1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo hình dáng phần dưới cơ thể học sinh nam lứa tuổi 15 17 ở Hà Nội

144 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo hình dáng phần dưới cơ thể học sinh nam lứa tuổi 15 17 ở Hà Nội Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo hình dáng phần dưới cơ thể học sinh nam lứa tuổi 15 17 ở Hà Nội Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo hình dáng phần dưới cơ thể học sinh nam lứa tuổi 15 17 ở Hà Nội luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

TR ẦN NGUYÊN LÂN

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO HÌNH DÁNG PHẦN DƯỚI CƠ THỂ HỌC SINH NAM

L ỨA TUỔI 15 – 17 Ở HÀ NỘI

Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :

GS.Ts TRẦN BÍCH HOÀN

Hà Nội – Năm 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới cô giáo Trần Bích Hoàn Em chân thành cảm ơn cô rất nhiều vì cô đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành luận văn của mình

Em xin cảm ơn toàn thể các Thầy giáo, Cô giáo khoa Công nghệ Dệt may và thời trang trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã dạy dỗ, truyền đạt cho em những kiến thức khoa học để em có thể hoàn thành khóa học và hoàn thành tốt luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Phổ thông trung học Đoàn kết, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Kim Liên, Việt Đức, Dương Xá và Trường Phổ thông cơ sở Phú Thị, Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu nhân trắc của các em nam học sinh 15 – 17 tuổi tại trường

Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi trong thời gian qua

Xin chân thành cảm ơn và chúc các Thầy cô, các bạn bè đồng nghiệp luôn hạnh phúc, thành đạt

Hà nội, Ngày 15 tháng 06 năm 2011 Trần Nguyên Lân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan toàn bộ kết quả nghiên cứu được trình bày trong Luận văn

là do tôi nghiên cứu, do tôi tự trình bày, không sao chép từ các Luận văn khác Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những nội dung, hình ảnh cũng như các kết quả nghiên cứu trong Luận văn

Hà Nội, ngày 15 tháng 06 năm 2011

Người thực hiện

3

Trần Nguyên Lân

Trang 4

MỤC LỤC

2

LỜI CẢM ƠN2 12

LỜI CAM ĐOAN2 22

MỤC LỤC2 32

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU2 52

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ2 72

MỞ ĐẦU2 102

CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN 12

1.3 Đặc điểm nhân trắc học phần dưới cơ thể nam2 252

1.3.1 Đặc điểm nhân trắc người Việt Nam2 252

1.3.2 Các dấu hiệu nhân trắc2 262

1.3.3 Đặc điểm chung các bộ phận phần dưới cơ thể nam2 282

1.4 Phương pháp nghiên cứu2 352

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu cắt dọc và phương pháp nghiên cứu cắt ngang2 352

1.4.2 Xác định số lượng mẫu nghiên cứu2 362

1.4.3 Các phương pháp đo2 392

1.4.4 Ứng dụng sác xuất thống kê sinh học trong nghiên cứu nhân trắc học2 402

KẾT LUẬN PHẦN TỔNG QUAN2 442

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 45

Trang 5

2.5.2 Chứng minh số lượng mẫu đo được đảm bảo tính chất đại diện cho tổng thể đối tượng nghiên cứu2 612

2.5.3 Các đặc trưng thống kê phần dưới cơ thể học sinh nam tuổi 15 - 172 652

C HƯƠNG 3: XỬ LÝ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 85

3.1.4 Đặc điểm vòng mông2 912

3.1.5 Đặc điểm phần bụng2 922

3.1.6 Đặc điểm phần mông2 952

3.1.7 Đặc điểm phần chân2 992

3.2 Nhận xét đặc điểm phần dưới cơ thể nam tuổi 15 – 172 1042

KẾT LUẬN2 1082

TÀI LIỆU THAM KHẢO2 110

PH Ụ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tổng số đối tượng nghiên cứu

Bảng 2.2: Ý nghĩa các kích thước thiết kế quần và đánh giá thể lực

Bảng 2.3: Kiểm định số lượng mẫu nghiên cứu học sinh nam theo chiều cao đứng Bảng 2.4: Kiểm định số lượng mẫu nghiên cứu học sinh nam theo chiều cao eo Bảng 2.5: Kiểm định số lượng mẫu nghiên cứu học sinh nam theo vòng bụng

Bảng 2.6: Kiểm định số lượng mẫu nghiên cứu học sinh nam theo vòng mông

Bảng 2.7: Các đặc trưng thống kê của bốn kích thước chính phần dưới cơ thể học sinh nam ở phía nam Hà Nội 15 tuổi

Bảng 2.8: Các đặc trưng thống kê của bốn kích thước chính phần dưới cơ thể học sinh nam ở phía nam Hà Nội 16 tuổi

Bảng 2.9: Các đặc trưng thống kê của bốn kích thước chính phần dưới cơ thể học sinh nam ở phía nam Hà Nội 17 tuổi

Bảng 2.10: Các đặc trưng thống kê của bốn kích thước chính phần dưới cơ thể học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 15 tuổi

Bảng 2.11: Các đặc trưng thống kê của bốn kích thước chính phần dưới cơ thể học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 16 tuổi

Bảng 2.12: Các đặc trưng thống kê của bốn kích thước chính phần dưới cơ thể học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 17 tuổi

Bảng 3.1: Số liệu chiều cao trung bình học sinh nam tuổi 15-17 hai khu vực Hà Nội Bảng 3.2: Số liệu trung bình chiều cao eo của học sinh hai khu vực tuổi từ 15 - 17 Bảng 3.3: Số liệu trung bình vòng bụng của học sinh hai khu vực tuổi từ 15 - 17 Bảng 3.4: Số liệu trung bình vòng mông của học sinh hai khu vực tuổi từ 15 - 17 Bảng 3.5: Bảng tổng hợp kết quả giá trị trung bình kích thước rộng eo, dầy eo, vòng bụng , cao eo và độ lõm eo của các lứa tuổi từ 15-17

Bảng 3.6: Bảng tổng hợp kết quả giá trị trung bình năm kích thước: dày mông, vòng mông, cao nếp lằn mông, dài cung vòng đũng và rộng mông các lứa tuổi từ 15-17

Trang 7

Bảng 3.8: Bảng tổng hợp kết quả giá trị trung bình các kích thước: dài chân đo bên trong, vòng đùi I, vòng đùi II, dài đùi, dài chân đo bên ngoài, rộng hai đùi của lứa tuổi từ 15-17

Bảng 3.9: Chỉ số chân người Việt Nam ba miền Bắc, Trung, Nam năm 1986

Bảng 3.10: Bảng tổng hợp kết quả giá trị trung bình kích thước độ lõm đầu gối, cao đầu gối, vòng gối, rộng 2 gối và rộng gối nam tuổi từ 15-17

Bảng 3.11: Bảng tổng hợp kết quả giá trị trung bình các kích thước: cao đầu gối, vòng bắp chân, vòng cổ chân, rộng 2 bắp chân, rộng 1 bắp của lứa tuổi từ 15-17 Bảng 3.12: Giá trị trung bình 3 kích thước cao thân, cao eo, cao gối tuổi 15-17 Bảng 3.13: Giá trị trung bình 3 kích thước vòng ngực II, vòng bụng, vòng mông tuổi 15-17

Bảng3.14:Giá trị trung bình 3 kích thước vòng đùi, vòng gối, vòng mông tuổi 15-17

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Các mốc đo nhân trắc

Hình 1.2: Hình vẽ mặt trước và mặt sau cơ thể nam

Hình 1.3: Hình vẽ nhìn thẳng và nhìn nghiêng cơ thể nam

Hình 1.4: Đặc điểm hình dáng và cấu tạo cơ bụng cơ thể nam

Hình 1.5: Đặc điểm hình dáng và cấu tạo cơ mông , xương chậu cơ thể nam

Hình 1.6: Đặc điểm hình dáng cơ và xương đùi cơ thể nam

Hình 1.7: Đặc điểm hình dáng cấu tạo cơ và xương đầu gối

Hình 1.8: Hình dáng cấu tạo cơ và xương cẳng chân

Hình 2.1: Các dụng cụ đo

Hình 2.2: Minh họa các kích thước đo phần thân dưới cơ thể nam

Hình 2.3: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao đứng học sinh nam ở phía nam Hà Nội 15 tuổi

Hình 2.4: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm

Chiều cao eo học sinh nam ở phía nam Hà Nội 15 tuổi

Hình 2.5: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng bụng học sinh nam ở phía nam Hà Nội 15 tuổi

Hình 2.6: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông học sinh nam ở phía nam Hà Nội 15 tuổi

Hình 2.7: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao đứng học sinh nam ở phía nam Hà Nội 16 tuổi

Hình 2.8: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao eo học sinh nam ở phía nam Hà Nội 16 tuổi

Hình 2.9: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng bụng học sinh nam ở phía nam Hà Nội 16 tuổi

Hình 2.10: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông học sinh nam ở phía nam Hà Nội 16 tuổi

Trang 9

đứng học sinh nam ở phía nam Hà Nội 17 tuổi

Hình 2.12: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao eo học sinh nam ở phía nam Hà Nội 17 tuổi

Hình 2.13: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng bụng học sinh nam ở phía nam Hà Nội 17tuổi

Hình 2.14: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông học sinh nam ở phía nam Hà Nội 17 tuổi

Hình 2.15: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao đứng học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 15 tuổi

Hình 2.16: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao eo học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 15 tuổi

Hình 2.17: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng bụng học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 15 tuổi

Hình 2.18: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 15 tuổi

Hình 2.19: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao đứng học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 16 tuổi

Hình 2.20: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao eo học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 16 tuổi

Hình 2.21: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng bụng học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 16 tuổi

Hình 2.22: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 16 tuổi

Hình 2.23: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao đứng học sinh nam ở phía nam Hà Nội 17 tuổi

Hình 2.24: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm chiều cao eo học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 17 tuổi

Hình 2.25: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng bụng học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 17 tuổi

Trang 10

Hình 2.26: Sơ đồ đường cong tần số phân bố lý thuyết và thực nghiệm vòng mông học sinh nam ở phía bắc Hà Nội 17 tuổi

Hình 3.1: Biểu đồ sự phát triển chiều cao h/s nam hai khu vực

Hình 3.2: Biểu đồ sự phát triển chiều cao eo học sinh nam Hà Nội hai khu vực Hình 3.3: Số liệu trung bình vòng bụng học sinh hai khu vực Hà Nội tuổi từ 15 - 17 Hình 3.4: Biểu đồ sự phát triển vòng vòng mông của của học sinh nam hai khu vực

Hà Nội tuổi từ 15 đến 17

Hình 3.5: Mặt cắt ngang bụng

Hình 3.6: Các dạng rộng mông của cơ thể

Hình 3.7: Mặt cắt ngang đùi

Hình 3.8: Hình dáng và cấu tạo xương chân

Hình 3.9: Các tư thế của chân

Trang 11

MỞ ĐẦU

Hiện nay nền kinh tế văn hóa, chính trị, khoa học…đã và đang phát triển

nhằm tiến tới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Đời sống xã hội ngày càng được nâng cao, sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội đến thế hệ trẻ ngày càng nhiều không thể không có những tác động tới sự phát triển về mặt hình thái và

thể chất Sự tác động ấy ảnh hưởng tới mọi lứa tuổi nhưng mạnh mẽ nhất, biến đổi sâu sắc nhất là trong độ tuổi dậy thì Do đó nghiên cứu đặc điểm hình thái trong giai đoạn này thiết thực không chỉ về lý luận mà còn quan trọng cả trong thực tiễn được các nhà: sinh học, y học, giáo dục hoc và nhân trắc học…trên toàn thế giới quan tâm

Ngày nay hiện tượng gia tốc trong tăng trưởng hình thái đang ở quy mô toàn

thế giới Nhưng mức độ khác nhau đối với học sinh ở từng vùng khác nhau Hiện tượng này trở lên phổ biến cùng với xu hướng đô thị hoá ngày càng rộng rãi đòi hòi

sự nghiên cứu và cập nhật thường xuyên tình hình phát triển ở mỗi vùng Lĩnh vực nghiên cứu này hiện nay đã tăng về khối lượng công trình, phức tạp về nội dung, đông đảo về đối tượng và trên nhiều vùng địa lý sinh thái Tuy nhiên số liệu có phong phú nhưng còn tản mạn đã cũ về thời gian và ít đề cập đến lứa tuổi 15-17 chưa đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của đời sống xã hội và nhu cầu mặc đẹp vừa vặn và phù hợp với lứa tuổi này

Nhận thấy nghiên cứu đặc điểm hình thái cơ thể người là phần không thể thiếu trong nghiên cứu Nhân trắc học bởi vì việc nghiên cứu này là yếu tố quyết định đến việc phân chia đám đông thành các nhóm nhất định có đặc điểm chung Còn trong may mặc việc phân tích nắm bắt đặc điểm cơ thể là rất quan trọng, bởi vì đây là yếu tố góp phần định hình chủng loại, thiết kế kiểu dáng sản phẩm phù hợp cho từng nhóm người Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu từ hình thái chung nhất đến cụ thể từng bộ phận như bàn tay, chân, phần đầu… Nhưng ở Việt Nam vẫn còn hạn chế nhất là phần dưới của cơ thể như bụng, mông và chân là phần quan trọng của cơ thể nam và của trang phục thì chưa được tiến hành nghiên cứu sâu và cụ thể Nhất là trong lứa tuổi học sinh 15-17 (lứa tuối phát triển mạnh mẽ

Trang 12

nhất cả về tâm lý, sinh lý và các kích thước trên cơ thể) Chính vì vậy tôi đã lựa

chọn và nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo hình dáng phần dưới cơ

thể học sinh nam lứa tuổi 15 – 17 ở Hà Nội”. Nhằm góp phần đánh giá sự phát triển đặc điểm của các em đồng thời góp phần xây dựng hệ thống cỡ số, phục vụ thiết kế trang phục học sinh trung học trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 13

CHƯƠNG 1 NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN

1.1 Sơ lược sự phát triển của nhân trắc học trên thế giới và Việt Nam

* Lịch sử phát triển nhân trắc trên thế giới

- Nhân trắc học là môn khoa học tự nhiên nghiên cứu về các phương pháp đo đạc hình thể, kích thước, cấu trúc cơ thể người và sử dụng các công thức toán học

để phân tích các kết quả đo được nhằm tìm hiểu các quy luật về sự phát triển hình thái con người đồng thời ứng dụng các quy luật đó vào việc giải quyết những yêu cầu thực tiễn của khoa học, kỹ thuật, thiết kế sản xuất các sản phẩm tiêu dùng phục

vụ cho con người [17]

- Nhân trắc học đã hình thành từ rất lâu Có thể nói rằng, ngay từ khi con người biết đo chiều cao của mình, biết mình cân nặng bao nhiêu, là đã bắt đầu làm nhân trắc

- Trong suốt những năm dài lịch sử, con người mới chỉ làm nhân trắc tùy hứng tự phát chứ nhân trắc chưa trở thành môn khoa học Đến đầu thế kỷ XX, từ khi R.A Fisher, một trong những người sáng lập môn di học quần thể, đã xây dựng được môn thống kê toán học ứng dụng vào y học thì nhân trắc mới thực sự trở thành môn khoa học với đầy đủ ý nghĩa và đầy đủ tính chính xác của nó

- Trong suốt thời gian dài mấy chục năm qua, nhân trắc học đã có những bước tiến đáng kể nhờ được áp dụng những kỹ thuật hiện đại của các ngành khoa học phát triển khác với số người chuyên nghiên cứu vấn đề này trên thế giới ngày càng tăng Vào những năm 20 của thế kỷ XX, Rudolf Martin nhà nhân trắc đi tiên phong người Đức đã đề xuất một hệ thống các phương pháp và dụng cụ để đo đặc kích thước cơ thể con người Ông đã xuất bản cuốn sách “ Giáo trình về nhân học” (1919) Đó là cuốn sách đầu tiên trình bầy một cách đầy đủ các phương pháp nghiên cứu nhân trắc học với sự ứng dụng của toán học, đặc biệt là thống kê sinh học Năm

1942 ông đã cho ra đời cuốn “Chỉ nam đo đạc cơ thể và xử lý thống kê” Cuốn sách của Rudolf Martin được coi là kim chỉ nam cho môn khoa học này và ông được coi

là người đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại Các trường phái Nhân trắc học

tiếp theo đó đều dựa trên cơ sở phương pháp R.Martin mà bổ sung và hoàn thiện về

lý thuyết và thực tiễn theo truyền thống khoa học của từng nước cũng như theo các

Trang 14

mục tiêu ứng dụng khác nhau và từ đó đến nay trên thế đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này, các tài liệu nhân trắc học đã liên tiếp được xuất bản

Năm 1961, Graef và Cone đã tập hợp nhiều số liệu chứng tỏ tình trạng dinh dưỡng và bệnh tật ảnh hưởng rõ rệt đến sự gia tăng của các kích thước cơ thể đặc biệt là chiều cao và cân nặng.[16]

- Năm 1964 F.Vandervael, một thầy thuốc người Bỉ đã viết cuốn sách giáo khoa về Nhân trắc học Ông đưa ra những nhận xét toàn diện về các qui luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp và xây dựng các thang phân loại thể lực theo các chỉ số đánh giá thể lực với các đặc trưng thống kê trung bình cộng (M) và độ lệch chuẩn (б)

- Đặc biệt việc ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào nghiên cứu lứa tuổi trẻ em đến trường học đã được thế giới quan tâm và tiến hành sớm hơn vào cuối thế

kỷ XIX Mặc dù trong thời kỳ này các công trình nghiên cứu còn hạn chế về số lượng và kích thước đo đạc, phương pháp nghiên cứu cũng chưa hoàn toàn thống nhất và các tính toán thống kê còn đơn giản Cũng trong những năm 70-80 của thế

kỷ XIX các công trình về sinh trưởng của trẻ em cũng đã được giới thiệu đầy đủ như ở Hămbuốc năm 1977 (Theo Lenz Ort, 1959), ở Boxton và Aivakutu từ năm 1877-1880 (theo Meredith, Kortt, 1962; Cone, 1965), ở Vacxava năm 1880 (theo Wolanski, 1973), ở Xtôckhôm năm 1883 (theo Ljungetal, 1974)

- Sự tăng trưởng các kích thước tổng thể và phát triển cơ thể học sinh không giống nhau ở các lứa tuổi, mạnh nhất ở lứa tuổi dậy thì do ảnh hưởng sự hoạt động của các cơ quan nội tiết trong thời kỳ chín sinh dục Tốc độ tăng trưởng và sự kéo dài thời gian tăng trưởng phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội, ví dụ như theo Bunac (1941) sự tăng trưởng chiều cao ở nam giới phải tới 25 tuổi mới kết thúc, nhưng theo Uruxon A.M (1962) thì lại là 17-18 tuổi đối với nữ và 19 tuổi đối với nam Điều kiện kinh tế ảnh hưởng lớn đến sự phát triển cơ thể của trẻ em Những trẻ em có thân hình gầy ốm, thể lực phát triển kém, đa số là con của các gia đình nghèo có thu nhập thấp Điều kiện xã hội, môi trường sinh thái cũng tác động mạnh đến sự tăng trưởng; như trẻ em sống ở thành phố cơ thể phát triển tốt hơn trẻ em nông thôn Sự chín sinh dục cũng như vậy những trẻ em nữ sống ở thành phố hoặc

ở các gia đình khá giả hoặc sống ở vùng khí hậu ôn hòa sẽ dậy thì sớm hơn so với

Trang 15

xích đạo và xích đạo Sự chín sinh dục có liên hệ với sự tăng trưởng các kích thước hình thái Soloviev V.S (1964) nhận thấy nam 14 tuổi đã chín sinh dục cả về kích thước, về hình thái và chức năng sinh lý

- Trong khoảng 100-150 năm gần đây người ta thấy có hiện tượng tăng nhanh về sự phát triển cơ thể và trưởng thành sinh lý của trẻ em và thiếu niên, ở các nước phát triển nhanh như: Anh, Pháp, Mỹ, … hiện tượng này được thể hiện rõ rệt nhất Tập hợp nhiều tài liệu về sự phát triển cơ thể học sinh phổ thông người ta ghi nhận được rằng sự tăng nhanh chiều cao đứng, trọng lượng cơ thể cũng như các kích thước từng phần (các đoạn thân thể, chi, mô mỡ, ) trong vòng 100 năm gần đây (chẳng hạn chiều cao đứng đã tăng lên 10 đến 15 cm) Thời kỳ chín sinh dục của thiếu niên cũng sớm hơn 2 năm so với 100 năm trước Tuổi có kinh nguyệt lần đầu còn sớm hơn nữa, ví dụ như vào đầu thế kỷ trước tuổi có kinh trung bình ở các nước châu Âu phát triển là 16,5 – 17,5 thì ngày nay ở các thành phố công nghiệp chỉ còn là 12 - 13 tuổi

- Đã từ lâu sự phát triển cơ thể được coi như là chỉ số đánh giá về tình trạng sức khỏe con người nói chung và trẻ em nói riêng Trong đó các chỉ tiêu như chiều cao, cân nặng, vòng ngực,… là các chỉ tiêu quan trọng nhất Mối quan hệ giữa các chỉ số phát triển cơ thể và sức khỏe là rất phức tạp Do đó người ta đã dùng các chỉ

số thể lực để biểu thị mối quan hệ giữa các đặc điểm đặc trưng nhất trong sự phát triển cơ thể Các chỉ số về thể lực chính là sự tổng hợp các tương quan của nhiều dấu hiệu hình thái cơ thể dưới dạng công thức toán học

* Nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam

Nhân trắc bắt đầu được chú ý ở Việt Nam từ những năm 30 của thế kỷ XX bằng một số công trình về đo đạc một số kích thước như chiều cao, cân nặng và vòng ngực Trong thời kỳ này, hầu hết các công trình nghiên cứu đều do một số bác sĩ người Pháp và người Việt Nam thực hiện tại “Ban nhân học” thuộc viện Viễn đông Bác Cổ (Elcole d’Ẻtême Orent) và tại Viện Giải Phẫu Học thuộc trường Đại Học Y Khoa Hà Nội

Năm 1936-1944, những kết quả nghiên cứu về các kích thước cơ thể người các dân tộc Việt Nam như dân tộc kinh, Hơmông, Êđê, Chăm, Thượng…được

Trang 16

đăng rải rác trong 9 tạp chí “Công trình nghiên cứu Viện Giải Phẫu Học trường Đại học Y Khoa Đông Dương” do P.Hurad làm chủ biên

Những công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều đóng góp tài liệu cho việc tìm hiểu các đặc điểm nhân trắc học và hình thái học nói chung của người Việt Nam

và một số dân tộc ít người ở nước ta Mặt khác, những điều đó bước đầu cũng góp phần vào việc tìm hiểu nguồn gốc của dân tộc Việt Nam

Tuy nhiên, các công trình đó còn lẻ tẻ, chưa hệ thống các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu lúc bấy giờ còn đơn sơ, xử lý thống kê toán học chưa triệt để, chính xác bởi vậy các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế

Năm 1945-1954, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc Giáo sư Đỗ Xuân Hợp nhà nhân trắc học đầu tiên của Việt Nam, đã cùng với một số bác sĩ và sinh viên tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học đối tượng là thanh niên phục vụ cho việc tuyển quân và may quân trang cho bộ đội Các đề tài nghiên cứu cũng được mở rộng ra theo nhiều chiều hướng như hướng nghiên cứu nhân trắc chủ yếu nhằm phục vụ y học, hướng nghiên cứu nhân trắc phục vụ điều tra cơ bản con người Việt Nam, các đặc điểm nhân chủng học của các dân tộc Việt Nam được thực hiện chủ yếu tại bộ môn sinh học người, trường Đại Học tổng hợp Hà Nội, Viện Khảo Cổ học, Viện Bảo tàng lịch sử và trường Đại Học Y Khoa Hà Nội, Viện KHKT, Viện bảo hộ lao động, Viện vệ sinh dịch tễ….là các đơn vị đi sâu nghiên cứu nhân trắc phục vụ lao động – nhân trắc học ecgônômic

Năm 1967 và 1972 hai hội nghị hằng số sinh học người Việt Nam đã được

tổ chức tại Hà Nội dưới sự chủ trì của giáo sư Nguyễn Tấn Di Trọng Hàng trăm công trình nghiên cứu về nhân trắc học đã được tập hợp để báo cáo trong hai hội nghị đó và được đăng lại trong cuốn “ Hằng số sinh học ở Việt Nam” năm 1975 và coi như đó là hằng số sinh thái của người Việt Nam bình thường

Năm 1974, PGS Bác sĩ Nguyễn Quang Quyền, người đã cùng với giáo sư

Đỗ Xuân Hợp cho xuất bản cuốn “Nhân trắc học và ứng dụng nghiên cứu trên

Trang 17

và các đồng nghiệp khác Cuốn sách đã trình bày khá đầy đủ những vấn đề cơ bản nhất trong lĩnh vực nghiên cứu nhân trắc học hiện nay và nêu lên các số liệu cùng các nhận định tiến hành nghiên cứu trên người Việt Nam Đối với tất cả những người nghiên cứu nhân trắc học ở nước ta đó là một tài liệu rất bổ ích

Cuốn “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động” (1986)

do PGS.TS Võ Hưng làm chủ biên là kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu ứng dụng ergonomics vào bảo hộ lao động và áp dụng các

dữ kiện nhân trắc học vào việc cải thiện điều kiện lao động cho công nhân” (mã số: 58.01.03.01) thuộc chương trình tiến bộ khoa học kỹ thuật trọng điểm của Nhà nước

về bảo hộ lao động trong giai đọan 1982-1985 Atlas đã trình bày 138 dấu hiệu nhân trắc tĩnh được đo đạc trên 13.223 người đang trực tiếp lao động sản xuất trong nhiều ngành nghề khác nhau trên cả nước Việt Nam [1]

Trong những năm 1986-1990, tập Atlas thứ hai “Atlas nhân trắc học người Việt Nam trong lứa tuổi lao động- Dấu hiệu nhân trắc động về tầm họat động của tay” ra đời Đây cũng là kết quả của đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước Nghiên cứu xây dựng các chỉ tiêu trắc học người lao động Việt Nam (phần dấu hiệu động) và chỉ dẫn phương pháp luận đánh giá ergonomic chỗ làm việc, phòng ngừa tai nạn; sự

cố do sai lầm của người điều khiển những hệ thống kỹ thuật phức tạp” mã số: 58A.01.02) [3]

Qua tất cả các nghiên cứu đó cho ta thấy sự tăng trưởng chiều cao người Việt Nam đối với thế hệ sau hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của thế giới về sự phát triển chiều cao trung bình dao động trên dưới 2 cm trong 15-20 năm gần đây

* Ứng dụng nhân trắc học vào trong các lĩnh vực khác

Từ lâu nhân trắc học được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau Dẫn liệu nhân trắc học được sử dụng để tìm hiểu các đặc trưng hình thái, chủng tộc của các cộng đồng người (trong nhân chủng học ứng dụng) Để xác định những biến đổi về hình thái cơ thể dưới ảnh hưởng của bệnh lý (trong y học); điều tra, đánh giá

sự phát triển thể lực trong tuyển sinh vận động viên thể dục thể thao (trong y tế học đường); để xác định những tiêu chuẩn chọn lao động trong một số ngành nghề đặc biệt (lái xe, lái tàu, lái máy bay, dầu khí,…); để định tiêu chuẩn xây dựng công trình

Trang 18

kiến trúc, nghệ thuật (trong kiến trúc, mỹ thuật); để thiết kế quân trang, quân dụng,

vũ khí, tuyển quân (trong quân đội)

Dẫn liệu nhân trắc học là cơ sở đầu tiên để thiết kế các thiết bị sản xuất, dụng cụ sinh hoạt, cũng như chỗ làm việc và môi trường sống nhằm hợp lý hoá thao tác, tiết kiệm năng lượng vận động, giảm nguy cơ xảy ra tai nạn, hạn chế bệnh nghề nghiệp, cải thiện điều kiện lao động, duy trì và nâng cao khả năng làm việc và năng suất lao động Trong những năm 40 và 50 của thế kỷ XX không có lĩnh vực thiết kế công nghiệp nào có liên quan đến con người mà không sử dụng những dẫn liệu nhân trắc học

Trong nhiều nước có truyền thống khoa học như Nga, Ba Lan, Séc, Đức nhân trắc học đã trở thành cơ sở tin cậy cho việc định các tiêu chuẩn cấp nhà nước

về sản phẩm công nghiệp dân dụng và quốc phòng Nhiều công trình nghiên cứu nhân trắc học ra đời nhất là hướng vào mục tiêu ergonomics; là một phương hướng nghiên cứu ứng dụng trực tiếp các luận chứng của khoa học về con người vào thiết

kế và tổ chức lao động sản xuất, và cũng đã ứng dụng các dấu hiệu nhân trắc ergonomics; xây dựng được các quy chuẩn trong công tác tiêu chuẩn hoá nhà nước trong các lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, thiết kế sản phẩm dân dụng và môi trường sinh hoạt

* Một số ứng dụng nghiên cứu nhân trắc học vào ngành May tại Việt Nam

Việc ứng dụng nhân trắc học không chỉ dừng lại trong các lĩnh vực y học, trong quân đội, trong y tế học đường, trong kiến trúc, mỹ thuật,… mà nhân trắc học còn được ứng dụng trong ngành may Ngoài các công trình nghiên cứu ứng dụng nhân trắc học theo hướng ergonomic cho lứa tuổi lao động trong ngành dệt may, để thiết kế các thiết bị sản xuất, môi trường làm việc trong ngành dệt may phù hợp với người lao động, giúp nâng cao năng suất lao động cho ngành dệt may thì hầu hết nhân trắc học được ứng dụng để xây dựng hệ thống cỡ số trang phục cho các lứa tuổi và giới tính khác nhau Đây là một ứng dụng có ý nghĩa thiết thực nhất của nhân trắc học vào ngành may Vì muốn tạo ra các sản phẩm may mặc hàng loạt, để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng một cách hiệu quả thì chúng ta phải có được một hệ thống cỡ số cơ thể người chuẩn, được xây dựng trên cơ sở nền tảng của các mốc đo nhân trắc học trên cơ thể người, nhằm phục vụ cho việc thiết kế công nghiệp các sản phẩm may mặc

Trang 19

Nước ta trước năm 1954 cũng đã biết ứng dụng nhân trắc học vàongành may

đó là GS Đỗ Xuân Hợp cùng với một số bác sĩ và sinh viên đã tiến hành những công trình nghiên cứu nhân trắc học trên thanh niên để phục vụ cho việc tuyển quân

và may quân trang cho bộ đội Đây là một trong những công trình ứng dụng nhân trắc học đầu tiên ở Việt Nam vào nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang phục vụ ngành May Cho đến năm 1962-1965 việc tiến hành đo khảo sát cơ thể người Việt Nam mới được tiếp tục thực hiện Kết quả khảo sát đã xây dựng được một hệ thống cỡ số đối với hàng may mạc sẵn cho người lớn và trẻ em theo tiêu chuẩn Việt Nam Hệ thống cỡ số này được kí hiệu là TCVN196/66 – 196/66 Số đo chính trong hệ thống cỡ số này là chiều cao cơ thể Mãi đến năm 1994, tiêu chuẩn VN-5782 về “Hệ thống cỡ số tiêu chuẩn quần áo” được ban hành đánh dấu một bước phát triển cho ngành may mặc Việt Nam.[15] Từ đó các cơ sở, công ty May công nghiệp nở rộ, mặt hàng quần áo may sẵn với kiểu dáng phong phú, chủng loại

đa dạng tràn ngập thị trường và một số thương hiệu dệt may Việt Nam đã có một vị trí nhất định, tạo được uy tín đối với người tiêu dùng trong nước và ghi được dấu ấn trên thị trường xuất khẩu Đứng ở thời điểm này ngành dệt may Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ và gặt hái được nhiều thành công trên thương trường quốc tế, nhiều năm qua dệt may là ngành “mũi nhọn” trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa Việt Nam ra thị trường thế giới, thu về cho đất nước nguồn ngoại tệ khá lớn và cũng đứng ở thời điểm này tốc độ phát triển kinh tế của nước ta cũng cao, điều kiện sống

và môi trường sống thay đổi, dẫn đến sự thay đổi các thông số kích thước của cơ thể người Việt Nam Tuy nhiên, chưa có một hệ thống cỡ số mới được xây dựng theo tiêu chuẩn hóa nhà nước ở các lứa tuổi của người Việt Nam, và gây khó khăn cho nhà sản xuất là không thể thiết kế công nghiệp chuẩn xác để phục vụ cho việc sản xuất may hàng loạt và đáp ứng được các dạng cơ thể khác nhau, thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng trong nước, hệ thống cỡ số quần áo của nước ta được xây dựng từ năm 1994 đã trở nên lạc hậu

Năm 2001, trong đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống cỡ số quân trang theo phương pháp nhân trắc học”, TS Nguyễn Thị Hà Châu cùng các cộng sự đã

tiến hành xây dựng thành công hệ thống cỡ số quân trang và được ứng dụng may quân trang cho cả nước Đề tài đã cho kết quả triệt để và chính xác do ứng dụng hệ thống các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu hiện đại, xử lý thống kê toán bằng

Trang 20

phần mềm chuyên dụng, đánh dấu một bước chuyển vượt bậc của việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu nhân trắc học phục vụ ngành May tại Việt Nam

Cùng năm 2001, KS Trần Thị Hường và PGS TS Nguyễn Văn Lân cũng

ứng dụng phương pháp nhân trắc học vào đề tài cấp cơ sở “Thống kê cỡ số và thiết

kế cơ bản trang phục nữ Việt Nam “ Đề tài này cũng đã xây dựng được hệ thống cỡ

số của phụ nữ chưa sinh con và phụ nữ đã sinh con thông qua việc kiểm định các giả thiết trong quá trình xây dựng hệ thống cỡ số bằng cơ sở toán thống kê sinh học

Đề tài này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành May công nghiệp Việc ứng dụng nghiên cứu nhân trắc học để xây dựng hệ thống cỡ số nước ta còn hạn chế

vì chưa có thiết bị đo hiện đại, vẫn sử dụng phương pháp đo trực tiếp

1.2 Đặc điểm tâm sinh lý và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của học sinh lứa tuổi 15-17

a) Đặc điểm tâm lý học sinh lứa tuổi 15-17

Theo qui luật tự nhiên, mọi sinh vật không ngừng phát triển và thay đổi Con

người cũng vậy Kể từ khi chào đời, cơ thể bạn ngày ngày lớn lên, trí tuệ bạn ngày càng thêm sâu sắc Có một khoảng thời gian đặc biệt mà bạn có những bước phát triển nhảy vọt về cả thể chất lẫn tâm hồn, giai đoạn này kéo dài trong vài năm, biến các cô bé, cậu bé trở thành những cô gái, chàng trai Đây là giai đoạn rất quan trọng đánh dấu sự hình thành giới tính và nhân cách của mỗi con người Lứa tuổi học sinh 15-17 là lứa tuổi nằm trong giai đoạn cuối của sự phát triển dạy thì Lứa tuổi có nhiều sự thay đổi về tâm lý, sinh lý và sự phát triển hình thể

Song song với quá trình phát triển sinh lý thì tâm lý của lứa tuổi thanh thiếu niên phát triển vô cùng nhanh, nhận thức, nắm bắt cái mới ngay khi nó xuất hiện

Một đặc tính chung ở tuổi dậy thì là “ham muốn trở thành một người lớn” Các em

không còn cư xử như một đứa trẻ nữa Các em muốn được độc lập trong suy nghĩ

và hành động, muốn thử sức và khám phá những điều mới để khẳng định mình là người lớn

Trong quá trình hình thành và phát triển tâm lý ở lứa tuổi 15 - 17 điều kiện kinh tế xã hội có tác động rất lớn đến tâm sinh lý Vào những năm 80 của thế kỷ trước nước ta vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, mọi mặt đều bị thiệt hại nặng nề,

Trang 21

chưa phát triển về chiều cao, cân nặng,… Bên cạnh đó tư tưởng xã hội hoàn toàn thống nhất theo tư tưởng chủ nghĩa xã hội nên tuổi thanh thiếu niên cũng có tâm lý theo tâm lý chung

Vào những năm 90 của thế kỉ trước, nước ta có sự chuyển mình quan trọng, xóa bỏ bao cấp, xác định con đường phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tế có những bước phát triển nhất định, đã không còn cảnh đói

ăn, tư tưởng của toàn xã hội tự do hơn Khi đó cơ thể trẻ em độ tuổi thanh thiếu niên

đã phát triển hơn thời kỳ trước, các em có ý thức về hình dáng cơ thể mình, tâm lý nhận thức cũng phát triển mạnh hơn

Từ những năm 2000 trở đi, kinh tế phát triển mạnh mẽ, có những kết quả ban đầu tốt đẹp từ quá trình đổi mới kinh tế Xã hội ngày càng trở nên giầu có, không còn lo đến từng bữa ăn, các điều kiện thông tin giải trí, làm đẹp,… phát triển rầm

rộ Lứa tuổi 15 - 17 cũng phát triển sớm hơn, cơ thể các em đã gần hoàn thiện ở độ tuổi này, đã có những đường cong đẹp,… Các em có ý thức về cơ thể mình nhiều hơn, định hình tâm lý cũng nhanh và rất khác thế hệ trước Như ta thấy thời kỳ này

là thời kỳ bùng nổ của internet, các phương tiện truyền thông, các chương trình giải trí…Ở trên đó các em có một thư viện khổng lồ muôn vàn thông tin cả xấu cả tốt, cả đúng cả sai không có rào cản, không bị kiểm soát nên các em dễ bị ảnh hưởng, hình thành những nhân cách xấu nếu các em không đi đúng hướng Ở thời điểm này cần nhất là sự hướng dẫn, định hướng đúng đắn của gia đình, nhà trường, xã hội

Bước sang tuổi này, các chức năng tâm lý có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng hoạt động tư duy của thanh thiếu niên rất tích cực và có tính độc lập, có khả năng và rất ưa thích khái quát các vấn đề Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo Nhờ khả năng khái quát mà ở tuổi này có thể

tự mình phát hiện ra những cái mới Với các em điều quan trọng là cách thức giải quyết các vấn đề được đặt ra chứ không phải là loại vấn đề nào được giải quyết

Các em ở lứa tuổi này cảm nhận được các rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái "cái tôi" của mình Các em ý thức được các mối quan hệ giữa

Trang 22

các thuộc tính tâm lý và các phẩm chất nhân cách, có khả năng tạo được một hình ảnh “cái tôi" trọn vẹn và đầy đủ hơn để từ đó xây dựng các mối quan hệ với người khác và với chính mình Cái Tôi trong giai đoạn đầu của lứa tuổi 15 - 17 thường chưa thật rõ nét nên khi tự đánh giá về bản thân không ổn định và mâu thuẫn Nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với bạn bè đồng lứa phát triển mạnh ở lứa tuổi này đã thực hiện một chức năng quan trọng là giúp các em dần hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân chính xác hơn thông qua những cuộc trao đổi thông tin, trao đổi các đánh giá về các hiện tượng mà các em quan tâm Các em hay so sánh mình với người khác qua các đặc điểm bên ngoài Một hiện tượng rất thường gặp là học sinh cấp II, III là hay bắt chước thầy cô giáo mà họ yêu quý hay một hình mẫu lý tưởng nào đó mà họ chọn cho mình, từ cách ăn mặc, cử chỉ, dáng đi Do đó nếu biết giáo dục đúng cách các em sẽ có tâm lý ổn định, hình thành một nhân cách tốt Còn không giáo dục đúng các em sẽ dễ bị phát triển một cách lệch lạc, dẫn đến kết quả xấu như: học đòi hút thuốc lá, cáu kỉnh hỗn láo, sống bất cần và dễ mắc phải các tệ nạn xã hội Các em thích nổi bật, cá tính nên thường chọn những màu sặc sỡ, những gam màu nóng, những mẫu thời trang trẻ trung, năng động, các phụ kiện đi kèm độc đáo

Tâm lý các em phát triển nhanh như vậy nhưng nếu cách giáo dục lại quá chậm, không theo kịp cách suy nghĩ, hành động của các em Để gải quyết vấn đề này cần cái Tâm của toàn xã hội, trước hết là gia đình biết cách tôn trọng, trao đổi thẳng thắn với các em Các thầy cô giáo cần định hướng tư tưởng, không né tránh các câu hỏi khó của các em Xã hội cần có sự giáo dục, kiểm soát các yếu tố ảnh hưởng lớn tới các em như internet, điện thoại, các phương tiện truyền thông…

Riêng đối với lĩnh vực Dệt May, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng trang phục góp phần hình thành, giáo dục nhân cách, thẩm mỹ, văn hóa Về khía cạnh nhân cách, trang phục giúp các em tự tin, hòa đồng, thể hiện mình trong xã hội Thông qua trang phục sự giao tiếp trở nên dễ dàng hơn bởi nó thể hiện vị trí của người đối diện như thế nào so với mình Về mặt thẩm mỹ, trang phục đẹp cũng như

Trang 23

kết hợp hài hòa tính thẩm mỹ và sử dụng, có sự học hỏi các nét tinh hoa của thời trang thế giới nhưng không được phép hòa tan trong đó mà phải thể hiện được bản sắc riêng của người Việt, của nước Việt Khi đó trang phục mới thể hiện được hết vai trò giáo dục thẩm mỹ, tình cảm cho lứa tuổi 15 - 17 Do đó để giáo dục văn hóa mặc cho các em ngành May mặc cần đưa ra những kiểu trang phục hợp thời trang, gây hứng thú với sự nhanh nhậy của các em, góp phần hình thành xu hướng, phong cách thời trang riêng, không bị ảnh hưởng, pha trộn các yếu tố không hay của thời trang các nước khác

2

b) Đặc điểm sinh lý và tăng trưởng của học sinh lứa tuổi 15-17

Lứa tuổi 15-17 là tuổi qua thời kỳ trẻ em để trở thành người lớn Đó là giai đoạn biến đổi đặc biệt nhất, thay đổi cơ quan sinh dục, thay đổi kích thước cũng như hình dáng cơ thể Cơ quan sinh sản phát triển, các em sẽ cao hơn, hình dáng thay đổi từ ngực, da, lông, tóc, giọng nói…cùng rất nhiều những thay đổi của đặc điểm sinh lý khác Để dễ nhận biết từng thay đổi sinh lý đối với các em nam ở tuổi dậy thì, chúng ta cùng xem phần liệt kê dưới đây:

- Phát triển chiều cao

- Phát triển cân nặng

- Ngực phát triển ít

- Mọc đủ răng vĩnh viễn

- Thay đổi giọng nói, vỡ giọng (giọng trầm, ấm)

- Tăng tiết mồ hôi và chất nhờn

- Phát triển lông mu, mọc râu, lông nách, lông ngực, lông chân, lông tay

- Ngực và vai phát triển

- Cơ bắp, cơ cánh tay phát triển

- Tinh hoàn sản sinh ra tinh trùng, bắt đầu có hiện tượng xuất tinh tự phát

- Ngừng phát triển bộ xương sau khi hình thể đã hoàn thiện

Giai đoạn15-17 tuổi là giai đoạn cuối dậy thì Đặc điểm thời kỳ này là sức lớn về chiều cao vọt lên trong khi cân nặng tăng lên không nhiều Chiều cao tăng chủ yếu do chi dưới phát triển dài ra rất nhanh trong khi đó thân như bé và ngắn lại

Trang 24

làm cho các em có dáng rất gầy, mảnh khảnh, vụng về Trong giai đoạn này các em trai còn thấy những thay đổi khác bao gồm: núm vú sưng, đau; có lông mọc ở trên mặt và trên người; nổi yết hầu và vỡ giọng

Việc tăng thể tích tinh hoàn là dấu hiệu đầu tiên báo hiệu dậy thì, kế đến là dương vật phát triển, lông mu, lông nách, lông mặt, thân cũng phát triển kèm theo giọng nói trầm, mụn trứng cá, tăng khối cơ, phát triển tuyến tiền liệt, quầng vú Cuối cùng là sự xuất tinh là dấu hiệu quan trọng nhất đánh dấu tuổi dậy thì của các

em nam

Mọi sự tăng trưởng phát triển đều có sự ảnh hưởng của các cơ quan thuộc các hệ trong cơ thể như: hệ vận động, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp

* Hệ vận động: Hệ xương của các em đang trong giai đoạn phát triển mạnh

về chiều dài Hệ thống sụn tại các khớp đang đòi hỏi điều kiện tốt hơn để phát triển

và hoàn thiện Sự phát triển hệ xương cũng là một mốc đánh giá tuổi dậy thì, nghiên cứu xương cho thấy rõ sự trưởng thành chung của cơ thể hơn là tuổi thực, nó thường tiến triển song song với các đặc tính sinh dục phụ Đây là giai đoạn các em phát triển rất nhanh các kích thước chiều dài trên cơ thể cho nên khi thiết kế trang phục cho các em cần chú ý độ chênh lệch giữa các vóc sao cho phù hợp Cụ thể ở người trưởng thành khoảng cách giữa các vóc là 2cm thì ở lứa tuổi từ 15 – 17 khoảng cách này phải là 4 - 6cm Đây cũng là giai đoạn dễ phát sinh các dị tật của cột sống như gù, vẹo ….nếu các em không học tập và hoạt động đúng tư thế Hệ cơ của các em phát triển chậm hơn sự phát triển của hệ xương, hệ cơ chủ yếu phát triển

về chiều dài Do sự phát triển thiếu đồng bộ, thiếu cân đối nên các em không phát

huy được sức mạnh và chóng mệt mỏi

* Hệ tuần hoàn: tim phát triển chậm hơn so với sự phát triển của các mạch

máu, sức co bóp còn yếu khả năng điều hòa hoạt động của tim chưa ổn định nên hoạt động quá nhiều, quá căng thẳng sẽ chóng mệt mỏi Về mặt sinh lý, do phát triển quá nhanh về bề dọc mà ít về bề ngang Chính ở thời điểm này, trẻ em dễ thổn thức, cảm động

Trang 25

* Hệ hô hấp: Phổi và hệ cơ hô hấp của các em dần hoàn thiện nên khi làm

việc, vận động phải biết hít thở đúng cách mới có thể làm việc và hoạt động được lâu và có hiệu quả

c) Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển học sinh lứa tuổi 15-17

Tuổi 15-17 chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố, bởi đây là lứa tuổi vẫn còn nằm trong độ tuổi dậy thì Ảnh hưởng đến dậy thì bao gồm cả các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong

* Các yếu tố bên trong gồm:

+ Yếu tố giới tính Các em nam có thời điểm dậy thì xuất hiện chậm hơn so với các em gái Một số nghiên cứu đã cho thấy Nữ dậy thì sớm hơn nam khoảng 2 tuổi

+ Gia đình: tuổi dậy thì trong cùng một gia đình không hoàn toàn giống nhau, chỉ giống nhau hoàn toàn khi sinh đôi cùng trứng

+ Yếu tố di truyền: Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong việc khởi động tuổi dậy thì (điều này thấy rõ ở những người cùng chủng tộc), tuổi xuất hiện kinh nguyệt lần đầu thường giống nhau Ở Mỹ, các đặc tính sinh dục phụ, của các

em gái da trắng xuất hiện muộn hơn so với các em da đen

+ Yếu tố chủng tộc: Yếu tố này ảnh hưởng đến tuổi dậy thì ít hơn so với yếu

tố dinh dưỡng Ở các em gái thuộc vùng bắc và nam châu Âu, thời điểm xuất hiện kinh nguyệt khác nhau, các em gái ở Đức xuất hiện kinh nguyệt muộn hơn so với các em ở Rumani muộn hơn một năm

* Các yếu tố bên ngoài gồm:

+ Môi trường, khí hậu: trẻ ở vùng cao dậy thì xuất hiện muộn hơn vì giai đoạn phát triển dậy thì kéo dài hơn

+ Yếu tố chiến tranh: Những năm có chiến tranh hiện tượng xuất tinh của em trai xuất hiện muộn hơn

+ Các Stress: những trẻ ở các gia đình ly dị hoặc có mâu thuẫn thì kinh nguyệt lại xuất hiện sớm hơn những trẻ ở gia đình bình thường

Trang 26

+ Điều kiện sống, đặc biệt là điều kiện kinh tế, điều kiện dinh dưỡng (ăn uống đầy đủ chất, đầy đủ protein và vitamin) Các em gái thuộc tầng lớp gia đình khá giả thì thời điểm xuất hiện kinh nguyệt sớm hơn so với các em gái có thuộc tầng lớp có mức sống thấp, nhà nghèo, đông con

+ Môi trường học tập: Ở lứa tuổi này các em phải dành thời gian cho học tập, học cả thứ 7, chủ Nhật, học nhiều môn hơn những cấp học trước Do vậy hầu như các em không có thời gian hoạt động thể thao rèn luyện thể chất, vui chơi, giải trí

Tóm lại lứa tuổi 15-17 là lứa tuổi quá độ cũng là giai đoạn phát triển sinh động, các em phát triển đặc biệt mạnh mẽ, linh hoạt, toàn bộ nhân cách đang trên con đường “rẽ” vì vậy cá tính của các em có nhiều cái chưa bền vững và mong muốn thử sức mình theo các phương hướng khác nhau nên nhân cách của các em phức tạp hơn, nhiều mâu thuẫn hơn lứa tuổi trước đó Do vậy phải thường xuyên quan tâm, giáo dục cho phù hợp trên cơ sở dựa vào tính tích cực, phát huy sự sáng tạo, biết điều chỉnh và tổ chức hoạt động tạo điều kiện phát triển tốt khả năng của các em

1.3 Đặc điểm nhân trắc học phần dưới cơ thể nam

1.3.1 Đặc điểm nhân trắc người Việt Nam

Đặc điểm nhân trắc người Việt Nam khác với các nước trên thế giới Theo thống kê tổng hợp các chủng tộc trên thế giới, chiều cao bình thường của con người

là từ 135cm đến 190 cm Ngoài giới hạn này là bất thường Các nhà nhân loại học

đã xếp loại chiều cao của loài người nói chung thành ba loại: Loại thấp là dưới 160

cm, loại trung bình là từ 160cm đến 170cm và loại cao là trên 170 cm Nam giới Việt Nam có chiều cao trung bình 161.5 ± 5.3 cm (ở thời điểm năm 1986) hay 163.5

± 4.6 cm (ở thời điểm năm 1997) Như vậy, người Việt Nam có chiều cao cơ thể thuộc loại trung bình thấp của nhân loại

Năm 1982, cũng chính tác giả Nguyễn Quang Quyền, trong cuốn sách “ Những thông số sinh học người Việt Nam” đã đề xuất chỉ số đánh giá thể lực với QVC, dùng các đường vòng để thay thế cân nặng, thay thang phân loại Đối với hầu hết các chỉ số thể lực ở nam lứa tuổi 18 - 22, xây dựng công thức tính khối

Trang 27

công trình nghiên cứu của tác giả với cộng tác của PTSKH Y Dược Thẩm Hoàng Điệp, Lê Gia Vinh và một số đồng nghiệp khác tiến hành trong thời gian từ năm

1975 - 1980

Cuối năm 1986, nhờ những cố gắng bền bỉ của tập thể nhiều nhà khoa học cuốn “altlas nhân trắc học người Việt Nam trong các lứa tuổi lao động” do Võ Hưng làm chủ biên đã được xuất bản Cuốn sách này lần đầu tiên đã cung cấp khá đầy đủ các số liệu về hình thái cơ thể của người Việt Nam ở các lứa tuổi khác nhau và sống ở các vùng sinh thái khác nhau

Năm 1987, Trịnh Hữu Vách đã nghiên cứu các đặc điểm hình thái thể lực người Việt Nam từ tuổi 18 - 55, tác giả tiến hành đo đạc nhiều thông số trên 1670

nữ, 3972 nam và đưa ra được những kết luận so với thế giới nhìn chung người Việt Nam thuộc người thấp bé, nhẹ cân

1.3.2 Các dấu hiệu nhân trắc

Trang 28

Các số đo nhân trắc thường được tập hợp từ các kích thước: dài, rộng, vòng…Để lấy được các số đo một cách chính xác, người ta dựa vào các mỏm, mấu xương, khe khớp, các điểm huyệt như điểm ức cổ, các nếp tự nhiên như nếp lằn mông, các điểm cấu tạo như đầu vú, rốn…Các điểm đo có điểm dễ thấy, có điểm khó thấy, có điểm dễ sờ, có điểm khó sờ Để việc thu thập số liệu được thực hiện dễ dàng và chính xác nhằm hạn chế sai số trong quá trình đo đồng thời dựa vào một số mốc đo của bác sỹ Nguyễn Quang Quyền đưa ra các mốc đo nhân trắc cần thiết và dễ dàng xác định trực tiếp trên cơ thể người như sau Những mốc để lấy số đo phần dưới cơ thể nam được trình bày trong phụ lục1 và hình 1.1

b ) Kích thước cần đo ứng dụng trong nghiên cứu phần dưới cơ thể

Việc lựa chọn các thông số kích thước cơ bản để thiết kế quần công nghiệp

là một công việc hết sức quan trọng nó quyết định sự thành công của khâu thiết kế công nghiệp trong sản xuất quần áo công nghiệp Nếu đưa ra không đầy đủ thông

số kích thước thì không thể thiết kế được kiểu dáng quần có kết cấu đa dạng, phong phú, phù hợp với xu hướng thời trang đáp ứng cho người tiêu dùng Ngược lại nếu chọn lựa quá nhiều thông số kích thước, giúp cho việc thiết kế công nghiệp càng chính xác, càng thuận lợi và đa dạng mẫu mã sản phẩm may, đồng thời thỏa mãn được yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng, nhưng nó lại tốn nhiều thời gian công sức, kinh phí nghiên cứu, thu thập số liệu bằng phương pháp đo trực tiếp, dẫn đến không có hiệu quả kinh tế trong sản xuất may công nghiệp Vì vậy câu hỏi đặt ra là phải chọn lựa bao nhiêu thông số kích thước nhân trắc để thiết kế công nghiệp có hiệu quả nhất, điều này phụ thuộc vào:

- Hình dáng cơ thể người

- Kết cấu sản phẩm đa dạng mà nhà thiết kế đưa ra

- Phương pháp thiết kế quần áo của mỗi nước

Chúng ta không chỉ lựa chọn các kích thước phục vụ cho thiết kế sản phẩm

mà còn các kích thước phục vụ cho thiết kế chi tiết và so sánh tạo dáng sản phẩm Tổng hợp tất cả các yếu tố trên là cơ sở để chúng ta có thể đi đến quyết định lựa

Trang 29

hơn việc chọn lựa số lượng thông số kích thước ta có thể tham khảo một số kích thước cơ bản thiết kế công nghiệp của các nước được xây dựng trên cơ sở hình dáng cơ thể, kết cấu từng loại sản phẩm và phương pháp thiết kế riêng của từng nước

* Các kích thước phần dưới cơ thể ứng dụng nghiên cứu trong thiết kế quần áo

- Các kích thước cơ bản thiết kế quần áo công nghiệp của Úc: Bao gồm 17 kích thước ( phụ lục 2)

- Các kích thước cơ bản thiết kế quần áo công nghiệp của Nga: Bao gồm

và tạo dáng cho sản phẩm Việc quyết định lựa chọn các thông số kích thước cần thiết để đáp ứng cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài cũng là một vấn đề không kém phần quan trọng vì các số đo không chỉ phục vụ cho công việc thiết kế quần

áo đơn thuần mà còn sử dụng cho việc nghiên cứu đặc điểm hình dáng cơ thể phần dưới học sinh nam 15 -17 tuổi

1 3.3 Đặc điểm chung các bộ phận phần dưới cơ thể nam

Ở phần dưới cơ thể nam, các bộ phận như bụng, mông, chân giữ vai trò quan trọng trong việc định hình cụ thể dáng vóc của một người Quan sát hình dáng phần thân dưới cơ thể người trong không gian ở các phương khác nhau sẽ cho kết quả cụ thể khi nhìn thẳng, nhìn nghiêng như sau:

Trang 30

* Khi nhìn thẳng từ mặt trước và mặt sau: độ nhô ra của các điểm phần

dưới cơ thể người được thể hiện như sau:

- Nhìn từ hình vẽ phía trước của cơ thể cho thấy rõ các điểm uốn cong của cơ thể ở sườn eo đến mông và phần lõm đầu gối hình 1.2)

- Bụng: quan sát theo cách này kết quả như sau: bụng trên phẳng và nhìn thấy vị trí rốn Bụng dưới đối với người gầy thì phẳng và lép như bụng trên còn đối với người béo thì hơi nhô về phía trước

- Mông: Khi quan sát mặt trực diện phía trước cơ thể ta thấy đường viền hai bên hông có dạng đường cong lồi, vị trí lồi nhất tương ứng với vị trí mông to nhất của cơ thể

- Chân: được nối từ bụng mông và bao gồm các phần đùi, đầu gối, cẳng chân

và bàn chân

Hình 1.2 Hình vẽ mặt trước và mặt sau cơ thể nam

* Khi nhìn từ mặt nghiêng mặt trước và mặt sau: độ nhô ra của các điểm

phần dưới cơ thể nam như sau: (hình 1.3)

- Đường viền phía trước phần dưới cơ thể: từ dưới ngực xuống đến giữa đùi gần như là đường nghiêng Đầu gối nhô về phía trước phần cẳng chân có dáng thẳng đứng

Trang 31

- Hình dáng phía sau phần dưới cơ thể: độ nhô cao nhất là ở vị trí giữa mông Đồng thời ở vị trí vùng thắt lưng có độ võng hướng về phía trước cơ thể tạo ra sự uyển chuyển của cơ thể nam Ở vị trí sau gối có độ lõm hướng về phía trước, bắp chân có hướng cong lồi về phía sau

- Độ nhô ra hay võng vào của phía trước và sau cơ thể nam tạo ra những đường cong săn chắc khoẻ mạnh đặc trưng của cơ thể nam và là khác biệt khá rõ rệt đối với cơ thể nữ

- Đồng thời dựa vào mặt nghiêng của cơ thể cho thấy rõ các điểm uốn cong lồi lõm của cơ thể ở các vị trí chủ đạo như: bụng - mông - thắt lưng, giúp cho việc phân loại của chính cơ thể nam cũng dễ dàng hơn

Hình 1.3 Hình vẽ nhìn thẳng và nhìn nghiêng cơ thể nam

* Đặc điểm chung phần bụng cơ thể nam ( hình 1.4)

Hình 1.4 Đặc điểm hình dáng và cấu tạo cơ bụng cơ thể nam

1 Cơ chéo bụng ngoài 2 Cơ thẳng bụng

3 Cơ chéo bụng trong 4 Đường trắng

Trang 32

- Bụng có cấu gồm ba cơ ở phía bên xếp thành ba lớp từ nông đến sâu: cơ chéo bụng ngoài, cơ chéo bụng trong và cơ ngang bụng; hai cơ ở phía trước, giữa bụng

là cơ thẳng bụng và cơ tháp Hai phần phải và trái của thành bụng trước gặp nhau ở đường giữa là đường trắng đi từ mũi ức đến xương mu Tác dụng của các cơ thành bụng trước bên là bảo vệ các tạng trong ổ bụng, làm tăng áp lực trong ổ bụng khi

các cơ cùng co, giúp giữ vững tư thế, cử động thân mình

- Bụng là bộ phận không kém phần quan trọng trên cơ thể con người Tùy theo mỗi dạng người mà hình dáng bụng có khác nhau Phần bụng lưng có dạng

phẳng hoặc hơi võng về phía trước khi nhìn chính diện

- Sự phát triển của bụng liên quan đến độ gầy béo cơ thể người Hình dáng của bụng ảnh hưởng trực tiếp tới hình dáng chung của cơ thể và có ảnh hưởng rất lớn đến việc thiết kế các sản phẩm quần áo, cụ thể xác định kích thước rộng ngang cạp quần Ở học sinh nam lứa tuổi 15 – 17 phần lớn các em chưa phát triển hoàn toàn về hệ cơ Các em ở tuổi này có nhiều hoạt động nên các em có phần bụng thon nhỏ do chưa có lượng mỡ dư thừa

* Đặc điểm chung phần mông cơ thể nam (hình 1.5)

Hình 1.5 Đặc điểm hình dáng và cấu tạo cơ mông , xương chậu cơ thể nam Mông do nhiều bộ phận tạo thành, trong đó không thể không kể tới đó là phần xương chậu và cơ mông Hai bộ phận này trực tiếp cấu tạo nên mông và quyết định hình dáng mông

+ Xương chậu: có dạng khép kín gồm xương cánh chậu và xương cùng khớp với nhau tạo thành Xương chậu của nữ khác với xương chậu của nam Xương chậu

Trang 33

của nữ thấp, rộng, dẹp và đổ về phía trước nhiều hơn đối với xương chậu của nam

Vì vậy mông của nữ thường to , thấp hơn mông của nam

+ Cơ mông: Vùng mông là một vùng có nhiều mạch máu và thần kinh quan trọng từ chậu hông đi qua để xuống chi dưới Các cơ vùng mông gồm hai nhóm có chức năng khác nhau Loại cơ chậu mấu chuyển gồm các cơ: cơ căng mạc đùi, cơ mông lớn, cơ mông nhỡ, cơ mông bé và cơ hình lê Ðây là những cơ duỗi dạng và xoay đùi Loại cơ ụ ngồi xương mu mấu chuyển gồm các cơ: cơ bịt trong, cơ sinh đôi, cơ vuông đùi và cơ bịt ngoài Các cơ này có động tác chủ yếu là xoay ngoài đùi

Mông là bộ phận điển hình thể hiện sự khác biệt giữa cơ thể nam và nữ Đồng thời nó cũng là bộ phận được đánh giá là phát triển nhất ở phần dưới cơ thể nam, phần cơ mông nhô cao dưới lớp da Mông to hay nhỏ, cao hay thấp là phụ thuộc vào thể tạng của cơ thể gầy hay béo

Hình dáng, kích thước, vị trí của mông có ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định vị trí ngang mông và kích thước rộng thân quần

* Đặc điểm chung phần chân cơ thể nam

- Phần đùi (hình 1.6)

Hình 1.6 Đặc điểm hình dáng cơ và xương đùi cơ thể nam

1 Cơ thắt lưng chậu 2 Cơ may 3 Cơ tứ đầu 4 Cơ khép dài

5 Cơ lược 6 Cơ khép ngắn 7 Cơ khép lớn

8 Cơ bán gân 9 Cơ bán màng 10 Cơ nhị đầu đùi + Ðùi được giới hạn phía trên bởi nếp lằn bẹn ở phía trước và lớp lằn mông ở phía sau Đùi do nhiều thành phần tạo nên trong đó không thể không kể tới đó là

Trang 34

phần xương đùi và cơ đùi Hai thành phần này trực tiếp cấu tạo nên đùi và quyết định hình dáng đùi Các cơ đùi được được chia thành hai vùng:

Cơ vùng đùi trước gồm hai khu cơ: khu cơ trước là khu gấp đùi và duỗi cẳng chân gồm cơ tứ đầu dùi, cơ may và cơ thắt lưng chậu, chủ yếu do dây thần kinh đùi chi phối vận động động tác duỗi cẳng chân, riêng cơ thẳng đùi còn giúp gấp đùi;

khu cơ trong là khu khép đùi gồm cơ lược cơ thon và 3 cơ khép là cơ khép dài, khép ngắn và khép lớn có nhiệm vụ khép đùi do dây thần kinh bịt chi phối vận động

Các cơ vùng đùi sau: gồm ba cơ ụ ngồi cẳng chân là cơ bán màng, bán gân

và cơ nhị đầu đùi có nhiệm vụ duỗi đùi và gấp cẳng chân Dây thần kinh chi phối cho các cơ vùng đùi sau là các nhánh của dây thần kinh ngồi

+ Hình dáng đùi phụ thuộc vào xương đùi, sự phát triển của các cơ đùi và cấu trúc của lớp gân phủ ngoài cơ bốn đầu cũng có ảnh hưởng đến hình thái bắp đùi

- Đầu gối (hình 1.7)

Hình 1.7 Đặc điểm hình dáng cấu tạo cơ và xương đầu gối + Hình dáng của chân bị ảnh hưởng nhiều bởi độ lõm gối là khoảng cách từ

mặt phẳng sau từ đường ngang gối đến thước đo và khoảng cách giữa 2 đầu gối Độ

lõm gối càng lớn thì chân có xu hướng bị đưa ra phía trước nhiều hơn và mông bị

Trang 35

đẩy về phía sau Khoảng cách giữa 2 gối càng nhiều thì chân càng bị choãi về hai phía nhiều

- Cẳng chân (hình 1.8)

Hình 1.8 Hình dáng cấu tạo cơ và xương cẳng chân

1 Cơ chày trước 2 Cơ duỗi các ngón dài 3 Cơ duỗi dài ngón cái

4 Cơ tam đầu 5 Cơ mác dài 6 Cơ mác ba

+ Hình dáng cẳng chân phụ thuộc vào xương cẳng chân và sự phát triển của các cơ cẳng chân Cẳng chân được giới hạn phía trên bởi đường vòng qua dưới lồi

củ chày, ở phía dưới bởi đường vòng qua hai mắt cá Các cơ vùng cẳng chân được chia thành hai vùng:

Các cơ vùng cẳng chân trước: do dây thần kinh mác chung chi phối vận động

có nhiệm vụ duỗi ngón chân, xoay ngoài bàn chân và gấp mu bàn chân Các cơ này được chia thành hai khu: Cơ khu cơ trước: do dây thần kinh mác sâu chi phối vận động Các cơ là cơ chày trước, cơ duỗi ngón cái dài, cơ duỗi các ngón chân dài và

cơ mác ba Cơ khu ngoài: gồm hai cơ: cơ mác dài, cơ mác ngắn do dây thần kinh mác nông chi phối vận động

Các cơ vùng cẳng chân sau: do dây thần kinh chày chi phối vận động có nhiệm vụ chính là gấp ngón chân, gấp gan bàn chân và xoay trong bàn chân Các cơ được chia làm 2 lớp bởi mạc cẳng chân sâu Lớp nông: cơ tam đầu cẳng chân và cơ

Trang 36

gan chân Lớp sâu: cơ khoeo, cơ gấp ngón cái dài, cơ chày sau và cơ gấp các ngón chân dài

+ Chân là bộ phận có tầm hoạt động rộng hơn các bộ phận như: bụng, mông

và có vai trò to lớn trong việc vận động Sự phát triển của chân phụ thuộc vào xương đùi, xương cẳng chân, các cơ chân và sự lao động, tập luyện của mỗi người Chân quan sát từ phía trước sẽ nhìn thấy phần đầu gối nhô ra phân định giữa phần đùi và cẳng chân Hình dáng chân có liên quan trực tiếp tới việc thiết kế ống quần:

cụ thể xác định kích thước chiều rộng và chiều dài ống quần

1.4 Phương pháp nghiên cứu

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu cắt dọc và phương pháp nghiên cứu cắt ngang

Trong nghiên cứu nhân trắc học có hai phương pháp nghiên cứu chủ yếu,

đó là phương pháp nghiên cứu cắt dọc và phương pháp nghiên cứu cắt ngang

* Phương pháp nghiên cứu cắt dọc

Phương pháp nghiên cứu dọc hay còn gọi là phương pháp nghiên cứu cá thể (longitudinal method)

Tiến hành nghiên cứu trên một nhóm người cùng tuổi và theo dõi các đặc điểm nghiên cứu của các đối tượng trong nhóm, theo từng năm một, trong suốt thời gian dài liên tục nhiều năm

- Ưu điểm của phương pháp này: Số lượng đối tượng nghiên cứu có thể ít hơn so với phương pháp nghiên cứu ngang và làm nổi bật ra được các đặc điểm của các quy luật phát triển cá thể, cho phép đánh giá tốc độ tăng trưởng trong quá trình lớn và phát triển từ lúc mới sinh ra cho đến lúc trưởng thành

- Nhược điểm của phương pháp này: Rất khó thực hiện vì mất thời gian dài trong nhiều năm để theo dõi, đòi hỏi người nghiên cứu phải kiên trì và nhẫn nại Đồng thời các đối tượng đo dễ bị phân tán vì thời gian kéo dài

* Phương pháp nghiên cứu cắt ngang

Phương pháp nghiên cứu ngang hay còn gọi là phương pháp nghiên cứu

tổng quát (cross sectional method)

Trang 37

Tiến hành nghiên cứu trên các nhóm người có lứa tuổi khác nhau (mỗi một lứa tuổi là 1 nhóm) trong cùng một thời điểm nhất định

- Ưu điểm của phương pháp này: Có thể thực hiện được nhanh, ít tốn thời gian, không cần đợi thời gian theo dõi

- Nhược điểm của phương pháp này: Số đối tượng nghiên cứu cần phải nhiều hơn phương pháp nghiên cứu dọc, để các nhận xét thống kê đủ độ tin cậy

Trong ngành may thường lựa chọn phương pháp điều tra cắt ngang Ở luận văn này tôi lựa chọn phương pháp điều tra cắt ngang vì phương pháp này thực hiện nhanh và tốn ít thời gian

1.4.2 Xác định số lượng mẫu nghiên cứu

* Những nguyên tắc chọn mẫu

Trước hết ta cần phải hiểu được mẫu là một tập hợp mẫu, hoặc gọi tắt là mẫu Nó đại diện cho toàn bộ đối tượng cùng loại dùng trong nghiên cứu gọi là quần thể, tổng thể hay đám đông

Việc chọn mẫu nghiên cứu cực kỳ quan trọng, nó quyết định tính hiệu quả của công trình nghiên cứu Vấn đề cốt yếu là phải chọn mẫu thế nào để đảm bảo được tính đại diện của nó, cho nên mẫu được chọn phải tuân theo nguyên tắc cơ bản

đó là tính thuần nhất Mẫu đo phải tương đối thuần nhất, mức độ thuần nhất tùy theo tình hình nghiên cứu Mẫu càng thuần nhất nếu càng đảm bảo các điều kiện sau:

- Cùng chủng: Như ta muốn đo chiều cao thanh niên Việt Nam, để có kết luận chính xác thì phải thống kê riêng các số đo ở từng dân tộc: người Kinh,Tày, Nùng, Thái…

- Cùng điều kiện xã hội, hoàn cảnh địa lý và nghề nghiệp

- Cùng giới tính

- Cùng tuổi: Vì sự phát triển về hình thái và thể lực ở các lứa tuổi không giống nhau Ở đây vấn đề cùng tuổi phải hiểu một cách tương đối như: Ở người trưởng thành, ngoài 25 tuổi trở đi, việc xếp vào từng nhóm năm một có thể không thật cần thiết, vì các kích thước tương đối đã ổn định nên xếp theo nhóm từng 10 năm một, từ 8 đến 25 xếp theo nhóm từng năm một Nhưng đối với các tuổi rất nhỏ

Trang 38

từ 3 đến 7 tuổi, việc xếp theo nhóm từng năm một lại chưa đủ thuần nhất mà phải xếp nhóm từng 6 tháng một vì các kích thước thay đổi rõ ràng từng 6 tháng một Đối với trẻ từ 1 đến 3 tuổi thì lại có thể xếp theo nhóm 3 tháng một, đối với tuổi từ

1 tháng đến 1 năm thì phải sắp xếp theo nhóm từng 45 ngày một, và đối với trẻ từ

sơ sinh đến 1 tháng thì có thể lại phải xếp nhóm theo 15 ngày một

Đối tượng càng thuần nhất sẽ cho ta số liệu chính xác hơn, giúp ta càng kết luận được đầy đủ hơn, cụ thể hơn

* Phương pháp chọn mẫu

- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn: Để chọn một mẫu có n đối tượng từ một

khung mẫu có N đối tượng, ta đánh số tất cả N đối tượng theo những số thứ tự từ 1 đến N Bốc thăm hoặc dùng bảng số ngẫu nhiên để chọn cho đến khi đủ n con số ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến N Mỗi đơn vị chọn mẫu mang số thứ tự tương ứng với một số ngẫu nhiên sẽ được chọn Mỗi lần chọn, mỗi đối tượng chưa được chọn trước đó đều có cơ hội được chọn bằng nhau

+ Ưu điểm của chọn mẫu ngẫu nhiên đơn:Đơn giản, nền tảng xác suất là cơ

sở để so sánh với những kỹ thuật chọn mẫu khác

+ Nhược điểm của chọn mẫu ngẫu nhiên đơn: khung mẫu phải đánh số, thời gian và kinh phí cao nếu N lớn; đặc trưng nhóm có thể bị bỏ sót, ít dùng, mẫu được chọn có thể phân tán, do đó việc thu thập dữ liệu sẽ khó khăn

- Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống: N đối tượng trong khung mẫu được đánh

số thứ tự từ 1 đến N Để chọn mẫu gồm n đối tượng, chia khung mẫu làm n nhóm, mỗi nhóm gồm k đối tượng, với k= n

N

Chọn một số ngẫu nhiên trong khoảng từ

1→ k, ví dụ i là số ngẫu nhiên được chọn, như vậy những đối tượng được chọn vào mẫu nghiên cứu sẽ có số thứ tự lần lượt trong khung mẫu là i, [i+k], [i+2k],…, [i+(n-1)k]

+ Ưu điểm của chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống: Có thể được sử dụng thay thế chọn mẫu ngẫu nhiên đơn khi không có khung mẫu chính xác; có tính đại diện

Trang 39

cao hơn mẫu “Ngẫu nhiên đơn” vì những đơn vị chọn mẫu được chọn rải đều trong khung mẫu

+ Nhược điểm của chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống: không thích hợp khi khảo sát các đặc trưng có tính chu kỳ

- Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng: Dân số chung (N) được chia thành

nhiều dân số nhỏ, mỗi một dân số nhỏ được gọi là tầng Tầng hình thành dựa trên hiểu biết về đặc trưng trong dân số có liên quan tới biến số nghiên cứu Cá thể trong tầng càng đồng nhất càng tốt Mỗi tầng được coi là một dân số và có thể dùng cách chọn mẫu ngẫu nhiên đơn hoặc hệ thống để chọn mẫu từ mỗi tầng Để đạt được kết quả tối ưu của sự phân tầng, cỡ dân số của mỗi tầng phải được chia tỉ lệ

Gọi: Ni là dân số của tầng i

n là cỡ mẫu

ni là số đối tượng được chọn từ tầng i thì

n

n N

m =

n

tσ ⇒ n = 2 2

2

*

t m

σ (1.1)

Những ưu điểm của kỹ thuật chọn mẫu phân tầng: Những số thống kê tính được từ mẫu phân tầng có độ chính xác cao hơn so với những kết quả tương ứng từ một mẫu ngẫu nhiên đơn cùng cỡ; có thể biết được những hình ảnh của từng tầng

Nhược điểm là cần phải thiết lập khung mẫu chi tiết của từng tầng

- Chọn mẫu cụm: Dân số nghiên cứu được chia ra làm nhiều cụm tách biệt,

theo đặc tính địa phương hoặc thời gian, các cụm không đồng nhất với nhau càng tốt Kỹ thuật chọn mẫu cụm thường gồm 2 bậc:

Chọn cụm từ một khung mẫu với những đơn vị chọn mẫu là cụm

Trang 40

Chọn những đơn vị liệt kê từ những cụm đã được chọn ra từ bước 1

+ Ưu điểm của kỹ thuật chọn mẫu cụm: Chỉ cần khung mẫu chi tiết cho bước

kế chót, do đó, tiết kiệm được thời gian và công sức; trong những nghiên cứu bao phủ một không gian lớn, mẫu cụm có tính kinh tế và khả thi cao

+ Nhược điểm là với cùng một cỡ mẫu, những số thống kê tính được từ mẫu cụm kém chính xác so với những số tương ứng từ mẫu ngẫu nhiên đơn, do đó để khắc phục cần một cỡ mẫu lớn hơn

* Những kỹ thuật chọn mẫu không xác suất: Mẫu được chọn thường dễ

phạm vào những sai lệch, không có tính đại diện, và không có cơ sở toán học để xác định độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, vì vậy khi chọn mẫu không xác suất cần

phải chú ý đến những yếu tố kĩ thuật sau đây:

1 Chọn mẫu tiếp liền nhau: Chọn số mẫu đủ tiêu chuẩn trong một thời khoảng

2 Chọn mẫu tiện ích: Chọn mẫu sẵn có

3.Chọn mẫu suy xét: Chọn mẫu cho là phù hợp với nghiên cứu

1.4.3 Các phương pháp đo

Các phương pháp đo: Bao gồm

* Phương pháp đo trực tiếp: Đo trực tiếp là sử dụng các dụng cụ đo

như thước dây, thước đo chiều cao và một số dụng cụ phụ trợ để giới hạn các mốc

đo, tiếp xúc trực tiếp vào cơ thể và cho ra là các kết quả trực tiếp

* Phương pháp đo gián tiếp: Đo gián tiếp là không đưa trực tiếp

dụng cụ vào kích thước cần đo mà kết quả cần xác định hoặc được tính toán gián tiếp dựa trên các kết quả trực tiếp, hoặc là đo bằng các tia, các máy chụp chiếu trắng hiện đại Thực hiện tính toán xử lý số liệu các kích thước bằng máy tính trong một chu trình khép kín nên việc ứng dụng nhân trắc để xây dựng hệ thống cỡ số càng có những bước tiến vượt bậc và cho kết quả cực kỳ chính xác và rất nhanh Hiện nay phương pháp đo gián tiếp bằng máy 3D trở nên thông dụng Ta có thể dùng buồng

đo hoặc thiết bị đo như ở hình 1.9 và hình 1.10

Ngày đăng: 23/02/2021, 17:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w