1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá chất lượng tổng hợp bộ quần áo bác sỹ mổ kháng khuẩn

119 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá chất lượng tổng hợp bộ quần áo bác sỹ mổ kháng khuẩn Đánh giá chất lượng tổng hợp bộ quần áo bác sỹ mổ kháng khuẩn Đánh giá chất lượng tổng hợp bộ quần áo bác sỹ mổ kháng khuẩn luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

***************************

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TỔNG HỢP BỘ QUẦN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời cảm ơn đầu tiên tôi xin được gửi đến Cô – PGS.TS Vũ Thị Hồng Khanh vì đã

cho tôi cơ hội được tiếp cận với phương pháp làm việc khoa học cũng như cơ hội được trở thành một người làm nghiên cứu Luận văn của tôi sẽ không thể hoàn thành tốt nếu không có sự hướng dẫn tận tình, sự động viên khích lệ của cô trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Quang Hòa và các đồng nghiệp tại phòng thí nghiệm Vi Sinh - Viện Công Nghệ Sinh Học đã tạo điệu kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện các thí nghiệm vi sinh của đề tài

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ths Trần Thị Phương Thảo, Ks Nguyễn Hải Thanh và các đồng nghiệp tại phòng thí nghiệm vật liệu Dệt và Hóa nhuộm đã nhiệt tình hướng dẫn, động viên tôi cũng như tạo những điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành các nội dung của luận văn

Lời cảm ơn xin được gửi tới GS.TS Bác sỹ Nguyễn Thọ Lộ - Phó cục trưởng cục Quân Y – Bộ Quốc Phòng đã tạo điều kiện cho tôi được tiếp cận thực tế và làm việc tại các bệnh viện của Quân đội

Tôi cũng xin cảm ơn tập thể Bác sỹ, nhân viên khoa Mổ, khoa Chống Nhiễm Khuẩn – Viện Quân Y 103 đã nhiệt tình giúp đỡ và ủng hộ tôi trong thời gian tìm hiểu thực

tế và tiến hành thu thập ý kiến tại bệnh viện

Luận văn của tôi cũng sẽ khó hoàn thành tốt nếu không được sự động viên, giúp đỡ của Ban Chủ Nhiệm cũng như tất cả các thầy cô giáo khoa Kỹ Thuật May, trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Hưng Yên – nơi tôi đang công tác Tôi xin gửi tới mọi người lời cảm ơn chân thành nhất

Và cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã cùng chia sẻ, gánh vác mọi công việc tạo điều kiện để tôi yên tâm hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện

Nhữ Thị Kim Chung

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sỹ Vũ Thị Hồng Khanh Kết quả nghiên cứu của luận văn được chính tác giả thực hiện tại phòng thí nghiệm Vi Sinh – Viện Công Nghệ Sinh Học và phòng thí nghiệm Vật Liệu Dêt và Hóa nhuộm – khoa Công Nghệ Dệt may & TT, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; Phòng may mẫu khoa Kỹ Thuật May, trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Hưng Yên và Phòng Mổ - Viện Quân Y 103

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với nôi dung của luận văn và đảm bảo rằng không có sự sao chép từ các luận văn khác

Hà nội, ngày 1/11/2008 Tác giả

Nhữ Thị Kim Chung

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AATCC The American Association of Textile Chemists and Colorists

AFNOR Association France de Normalisation

ASTM American Society for Testing and Materials

ISO International Organization for Standardization

AAMI Association for the Advancement of Medical Instrument

FDA Food and Drug Association

VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

VNCI Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam

KK Vải CVC được xử lý kháng khuẩn- vải kk

KC Vải CVC được xử lý kháng khuẩn chống thấm- vải kc

DC Vải đối chứng – CVC không xử lý kháng khuẩn hay kháng khuẩn chống thấm KK0 Vải kk 0 lần giặt

CFU Colony-forming unit – đơn vị khuẩn lạc

CFU/ml Số vi khuẩn lạc có trên 1ml dung dịch

OD Optical Density – Mật độ Quang học

Trang 5

Bảng 4 Bảng phân loại các chỉ tiêu

Bảng 5 Bảng các phương án trong thí nghiệm khả năng chống thẩm thấu vi khuẩn Bảng 6 Bảng kết quả nuôi cấy vi khuẩn

Bảng 7 Bảng giá trị trọng số các chỉ tiêu

Bảng 8 Bảng kết quả thí nghiệm khả năng kháng khuẩn

Bảng 9 Bảng tổng hợp kết quả thí nghiệm kháng khuẩn

Bảng 10 Bảng điểm kháng khuẩn các phương án

Bảng 11 Bảng kết quả thí nghiệm chống thẩm thấu vi khuẩn qua vải

Bảng 12 Bảng điểm tính chống thẩm thấu vi khuẩn

Bảng 13 Bảng kết quả thí nghiệm chống thấm nước

Bảng 22 Bảng kết quả thí nghiệm tính thông hơi

Bảng 23 Bảng điểm tính thông hơi

Bảng 24 Bảng kết quả thí nghiệm khả năng truyền nhiệt

Bảng 25 Bảng điểm tính truyền nhiệt

Bảng 26 Bảng kết quả thí nghiệm tính thoáng khí

Bảng 27 Bảng điểm tính thoáng khí

Bảng 28 Bảng điểm tính thẩm mỹ

Bảng 29 Bảng giá thành sản phẩm

Bảng 30 Bảng chỉ số tổng hợp

Trang 6

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 1 Điểm chỉ số PCI

Hình 2 Vùng có nguy cơ cao trên áo choàng mổ và xăng mổ

Hình 3 Các thao tác mặc cởi trang phục mổ - viện 103

Hình 4 Trang phục chủ yếu tại phòng mổ - viện 103

Hình 5 Trang phục mổ đề xuất

Hình 6 Hình dáng trang phục mổ

Hình 7 Danh mục các chỉ tiêu

Hình 8 Sơ đồ cấy dia

Hình 9 Đồ thị thể hiện quan hệ giữa thời gian nuôi và số lượng vi khuẩn

Hình 10 Đồ thị thể hiện quan hệ giữa thời gian nuôi và mật độ quang học OD

Hình 11 Đồ thị tỷ lệ thuận và tỷ lệ nghịch

Hình 12 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa khả năng kháng khuẩn các phương án Hình 13 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa khả năng chống thẩm thấu vi khuẩn

các phương án Hình 14 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa khả năng chống thấm các phương án Hình 15 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa độ bền đứt các phương án

Hình 16 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa độ giãn đứt các phương án

Hình 17 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa khả năng kháng nhàu các phương án Hình 18 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa độ rủ các phương án

Hình 19 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa khả năng thông hơi các phương án Hình 20 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa khả năng truyền nhiệt các phương án Hình 21 Đồ thị thể hiện môi tương quan giữa tính thoáng khí các phương án

Hình 22 Đồ thị thể hiện mối tương quan về chất lượng tổng hợp của 3 phương án

Trang 7

MỤC LỤC

Lời cảm ơn……… 1

Lời cam đoan……… 2

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt……….3

Danh mục các bảng biểu……… 4

Danh mục hình, đồ thị………5

Mục lục……….6

Lời nói đầu……… 9

Chương 1: Tổng quan về các phương pháp đánh giá chất lượng tổng hợp của sản phẩm 1.1 Tổng quan những vấn đề chung về chất lượng sản phẩm……… 11

1.1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm 1.1.2 Một số thuật ngữ về chất lượng sản phẩm 1.1.3 Một số thuât ngữ về đánh giá chất lượng sản phẩm 1.2 Tổng quan về công tác đánh giá chất lượng sản phẩm……… 19

1.2.1 Lịch sử phát triển 1.2.2 Cơ sở khoa học xác định chất lượng sản phẩm 1.3 Các phương pháp đánh giá chất lượng sản phẩm……….26

1.3.1 Những vấn đề chung về phương pháp luận

1.3.2 Các phương pháp xác định trong số các tính chất chất lượng

1.3.2.1 Phương pháp giá trị

1.3.2.2 Phương pháp chuyên gia

1.3.2.3 Phương pháp thống kê

1.3.3 Các phương pháp đánh giá chất lượng tổng hợp

Trang 8

1.3.3.2 Phương pháp tổng hợp đánh giá chất lượng sản phẩm

1.3.3.3 Phương pháp hỗn hợp đánh giá chất lượng sản phẩm

1.3.3.4 Phương pháp chuyên gia đánh giá chất lượng sản phẩm

1.4 Phương pháp đánh giá chất lượng bộ quần áo

2.2.1 Phương án cấu trúc

2.2.2 Phương án vật liệu

2.2.3 Xây dựng các phương án nghiên cứu

2.3 Nội dung nghiên cứu……… 61

2.4 Phương pháp nghiên cứu……….61

2.4.1 Nghiên cứu phương án thiết kế bộ quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn 2.4.2 Phương pháp tiến hành

2.4.2.1 Chọn danh mục và xây dựng sơ đồ cấu trúc các chỉ tiêu

2.4.2.2 Xác định trọng số các chỉ tiêu chất lượng

2.4.2.3 Đánh giá các chỉ tiêu riêng lẻ

2.4.2.4 Đánh giá chất lượng tổng hợp

2.5 Kết luận……….90

Trang 9

Chương 3: Kết quả và bàn luận

3.1 Kết quả thực nghiệm……….91

3.1.1 Kết quả trưng cầu ý kiến chuyên gia về trọng số

3.1.2 Kết quả thí nghiệm tính kháng khuẩn

3.1.3 Kết quả thí nghiệm tính chống thẩm thấu vi khuẩn

3.1.4 Kết quả thí nghiệm tính chống thấm

3.1.5 Kết quả thí nghiệm độ bền cơ học

3.1.6 Kết quả thí nghiệm tính kháng nhàu

3.1.7 Kết quả thí nghiệm độ rủ

3.1.8 Kết quả thí nghiệm độ thông hơi

3.1.9 Kết quả thí nghiệm tính truyền nhiệt

3.1.10 Kết quả thí nghiệm tính thoáng khí

3.1.11 Kết quả thăm dò ý kiến về tính thẩm mỹ

3.1.12 Kết quả tính toán giá thành

3.2 Xác định chất lượng tổng hợp… ………114

3.3 Kết luận……… ……….116

TÀI LIỆU THAM KHẢO………118

Trang 10

LỜI NÓI ĐẦU

Bệnh viện là một trong những nơi tiềm tàng nguy cơ nhiễm khuẩn rất cao có thể gây tổn hại sức khỏe cho chính các bác sỹ, nhân viên y tế và các bệnh nhân cũng như ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh Trong các phòng mổ, nơi diễn ra các hoạt động trực tiếp giữa các bác sỹ mổ với các vết thương hở trên cơ thể bệnh nhân sẽ là điều kiện thuận lợi để các vi khuẩn gây bệnh có thể lây nhiễm sang các bác sỹ và các nhân viên y tế nếu không có các biện pháp chống nhiễm khuẩn thích hợp Một trong nhiều biện pháp được dùng chủ yếu là sử dụng trang phục bảo vệ

có khả năng kháng khuẩn và chống thấm Ở các bệnh viện trong nước hiện nay, các trang phục bảo vệ cho bác sỹ phòng mổ chủ yếu chỉ được làm từ vải cotton thường được hấp tiệt trùng trước khi đưa vào phòng mổ Trong những trường hợp nguy cơ lây nhiễm cao bác sỹ được trang bị thêm áo choàng mổ sử dụng một lần làm bằng vải không dệt hoặc cao cấp hơn là những sản phẩm kháng khuẩn được nhập từ nước ngoài với chi phí khá cao Trong khi đó những sản phẩm trên hoàn toàn có thể sản xuất được trong nước với chi phí thấp mà vẫn đảm bảo được các yêu cầu đặt ra đối với một bộ quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn Do đây là một dòng sản phẩm khá đặc biệt, nó có tác động nhất định đến thành công của các ca

mổ cũng như việc đảm bảo an toàn cho bác sỹ và bệnh nhân, nên cùng một lúc nó phải đáp ứng được nhiều yêu cầu, nhiều tiêu chí Vì vậy, để các sản phẩm sản xuất trong nước được đưa ra thị trường với mức độ tin cậy cao thì phải có sự đảm bảo

về chất lượng trong quá trình sản xuất cũng như sử dụng Sự đảm bảo này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ quản lý chất lượng từ khâu nghiên cứu, chuẩn bị sản xuất đến quá trình sản xuất sản phẩm Song song với nó là một công việc không kém phần quan trọng để có thể khẳng định được một sản phẩm có đạt yêu cầu hay

không - đó là đánh giá chất lượng tổng hợp của sản phẩm

[1] Đánh giá chất lượng là một trong những nội dung phong phú và hấp dẫn trong hoạt động kiểm tra nói riêng và trong quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa nói chung Đánh giá chất lượng có nội dung khoa học cao và giá trị thực tiễn sâu sắc Ngày nay khi khoa học – kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì đánh giá chất lượng cũng trở thành một khoa học thật sự Khoa học đánh giá chất lượng phát

Trang 11

triển trên cơ sở vận dụng tổng hợp những thành tựu của nhiều ngành khoa học – kỹ thuật khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học quản lý) và từ những kinh nghiệm đúc kết được trong thực tiễn của quá trình phát triển sản xuất xã hội Cũng như nhiều ngành khoa học khác, nó phát triển từ thấp đến cao; từ đơn giản đến phức tạp; nó giải quyết những vấn đề vừa trước mắt vừa lâu dài, vừa kỹ thuật vừa kinh tế…Tóm lại, nó là một khoa học mang nội dung khoa học - kỹ thuật chính xác, sâu sắc nhưng kết quả của nó – sự đánh giá – không chỉ là khoa học – kỹ thuật đơn thuần mà là kết luận làm cơ sở cho một quyết định kinh tế - xã hội nhằm phục

vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa học - kỹ thuật, phục vụ cho lợi ích của người tiêu dùng

Hiểu được tầm quan trọng của công tác đánh giá chất lượng tổng hợp đối với bộ

quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn, luận văn chọn đề tài: “ Đánh giá chất

lượng tổng hợp bộ quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn” với mong muốn

góp phần nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng để đảm bảo cho những sản phẩm được sản xuất trong nước đáp ứng được cùng lúc các yêu cầu đặt ra đối với

bộ quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn

Để đạt được mục đích trên nội dung luận văn được cấu trúc theo các phần sau:

Chương 1: Tổng quan về các phương pháp đánh giá chất lượng tổng

hợp của sản phẩm

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả và bàn luận

Luận văn được thực hiện tại khoa Công nghệ Dệt May và Thời trang, Viện Công Nghệ Sinh Học, trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Viện Quân Y 103

Trang 12

Chương 1

TỔNG QUAN CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG [1], [14]

1.1 Tổng quan những vấn đề chung về chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là một khái niệm trừu tượng vì nó không đơn thuần là vấn đề

kỹ thuật mà còn là vấn đề tổng hợp kinh tế - kỹ thuật – xã hội, đồng thời được hình thành và phát triển gắn liền với mục đích, yêu cầu sử dụng cụ thể Trong nền sản xuất công nghiệp phát triển như hiện nay thì xu thế ngày càng phong phú về cỡ, loại, chức năng và phức tạp về kết cấu, vấn đề chất lượng càng trở nên phức tạp

Chất lượng tạo thành từ phương án sản phẩm, từ thiết kế Trong sản xuất chất lượng sản phẩm được đảm bảo suốt từ đầu tới cuối quá trình chuẩn bị sản xuất và sản xuất Chất lượng sản phẩm được tổng hợp từ chất lượng các chi tiết và bộ phận Chất lượng còn được duy trì trong khâu lưu thông và thông qua quá trình sử dụng Trong sử dụng tất cả những gì biểu thị cho chất lượng sẽ được bộc lộ đầy đủ nhất Trong sử dụng và qua sử dụng, người ta có điều kiện để suy nghĩ, để ra những yêu cầu mới có cơ sở khoa học và thực tiễn hơn nhằm tiếp tục hoàn thiện chất lượng sản phẩm trong các quá trình sản xuất tiếp theo Chất lượng sản phẩm

và vấn đề điều khiển, quản lý nó là một khoa học đang phát triển Còn rất nhiều các vấn đề đặt ra đòi hỏi được giải đáp về vấn đề chất lượng sản phẩm trên phạm vi thế giới cũng như ở nước ta Tuy nhiên vấn đề trước tiên cần quan tâm là có một quan niệm đúng về chất lượng sản phẩm

1.1.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm

Căn cứ vào những quan điểm phổ biến trên thế giới hiện nay kết hợp với thực tiễn của nước ta, nhóm tác giả Văn Tình, Văn Căng và Tường Vân đã nêu lên 3 điểm chính sau:

 Chất lượng sản phẩm là một tập hợp các chỉ tiêu đặc trưng, thể hiện tính năng

kỹ thuật hay giá trị sử dụng của sản phẩm; thường các chỉ tiêu này có thể được đo được hoặc so sánh Không thể chỉ căn cứ vào vài chỉ tiêu trong một hệ thống nhiều chỉ tiêu đặc trưng cho nó Ví dụ chất lượng của thực phẩm đâu chỉ phụ thuộc vào

Trang 13

hàm lượng chất dinh dưỡng mà còn phải tính tới chỉ tiêu vệ sinh, chỉ tiêu hương vị, chỉ tiêu thẩm mỹ (mẫu mã, bao bì…)…, Chất lượng của bộ quần áo bác sỹ phòng

mổ kháng khuẩn đâu chỉ phụ thuộc vào khả năng kháng khuẩn mà còn phụ thuộc vào chỉ tiêu tiện nghi, chỉ tiêu kinh tế…, chất lượng của động cơ diesel đâu chỉ phụ thuộc vào công suất mà còn phụ thuộc vào tuổi thọ, độ tin cậy…Tóm lại, mỗi sản phẩm, do kết cấu và công dụng của nó, có một tập hợp các chỉ tiêu đặc trưng về chất lượng Nếu chỉ căn cứ vào một vài chỉ tiêu nào đó, một vài khía cạnh công dụng của nó rồi đưa ra những kết luận về chất lượng sản phẩm thì đó sẽ là một cách làm thiếu khoa học và gây tổn hại rất lớn cho nền kinh tế

 Nói tới chất lượng sản phẩm là phải so sánh, xem xét sản phẩm đó thỏa mãn tới mức nào những yêu cầu định trước cho nó Đó là những bản thiết kế, những tiêu chuẩn kỹ thuật, những mẫu sản phẩm đã nghiệm thu qua sản xuất thử, được cơ quan thẩm quyền xét duyệt cho phép đưa vào sản xuất hàng loạt Nhìn nhận chất lượng sản phẩm không thể không so sánh với những cái đã quy định trước đó

 Không thể đặt chất lượng sản phẩm ngoài hoàn cảnh và điều kiện cụ thể về kinh

tế, kỹ thuật và xã hội của đất nước Nói cách khác, quyết định chất lượng cho một sản phẩm nào đó phải xét tới những điều kiện cụ thể về kinh tế, kỹ thuật cho phép đạt tới mức nào, thỏa mãn tới chừng mực nào mục đích sử dụng, đối tượng sử dụng nó Ví dụ đối với sản phẩm xuất khẩu nhất thiết phải tập trung mọi khả năng

để đạt tới mức chất lượng cao nhất, sản phẩm có ưu thế nguyên vật liệu có thể đạt yêu cầu chất lượng cao hơn đối với sản phẩm không có ưu thế…Vấn đề quan trọng

ở dây là giải quyết quan hệ giữa điều kiện cho phép với mục đích yêu cầu sử dụng biểu thị ở mức chất lượng như thế nào cho đúng, cho hợp lý, cũng có nghĩa là cho kinh tế nhất

Từ 3 điểm cơ bản trên, có thể định nghĩa khái quát về chất lượng sản phẩm như sau:

“Chất lượng sản phẩm là tập hợp những tính chất đặc trưng của sản phẩm thể

hiện mức độ thỏa mãn những nhu cầu định trước cho nó trong điều kiện xác định về kinh tế, kỹ thuật, xã hội”

Trang 14

Khái niệm “vận hành” được dùng đối với sản phẩm trong quá trình sử dụng bị tiêu hao dự trữ Khái niệm “tiêu thụ” được dùng đối với các sản phẩm trong quá trình sử dụng tự tiêu hao Các tính chất của sản phẩm chia thành các tính chất đơn giản như thành phần hóa học, các tính chất cơ lý…, và các tính chất phức tạp như độ tin cậy, tuổi thọ của sản phẩm

1.1.2.3 Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm:

Là đặc tính định lượng của các tính chất cấu thành chất lượng sản phẩm Đặc trưng này được xem xét ứng với những điều kiện nhất định của quá trình hình thành, vận hành, hoặc tiêu thụ sản phẩm

Trang 15

Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đặc trưng định lượng mức độ hữu ích của sản phẩm, thỏa mãn những nhu cầu nhất định Danh mục các chỉ tiêu chất lượng phụ thuộc vào công dụng của sản phẩm

Chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm có thể được biểu diễn bằng các đơn vị đo khác nhau như: Km/h, Kg, m, %, điểm…và có thể không có đơn vị Khi trình bày chỉ tiêu chất lượng cần chú ý phân biệt: tên gọi chỉ tiêu, nội dung chỉ tiêu và trị số của chỉ tiêu

1.1.2.4 Chỉ tiêu riêng lẻ:

Là chỉ tiêu chất lượng sản phẩm chỉ liên quan tới một trong những tính chất của sản phẩm Ví dụ: chỉ tiêu riêng lẻ của ô tô – thời gian làm việc đến lúc hỏng hóc lần 1 Chỉ tiêu này chỉ đặc trưng cho một tính chất của ô tô là tính không hỏng hóc

Chỉ tiêu riêng lẻ của bộ quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn – tính chống thẩm thấu vi khuẩn qua vải Chỉ tiêu này chỉ đặc trưng cho một tính chất của bộ quần áo kháng khuẩn là tính bảo vệ

Một tính chất của sản phẩm có thể được đặc trưng bằng nhiều chỉ tiêu riêng lẻ Ví

dụ như tính tiện nghi của một bộ quần áo bác sỹ mổ được biểu thị các bằng các chỉ tiêu: tính mềm mại, tính thông hơi, thoáng khí, tính truyền nhiệt, thiết kế…

1.1.2.5 Chỉ tiêu tổng hợp

Là chỉ tiêu chất lượng sản phẩm có liên quan đến một số tính chất của sản phẩm

Ví dụ đối với sản phẩm thực phẩm, các chỉ tiêu chất lượng được đánh giá theo hệ thống điểm Mỗi chỉ tiêu sẽ được đánh giá bằng điểm số theo thang điểm 6 bậc Tùy theo mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu, các chuyên gia xác định trọng số mỗi chỉ tiêu đó Ví dụ đánh giá chất lượng bánh gato người ta xác định như sau:

Trang 16

Chỉ tiêu chất lượng tổng hợp của bánh gato được tính như sau:

K = 4.2,5 + 3.1,5 + 2.1,6 + 1.1,0 = 18,7

Khi sử dụng chỉ tiêu chất lượng tổng hợp cần hết sức thận trọng để sao cho những thiếu sót của sản phẩm thể hiện trong nhóm chỉ tiêu này không bị nhóm chỉ tiêu khác bù lại Nói cách khác cần lưu ý lựa chọn trọng số để chúng phản ánh đúng đắn mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu đến chất lượng sản phẩm

Chú ý nếu có một chỉ tiêu riêng lẻ bằng không thì chỉ tiêu tổng hợp coi như bằng không, sản phẩm không đạt chất lượng

1.1.2.7 Chỉ tiêu tích phân

Là chỉ tiêu chất lượng sản phẩm tổng hợp phản ánh quan hệ giữa tổng hiệu quả do vận hành hoặc tiêu thụ sản phẩm và tổng chi phí để hình thành,vận hành hoặc tiêu thụ sản phẩm đó

Ví dụ: Chỉ tiêu tích phân của phương tiện vận tải có thể là chi phí trên 1 tấn-Km đường đi

K = (C+E)/S

Trong đó: K - chỉ tiêu tích phân

C – Giá thành của phương tiện vận tải

E - Chi phí vận hành trong suốt thời hạn phục vụ đến đại tu (chi phí xăng dầu, bảo dưỡng kỹ thuật, sửa chữa định kỳ, chi phí lái xe…)

Trang 17

S – Đường đi tính bằng Tấn – Km trong suốt thời gian phục vụ đến đại tu

1.1.2.8 Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm cơ sở

Là chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm được chọn làm cơ sở (chuẩn) để so sánh khi đánh giá chất lượng

Các chỉ tiêu chất lượng cơ sở có thể là:

_ Các chỉ tiêu chất lượng của một số mẫu sản phẩm tiên tiến được sản xuất trong hoặc ngoài nước

_ Các chỉ tiêu chất lượng đã đạt được trong giai đoạn trước

_ Các chỉ tiêu của những mẫu triển vọng được tính bằng phương pháp thí nghiệm hay lý thuyết

_ Các chỉ tiêu cho từng yêu cầu đối với sản phẩm

Chỉ tiêu chất lượng cơ sở có thể là chỉ tiêu riêng lẻ, chỉ tiêu tổng hợp hay chỉ tiêu tích phân

1.1.2.9 Chỉ tiêu chất lượng tương đối

Là tỷ số giữa chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đánh giá và chỉ tiêu chất lượng cơ sở tương ứng Chỉ tiêu chất lượng sản phẩm tương đối biểu thì bằng % hoặc một số không đơn vị

1.1.2.10 Hệ số trọng lượng của chỉ tiêu chất lượng (Trọng số)

Là đặc tính định lượng ý nghĩa của mỗi chỉ tiêu trong tập hợp các chỉ tiêu được sử dụng khi tính chỉ tiêu chất lượng sản phẩm tổng hợp

1.1.2.11 Mức chất lượng sản phẩm

Là đặc tính tương đối của chất lượng sản phẩm dựa trên sự so sánh tập hợp chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đánh giá với tập hợp các chỉ tiêu chất lượng cơ sở tương ứng

Để thuận tiện khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm được đánh giá với các chỉ tiêu tương đối, nghĩa là sử dụng tỷ số giữa các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm

Trang 18

Mức chất lượng sản phẩm được xác định bằng tập hợp các chỉ tiêu tương đối hoặc một hàm số nào đó của các chỉ tiêu tương đối

Ví dụ nói mức chất lượng bộ quần áo kháng khuẩn là 95% có nghĩa là chất lượng của bộ quần áo này được đánh giá thấp hơn chất lượng của bộ quần áo được chọn làm cơ sở là 5%

1.1.3 Một số thuât ngữ về đánh giá chất lượng sản phẩm

1.1.3.1 Phương pháp biểu thị chỉ tiêu chất lượng bằng điểm số

Là phương pháp biểu thị các chỉ tiêu chất lượng nhờ hệ thống điểm số quy ước

Hệ thống điểm số quy ước thường được dùng khi sử dụng phương pháp cảm quan xác định các chỉ tiêu chất lượng

1.1.3.2 Phương pháp cảm quan xác định các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm

Là phương pháp xác định các trị số các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm dựa trên

cơ sở phân tích thu nhận của các cơ quan cảm giác, thị giác, xúc giác, thính giác, vị giác và khứu giác

Khi sử dụng phương pháp cảm quan xác định các chỉ tiêu chất lượng, các cơ quan cảm giác của con người cho thông tin về các cảm giác tương ứng nhận được Trị số của các chỉ tiêu chất lượng được xác định bằng cách phân tích các cảm giác nhận được trên cơ sở kinh nghiệm đã có Vì vậy độ chính xác và độ tin cậy phụ thuộc vào trình độ, thói quen và khả năng của các chuyên gia cảm quan

Phương pháp này không loại trừ khả năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật để nâng cao khả năng của các cơ quan cảm giác

Phương pháp cảm quan được sử dụng rộng rãi để xác định chỉ tiêu chất lượng thực phẩm như rượu, bia, bánh, kẹo…, các sản phẩm liên quan đến mùi hương như nước hoa, nước xả vải…số tính chất của vải như độ mềm mại, cảm giác sờ tay…

1.1.3.3 Phương pháp xã hội học xác định các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm

Là phương pháp xác định chỉ số các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm trên cơ sở thu thập và phân tích ý kiến của những người tiêu thụ

Trang 19

Việc thu thập ý kiến này được thực hiện bằng cách hỏi trực tiếp hoặc bằng các phiếu ghi câu hỏi, cũng có thể thông qua các tổ chức khảo nghiệm sản phẩm… Phương pháp này ngày này được sử dụng rộng rãi và rất phổ biến đặc biệt là trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường, nghiên cứu chất lượng sản phẩm trên quan điểm người tiêu dùng, hay trong các nghiên cứu xã hội học, các cuộc điều tra

1.1.3.4 Phương pháp chuyên gia xác định các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm

Là phương pháp xác định trị số của các chỉ tiêu chất lượng trên cơ sở quyết định của nhóm chuyên gia

Nhóm chuyên gia thường bao gồm những người đại diện sản xuất và tiêu dùng Các nhóm chuyên gia này là cơ sở để thành lập các hội đồng chuyên gia hoạt động thường xuyên, định kỳ hay bất thường

Phương pháp chuyên gia còn được sử dụng để xác định các trọng số của chỉ tiêu, đánh giá đúng mức chất lượng sản phẩm, xét đề nghị cấp chứng nhận hay cấp dấu chất lượng nhà nước, ngành

1.1.3.5 Đánh giá mức chất lượng sản phẩm

Là tập hợp những công việc bao gồm việc lựa chọn danh mục chỉ tiêu chất lượng, xác định trị số của chúng cũng như giá trị của các chỉ tiêu cơ sở và các chỉ tiêu tương đối nhằm lập luận cho những quyết định tốt nhất được thực hiện trong quản

lý chất lượng sản phẩm

Danh mục các chỉ tiêu chất lượng cần được chọn phù hợp với mục đích đánh giá đã xác định, đảm bảo điều kiện cần và đủ để đánh giá Danh mục đó một mặt chỉ bao gồm các chỉ tiêu có ý nghĩa thực tế khi đánh giá, mặt khác phải bao gồm tất cả các chỉ tiêu cơ bản xác định mức chất lượng

Việc lựa chọn chỉ số của các chỉ tiêu cơ sở cũng phụ thuộc vào mục đích đánh giá

Để đánh giá mức chất lượng sản phẩm có thể sử dụng phương pháp vi phân, phương pháp tổng hợp hay phương pháp hỗn hợp

Trang 20

1.1.3.6 Phương pháp vi phân đánh giá mức chất lượng sản phẩm

Là phương pháp đánh giá mức chất lượng sản phẩm chỉ sử dụng các chỉ tiêu chất lượng riêng lẻ mà không sử dụng các chỉ tiêu chất lượng tổng hợp

1.1.3.7 Phương pháp tổng hợp đánh giá mức chất lượng sản phẩm

Là phương pháp đánh giá chất lượng tổng hợp sử dụng đến chỉ tiêu chất lượng tổng hợp để đánh giá chất lượng sản phẩm

1.1.3.8 Phương pháp hỗn hợp đánh giá mức chất lượng sản phẩm

Là phương pháp đánh giá mức chất lượng sản phẩm cso sử dụng các chỉ tiêu chất lượng riêng lẻ và tổng hợp, không sử dụng chỉ tiêu tổng quát

1.2 Tổng quan về công tác đánh giá chất lượng sản phẩm

Đánh giá chất lượng giữ một vai trò quan trọng đối với công tác quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm được Mục đích chính của khoa học đánh giá chất lượng

là sử dụng tổng hợp những phương thức và phương pháp về tổ chức và kỹ thuật để nhận biết một cách khách quan, đầy đủ và chính xác tình trạng chất lượng của đối tượng đánh giá không chỉ bản thân nó mà còn bao gồm cả những điều kiện, yếu tố tạo thành nó trong suốt quá trình từ sản xuất cho tới tiêu thụ Do đó, đánh giá chất lượng là hoạt động xen kẽ và thâm nhập vào mọi khâu của quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm Nó vừa là cái bắt đầu, vừa là cái kết thúc của nhận thức đối với đối tượng cần đánh giá (sản phẩm) Điều đó cho thấy rằng dù muốn hay không, để điều khiển sản xuất người ta phải tiến hành (tự giác hay không tự giác) đánh giá chất lượng sản phẩm

1.2.1 Lịch sử phát triển

Sản phẩm sản xuất ra là để thỏa mãn một nhu cầu nào đó của xã hội nên phải có những tính chất hữu ích nhất định Nhờ các tính chất đó mà sản phẩm được phân biệt với nhau Từ xa xưa con người đã biết đo và đánh giá chất lượng sản phẩm thông qua các tính chất hữu ích của nó Lúc đầu sản xuất còn mang tính chất cá thể, đôi khi người sản xuất đồng thời là người tiêu thụ sản phẩm nên con người đã

Trang 21

đánh giá chất lượng theo những cách riêng của mình Khi xã hội phát triển đi lên thì cùng với việc phát triển sản xuất hoạt động đánh giá chất lượng cũng không ngừng

mở rộng Hoạt động đó được tăng cường khi sản phẩm bắt đầu được dùng để bán trên thị trường Hàng hóa càng phát triển thì chủng loại mặt hàng ngày càng nhiều, khả năng thỏa mãn nhu cầu người tiêu thụ ngày càng tăng Nhưng chính trong hoàn cảnh đó, con người càng phải trở nên thận trọng khi đánh giá chất lượng sản phẩm Trên thực tế, việc phân chia sản phẩm sản xuất ra thành nhóm, loại, cấp…là kết quả của việc đo và đánh giá tổng hợp chất lượng sản phẩm

Quá trình phát triển của nhu cầu người tiêu dùng, của sản xuất, của khoa học công nghệ đã kéo theo sự phát triển của các phương pháp đánh giá chất lượng sản phẩm Các phương pháp này ngày càng khoa học, chính xác hơn

Tuy nhiên hiện nay việc đánh giá tổng hợp chất lượng gặp nhiều khó khăn lớn Những khó khăn đó là khách quan và có xu hướng ngày càng tăng do đặc điểm của nền sản xuất công nghiệp hiện đại và do sự mở rộng giao lưu hàng hóa

Thứ nhất: sản phẩm chúng ta tiêu thụ ngày càng phức tạp, ngày càng có nhiều tính chất hữu ích, và tính năng công dụng kết hợp Do đó khi đánh giá chất lượng tổng hợp người mua phải chú ý đến nhiều thông số đặc trưng cho tính hữu ích

Thứ hai: trong điều kiện sản xuất hiện đại trên thị trường, người tiêu dùng đồng thời được giới thiệu hàng chục loại hàng hóa có cùng một công dụng Mà chất lượng mỗi loại như vậy lại được đặc trưng bởi hàng chục (hàng trăm) thông số khác nhau thì người tiêu dùng rất khó đo và đánh giá chất lượng sản phẩm định mua

Đối với người sản xuất hàng hóa vấn đề đặt ra cũng tương tự như vậy Họ buộc phải xác định sơ bộ chất lượng sản phẩm sẽ sản xuất để đánh giá gần đúng khả năng cạnh tranh và tiêu thụ sản phẩm đó Trước đây thông thường sản phẩm được đánh giá sau khi sản phẩm được sản xuất ra, đưa ra thị trường tiêu thụ được người mua chấp nhận hay bác bỏ Tuy nhiên đây này cách đánh giá tức thời không có tính toán, chuẩn bị trước Trước đây cách đánh giá chất lượng như vậy có thể chấp nhận được vì:

_ Chu kỳ thay thế một dạng sản phẩm này bằng dạng sản phẩm khác rất dài (trên

10 năm) Điều đó cho phép có được thông tin ổn định và tin cậy về chất lượng sản

Trang 22

phẩm vì những thông tin đó được kiểm nghiệm bằng việc sử dụng trong nhiều năm của đông đảo người tiêu thụ

_ Số lượng chủng loại của cùng một mặt hàng do các nhà sản xuất khác nhau bán trên thị trường không nhiều lắm do khả năng sản xuất còn bị hạn chế

_ Những chi phí liên quan đến việc sản xuất mặt hàng mới không lớn lắm

Tuy nhiên thời gian gần đây do sự phát triển như vũ bão của khoa học- kỹ thuật mà tình hình sản xuất đã có những sự thay đổi căn bản Cách đánh giá chất lượng sản phẩm trước đây không còn phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của sản xuất và tiêu thụ Thời hạn đổi mới các mặt hàng rút ngắn đáng kể Trong thời gian đó không thể

có được những thông tin tin cậy về chất lượng sản phẩm trên cơ sở xử lý số liệu thông kê trong thương nghiệp và sử dụng Đảm bảo chất lượng sản phẩm cao đã trở thành phương tiện duy nhất để duy trì địa vị của sản phẩm trên thị trường tiêu thụ Việc sản xuất sản phẩm có chất lượng cao liên quan đến những chi phí ban đầu rất lớn cho nghiên cứu, thí nghiệm và trang bị lại sản xuất Nếu sản phẩm sản xuất ra với một chi phí lớn như vậy mà không đáp ứng nhu cầu thị trường, thì nền kính tế sẽ chịu một tổn thất nặng nề

Vì vậy, điều kiện khách quan của sản xuất và tiêu thụ hiện tại ngày càng đổi hỏi phải biết xác định một cách tương đối chính xác chất lượng sản phẩm trước khi đưa sản phẩm đó ra thị trường

Để có thể đánh giá chất lượng sản phẩm đúng đắn, thống nhất cần phải có những phương pháp đánh giá khoa học Qua nhiều năm tìm tòi nghiên cứu người ta đã xây dựng những cơ sở lý luận cho một khoa học về đo và đánh giá chất lượng Và ngày nay, ngành khoa học này đã được áp dụng rộng rãi trong công tác đánh giá chất lượng sản phẩm

1.2.2 Cơ sở khoa học xác định chất lượng sản phẩm

Đo và đánh giá chất lượng sản phẩm có ý nghĩa ngày một lớn do yêu cầu phát triển kinh tế cũng như sự hợp tác giữa các tập đoàn ngày càng màng tính chất đa quôc gia Dó đó đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và hướng dẫn áp dụng thực tế nhằm xây dựng phương pháp luận và xác định định lượng chất lượng tổng

Trang 23

hợp các dạng sản phẩm khác nhau Kết quả là trên thực tế đã hình thành một khoa học độc lập về chất lượng sản phẩm

Cũng như những ngành khoa học khác, khoa học về đo và đánh giá chất lượng sản phẩm cần có một tên gọi ngắn gọn hoặc một thuật ngữ có khả năng thâu tóm tất cả các vấn đề được xem xét vào một khái niệm thống nhất Việc đưa ra một thuật ngữ mới thu hút được sự chú ý của các chuyên gia trong các ngành khác nhau, tập hợp

họ lại và nâng cao cường độ nghiên cứu các vấn đề quyết định nội dung của ngành khoa học mới này

Để một thuật ngữ khoa học mới được thuận tiên sử dụng trên phạm vi quốc tế người ta thường dùng tiếng cổ Hy Lạp hoặc tiếng Latinh Đối với khoa học đo và đánh giá chất lượng các nhà khoa học Liên Xô đã tìm ra một thuật ngữ thích hợp là

Qualimetri Trong đó “Quali” có gốc Latinh có nghĩa là “chất lượng”, “tính chất” hay

“đặc trưng”, còn “metri” có nghĩa là “đo”, “xác định” Đo chất lượng ở đây không đơn thuần là đo trong đo lường mà là đo các chỉ tiêu chất lượng và đánh giá định lượng chất lượng sản phẩm

Ở các nước khoa học – kỹ thuật phát triển, người ta ứng dụng rộng rãi các phương pháp đo định lượng chất lượng của các sản phẩm rất khác nhau trong nhiều lĩnh vực Người ta đo chất lượng từ chiếc xe ô tô đến bao gói thương nghiệp, từ nhà ở đến vũ khí hiện đại, từ thực phẩm đến các nhà máy điện, từ quần áo, giầy dép đến trình độ công nghiệp của mỗi quốc gia, từ trình độ học vấn của xã hội đến khả năng cạnh tranh của mỗi thành phố Nhìn chung là ứng dụng các phương pháp đo và đánh giá chất lượng tổng hợp có thể đánh giá chất lượng từ những sản phẩm cụ thể đơn giản cho đến những sản phẩm trừu trượng, phức tạp Thoạt nhìn những cái

đó hoàn toàn khác nhau Vậy trong thực chất cái gì là chung giữa đo chất lượng về khả năng cạnh tranh của một thành phố và chất lượng của một đôi giày Nếu giữa khả năng cạnh tranh của một thành phố và đôi giày không có điểm chung trực tiếp nào thì giữa nguyên tắc đo chất lượng về khả năng cạnh tranh của một thành phố

và nguyên tắc đo chất lượng của một đôi giày lại có nhiều điểm chung đến mức có thể đặt vấn đề hai nhiệm vụ đó hoàn toàn giống nhau về nguyên tắc và nói chung, đối với nhiệm vụ bất kỳ nào đó về đo chất lượng một cách định lượng và tổng hợp

Trang 24

Như vậy đo chất lượng phải gồm những nguyên tắc chung Bản chất của nhưng nguyên tắc đó ở chỗ chất lượng của sản phẩm được xem như một đặc trưng tổng quát phụ thuộc vào các tính chất chất lượng riêng lẻ Những đặc tính này tạo thành một hệ thống nhiều mức đặc trưng cho các mức tổng hợp khác nhau Nói cách khác

là các tính chất chất lượng có mức độ quan trọng khác nhau đối với đặc trưng tổng quát và chúng được thể hiện bằng các chỉ tiêu chất lượng định lượng Tập hợp các thông số định lượng đó lại cho phép nhận được chỉ tiêu chất lượng định lượng tổng hợp: so sánh chỉ tiêu đó với chỉ tiêu của sản phẩm tương tự được chọn làm chuẩn hoặc giữa các sản phẩm cần so sánh với nhau có thể đánh giá tương đối; nghĩa là xác định mức chất lượng của sản phẩm

Về nguyên tắc có thể xây dựng các mô hình toán học lý tưởng từ những tính chất của các vật thể hay một quá trình cụ thể nào đó Vậy mô hình toán học về chất lượng có thể xem như một hệ thống trừu tượng của các mô hình riêng lẻ có mức độ phức tạp khác nhau Mô hình chất lượng đó về mặt nguyên tắc hoàn toàn giống nhau đối với các dạng sản phẩm rất khác nhau Từ mô hình chất lượng trừu tượng

có thể chuyển sang mô hình cụ thể ứng với những dạng sản phẩm nhất định bằng cách tập hợp số lượng thông số nhất định với trọng số cụ thể của từng thông số mà sản phẩm đó có được Đặc trưng chung của mô hình chất lượng trên chứng tỏ rằng nhiệm vụ đo chất lượng của các dạng sản phẩm khác nhau là hoàn toàn đồng nhất

về mặt toán học Vì vậy hiện nay đã hình thành lĩnh vực hoạt động nghiên cứu của con người có ứng dụng rộng rãi đối với sản phẩm lao động đa dạng Lĩnh vực đó có đối tượng nghiên cứu của mình (nguyên tắc chung và phương pháp đo chất lượng),

có công cụ nghiên cứu đặc biệt (tập hợp thành quả lao động của con người), có bộ máy toán học đặc biệt (Lý thuyết xác suất, thống kê toán học, lập chương trình toán học ) và những vấn đề đặc biệt về toán học, tâm lý học, sinh lý học và xã hội học… Trước đây ở các nước và trong các ngành khác nhau người ta đưa ra rất nhiều phương pháp đo chất lượng tổng hợp và định lượng chúng Nhưng khi xem xét toàn

bộ sự đa dạng bề ngoài của các phương pháp đó có thể ghi nhận một số đặc điểm

có tính nguyên tắc trong tất cả các phương pháp đó Hiện tượng đó rõ ràng không phải là ngẫu nhiên và có thể cho rằng tất cả những vấn đề lặp lại ở tất cả các phương pháp là những nguyên tắc cơ sở của qualimetri Những nguyên tắc đó là:

Trang 25

1) Trong Qualimetri chất lượng được xem như một tập hợp các tính chất Để thuận tiện, có thể cho rằng chất lượng là một tính chất tổng hợp của sản phẩm được xem đến mực độ tổng hợp cao nhất (Mức 0), còn các tính chất cấu thành của chất lượng được xem xét ở mức độ tổng hợp thấp hơn (Mức 1) Cũng như vậy, mỗi tính chất ở mức 1 lại được tạo thành từ một số tính chất ở mức thấp hơn (mức 2) Các tính chất mức 2 này lại có thể phân ra các tính chất cấu thành ở mức 3…Số lượng các mức xem xét tùy theo sự hiểu biết ngày càng sâu của con người, sẽ tăng không giới hạn

Trong qualimetri người ta cho rằng một tính chất nào đó của mức tổng hợp bất kỳ,

về nguyên tắc, có thể được đánh giá và biểu thị bằng một hệ số Kim; trong đó m- số thứ tự của mức tổng hợp; i- chỉ số ghi số thứ tự của tính chất cụ thể trong tập hợp

n tính chất trong mức tổng hợp thứ m Trên cơ sở đó nguyên tắc thứ nhất của qualimetri được phát biểu như sau:

“Kết quả đánh giá mỗi tính chất ở mức tổng hợp bất kỳ phụ thuộc vào tập hợp những kết quả đánh giá các tính chất cấu thành ở mức tổng hợp thấp hơn kế tiếp, nghĩa là:

K i m = f(K i m+1 ) ” 2) Trong qualimetri phân biệt rõ hai khái niệm “đo” và “đánh giá” Đo một tính chất hay thông số nào đó là quá trình tìm trị số của chỉ tiêu Pi biểu thị giá trị tuyệt đối của tính chất đó trong đơn vị đo lường tương ứng Còn đánh giá một tính chất nào

đó (nghĩa là giá trị tương đối của nó) là kết quả so sánh trị số tuyệt đối của chỉ tiêu

Pi với chỉ tiêu Pics tương ứng được chọn làm chuẩn hay giữa các chỉ tiêu của các sản phẩm khác nhau Vậy kết quả đánh giá một tính chất bất kỳ Kim phụ thuộc vào chuẩn được chọn Nói cách khác, không có chuẩn thì không thể nói đến đánh giá chất lượng Nguyên tắc thứ hai của qualimetri có thể được định nghĩa như sau:

“Kết quả đánh giá K i m của tính chất thứ I tại mức tổng hợp m là kết quả so sánh trị

số tuyệt đối P i của tính chất ấy với đại lượng được chọn làm chuẩn P ics theo một mối quan hệ hàm số, biểu thị bằng công thức

K i m = f(P i , P ics )

3) Trong qualimetri người ta cho rằng mỗi tính chất trong tập hợp các tính chất

Trang 26

bằng một thông số Mim biểu thị mức độ quan trọng của tính chất đó Về lý thuyết có thể có khả năng Mim bằng nhau đối với mọi tính chất, nhưng đó là trường hợp rất ít gặp Nói chung Mim có trị số khác nhau đối với các tính chất khác nhau Nguyên tắc

thứ ba có thể được định nghĩa như sau:

” Các tính chất chất lượng ở mức tổng hợp bất kỳ m có ý nghĩa (mức quan trọng) khác nhau và phụ thuộc vào yêu cầu đối với tính chất tương ứng ở mức tổng hợp m -1”

Như vậy, kết quả đánh giá chất lượng một sản phẩm bất kỳ phụ thuộc vào tập hợp các hệ số Kim và Mim của các tính chất riêng lẻ Việc tính toán có những khó khăn tuy mức độ có khác nhau Nếu việc xác định Kim có thể tương đối dễ dàng thì việc xác định Mim khó khăn hơn nhiều Tính khách quan và chính xác của các kết quả đánh giá tổng hợp chất lượng sản phẩm phụ thuộc trước hết vào phương pháp xác định Mim

4) Đánh giá chất lượng sản phẩm bằng một con số tổng hợp không phải lúc nào cũng cần thiết mà phụ thuộc vào mục đích đánh giá nghĩa là phụ thuộc vào yêu cầu các quyết định rút ra trên cơ sở đánh giá đó Trong hàng loạt trường hợp có thể

sử dụng phương pháp đánh giá vi phân theo tập hợp các chỉ tiêu chất lượng Bản thân tên gọi “qualimetri” đã chứng minh phạm vi của nó gồm tất cả các dạng đánh giá nhận được bằng các cách thưc khác nhau Đánh giá vi phân không chỉ là công

cụ của qualimetri mà còn là điều kiện không thể thiếu khi đánh giá tổng hợp và không thể xác định các chỉ tiêu chất lượng tổng hợp trên cơ sở so sánh các tính chất riêng lẻ Trong đánh giá vi phân trọng số Mim thường không phải xét đến

5) Đánh giá sản phẩm trước hết phụ thuộc vào mục đích đánh giá Mục đích đánh giá là xuất phát điểm để lựa chọn phương pháp đánh giá thích hợp: chọn chỉ tiêu, phương pháp xác định giá trị các chỉ tiêu, phương pháp chọn chuẩn, phương pháp xác định giá trị tổng hợp…

Chú ý rằng đánh giá chất lượng là một khoa học vừa mang nội dung kỹ thuật vừa mang tính chất xã hội Vì vậy không thể đợi đến lúc có đầy đủ điều kiện kỹ thuật – vật chất mới đánh giá chất lượng Kết quả của mọi đánh giá đều mang ý nghĩa tương đối và được chính xác hóa dần theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật, và với nhận thức của con người

Trang 27

Cần nói thêm rằng trong qualimetri cũng như trong bất kỳ ngành khoa học mới ra đời bất kỳ nào cũng còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết như vấn đề phát triển của qualimetri, mối quan hệ của của nó với ngành khoa học khác và vấn đề tính toán cụ thể các chỉ tiêu chất lượng Hiện nay trong công nghiệp và thương nghiệp người ta sử dụng nhiều phương pháp và phương tiện kỹ thuật để đo các tính chất riêng lẻ của sản phẩm như: độ dài, trọng lượng, hàm lượng các chất, thành phần hóa học,… Những phương pháp đo này về cơ bản mang tính khách quan có thể dùng định lượng để xác định chúng Tuy nhiên bên cạnh đó là các tính chất như: tính thẩm mỹ, màu sắc, độ tin cậy, sự tiện nghi…hiện nay vẫn chưa thể đo chính xác được vì kết quả đo các tính chất này còn mang tính chủ quan, phụ thuộc vào trình độ con người và cách tổ chức lấy ý kiến và xử lý kết quả nhận được Vì vậy

mà một trong những nhiệm vụ quan trọng của qualimetri là nghiên cứu quan hệ khách quan và chủ quan trong cách đo và đánh giá chất lượng sản phẩm

Để nâng cao tính chính xác và khoa học của các kết quả đánh giá còn phải tiếp tục nghiên cứu và giải quyết một loạt vấn đề lý thuyết và thực tiễn trong qualimetri (xem thêm [1])

1.3 Các phương pháp đánh giá chất lượng tổng hợp của sản phẩm

1.3.1 Những vấn đề chung về phương pháp luận

Để đáp ứng yêu cầu đánh giá chất lượng một cách thống nhất, luận văn chọn phương pháp đánh giá chất lượng tổng hợp dưới dạng phương án ứng dụng của qualimetri

Đánh giá chất lượng tổng hợp của sản phẩm bao gồm một loạt các công việc như xác định mục tiêu đánh giá, chọn danh mục các chỉ tiêu chất lượng, chọn phương pháp xác định giá trị các chỉ tiêu, trọng số các chỉ tiêu, chọn chuẩn chất lượng và chọn phương pháp xác định mức chất lượng

1.3.1.1 Mục đích đánh giá

Đánh giá chất lượng phục vụ nhiều mục đích khác nhau Ứng với mỗi mục đích, bằng hoạt động đánh giá chất lượng phải làm sáng tỏ những nhiệm vụ đề ra : cần

Trang 28

lượng tổng hợp đạt được cao hơn, thấp hơn hay bằng mức chất lượng cơ sở…Tùy thuộc vào mục đích đánh giá mà số lượng các chỉ tiêu chất lượng sẽ khác nhau Ví

dụ để đánh giá chất lương cấp nhà nước thì danh mục chỉ tiêu chất lượng phải đầy

đủ các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm, còn để phân tích biến động chất lượng người ta quan tâm đến một hoặc vài chỉ tiêu Nếu để đánh giá chứng nhận chất lượng phải chọn các chỉ tiêu cơ sở có mức tương đương với các mức tiên tiến trên thế giới và phải dùng phương pháp tổng hợp để xác định mức chất lượng…Tóm lại phạm vi mức độ trong đánh giá chất lượng tổng hợp hoàn toàn tùy thuộc vào mục đích đánh giá

Trong khuôn khổ luận văn, mục đích đánh giá chất lượng là nhằm so sánh chất lượng tổng hợp của các phương án bộ quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn để tìm ra phương án tối ưu phục vụ đồng thời tốt nhất các yêu cầu trong quá trình sử dụng

1.3.1.2 Danh mục chỉ tiêu chất lượng sản phẩm

Sản phẩm được tạo thành từ nhiều tính chất, trong đó có các tính chất chất lượng Mỗi tính chất như vậy được thể hiện bằng một hoặc một số chỉ tiêu chất lượng - đặc trưng định lượng của tính chất chất lượng Chất lượng sản phẩm cao hay thấp được quyết định bới mức độ đạt được của các chỉ tiêu

Các chỉ tiêu chất lượng được phân theo từng nhóm đặc trưng cho một khía cạnh của chất lượng Đối với từng sản phẩm hay loại sản phẩm số nhóm cũng như số lượng chỉ tiêu trong mỗi nhóm là khác nhau và không thể có một danh mục chỉ tiêu xây dựng sẵn cho mọi loại sản phẩm được Thêm vào đó, tùy theo mục đích đánh giá, số lượng chỉ tiêu chất lượng được sử dụng cũng khác nhau đối với mỗi sản phẩm hay nhóm sản phẩm cụ thể Trong đánh giá chất lượng sản phẩm nói chung người ta thường sử dụng các nhóm chỉ tiêu chủ yếu sau:

1.3.1.2.1 Các chỉ tiêu công dụng

Các chỉ tiêu công dụng đặc trưng cho lợi ích của sản phẩm khi sử dụng và nói lên lĩnh vực sử dụng sản phẩm đó Thông thường các chỉ tiêu công dụng đóng vai trò chủ yếu trong đánh giá chất lượng Kết quả đánh giá phụ thuộc vào tính đúng đắn

Trang 29

khi lựa chọn danh mục các chỉ tiêu công dụng và độ chính xác của các phương pháp xác định trị số của chúng

Các chỉ tiêu công dụng thường được sử dụng làm cơ sở để xây dựng những quy định tối ưu cho quá trình quản lý chất lượng sản phẩm

Một số chỉ tiêu công dụng có thể làm cơ sở để phân loại sản phẩm

Khi đánh giá mức chất lượng sản phẩm các chỉ tiêu công dụng được sử dụng cùng với các nhóm chỉ tiêu khác như độ tin cậy, lao động học, thẩm mỹ…Các nhóm chỉ tiêu này đóng vai trò quan trọng, nhiều khi là quyết định đối với chất lượng sản phẩm Vì trong nhiều trường hợp nếu không đảm bảo giá trị của các chỉ tiêu độ tin cậy, lao động học… thì sản phẩm không thể thực hiện được một cách hiệu quả các chức năng quy định cho nó

Khi chọn danh mục chỉ tiêu công dụng phải đặc biệt chú ý đến điều kiện sử dụng quy định cho sản phẩm.Ví dụ sản phẩm được thiết kế sử dụng ở miền nhiệt đới gió mùa như nước ta thì trong danh mục chỉ tiêu phải bao gồm các chỉ tiêu đặc trưng cho khi hậu nhiệt đới gió mùa Nhưng nếu sản phẩm ấy lại dùng cho miền hàn đới khô thì các chỉ tiêu như vậy lại không cần thiết nữa Ví dụ sản phẩm quần áo đặc biệt cho lính cứu hỏa thì chỉ tiêu công dụng chính là tính bảo vệ: sản phẩm không được bắt lửa, chịu được nhiệt độ cao, cách nhiệt tốt bảo vệ an toàn cho lính cứu hỏa

Đối với các sản phẩm mà sự thay đổi về tính chất phụ thuộc vào thành phần và cấu trúc của chúng (nguyên liệu, nhiên liệu, sản phẩm của công nghiệp hóa chất…) thì các chỉ tiêu công dụng là những chỉ tiêu đặc trưng cho thành phần hóa học hay nhóm cấu trúc

Do sản phẩm sản xuất ra là đa dạng và được đánh giá phục vụ những mục đích khác nhau, nên không thể có một danh mục chỉ tiêu công dụng chung cho mọi trường hợp Tuy nhiên trong thực tế cũng cần có danh mục hướng dẫn đối với từng nhóm, loại sản phẩm trong đó bao gồm các chỉ tiêu công dụng quan trọng thường

sử dụng nhất Trên cơ sơ danh mục hướng dẫn này, khi giải quyết nhiệm vụ cụ thể người ta sẽ thêm vào hay bớt đi các chỉ tiêu trong danh mục hướng dẫn cho phù hợp với nhiệm vụ đặt ra

Trang 30

1.3.1.2.2 Các chỉ tiêu độ tin cậy

Độ tin cậy là một trong những tính chất chủ yếu của sản phẩm công nghiệp được xây dựng trong các giai đoạn nghiên cứu, thiết kế, được đảm bảo trong giai đoạn sản xuất và được duy trì trong quá trình sử dụng Độ tin cậy của một sản phẩm là một tính chất phức tạp được thể hiện bằng 3 tính chất riêng biệt là:

+Tính không hỏng hóc

+Tính dễ sửa chữa

+Tính dễ bảo quản

+Tuổi thọ

Và phụ thuộc vào độ tin cậy của các bộ phận hợp thành sản phẩm đó

Để đánh giá độ tin cậy của sản phẩm có thể sử dụng không chỉ các chỉ tiêu riêng lẻ đặc trưng cho tính chất mà còn có thể sử dụng các chỉ tiêu tổng hợp của các tính chất độ tin cậy như: hệ số sẵn sàng, hệ số sử dụng kỹ thuật…

1.3.1.2.3 Các chỉ tiêu về tính công nghệ

Tính công nghệ của sản phẩm được đặc trưng bằng mức độ sử dụng những quy trình công nghệ điển hình trong chế tạo và các phương pháp sửa chữa hợp lý, sử dụng hợp lý các vật liệu Đó là kết quả của những giải pháp thiết kế tối ưu cho phép nâng cao năng suất lao động trong chế tạo và sửa chữa sản phẩm đồng thời giảm chi phí trong sản xuất và sử dụng Mặt khác tính công nghệ của kết cấu sản phẩm còn có thể đặc trưng bằng các chỉ tiêu chuẩn hóa và thống nhất

Trong đánh giá chất lượng, tùy đặc điểm sản phẩm và mục đích đánh giá, các chỉ tiêu về tính công nghệ được chọn có số lượng khác nhau cũng không cố định đối với mọi loại sản phẩm Các chỉ tiêu thường được sử dụng là: hệ số lắp ráp, hệ số

sử dụng vật liệu, tỷ suất lao động

1.3.1.2.4 Các chỉ tiêu về lao động học

Các chỉ tiêu về lao động học đặc trưng cho hệ thống “con người – sản phẩm – môi trường” và tính đến toàn bộ các tính chất vệ sinh, nhân chủng học, tâm sinh lý của con người xuất hiện trong quá trình sản xuất và sinh hoạt Các chỉ tiêu về lao động

Trang 31

học được sử dụng khi xác định sự phù hợp của sản phẩm đó đối với những yêu cầu

về mặt lao động của con người khi tiếp xúc với sản phẩm đó Ví dụ yêu cầu về hình dáng, kích thước, màu sắc của sản phẩm…phù hợp với khả năng làm việc và ảnh hưởng đến các trạng thái tâm lý, sinh lý của người sử dụng…

Các chỉ tiêu lao động học thường được phân theo các nhóm và trong mỗi nhóm đó bao gồm một số các chỉ tiêu đặc trưng

1.3.1.2.5 Các chỉ tiêu về tiêu chuẩn hóa và thống nhất hóa

Việc tiêu chuẩn hóa và thống nhất hóa nhằm giảm một cách hợp lý số lượng chủng loại kích thước điển hình của các bộ phận hợp thành sản phẩm, dó đó giảm chi phí trong thiết kế và chế tạo sản phẩm Mức độ tiêu chuẩn hóa và thống nhất hóa được đặc trưng bằng các chỉ tiêu định lượng về số chủng loại kích thước điển hình, số lượng bộ phận hợp thành hay giá thành chế tạo sản phẩm và các bộ phần của nó Việc tính toán các chỉ tiêu này cần tiến hành ở cùng một mức (chi tiết, đơn vị lắp ráp, tổ hợp, khối…) đối với các sản phẩm cùng loại

Để thống nhất cách tính các chỉ tiêu tiêu chuẩn hóa và thống nhất hóa có thể phân các bộ phận hợp thành sản phẩm theo ba nhóm: tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa và đặc biệt

1.3.1.2.6 Các chỉ tiêu về thẩm mỹ

Các chỉ tiêu về thẩm mỹ đặc trưng cho tính chất thẩm mỹ của sản phẩm như mức

độ truyền cảm, tính độc đáo, sự hài hòa, tính chất nguyên vẹn, sự phù hợp với môi trường, mốt…

Đối với các sản phẩm dân dụng chỉ tiêu thẩm mỹ giữ vai trò quan trọng đôi khi là quyết định đối với người tiêu thụ Có nhiều mặt hàng để thỏa mãn cùng một nhu cầu nào đó, có cùng chức năng như nhau nhưng chúng được người mua ưa thích với mức độ khác nhau Điều đó quyết định bởi tính chất thẩm mỹ của các sản phẩm đó khác nhau

Các chỉ tiêu thẩm mỹ thường được đánh giá bằng phương pháp chuyên gia Khi đánh giá chuyên gia cần chọn những chỉ tiêu quan trọng nhất đối với từng trường

Trang 32

hợp cụ thể Ví dụ chỉ tiêu hợp thời trang có ý nghĩa rất lớn khi đánh giá sản phẩm may mặc nhưng sẽ không quan trọng lắm đối với các máy công cụ

1.3.1.2.7 Các chỉ tiêu về tính tiện nghi [23]

Sản phẩm sản xuất ra song song vơi việc thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng về tính công dụng thì nó còn phải đảm bảo tính tiện nghi trong quá trình sử dụng Tính tiện nghi thể hiện ở tính thuận tiện, thoải mái, không gây ức chế hay cản trở đến các hoạt động chính

Cảm giác tiện nghi thoải mái của con người khi mặc quần áo được tạo ra bởi nhiểu yếu tố, theo các nhà nghiên cứu thì nó liên quan đến ba nhóm chính sau:

Tiện nghi sinh lí nhiệt: Tiện nghi sinh lý nhiệt của vải may mặc liên quan đến các

tính chất truyền nhiệt, truyền ẩm của chúng và cách mà quần áo duy tri được sự cân bằng nhiệt cho cơ thể ở các mức độ hoạt động khác nhau

Tiện nghi cảm giác da: Tiện nghi cảm giác da của vải may mặc liên quan đến các

tiếp xúc cơ học của vải với da ví dụ: độ mềm, độ gấp trong quá trình vận động, khả năng gây ra sự ngứa ngáy, thô ráp, khả năng tĩnh điện của vải

Tiện nghi vận động: Tiện nghi vận động của vải may mặc liên quan đến các tiếp xúc

giữa da và vải trong quá trình vận động

Trên đây là các danh mục chỉ tiêu dành cho các loại hàng hóa nói chung Trường hợp cụ thể các đối tượng đánh giá của luận văn là các sản phẩm may mặc trong điều kiện đặc biệt thì danh mục này chỉ bao gồm các chỉ tiêu sau [11]:

Trang 33

1 Tính bảo vệ (Chỉ tiêu công dụng)

2 Độ bền (Chỉ tiêu công nghệ )

3 Tính tiện nghi (Chỉ tiêu tiện nghi)

4 Tính bảo quản (Chỉ tiêu độ tin cậy)

5 Tính thẩm mỹ (Chỉ tiêu thẩm mỹ)

6 Tính kinh tế (Chỉ tiêu kinh tế)

1.3.2 Các phương pháp xác định trong số các tính chất chất lượng

Hiện nay có rất nhiều cách tính trọng số ứng dụng khi đánh giá chất lượng sản phẩm khác nhau Qua nghiên cứu đúc kết thấy rằng những nguyên tắc cơ bản chi phối và chỉ đạo cách tính toán đó Các nguyên tắc và cách tính trọng số phổ biến nhất hiện nay

1.3.2.1 Nguyên tắc giá trị

Theo nguyên tắc này trọng số của tính chất Mi là một hàm số tiến đều của đối số Si

biểu thị chi phí bằng tiền hay bằng lao động cần thiết để đảm bảo tính chất thứ i Nói cách khác nếu Mi = f (Si) thì khi Si > Si – 1 ta sẽ có Mi > Mi - 1

S M

S

Trong đó: n- số lượng các tính chất của sản phẩm được đánh giá

Có quan điểm cho rằng đối với mỗi tính chất i thì trọng số cần được tính theo những cách riêng Ví dụ đối với máy công cụ và máy móc…trọng số của tính chất năng suất được xác định bằng công thức;

i i ics

q M q

Trang 34

i i ics

T M T

Trong đó: αi - Lượng thay đổi chi phí trong sản xuất khi nâng cao thông số i lên 1%

βi – Lượng thay đổi chi phí trong sản xuất do nâng cao thông số i lên 1% Cách tính Mi theo nguyên tắc giá trị đảm bảo nội dung khoa học nhưng trong thực tế tính toán gặp nhiều khó khăn, nhất là khi các tính chất chất lượng là một tập hợp hữu cơ khó hoặc không thể tách riêng rẽ được

1.3.2.2 Nguyên tắc chuyên gia

Nguyên tắc này dựa trên cơ sở tính trung bình cộng các kết quả đánh giá Mi của nhóm chuyên gia Các phương pháp tính toán hệ số trọng lượng theo nguyên tắc này, tuy có mang nhiều tính chủ quan nhưng được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn hiện nay Các nhà khoa học cho rằng phương pháp chuyên gia là một công cụ quan trọng trong nghiên cứu khoa học Không nên đối lập phương pháp chuyên gia với các phương pháp toán học chặt chẽ Trong những điều kiện thực tế quyết định cần dựa trên sự kết hợp cả hai phương pháp trên

Hiện nay, người ta cho rằng phương pháp tương đối hoàn chỉnh về cách lấy ý kiến chuyên gia là phương pháp Denphi của hai nhà bác học Mỹ J.Gordon và O.Khenmer đề xướng vào đầu những năm 50 của thế kỷ XX nhằm mục đích giải quyết những nhiệm vụ quân sự Đặc điểm của phương pháp này là:

_ Câu trả lời của các chuyên gia mang tính chất định lượng

_ Tiến hành nhiều vòng lấy ý kiến

_ Giới thiệu kết quả của các chuyên gia sau mỗi vòng lấy ý kiến

_ Các chuyên gia ghi rõ lập luận của mình Các ý kiến đó được giới thiệu với các chuyên gia khác

Trang 35

_ Xử lý thống kê những kết quả trả lời sau mỗi vòng lấy ý kiến

Công dụng của phương pháp Denphi là có thể làm sáng tỏ ý kiến của các chuyên gia về mỗi vấn đề trong hoàn cảnh không có sự tiếp xúc trực tiếp những vẫn cho phép họ cân nhắc ý kiến của minh với sự tham khảo ý kiến của các đồng sự

Hầu hết các phương pháp lấy ý kiến chuyên gia sử dụng hiện nay đều là trường hợp dẫn xuất của phương pháp Denphi và được sử dụng rộng rãi khi xác định các

hệ số trọng lượng của các tính chất chất lượng

Các giai đoạn thực hiện trong phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:

Giai đoạn 1 Tổ chức lấy ý kiến

Giai đoạn 2 Lấy ý kiến

Giai đoạn 3 Xử lý kết quả

Giai đoạn 4 Phân tích kết quả

Nội dung cụ thể của các giai đoạn được đề cập cụ thể trong mục 1.3.4 đánh giá chất lượng bằng phương pháp chuyên gia

1.3.2.2.1 Phương pháp ưu tiên

Người ta yêu cầu chuyên gia đánh giá tất cả các trọng só Mi theo một thứ tự ưu tiên sao cho trọng số của tính chất quan trọng nhất mang số 1, cúa tính chất quan trọng

kế tiếp mang số 2…Công thức tính toán trọng số của tính chất thứ i như sau:

1

1 1

n ij i

i n r

ij

i j

a M

aij – vị trí mà chuyên gia thứ j đặt cho trọng số của tính chất thứ i

r – Số lượng chuyên gia

Trang 36

1.3.2.2.2 Phương pháp phân hạng

Có thể xác định trọng số Mi nhờ việc phân hạng các tính chất Người ta đề nghị các chuyên gia đánh giá tầm quan trọng của các tính chất theo bảng giá trị từ 1 đến 10, đồng thời cho phép chọn không chỉ các số nguyên mà có thể chọn các số thập phân Chuyên gia thứ 1 căn cứ bảng danh mục các tính chất đã xác định chọn tính chất nào quan trọng nhất và xếp hạng là 1 (ai’j = 1); trong các tính chất còn lại, tính chất nào quan trọng nhất xếp hạng 2 (ai’’j = 2), v.v.Có thể xảy ra trường hợp có một

số tính chất có mức độ quan trọng như nhau thì được nhận hạng như nhau (gọi là hạng tương quan) Để tiện tính toán sau lúc đã có dãy ai’j = 1, ai’’j = 2…ta biến đổi các hạng, nghĩa là dãy số của các hạng được thay bằng thứ tự ngược lại Như vậy tính chất ít nhất quan trọng sẽ ứng với hạng tối thiểu (ai’j = 1) và tính chất quan trọng nhất có hạng bằng n (nếu không có hạng tương quan) Trọng số Mi của tính chất thứ I được tính theo công thức:

1

1 1

r ij j

i r n

ij

j i

a M

aij – hạng của tính chất thứ i do chuyên gia thứ j sắp xếp

1.3.2.2.3 Phương pháp so sánh cặp đôi không đầy đủ (phương pháp nửa ma trận)

Mỗi chuyên gia nhận một phiếu trong đó hàng và cột thứ nhất ghi tuần tự ký hiệu các tính chất chất lượng cần xét Pi Căn cứ theo đánh giá của mình, lúc so sánh cặp tính chất, ví dụ P1 và P2, chuyên gia sẽ ghi tại ô ứng vói hai tính chất đó, tính chất nào quan trọng hơn

Hàng cuối cùng e’ij và cột cuối cùng e’’ij là các tổng theo cột và hàng biểu thị tần suất trội hơn của các tính chất tương ứng Sau đó đối với mỗi tính chất thứ i ta xác định trị số

eij = e’ij + e’’ij

Trang 37

nghĩa là tổng tần suất trội hơn của tính chất thứ I so với (n-1) tính chất còn lại do chuyên gia thứ 1 đánh giá Theo kết quả bảng trên ta có các giá trị eij tương ứng với các tính chất

Khi biết kết quả đánh giá của tất cả các chuyên gia ta có thể xác định tổng tần suất trung bình theo ei theo công thức:

1

r ij j i

e e

e M I

2

n n

I  

1.3.2.2.4 Phương pháp so sánh cặp đôi đầy đủ

Tuy nhiên do nhược điểm của phương pháp so sánh cặp đôi không đầy đủ là có thể

do ngẫu nhiên tính chất thứ I được ưu tiên với tính chất thứ I’ không phải do tính chất quan trọng của nó mà trong cách so sánh theo phương pháp này nó được xếp thứ nhất trong cặp đôi Pi – Pi’ Theo phương pháp so sánh cặp đôi không đầy đủ tính chất được so sánh với nhau từng cặp không chỉ theo thứ tự Pi – Pi’ mà còn theo thứ tự ngược lại Pi’ – Pi Trong trường hợp này nếu có n tính chất thì mỗi chuyên gia phải tiến hành không phải ( 1)

2

n n cặp so sánh mà là n(n-1) cặp Công

thức và thứ tự tính toán Mi như ở phương pháp trên nhưng I = n(n-1)

Bảng ma trận sẽ được điền kín cả hai nửa và các giá trị eij, e’ij và e’’ij sẽ thay đổi tương ứng

Giai đoạn 4: Phân tích kết quả

Đánh giá mức độ thống nhất ý kiến của các chuyên gia Để xác định các giá trị trọng

số có thể chấp nhận được không, sử dụng hệ số biến phân:

100(%)

i i i

S v M

Trang 38

Mi- Trị số trung bình của các trọng số do các chuyên gia cho đối với tính chất thứ i

Si- Độ chênh lệch chuẩn bình phương trung bình của các trọng số do các chuyên gia cho đối với tính chất thứ i so với trị số trung bình:

ij 1

r

j i

M M

r

Trong đó: j- thứ tự chuyên gia

r- Số lượng chuyên gia

Mij- Trọng số của chỉ tiêu do chuyên gia thứ i

2 ij

Theo phương pháp này chuyên gia phải làm những việc tuần tự sau:

_ Đặt các trọng số của tất cả các tính chất theo thứ tự ưu tiên

_ Tính chất nào quan trọng nhất cho trọng số Mi=1,0 Các tính chất còn lại cho trọng

số giảm dần từ 1 đến 0

_ Nếu tính chất có trọng số Mi quan trọng hơn tất cả các tính chất còn lại cộng lại thì

Mi tăng dần giá trị vượt tổng số các trọng số khác Nghĩa là:

Xử lý kết quả lấy ý kiến ở đây theo các công thức của phương pháp phân hạng Trong thực tế thường sử dụng một phương pháp khác để tính trọng số trong đó quy định tổng trọng số bằng 1 Rõ ràng cách giới hạn như vậy làm phức tạp thêm nhiệm

Trang 39

vụ của chuyên gia vì anh ta phải xác định không những tính chất nào quan trong hơn mà còn phải xác định tỷ lệ trong số giành cho tất cả các tính chất ít quan trọng hơn còn lại để tổng trọng số luôn luôn nằm gọn trong giới hạn đó

Pi # Pics khi P’i = P’ics

Trong đó: Pics, P’ics – Các giá trị chuẩn của các chỉ tiêu tuyệt đối của các tính chất thứ i và i’

Trong những điều kiện đó giả thiết rằng một cán bộ thiết kế bất kỳ nào cũng sẽ cố gắng tiến tới gần chuẩn những tính chất mà họ cho là quan trọng hơn, kết quả là với

số lớn các nhà thiết kế thì đối với các tính chất quan trọng giá trị tring bình tiệm cận

sẽ ở mức cao hơn so với các tính chất ít quan trọng hơn Trong trường hợp đó giá trị trung bình tiệm cận chuẩn này được xem như thước đo trọng số mỗi tính chất (Mi)

Giá trị Mi được coi như trung bình số học khi xử lý số lượng đủ lớn các đề án Khi

đó các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hoạt động của các nhà thiết kế sẽ được loại trừ và giá trị trọng số trung bình của tính chất thứ i (M ) sẽ phản ánh tương đối độ i

tin cậy giá trị Mi cần tìm

Phương pháp tính hệ số trọng lượng theo phương pháp này tương đối phức tạp và không phổ cập lắm Bản thân cách đặt vấn đề của phương pháp này cũng chỉ đúng

Trang 40

trong một số trường hợp nào đó bởi vì nó chưa tính đến điều kiện sử dụng sản phẩm ở những phạm vi khác nhau

1.3.3 Các phương pháp đánh giá mức chất lượng sản phẩm

1.3.3.1 Phương pháp vi phân xác định mức chất lượng sản phẩm

Việc đánh giá mức chất lượng tổng hợp bằng phương pháp vi phân được thực hiện bằng cách so sánh từng chỉ tiêu chất lượng riêng lẻ của sản phẩm được đánh giá với từng chỉ tiêu chất lượng riêng lẻ tương ứng của mô hình chất lượng mẫu hoặc

so sánh các sản phẩm với nhau Cách so sánh như vậy cho phép xác định mức chất lượng của sản phẩm và rút ra kết luận: nói chung chất lượng của sản phẩm có phù hợp với mô hình mẫu hay không, chỉ tiêu nào đạt chỉ tiêu nào không đạt và mức

độ đạt hay không đạt như thế nào, chỉ tiêu nào còn sai khác quá nhiều so với yêu cầu (hoặc trong số các sản phẩm đươc so sánh thì sản phẩm nào tốt nhất)

Trong hầu hết các trường hợp phương pháp vi phân được sử dụng như là giai đoạn đầu của phương pháp tổng hợp Khi đánh giá mức chất lượng bằng phương pháp vi phân người ta sử dụng các chỉ tiêu chất lượng tương đối, nghĩa là tỷ số giữa giá trị đạt được của chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đánh giá và giá trị của chỉ tiêu ứng với

mô hình chất lượng mẫu Chi tiêu tương đối qi được xác định bằng công thức:

ics

i i

P q P

 hoặc

i

ics i

P q P

Trong đó: Pi – Giá trị đạt được của chỉ tiêu chất lượng thứ i của sản phẩm đánh giá

Pics – Giá trị của chỉ tiêu chất lượng tương ứng của mô hình chất lượng mẫu

Với mỗi chỉ tiêu cụ thể cần chọn một trong hai công thức trên để sao cho khi chỉ tiêu chất lượng tương đối qi tăng đồng nghĩa với chất lượng được nâng cao

Khi xác định giá trị đạt được Pi cần chú ý đến các nguyên tắc thống kê tính toán số liệu, nghĩa là tính đến độ chính xác và độ tin cậy của các số liệu đo, chứ không chỉ đơn thuần là các giá trị xác định được qua một số mẫu sản phẩm Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm được đánh giá với các chỉ tiêu tương ứng của mô hình chất lượng mẫu có thể xuất hiện các trường hợp sau:

a/ Trường hợp 1 : tất cả qi ≥1

Ngày đăng: 23/02/2021, 19:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Phan Thị Minh Phương, luận văn thạc sỹ khoa học, Nghiên cứu lựa chọn phương án kết cấu vật liệu tối ưu cho bộ quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn dùng nhiều lần, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lựa chọn phương án kết cấu "vật liệu tối ưu cho bộ quần áo bác sỹ phòng mổ kháng khuẩn dùng nhiều lần
15. Trần Thị Phương Thảo, luận văn thạc sỹ khoa học, Tìm hiểu các phương pháp đánh giá khả năng kháng khuẩn của vật liệu dệt và xây dựng phương pháp đánh giá nhanh tính kháng khuẩn của vật liệu dệt xử lý kháng khuẩn bằng chất kháng khuẩn gốc amoni bậc bốn, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các phương pháp đánh giá khả "năng kháng khuẩn của vật liệu dệt và xây dựng phương pháp đánh giá nhanh tính kháng "khuẩn của vật liệu dệt xử lý kháng khuẩn bằng chất kháng khuẩn gốc amoni bậc bốn
16. Lê Hoàng Thanh, Thạc sỹ khoa học, Nghiên cứu lựa chọn nguyên liệu dệt cho vải dệt thoi sử dụng làm bộ đồng phục học sinh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lựa chọn nguyên liệu dệt cho vải dệt thoi sử "dụng làm bộ đồng phục học sinh
19. Tracy May, Plumlee, Amanda Pittman, North Carolina State University, Surgical gown requirements capture: a design analysis case study, Vol 2, issue 2, Spring 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical gown "requirements capture: a design analysis case study
20. Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang – “Nghiên cứu thị trường”- NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thị trường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia TP Hồ Chí Minh
21. Vũ Thị Hồng Khanh, Lê Hoàng Thanh, Establishment of the coefficient of properties determinating the fabric quality using for pupil uniform (Xây dựng hệ số quan trọng cho các tính chất xác định chất lượng vải sử dụng làm bộ đồng phục học sinh), 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Establishment of the coefficient of properties "determinating the fabric quality using for pupil uniform
23. Nguyễn Thị Kim Thu, chuyên đề: so sánh tính tiện nghi của các kết cấu vật liệu dùng làm bộ quần áo bác sỹ phòng mổ, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: so sánh tính tiện nghi của các kết cấu vật liệu dùng làm bộ "quần áo bác sỹ phòng mổ
9. ASTM E 2149, standard test method for determining the antimicrobial activity of Immobilized antimicrobial agents under dynamic contact conditions – Tính kháng khuẩn Khác
11. ISO 811, Determining of resistance to water penetration – hydrostatic pressure test – Tính chống thấm nước Khác
12. ISO 2313 Xác định góc hồi nhàu của vật liệu 13. UNI 4818 Xác định độ thông hơi của vật liệu Khác
18. AAMI PB70:2003, Liqid barrier performance and classification of protective apparel and drapes intended for use in Health care facilities Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w