Một trong những yếu tố cơ bản như là: các chính sách, văn bảncủa nhà nước, cách quản lý và phương pháp thống nhất các chỉ tiêu của từngdoanh nghiệp, sự quản lý của cấp trên.Do việc tính
Trang 1VẬN DỤNG PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ SẢN XUẤT XÂY LẮP GIAI ĐOẠN 1997- 2001 VÀ DỰ BÁO
2002.
I.TỔNG QUAN VỀ ĐƠN VỊ XÂY LẮP THUỘC BỘ XÂY DỰNG
Bộ Xây dựng là cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về xây dựng, công trình công cộng và kiến trúc quy hoạch phát triển
đô thị nông thôn trong cả nước
19 91 19 93 19 95 19 97 19 99
0 5000000000000
Trang 2Trong đó giá trị sanr lượng xây lắp của Bộ xay dựng cũng chiếm một tỷ trọngtrong toàn bộ giá trị sản xuất xây lắp của toàn ngành xây dựng.
Trong Bộ Xây dựng toàn bộ giá trị sản xuất đựợc phụ thuộc và tính toán vào cáccông ty xây lắp sau
1 Tổng công ty xây dựng Hà nội
2 Tổng công ty xây dựng Thủy điện Sông Đà
3 Tổng công ty xây dựng Số 1
4 Tổng công ty Lắp máy Việt Nam
5 Tổng công ty xây dựng Vinaconex
6 Tổng công ty xây dựng nhà máy và kỹ thuật hạ tầng
7 Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng
8 Tổng công ty xây dựng Sông Hồng
9 Tổng công ty xây dựng Miền Trung (Số 1)
10.Tổng công ty phát trển nhà ở và đô thị
11.Tổng công ty xây dựng phát triển đô thị và khu công nghiệp
Trang 3II PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ SẢN XUẤT XÂY LẮP GIAI ĐOẠN 1997-2001.
MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH GIÁ TRỊ SẢN XUẤT XÂY LẮP VÀ TỶ TRỌNG GO XL TRONG BỘ XÂY DỰNG CỦA TỪNG
Trang 4MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH GO XL VÀ TỶ TRỌNG GO XL TRONG BỘ XÂY DỰNG CỦA TỪNG CÔNG TY TRONG NĂM
Trang 711 TCT PT đô thị và khu CN 82060 22390 27.28 43541 53.06 63541 77.43 83381 101.61 1.06
Tổng 7141165 1672743 23.42 3543280 49.62 5567907 77.97 7887484 110.45 100.00
Trang 8Qua các bảng ta thấy nhìn chung 6 tháng đầu năm các Tổng công ty gần nhưvẫn chưa hoàn thành được 50% giá trị sản xuất xây lắp mà theo kế hoạch đã đưa ra.Nhưng đến cuối năm quá báo cáo thì GOXL gần như là vượt chỉ tiêu kế hoạch đưa
ra Điều đó cũng một phần chứng tỏ cho ta thấy ngành Xây dựng thường thu đượckết quả cao vào những tháng cuối năm
Riêng năm 1997 thì không hoàn thành kế hoạch Trong năm này hầu hết cácTổng công ty đều không hoàn thành kế hoạch đưa ra Chỉ có Tổng công ty pháttriển nhà và đô thị là vượt mức kế hoạch đưa ra là 71,84% so với kế hoạch Nhưng
tỷ trọng GOXL trong tổng công ty này lại thấp chiếm 0,46% GOXL
Trong giai đoạn 1998- 2001 mức độ hoàn thành GOXL đã tăng lên so với kếhoạch Trong giai đoạn này ta thấy đặc biệt là Tổng công ty Xây dựng Hà Nội gầnnhư luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong GOXL của Bộ Xây dựng Bên cạnh đó cácTổng công ty lớn như Tổng công ty Xây dựng Sông Đà, Tổng công ty Xây dựngVinaconex, Tổng công ty lắp máy Việt Nam, Tổng công ty Xây dựng số 1 cũngchiếm một tỷ trọng tương đối lớn
Bên cạnh những Tổng công ty chiếm tỷ trọng lớn về GOXL thì cũng cònkhá nhiều Tổng công ty chiếm tỷ trọng nhỏ trong khối này điển hình là Tổng công
ty phát triển nhà ở và đô thị và Tổng công ty phát triển đô thị và khu công nghiệptrong suốt giai đoan 1997-2001 tỷ trong cao nhất là 1,14%GOXL
Trang 9DÃY SỐ GO VÀ CÁC MỨC ĐỘ BIẾN ĐỘNG LIÊN HOÀN CỦA GO
Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001
DÃY SỐ GO VÀ CÁC MỨC ĐỘ BIẾN ĐỘNG ĐỊNH GỐC CỦA GO
STT Tên đơn vị GO1997 ∆ GOĐG ∆I GO ĐG ∆ GOĐG ∆I GO ĐG ∆ GOĐG ∆I GO ĐG ∆ GOĐG ∆I GO ĐG
Trang 11Từ đó ta có thể phân tích số liệu như sau:
Nhìn chung trong giai đoạn này các Tổng công ty đều có sự biến độngkhông đều về giá trị sản xuất xây lắp cả số tuyệt đối và số tương đối , tốc độphát triển cũng không đồng đều qua các năm cụ thể là năm 1998 tốc độ tăngtrưởng của tổng giá trị xây lắp là 97,81% giảm so với năm 1997 là 2,19% tươngứng giảm 148371 triệu đồng, năm 1999 tốc độ phát triển liên hoàn là có xuhướng là 181,01% có xu hướng tăng 1,01% so với năm 1998 tương ứng 530203triệu đồng Đến năm 2000 tốc độ tăng trưởng liên hoàn là 111,52% tăng so vớinăm 1999 là 11,52% tương ứng tăng 823556 triệu đồng Nhưng đến năm 2001tổng giá trị sản xuất xây lắp liên hoàn lại có xu hướng giảm 1,03% so với năm
2000 tương ứng giảm 81813 triệu đồng Do sự biến động không đều của giá trịsản xuất xây lắp trong vòng thời gian 1997-2001 mà việc dự báo sẽ thiếu chínhxác nếu ta dự đoán giá trị sản xuất xây lăpcho từng năm một Chính vì vạy với
so liệu dã thu thập được tôi xin đề cập tới việc phân tích dãy sô thời gian quabiến động theo thời vụ
Bây giờ ta xét tính biến động theo thời vụ.về tổng giá trị sản xuất xây lắpcủa Bộ xây dựng Dưói đây là bảng số liệu giá trị sản xuất xây lắp trong thờigian 1997-2001
Trang 12III DỰ ĐOÁN CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT XÂY LẮP.
Do đặc điểm của tài liệu và các mứcc độ trong dãy ta sẽ dự đoán giá trịsản xuất dựa vào tốc độ phát triển trung bình và biến động thời vụ
1.Dự đoán giá trị sản xuất xây lắp dựa vào tốc độ phát triển trung
Trang 13: Tổng các mức độ của thời gian J.
P: Tốc độ phát triển bình quân hàng năm
Trang 14Quý I Năm
2001: GO¿6 , I=0,22∗7467075=1642757 (triệu đồng)
Quý II Năm 2002: GO¿6, II=0,22∗8996112=1979145 (triệu đồng)
Quý III Năm 2002: GO¿6, III=0,22∗8960002=1971200 (triệu đồng)
Quý IV Năm 2002: GO¿6, IV=0,22∗10958780=2410932 ( triệu đồng)
p6−1
Sp =
1,045
Trang 152 Dự đoán dựa vào bảng Buys_ballor
Trang 16Tính ra ta được kết quả sau.
Quý II GO ¿ =2545600(trieudong) ¿
Quý III GO¿ =2534689(trieudong) ¿
Quý IV GO¿ =2534689(trieudong) ¿
III MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TÍNH GIÁ TRỊ SẢN XUẤT XÂY LẮP VÀ CÔNG TÁC THỐNG KÊ CỦA BỘ XÂY DỰNG
Trong thực tế để đánh giá một cách chính xác và lập kế hoạch cụ thể về
hệ thống chỉ tiêu nói chung và giá trị sản xuất nói riêng thì yêu cầu về độ chínhxác là rất cao Nhất là khi nghiên cứu sự biến động của một hiên tượng qua thờigian dài thì ta phải có số liệu đầy đủ và độ tin cậy của số liệu phẩi đảm bảo
Trang 17Nhưng trong thực tế việc tổng hợp và thu thập được số liệu còn phụ thuộc vàorất nhiều yếu tố Một trong những yếu tố cơ bản như là: các chính sách, văn bảncủa nhà nước, cách quản lý và phương pháp thống nhất các chỉ tiêu của từngdoanh nghiệp, sự quản lý của cấp trên.
Do việc tính toán, phân tích chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất xây lắp của toàn
Bộ xây dựng phụ thuộc hoàn toàn vào tình hình báo cáo số liệu mà các Tổngcông ty Xây dựng nộp lên
Chính vì vậy việc tính toán và phân tích phụ thuộc vào những vấn đề
1 Những thuận lợi và khó khăn.
Trong mỗi một Tổng công ty bao gồm nhiều đơn vị thành viên, các đơn vịthành viên này hoạt động một cách độc lập Do vậy trước khi nộp báo cáo hàng
kỳ lên Bộ, các Tổng công ty còn phải chờ báo cáo của các đơn vị thành viên nộplên Do vậy các đơn vị thành viên chính là cơ sở cho việc tính toán và phân tích
số liệu sau này
Trong thực tế hoạt động của các đơn vị thành viên cũng như các Tổngcông ty còn phát sinh nhiều chi phí mà bên trong phương pháp tính chỉ tiêu kinh
tế tổng hợp không đề cập hết được
Các báo cáo quyết toán của công ty thành viên cũng như của các Tổngcông ty còn thiếu độ chính xác do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan,hơn nữa nhiều chỉ tiêu chưa chi tiết cho từng khoản mục đãn đến việc tính toánchỉ tiêu Tổng giá trị sản xuất chưa được chính xác
Trên đây là những khó khăn lớn nhất trong quá trình tính toán các chỉ tiêugiá trị sản xuất xây láp của công ty thành viên cũng như của Tổng công ty vàtoàn bộ Bộ Xây dựng Những khó khăn này do nguyên nhân chủ quan và kháchquan sau
nước đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp
ở các công ty thành viên và ở tổng công ty xây dựng nói chung Việc thu thập số
Trang 18liệu , xử lý thông tin không đầy đủ và thiếu chính xác làm cho việc tính toán cácchỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp không đầy đủ và thiếu chính xác.
Do mục tiêu của các đơn vị muốn lấy thành tích nên dẫn đến một sốđơn vị báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh không đúng với sự thật , có một sốđơn vị làm ăn thua lỗ nhưng lại báo cáo là có lãi do đó chỉ tiêu giá trị sản xuấtxây lắp được tính không chính xác
Do trình độ thống kê ở các đơn vị hầu hết còn non kém và chưađượccoi trọng công tác thống kê mà chỉ dụa vò kinh nghiệm lâu năm để ướctính Mặt khác, tổng công ty thiếu kinh phí cho các cuộc điều tra định kỳ và độtxuất để kiểm tra độ tin cậy của của số liệu báo cảo Vì vậy số mẫu điều tra định
kỳ ít, không đủ đảm bảo tính đại diện, dẫn đến kết quả thu được có độ chính xácchưa cao
không cố định , phân tán nên rất khó thu thập dữ liệu trong quá trình sản xuấtkinh doanh một cách chính xác và đầy đủ đặc biệt là chỉ tiêu chi phí xây dựng cơbản dở dang do đó các chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp của các công ty thànhviên và của tổng công ty cũng khó có thể tính một cách chính xác và đầy đủ
2.Một số ý kiến nhằm góp phần nâng cao chất lượng tính các chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp
Qua nghiên cứu phương pháp tính chỉ tiêu kinh tế tổng hợp ở các công tythành viên và ở tổng công ty , để góp phần nâng cao chất lượng tính chỉ tiêu nàytôi có một vài ý kiên chủ quan sau đây :
a Về vấn đề tổ chức nguồn thông tin
Để tính nhanh, chính xác chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp cho bộ xâydựng, các tổng công ty xây dựng phục vụ cho nhu cầu quản lý nền kinh tế đòihỏi phải có sự phối hợp đồng bộ của Bộ, tổng công ty và các công ty thành
Trang 19viên Đòi hỏi nguồn thông tin phục vụ cho việc tính toàn phải chính xác, kịpthời Do vậy , các bào cáo quyết toán từ các công ty thành viên tính toán phảichi tiết, chính xác và kịp thời Hiện nay , nước ta đã có cơ quan kiểm toán dovậy nên quy định các báo cáo của công ty thành viên phải thông qua một cơquan kiểm toán Có như vậy các cáo quyết toán của các công ty thành viên mớiđảm bảo độ tin cậy phục vụ cho việc tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất xây lắp.Mặt khác, các báo cáo quyết toán phải tuân theo đúng báo cáo mà Bộ tài chínhban hành Có như vậy các báo cáo quyết toán mới đầy đủ và chi tiết các khoảnmục phục vụ cho việc tính toán các chỉ tiêu
Nước ta bắt đầu áp dụng chế độ kế toán mới kể từ ngày 1/1/1996 Đó làmột thuận lợi lớn cho ngành thống kê Nhưng để tiếp cận được với nghànhthống kê cần nâng cao trình độ đội ngũ những người làm công tác thống kê để
họ có thể hiểu rõ được các chỉ tiêu báo cáo quyết toán theo chế độ kế toán mới
b Về phương pháp tính
Phải có sự thống nhất về phương pháp tính thông nhất từ trên xuống Sựthông nhất này phân theo các cập bậc với nhau
c Về công tác thống kê tổng hợp báo cáo.
Trong điều kiện thị trường diễn biến phức tạp, công tác thống kê tổng hợpbáo cáo thời gian qua trong phạm vi Tổng công ty xây dựng thực hiện chưanghiêm chỉnh đặc biệt là báo cáo định kỳ, hàng quý, 6 tháng và hàng năm.Nội dung các báo cáo thường sơ xài , các số liệu chưa phản ánh đúng thực tếcủa sản xuất kinh doanh mà còn chạy theo thành tích của các đợt thi đua chonên lãnh đạo chỉ huy các cấp không có điều kiện đánh giá phân tích tình hìnhmột cách khách quan để có biện pháp chỉ đạo một cách sát, đúng và hiệuquả Vì vậy trong thời gian tới lãnh đạo và chỉ huy các cấp cần quan tâm hơnnữa trong tổ chức thực hiện công tác báo cáo thống kê hoạt động sản xuấtkinh doanh của các công ty thành viên nên tổng công ty một cách trung thựcchính xác và kịp thời
d Về công tác hoạch toán kinh tế
Trang 20Các công ty thành viên phối hợp chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanhchưa nhất quán có những kiến nghị cần phải thống nhất chỉ đạo nhưng khi giảiquyết còn lúng túng Việc này dẫn đến hiệu quả kinh tế của một số công tythành viên có chiều hướng giảm dần , có một số công ty thành viên làm ăn thua
lỗ Ngoài các nguyên nhân khách quan phải thấy được các nguyên nhân chủquan Trước hết phải củng cố lại đội ngũ quản lý ở các phòng , ban chức năng ởcác công ty , xí nghiệp biết phối hợp hiệp đồng để giúp lãnh đạo chỉ huy ra đượcnhững quyết định chính xác , kịp thời tập trung khắc phục xây dựng các địnhmức kinh tế kĩ thuật nội bộ của từng công ty thành viên làm cơ sở quản lý cóhiệu quả Việc phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế phải được quan tâm đúngmức và kịp thời , muốn vậy việc phối hợp giữa các cơ quan chịu trách nhiệm vềcông tác hoạch toán kinh tế phải chặt chẽ , thống nhất
KẾT LUẬN
Sau một thời gian thực tập thực tế tôi đã cố gắng bằng hiểu biết của mình
đã học ở trường mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu phương pháp sử dụng dãy sốthời gian dể phân tích và dự đoán giá trị sản xuất xây lắp ở các Tổng công tytyhuộc Bộ Xây dựng Qua thực tập tốt nghiêp tôi thấy việc phân tích và đánh giá
Trang 21kết quả hoạt động ở từng doanh nghiệp nói chung là rất quan trọng trong quản lýkhinh tế của các doanh nghiệp ở tầm vi mô cũng như trong quản lý nhà nước ởtầm vĩ mô.
Hầu hết việc tính toán chỉ tiêu còn nhiều phức tạp chưa rõ ràng giữa cácdoanh nghiệp với nhau, có những đơn vị thành viên thuộc Tổng công ty vìkhông tập hợp được đầy đủ số liệu , hoặc số liệu không chính xác làm cho cáckết quả thiếu độ tin cậy không phản ánh đúng được hoạt ddộng sản xuất kinhdoanh ở các đơn vị thành viên thuộc Tổng công ty của mình
Vì thời gian thức tập tốt nghiệp ở Bộ Xây dựng không nhiều cho nên kinhnghiệm thực tế của tôi còn hạn chế, nhưng được sự giúp đỡ của các bác,các côchú, anh chị trong Vụ Kế hoạch- Thống kê nhát là được sự hướng dẫn tận tìnhcủa thầy giáo hướng dẫn TS Phan công nghĩa nên tôi đã hoàn thành chuyên đềtốt nghiệp Qua chuyên đề tốt nghiệp này cho tôi một lần nữa gủi tới các bác,các cô, các anh chị trong vụ Kế hoạch_Thống kê và thầy giáo TS Phan CôngNghĩa lời cảm ơn chân thành nhất