo dục là tập hợp hệ thống các chính sách, nguyên tắc, quy chế, chế độ v.v quy định các mối quan hệ, cách thức vận hành các hoạt động quản

lý ở các cấp, giữa chủ thể và khách thể quản lý trong hoạt động giáo dục Cơ chế quản lý được thể hiện qua hệ thống các văn bản pháp luật điều tiết, điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động giáo dục Nó có vai trò gắn kết các thành phần trong hệ thống quản lý, hướng các hoạt động quản lý vào các mục tiêu quản lý Thiếu cơ chế quản lý thì hệ thống không thể vận hành được

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục là hệ thống các cơ quan công quyển từ TW đến các địa phương do Nhà nước thành lập để thực thi công việc quản

lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục Bộ máy này được phân cấp, phân công trên cơ

sở các định chế nhà nước và các cơ chế quản lý giáo dục đã được thiết lập Bộ máy

ở cấp nào vừa là chủ thế quản lý của cấp đó vừa là đối tượng quản lý của các cấp trên cao hơn Có thể nói với mỗi một thể chế nhà nước và cơ chế quản lý lại có bộ máy tổ chức quản lý tương ứng

Đội ngũ cán bộ và công chức quản lý giáo dục là những người đang làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục các cấp Đây là thành phần, nhân tố

cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống quản lý nhà nước về giáo dục có tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về giáo dục

1.3.1 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục

Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã xác định rõ: "Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu" - (Điểu 35) và "Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng" (Điều 36)[15] Theo điều 14 của Luật Giáo dục (2005) về Quản lý nhà nước về giáo dục thì:

"Nhà nứơc thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục ".[16]

Trang 29

Luật Giáo dục 2005 tại Điều 99 cũng đã chi tiết hoá nội dung quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm[16]:

1.Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trờng; ban hành quy định về tổ chức hoạt động của các cơ sở giáo dục khác

3 Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học, việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình, quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ

4 Tổ chức quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục

5 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục

6 Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục

7 Tổ chức chỉ đạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

8 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục

9 Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành giáo dục

10 Tổ chức, quản lý công tác quan hệ quốc tế về giáo dục

11 Quy định việc tặng các danh hiệu vinh dự cho những người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục

12 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi phạm pháp luật về giáo dục

Hiện tại, việc quản lý hệ thống giáo dục đại học đã được thiết lập như sau:

1 Hai đại học Quốc gia (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) trực thuộc Chính phủ quản lý (Thủ tướng) Các đại học này có tính độc lập và tự chủ cao

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm quản lý nhà nước tất cả các trường đại học và quản lý trực tiếp một số cơ sở đào tạo đại học Bộ Giáo dục và

Trang 30

Đào tạo cung cấp ngân sách và quyết định trực tiếp đến nhân sự và chức năng, nhiệm vụ của các trường này

3 Những Bộ khác (có mối liên hệ đặc biệt như là Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính ,…) thực hiện công tác quản lý GD&ĐT theo thẩm quyền

4 Chính quyền các Tỉnh/ Thành phố quản lý các cơ sở đào tạo cao đẳng/đại học địa phương trên địa bàn

Hình 1.1 Sơ đồ quản lý nhà nước của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam [20] 1.3.2 Các công cụ quản lý nhà nước về giáo dục

1.3.2.1 Công cụ pháp luật

Đây là công cụ quan trọng nhất trong quản lý nhà nước về giáo dục Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước đều được thể chế hoá trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, có giá trị bắt buộc đối với nọi tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động giáo dục và quản lý giáo dục Đây là công cụ của các cơ quan quản lý và nhà quản lý để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng quản

lý nhà nước về giáo dục theo thẩm quyền Có thể nói hệ thống các văn bản quy pháp pháp luật về giáo dục càng đầy đủ và hoàn thiện thì công tác quản lý nhà nước

về giáo dục càng có những điều kiện thuận lợi và công cụ sắc bén bấy nhiêu

Trang 31

1.3.2.2 Công cụ tổ chức

Công cụ tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục là bộ máy tổ chức cùng với chức trách, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền theo luật định của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục thể hiện qua các quy trình, quy phạm, thủ tục hành chính trong quá trình tổ chức, thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ quản lý nhà nước về giáo dục của các cơ quan quản lý các cấp

1.3.2.3 Công cụ chính sách

Cũng như tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội khác, nhà nước thực hiện vai trò, chức năng quản lý giáo dục của mình thông qua hệ thống các chính sách (đường lối, chủ trương ) về giáo dục nhằm bảo đảm các hoạt động giáo dục phù hợp với các mục tiêu mong muốn và lợi ích quốc gia, lợi ích của xã hội và của từng cá nhân

Hệ thống chính sách là công cụ chủ yếu để chi phối, định hướng toàn bộ các hoạt

động giáo dục của quốc gia

1.3.2.4 Các công cụ kinh tế

Trong quá trình thực thicông tác quản lý nhà nước về giáo dục, các cơ quan quản lý sử dụng các biện pháp kinh tế như là công cụ để quản lý và điều tiết các hoạt động giáo dục thông qua các chính sách, các quy định, chế độ về đầu tư, học phí, tài chính v.v…

Quản lý nhà nước về giáo dục đại học ở nước ta trải qua 4 thời kỳ: thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954), thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước (1954-1965), thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1965-1975) và thời kỳ từ 1975 đến nay “Từ năm 1945 đến 1998 là thời kỳ nhà nước quản

lý giáo dục đại học theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, điều chỉnh hoạt động giáo dục đại học bằng nghị quyết, chỉ thị, công văn, mệnh lệnh hành chính Từ năm

1998 đến nay, sau khi Luật giáo dục đầu tiên được ban hành, Nhà nước thực hiện quản lý giáo dục đại học bằng pháp luật.” [9]

Trang 32

1.4 Tổng quan về quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học

1.4.1 Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học

1.4.1.1 Nguyên tắc quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học:

a) Phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngành, vùng, địa phương; bảo đảm cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ và cơ cấu vùng miền; đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân;

b) Bảo đảm tính đa dạng, đồng bộ của hệ thống giáo dục đại học, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, với sản xuất và dịch vụ; từng bước nâng cao chất lượng đào tạo, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; c) Phù hợp với năng lực đầu tư của Nhà nước và khả năng huy động nguồn lực của toàn xã hội; tạo điều kiện để mọi người đều có cơ hội tham gia xây dựng cơ sở giáo dục đại học;

d) Tập trung đầu tư cho các nhiệm vụ chủ yếu, các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm và các ngành trọng điểm, các vùng kinh tế trọng điểm và các vùng đặc biệt khó khăn

1.4.1.2 Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học gồm các nội dung chủ yếu sau [17]

a) Cơ cấu hệ thống giáo dục đại học và quy mô đào tạo theo ngành học, trình

độ đào tạo, loại hình cơ sở giáo dục đại học;

b) Phân bố các cơ sở giáo dục đại học theo tính chất, đặc điểm kinh tế - xã hội từng vùng, từng địa phương;

c) Đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục;

d) Cơ sở vật chất, kỹ thuật

1.4.1.3 Mục đích của việc quy hoạch mạng lưới GDĐH:

Hệ thống GDĐH cần có nhiều loại trường khác nhau để đáp ứng cho những nhu cầu khác nhau của xã hội và của nền kinh tế Khủng hoảng thừa hay khủng hoảng thiếu về lực lượng nghiên cứu hay về lực lượng lao động chuyên môn trình

độ cao đều dẫn đến những hệ lụy tiêu cực cho sự phát triển của đất nước, trước hết

là lãng phí nguồn lực hạn hẹp của quốc gia

Trang 33

Việc quy hoạch chỉ có ý nghĩa khi các trường khác loại, tức là có sứ mạng khác nhau, thực sự có một kế hoạch họat động nhất quán với sứ mạng của mình Người ta kỳ vọng việc quy hoạch sẽ tăng cường năng lực và hiệu quả của các trường, bởi vì mỗi loại trường khác nhau cần có những loại giảng viên khác nhau,

cơ chế quản lý và tài chính khác nhau, các tiêu chuẩn đánh giá khác nhau, trọng tâm hoạt động và các mối quan hệ khác nhau với thế giới việc làm Tất cả các loại trường đều có vai trò quan trọng như nhau trong việc đóng góp cho xã hội, và đều cần được tạo điều kiện phù hợp với sứ mạng, đặc điểm của mình

Luật GDĐH nêu rõ: quy hoạch mạng lưới các CSGDĐH sẽ được xây dựng cho từng thời kỳ, “thể hiện sự phân bố hệ thống các cơ sở GDĐH với cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo phù hợp với quy mô dân số, vị trí địa lý, vùng lãnh thổ trên toàn quốc và từng địa phương, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước” Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH sẽ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Điều 9 của Luật GDĐH ban hành và có hiệu lực từ năm 2013 đã thể chế hóa chủ trương phân tầng nhằm phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục, thực hiện quản lý nhà nước Cơ sở giáo dục đại học được xếp hạng nhằm đánh giá uy tín

và chất lượng đào tạo; phục vụ công tác quản lý nhà nước và ưu tiên đầu tư từ ngân sách nhà nước.[18]

Cơ sở giáo dục đại học được phân tầng và xếp hạng theo các tiêu chí:

a) Vị trí, vai trò trong hệ thống giáo dục đại học;

b) Quy mô, ngành nghề và các trình độ đào tạo;

c) Cơ cấu các hoạt động đào tạo và khoa học công nghệ;

d) Chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học;

đ) Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục đại học

Cơ sở giáo dục đại học được phân tầng thành:

a) Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu;

Trang 34

b) Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng;

c) Cơ sở giáo dục đại học định hướng thực hành

1.4.2 Vấn đề quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục [20]

Giáo dục là nhu cầu cơ bản của con người, là điều kiện cần thiết để bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ học tập của mọi công dân được Hiến pháp bảo đảm Phát triển quy mô giáo dục không chỉ đơn thuần là tăng số lượng mà còn là quá trình phổ cập giáo dục và điều chỉnh cơ cấu đào tạo các bậc học, ngành học, phát triển hệ thống giáo dục quốc dân với nhiều loại hình đa dạng trên mọi vùng, miền của đất nước, góp phần nâng cao trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực Đây cũng là quá trình phát triển và hiện đại hoá mạng lưới nhà trường, đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp dạy – học, phương thức đào tạo ở các cấp, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý v.v Với nội hàm rộng lớn đó, quá trình phát triển quy mô đã và sẽ làm thay đổi cơ bản diện mạo của nền giáo nước ta từ một nền giáo dục cho số ít (giáo dục tinh hoa) một nền giáo dục cho số đông (giáo dục đại chúng), từ một hệ thống giáo dục quy mô nhỏ theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá sang một hệ thống giáo dục quy mô lớn định hướng theo nhu cầu xã hội và thị trường/ phát triển theo hướng dân chủ hoá, xã hội hoá, chuẩn hoá và hiện đại hoá

Sự phát triển nhanh chóng quy mô giáo dục trong thời gian qua đã góp phần quan trọng khơi dậy tiềm năng to lớn về trí tuệ, phát huy nguồn vốn con người của đất nước trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói giảm nghèo Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với nước ta – nước đông dân, lực lượng lao động dồi dào nhưng trình độ phát triển còn thấp Phát triển quy mô giáo dục là tiền đề và điều kiện để hình thành xã hội học tập, tiệm cận kinh tế tri thức và bảo đảm cho mọi người "học

để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người"( theo tuyên bố UNESCO năm 1998)

Cùng với phát triển quy mô, chất lượng giáo dục luôn luôn là một vấn đề được toàn xã hội quan tâm bởi lẽ chất lượng giáo dục phản ánh giá trị đích thực của một nền giáo dục và là cơ sở, tiền đề cho sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội Tuy nhiên khái niệm chất lượng nói chung và chất lượng giáo dục nói riêng là

Trang 35

những thuật ngữ khái niệm cơ bản còn được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, 1998 thì thuật ngữ "chất

lượng" được hiểu là: "Cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật" hoặc là "Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia" Như vậy khái niệm "chất lượng" phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này và sự vật khác Theo quan điểm triết học, chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích lũy về lượng (quá trình tích lũy, biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật, hiện tượng Trong lĩnh vực giáo dục, chất lượng giáo dục toàn diện với đặc trưng sản phẩm là “con người

có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của toàn bộ quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể

ở các phẩm chất, giá trị nhân cách, năng lực sống và hoà nhập đời sống xã hội, giá trị sức lao động, năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng bậc học, ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân” Chất lượng giáo dục không chỉ đơn thuần được đo bằng kết quả học tập trong nhà trường, kết quả thi cử ở các cấp mà cần được phản ánh mức độ đạt được mục tiêu, yêu cầu giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và năng lực tư duy, sáng tạo, năng động, khả năng thích ứng của người học với nhu cầu của đời sống xã hội, đời sống cộng đồng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử Với yêu cầu hoà nhập đời sống xã hội và đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động xã hội (trong và ngoài nước), quan niệm về chất lượng giáo dục không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện bảo đảm nhất định về nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, đội ngũ giáng viên v.v mà còn phải tính đến mức độ phù hợp và thích ứng của người tốt nghiệp với đời sống xã hội và thị trường lao động (liên quan đến hiệu quả đào tạo ngoài) như ý thức và lối sống văn hoá của các tầng lớp dân cư, tỷ lệ có việc làm sau tốt nghiệp năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các tổ chức sản xuất – dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp v.v Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng chất lượng và hiệu quả đào tạo trước hết phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong cuộc sống xã hội và hoạt động nghề nghiệp của người tốt nghiệp Do tính chất phức

Trang 36

tạp của quá trình giáo dục chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên chất lượng đào tạo không có sự đồng nhất tuyệt đối ở mọi học sinh trong cùng một bậc trình độ hoặc giữa các loại hình đào tạo Trên cơ sở một chuẩn mực trình

độ đào tạo nhất định theo các bậc học và loại hình đào tạo như tiểu học, trung học

cơ sở, cao đẳng, đại học v,v sẽ có một phổ chất lượng đào tạo tương ứng với nhiều cấp độ khác nhau: thấp, trung bình, cao, rất cao Phổ chất lượng này sẽ là cơ

sở để tuyển chọn, sử dụng, đãi ngộ và đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên nguồn nhân lực có học vấn và trình độ đào tạo theo nhu cầu nhân lực rất đa dạng về trình độ chuyên môn và cơ cấu ngành nghề của nhà nước và xã hội

Quá trình thích ứng với đời sống xã hội, thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng giáo dục, vào nhân tố chủ quan của người tốt nghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của môi trường xã hội, nhu cầu thị trường như các nguồn đầu tư, việc làm, quan hệ cung – cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng

và giải quyết công việc của Nhà nước và của người sử dụng lao động v.v Do đó khả năng thích ứng còn phản ánh cả về hiệu quả giáo dục, đặc biệt là hiệu quả ngoài của giáo dục

Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng(1998), thuật ngữ "hiệu quả" (effect) được định

nghĩa là: "Kết quả đích thực" của một hoạt động hay giá trị sử dụng, công dụng thực

tế của một sản phẩm, thiết bị nào đó so với những mục đích mong muốn thực tế và giá trị của sản phẩm hoặc thiết bị Khái niệm hiệu quả phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa chi phí và lợi ích, giữa đầu tư (đầu vào) với kết quả thực tế thu được trong những môi trường và thời gian nhất định, mối quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng của một sản phẩm hay một giải pháp nào đó Cũng như khái niệm chất lượng, khái niệm về hiệu quả cũng được xem xét ở nhiều mức độ và góc độ khác nhau Trong lĩnh vực giáo dục, với tính chất đặc thù của sản phẩm giáo dục, cần xem xét hiệu quả đào tạo ở các mức độ cá nhân người học, từng cơ sở đào tạo, toàn ngành giáo dục và ở từng địa phương, toàn xã hội với nhiều góc độ về xã hội, văn hoá, kinh tế v.v Hiệu quả đào tạo cũng có nhiều mức cao thấp khác nhau Hiệu quả đào tạo có thể được xem xét ở hai khía cạnh: hiệu quả trong và hiệu quả ngoài

Trang 37

Hiệu quả đào tạo trong phản ánh kết quả của quá trình đào tạo thông qua tỷ lệ lưu ban, bỏ học và kết quả tốt nghiệp ớ nhà trường vói những điều kiện nhất định về môi trường kinh tế – xã hội, kinh phí đào tạo, cơ sở vất chất, đội ngũ giáo viên Hiệu quả đào tạo ngoài phản ánh mức độ hay khả năng thích ứng của người tốt nghiệp với đòi sống xã hội và thị trường lao động, những giá trị sử dụng và đóng góp thực tế cho cá nhân và xã hội, tiềm năng phát triển của người tốt nghiệp trong quá trình hành nghề v.v

Hiệu quả ngoài chịu nhiều tác động, chi phối của mỗi cá nhân môi trường xã hội như chính sách lao động – việc làm, tiền lương, tiền công, quan hệ cung – cầu lao động Trong điều kiện đầu tư cho giáo dục còn ở mức thấp, trình độ phát triển kinh tế chưa cao, đời sống còn nhiều khó khăn thì với các kết quả đã đạt được của

sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và giáo dục nước ta trong những năm qua cả về quy mô, chất lượng thì có thế nói hiệu quả ngoài của công tác giáo dục nước ta là rất đáng khích lệ tuy tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, còn nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp chưa có việc làm

Khái niệm hiệu quả có mối quan hệ chặt chẽ với khái niệm chất lượng Chất lượng đào tạo càng cao sẽ làm tăng hiệu quá đào tạo trong nhà trường và tạo cơ sở, điều kiện để sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo mang lại hiệu quả ngoài xã hội tốt hơn và ngược lại hiệu quả đào tạo cao thể hiện tính thích ứng và phù hợp của chất lượng nền giáo dục với nhu cầu đa dạng của xã hội

Giữa phát triển quy mô và vấn đề chất lượng, hiệu quả giáo dục luôn luôn có mối quan hệ hữu cơ và biện chứng Quá trình phát triển quy mô giáo dục là tiền để,

là quá trình tích luỹ về lượng để tạo ra những biến đổi về chất của sự nghiệp giáo dục – sự nghiệp "Trăm năm trổng người" đồng thời góp phần tăng hiệu quả trong

và hiệu quả ngoài của giáo dục Không có một nển giáo dục, kể cả giáo dục đại học, với quy mô lớn, một nền tảng dân trí cao thì không thể có cơ sở để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển đội ngũ nhân lực có trình độ cao, có chất lượng tốt Về bản chất, quy mô giáo dục không hoàn toàn đối lập hoặc loại trừ chất lượng/ hiệu quả giáo dục mà giữa chúng có mối

Trang 38

quan hệ tác động qua lại, ảnh hướng lẫn nhau Kinh nghiệm và lịch sử phát triển giáo dục của các nước đều đặt ra yêu cầu phát triển quy mô, tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng, nâng cao hiệu quả trong và phát huy hiệu quá ngoài cùa giáo dục

Phát triển quy mô giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập của các tầng lớp dân cư, nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế với những mức chất lượng phù hợp với các điều kiện bảo đảm chất lượng theo các chuẩn mực đào tạo cơ bản cho các cấp, bậc học và loại hình đào tạo, thực hiện yêu cầu dân chủ hoá, hiện đại hoá, chuẩn hoá và xã hội hoá là xu hướng phát triển khách quan và tất yếu của sự nghiệp giáo dục nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH

1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quy hoạch mạng lưới

Quy hoạch mạng lưới các CSGDĐH là một hoạt động của quản lý nhà nước về giáo dục Vì vậy, hoạt động này chịu tác động của các yếu tố như sau:

 Vai trò của nhà nước:

o Các công cụ chính sách, pháp luật của quản lý nhà nước về giáo dục: Điều

có ý nghĩa quyết định trong QHML các CSGDĐH vẫn là những chính sách đối với các loại trường Những chính sách này cần tạo ra không gian đủ rộng lớn cho tất cả các loại trường để họ lớn mạnh, đồng thời gắn với những hạn chế để tránh cho họ lạc hướng về sứ mạng Những khích lệ của nhà nước có thể thay đổi tùy theo ưu tiên của từng thời kỳ, từng khu vực và từng lãnh vực Thông qua các chính sách khích lệ hoặc hạn chế, nhà nước tạo ra con đường để các trường có thể lựa chọn Mỗi con đường đều có những thuận lợi và khó khăn nhất định Bằng cách tăng hoặc giảm các khích lệ, nhà nước hướng sự lựa chọn của các trường vào những quyết định phù hợp với ưu tiên chiến lược của nhà nước trong từng thời kỳ

o Công cụ tổ chức của quản lý nhà nước về giáo dục: Việc lựa chọn sứ mạng

của các trường không thể chỉ dựa vào các nguyện vọng chủ quan, mà cần dựa vào những điều kiện cần tối thiểu để có thể thực hiện sứ mạng ấy Nhà nước đưa ra các tiêu chuẩn tối thiểu cho từng loại trường Cần lưu ý tiêu chí xếp loại không phải là tiêu chí kiểm định Tiêu chí kiểm định nhằm đối chiếu xem xét chất lượng kết quả

Trang 39

hoạt động của nhà trường, trong lúc tiêu chí xếp loại nhằm phản ánh những mục tiêu trọng tâm trong hoạt động của nhà trường Thông qua kiểm định độc lập, giám sát chất lượng hoạt động của các trường thông qua đối chiếu kết quả đầu ra với sứ mạng và mục tiêu của nhà trường

o Công cụ kinh tế của quản lý nhà nước về giáo dục: Trong điều hành và duy

trì hoạt động của các CSGDĐH, nguồn tài chính là một vấn đề mang tính sống còn

và quan trọng Các cơ sở này có nguồn vốn hoặc là được đầu tư do nhà nước cấp hoặc huy động từ tư nhân Nhà nước sẽ đưa ra các cơ chế chính sách cho hoạt động tài chính: vốn đầu tư, học phí, v.v từ đó các cơ sở có môi trường hoạt động tài chính

 Bối cảnh kinh tế – xã hội: “Phát triển mạng lưới các trường đại học, cao đẳng phải phù hợp với chiến lược phát triển và điều kiện kinh tế – xã hội, tiềm lực khoa học công nghệ của đất nước, gắn với từng vùng, từng địa phương”[7] Sự phát triển của hệ thống GDĐH một mặt bị tác động, chi phối và mặt khác cũng góp phần thúc đẩy các xu hướng phát triển chung của đời sống xã hội hiện đại

1.4.4 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả của một mạng lưới cơ sở giáo dục đại học

1.4.4.1 Các đặc điểm mong muốn của một hệ thống giáo dục đại học [24]

Các hệ thống giáo dục đại học hoạt động hiệu quả thường có các đặc điểm chung Các đặc điểm này là những điều kiện tiên quyết để các hệ thống có thể hoạt động tốt Các đặc điểm đó bao gồm:

Cấu trúc phân tầng

Các hệ thống giáo dục đại học không chỉ đang chịu áp lực lớn để nâng cao chất lượng giáo dục mà chúng cung cấp mà còn giáo dục số lượng học sinh ngày càng tăng Một hệ thống phân tầng là một sự kết hợp các mục tiêu của giáo dục tinh hoa và giáo dục đại chúng, cho phép mỗi người đạt được sự giáo dục trong một hệ thống và sử dụng các nguồn lực giới hạn Một hệ thống phân tầng bao gồm một lớp được định hướng theo hướng nghiên cứu và chọn lọc, và một lớp khác truyền đạt kiến thức cho một số lượng lớn sinh viên Nó đánh dấu sự khác biệt đã thảo luận ở trên giữa các trường đại học nghiên cứu và các trường đại học địa phương, cho phép

Trang 40

mỗi trường theo đuổi các mục tiêu rõ ràng Hệ thống phân tầng phục vụ tốt cho bản chất đa dạng về khả năng và sở thích của học sinh, đồng thời cho phép giảng viên

có các kỹ năng khác nhau để sử dụng tốt nhất Chúng tạo ra sự kinh tế trong việc đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo ra được các sinh viên tốt nghiệp – những người có thể thực hiện một loạt các vai trò và là công dân được giáo dục Cuối cùng, khi kiến thức chuyên ngành ngày càng trở nên quan trọng đối với hiệu quả kinh tế, chúng cho phép hệ thống giáo dục đại học kết hợp các sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành

và sinh viên tốt nghiệp được đào tạo rộng Các nhà hoạch định chính sách cần phải

rõ ràng hơn về việc mong đợi những đóng góp khác nhau từ các phân đoạn khác nhau của một hệ thống phân tầng Thể hiện tầm nhìn rõ ràng về mục tiêu và cơ cấu của hệ thống giáo dục đại học là nền tảng để thiết lập chương trình cải cách, đồng thời đảm bảo rằng tầm nhìn này được chia sẻ rộng rãi, đó là việc rất quan trọng để đạt được các kết quả thực tế

Đầu tư nguồn ngân sách dài hạn đầy đủ và ổn định

Các cơ sở giáo dục đại học có thể phát triển mạnh chỉ khi nguồn ngân sách của

họ là đầy đủ, ổn định và tùy thuộc vào hiệu suất tốt – an toàn trong dài hạn Các cơ

sở phải lập kế hoạch nhìn xa về phía trước nếu họ cung cấp hướng dẫn nhất quán, môi trường làm việc ổn định và hiệu quả cho giáo viên của họ Trong nhiều lĩnh vực, kinh phí không ổn định cản trở khả năng và động lực để thực hiện nghiên cứu Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc cung cấp sự ổn định Họ phải cấp nguồn ngân sách cho các cơ sở công lập trên cơ sở lâu dài Họ cũng phải giúp tạo ra một môi trường thuận lợi cho nguồn tài chính bền vững của các cơ sở tư nhân và giúp toàn bộ hệ thống giáo dục đại học nhìn về tương lai, đảm bảo ngân sách hoạt động của ngày mai sẽ đủ để duy trì và điều hành cơ sở hạ tầng mới

Cạnh tranh

Theo truyền thống, trong các hệ thống giáo dục đại học có ít sự cạnh tranh Cạnh tranh thường khuyến khích các cải tiến có lợi và cải thiện chất lượng tổng thể Cạnh tranh đạt được thông qua nghị định trung ương là cực kỳ khó khăn, nhưng đòi hỏi một mức độ tự chủ cao cho các tổ chức học thuật, cho phép họ khai thác thế

Ngày đăng: 24/02/2021, 07:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Báo cáo Hội nghị tổng kết năm học 2016 – 2017, triển khai nhiệm vụ năm học 2017 – 2018, Hà nội, phụ lục VIII từ trang 152 – 184 Khác
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Báo cáo hội nghị tổng kết Thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập theo Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ giai đoạn 2014-2017 Khác
3. Đề cương Kế hoạch Quốc gia Cải cách và Phát triển Giáo dục Trung và Dài hạn của Trung Quốc (2010-2020). Các kế hoạch trước được đưa ra trong các năm 1985, 1993,1995 và 2003 Khác
4. Chính phủ Malaysia. (2007). Kế hoạch Hành động Giáo dục Quốc gia 2007- 2010 Khác
5. Chính phủ nước CHXHCNVN (2017), Nghị định số 46/2017/NĐ–CP: Nghị định quy định điều kiện đầu tƣ và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, Hà Nội Khác
6. Chính phủ nước CHXHCNVN (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ–CP: Nghị quyết về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020, Hà Nội Khác
7. Chính phủ nước CHXHCNVN (2013), Quyết định số 37/2013/QĐ–TTg: Quyết định về việc điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020, Hà Nội Khác
9. Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam (2017), Tự chủ đại học cơ hội và thách thức, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2017 Khác
10. Nguyễn Thị Thu Hà (2012), Luận án Tiến sĩ luật học: Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục đại học, Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
11. Phạm Thị Ly (2013), Tái cấu trúc hệ thống GD ĐH Việt Nam, Bản tin của TTKT ĐGGD, ĐHQG-HCM năm 2013 Khác
12. Ngân hàng thế giới (2010), Tài liệu chương trình chính sách Phát triển giáo dục đại học, Báo cáo số 55039-VN ngày 29/10/2010, Phụ lục 1 Khác
13. Hoàng Phê (chủ biên)(2000), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng Khác
14. Phòng Giáo dục Bang California (1960), Kế hoạch Tổng thể cho Giáo dục Đại học tại California, 1960-1975., Sacramento, California Khác
15. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1992), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam Khác
17. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2012), Luật Giáo dục Đại học, Hà Nội Khác
18. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Luật Giáo dục Đại học, Hà Nội Khác
19. Trần Khánh Đức (2010), Giáo dục và phát triển nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam. Hà Nội Khác
20. Trần Khánh Đức, Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Giáo dục đại học và quản trị đại học, NXB ĐHQG Hà Nội, tr 132-133 Khác
21. Ủy Ban văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng và Trường Đại học Kinh tế TP.HCM (2017), Hội thảo hoàn thiện chính sách, pháp luật về tự chủ đại học.Tài liệu tiếng Anh Khác
22. Byrne J.V. (2000), Engagement: A defining characteristic of the university of Tomorrow, Journal of Higher Education outreach and Engagement, Volume 6, Number 1, p. 13-21 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w