Bên cạnh đó, hiện nay tài nguyên thiên nhiên TNTN và sinh cảnh của hồ Ba Bể đang phải đối mặt với một số thách thức đáng báo động, bao gồm: i Khai thác tài nguyên thiếu bền vững, trong đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Ngân Ngọc Vỹ
QUẢN LÍ BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN
ĐẤT NGẬP NƯỚC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
KHU VỰC HỒ BA BỂ
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS Lê Diên Dực
2 TS Tạ Đình Thi
HÀ NỘI - NĂM 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các kết quả nghiên cứu tham khảo của các tác giả khác đã được trích dẫn đầy đủ trong luận án
Tác giả luận án
Ngân Ngọc Vỹ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng tri ân và kính trọng đến PGS.TS Lê Diên Dực, TS Tạ Đình Thi, hai người Thầy đã trực tiếp hướng dẫn Nghiên cứu sinh hoàn thành Luận án tiến sĩ
Luận án không thể hoàn thành nếu như nghiên cứu sinh không nhận được sự cho phép, tạo điều kiện, động viên và giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo và đồng nghiệp Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Vụ Tổ chức cán bộ, Cục Biến đổi khí hậu, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường, nơi nghiên cứu sinh đã và đang công tác
Trong quá trình thực hiện luận án, nghiên cứu sinh cũng nhận được rất nhiều
sự động viên, giúp đỡ từ thầy, cô, đồng nghiệp, cơ quan và bạn bè, nghiên cứu sinh xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ đầy ý nghĩa và quý báu đó
Luận án được hoàn thành tại Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến lãnh đạo Viện, đặc biệt là PGS.TS, Lưu Thế Anh, Viện trưởng, TS Võ Thanh Sơn, Phó Viện trưởng, các thầy cô, các cán bộ và các bạn đồng nghiệp của Viện đã giúp đỡ và động viên nghiên cứu sinh trong quá trình hoàn thành luận án
Nghiên cứu sinh cũng xin chân thành cảm ơn: UBND tỉnh Bắc Kạn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn, Ban quản lí Vườn Quốc gia Ba Bể, UBND huyện Ba Bể, UBND xã Nam Mẫu đã giúp tôi tiếp cận và cung cấp thông tin tài liệu liên quan đến luận án
Bên cạnh đó, để hoàn thành luận án, không thể không nhắc đến sự tham vấn ý kiến, cung cấp những thông tin quý giá từ các bên liên quan như các nhà quản lí, các nhà khoa học, các doanh nghiệp và người dân địa phương thuộc phạm vi nghiên cứu tại khu Ramsar Ba Bể, xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Trang 5Cuối cùng, nghiên cứu sinh muốn bày tỏ lòng tri ân và kính trọng đến những người thân trong gia đình: bố, mẹ, vợ, các con và các anh chị em đã động viên, chia
sẻ và giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu của nghiên cứu sinh
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Ngân Ngọc Vỹ
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Các câu hỏi nghiên cứu chính 3
4 Luận điểm bảo vệ của luận án 3
5 Điểm mới của luận án 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 4
7 Bố cục của luận án 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CỞ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu về quản lí bền vững đất ngập nước 6
1.1.2 Các nghiên cứu về quản lí và sử dụng đất ngập nước dựa vào cộng đồng 9
1.1.3 Các nghiên cứu về tác động của du lịch tới môi trường của khu bảo tồn (KBT) và vườn quốc gia (VQG) 12
1.1.4 Các nghiên cứu về tri thức bản địa trong quản lí và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên 16
1.1.5 Tổng quan về chính sách quản lí và bảo tồn ĐNN của Việt Nam 17
1.2 Cơ sở lý luận 19
1.2.1 Một số khái niệm liên quan của luận án 19
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của quản lí bảo tồn dựa vào cộng đồng 35
Trang 71.2.3 Tri thức bản địa trong quản lí tài nguyên ĐNN 37
Tiểu kết Chương 1 40
CHƯƠNG 2 ĐỊA BÀN, CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.41 2.1 Địa bàn, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 41
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 41
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu, khảo sát 52
2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 53
2.2 Cách tiếp cận nghiên cứu 56
2.2.1 Tiếp cận hệ sinh thái (tiếp cận HST) 56
2.2.2 Tiếp cận dựa vào cộng đồng 57
2.3 Phương pháp nghiên cứu 62
2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu, số liệu thứ cấp 62
2.3.2 Phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal) 62
2.3.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế 66
2.3.4 Quy trình thực hiện luận án 70
Tiểu kết chương 2 72
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 73
3.1 Hiện trạng và tầm quan trọng của tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể 73
3.1.1 Hiện trạng và tầm quan trọng đối với lĩnh vực kinh tế 73
3.1.2 Hiện trạng và tầm quan trọng đối với lĩnh vực văn hóa xã hội 86
3.1.3 Hiện trạng và tầm quan trọng đối với lĩnh vực môi trường 95
3.2 Thực trạng trong quản lí tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể 101
3.2.1 Các chính sách quản lí tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể 101
3.2.2 Bất cập trong quản lí và sử dụng tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể 108
3.2.3 Bất cập trong nhận thức của cán bộ và người dân về sử dụng bền vững ĐNN khu vực hồ Ba Bể 115
3.2.4 Các bên liên quan và mức độ quan tâm, ảnh hưởng đối với tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể 116 3.2.5 Đánh giá chung về bất cập trong công tác quản lí và sử dụng tài nguyên
Trang 8ĐNN khu vực hồ Ba Bể 126
3.3 Các giải pháp quản lí bền vững ĐNN dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể .128
3.3.1 Đề xuất các giải pháp quản lí bền vững ĐNN dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba bể 128
3.3.2 Phương án triển khai thực hiện các giải pháp 132
3.3.3 Mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng 133
3.3.4 Đảm bảo tính hợp lý về sinh thái và phát triển bền vững trong quá trình phát triển và nhân rộng mô hình 145
3.3.5 Tôn trọng và phát huy vai trò và các giá trị tích cực của tri thức bản địa 146 3.3.6 Đảm bảo và tăng cường bình đẳng giới 146
Tiểu kết Chương 3 147
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 148
Kết luận 148
Khuyến nghị 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO 151
PHỤ LỤC 167
PHỤ LỤC 1 Mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn 167
PHỤ LỤC 2 Kết quả điều tra thực địa 196
PHỤ LỤC 3 Bảng 6 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến hồ Ba Bể 207
PHỤ LỤC 4 Hương ước thôn Khau Qua, xã Nam Mẫu 209
PHỤ LỤC 5 Hình 3 Tri thức bản địa: Thuyền độc mộc và nhà sàn khu vực hồ Ba Bể221 PHỤ LỤC 6 Bảng 7 Danh sách các cán bộ được điều tra, phỏng vấn tại địa phương 223
PHỤ LỤC 7 Bảng 8 Danh sách 182 hộ tham gia điều tra, phỏng vấn 225 PHỤ LỤC 8 Bảng 9 Danh sách các cán bộ được điều tra, phỏng vấn tại Trung
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
trọng quốc tế
quyền sở hữu trí tuệ
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Vai trò của các bên liên quan trong quản lí bền vững ĐNN ở Tanzania 7
Bảng 1.2 Các loại hình đất ngập nước theo Công ước Ramsar 21
Bảng 1.3 Phân loại các kiểu ĐNN nội địa của Việt Nam 22
Bảng 1.4 Các dịch vụ hệ sinh thái do đất ngập nước cung cấp 23
Bảng 2.1 Phân bố diện tích thảm thực vật rừng VQG Ba Bể (đơn vị: ha) 45
Bảng 2.2 Tổng hợp tài nguyên thực vật VQG Ba Bể 46
Bảng 2.3 Thống kê các lớp động vật VQG Ba Bể 47
Bảng 2.4 Các loài bị đe dọa ở cấp độ toàn cầu ghi nhận tại khu vực 48
Bảng 2.5 Tổng hợp các đợt điều tra khảo sát thực tế 67
Bảng 2.6 Phiếu điều tra phân bố theo khu vực và đối tượng điều tra 69
Bảng 3.1 Phân bố các hộ có đất bãi soi và có ao nuôi cá tại 4 thôn Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù, và Bản Cám 74
Bảng 3.2 Lịch thời vụ của nông dân 6 thôn Pác Ngòi, Cốc Tộc, Bó Lù, và Bản Cám ven hồ Ba Bể 74
Bảng 3.3 Diện tích và sản lượng lúa của khu vực nghiên cứu năm 2016 75
Bảng 3.4 Diện tích và sản lượng ngô vụ xuân 2016 của khu vực nghiên cứu 76
Bảng 3.5 Diện tích và sản lượng ngô vụ mùa 2016 của khu vực nghiên cứu 77
Bảng 3.6 Diện tích và sản lượng các cây trồng khác 2016 của khu vực nghiên cứu 77
Bảng 3.7 Diện tích và sản lượng đậu tương và đậu các loại năm 2016 của khu vực nghiên cứu 78
Bảng 3.8 Số lượng gia súc, gia cầm của khu vực nghiên cứu năm 2016 79
Bảng 3.9 Diện tích giao khoán bảo vệ rừng đặc dụng của khu vực nghiên cứu 80
Bảng 3.10 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản 2016 của khu vực nghiên cứu 81
Bảng 3.11 TTBĐ trong trồng trọt 89
Bảng 3.12: Thời vụ khai thác các loại cá trên hồ Ba Bể 89
Bảng 3.13 TTBĐ trong lĩnh vực thủy lợi, thủy sản 90
Bảng 3.14 TTBĐ trong lĩnh vực lâm nghiệp/bảo vệ rừng 91
Trang 11Bảng 3.15 Các loại rau rừng và công dụng 92
Bảng 3.16 TTBĐ trong lĩnh vực thời tiết 93
Bảng 3.17 Tầm quan trọng của TTBĐ trong các lĩnh vực 94
Bảng 3.18 Tỷ lệ phân công lao động theo giới tính 95
Bảng 3.19 Các dịch vụ hệ sinh thái do ĐNN hồ Ba bể cung cấp 96
Bảng 3.20 Vai trò cung cấp các giá trị dịch vụ hệ sinh thái do ĐNN hồ Ba Bể cung cấp 101
Bảng 3.21 So sánh hiện trạng quản lí đất ngập nước tại khu vực hồ Ba Bể với 5 nguyên tắc tiếp cận dựa vào cộng đồng 107
Bảng 3.22: Các mối đe dọa lớn nhất làm suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường tại khu vực hồ Ba Bể 109
Bảng 3.23 16 bên liên quan trực tiếp trong quản lí và sử dụng ĐNN khu vực hồ Ba Bể 122
Bảng 3.24 Sự tham gia của các bên liên quan vào mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể 136
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Số lượng khách du lịch của Việt Nam qua các năm 14
Hình 1.2 Mối liên quan giữa hệ thống tự nhiên (các dịch vụ hệ sinh thái) và hệ thống xã hội (quản lí và sử dụng) 25
Hình 1.3 Các mức độ tham gia của cộng đồng 31
Hình 1.4 Khung tiếp cận sử dụng khôn khéo đất ngập nước 34
Hình 1.5 Năm nguyên tắc quản lí bảo tồn dựa vào cộng đồng 35
Hình 2.1 Vị trí Khu Ramsar VQG Ba Bể 42
Hình 2.2 Bản đồ hiện trạng rừng, đất ngập nước và sử dụng đất lâm nghiệp, Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 54
Hình 2.3 Phạm vi nghiên cứu của luận án tại khu vực hồ Ba Bể 55
Hình 2.4 Sơ đồ các bước chính cộng đồng tham gia vào các dự án bảo tồn 59
Hình 2.5 Sơ đồ quy trình cách tiếp cận thực hiện luận án 61
Hình 2.6 Sơ đồ khung phân tích của luận án 71
Hình 3.1 Số hộ cung cấp dịch vụ du lịch và xuồng chở khách trên hồ Ba Bể 82
Hình 3.2 Thu nhập bình quân đầu người/năm 6 Thôn nghiên cứu 83
Hình 3.3 Tỉ lệ cơ cấu thu nhập của 6 thôn điều tra (Đ/v%) 84
Hình 3.4 Tỉ lệ hộ nghèo của 6 thôn điều tra 85
Hình 3.5 Khung hiện trạng quan lí ĐNN khu vực hồ Ba Bể tại địa phương 104
Hình 3.6 Số lượng du khách đến thăm hồ Ba Bể và lượng chất thải rắn thải bỏ tự nhiên ra hồ qua từ năm 2014 đến năm 2018 113
Hình 3.7 Các vụ vi phạm khai thác lâm sản và tài nguyên khác 115
Hình 3.8 Các bên liên quan trong quản lí và bảo tồn ĐNN khu vực hồ Ba Bể 117
Hình 3.9 Mối quan hệ và sự tương tác của các bên liên quan tại khu hồ Ba Bể 125
Hình 3.10 Thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức đối với tài nguyên thiên nhiên khu vực hồ Ba Bể 127
Hình 3.11 Đề xuất mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng khu vực Ba Bể 140
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy, những hệ thống quản lí tập trung hóa hay phương thức quản lí theo hướng áp đặt từ trên xuống (top-down) chưa sát thực
tế và tỏ ra không đem lại hiệu quả đối với việc quản lí tài nguyên đất ngập nước (ĐNN) theo cách bền vững [42] Tiếp cận dựa vào cộng đồng [123] là cách tiếp cận nhằm có được sự tham gia của cộng đồng liên quan trên nguyên tắc sự đồng thuận, công bằng, chia sẻ lợi ích để đưa ra được những giải pháp sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên
Theo Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2018, các phương pháp quản lí ĐNN hiện nay còn chưa phù hợp với đặc tính sinh thái của các hệ sinh thái ĐNN; Các hướng dẫn của Công ước Ramsar về sử dụng khôn khéo ĐNN chưa được vận dụng trong thực tiễn quản lí đất ngập nước Nhiều địa phương, trong đó có Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn chỉ chú trọng đến khai thác và khai thác quá mức, chưa tính đến việc bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN; Các cơ chế, chính sách cho quản lí và sử dụng bền vững ĐNN còn thiếu và chưa được quan tâm một cách thoả đáng; Chưa có sự ưu tiên trong việc bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN
Bên cạnh đó, hiện nay tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và sinh cảnh của hồ
Ba Bể đang phải đối mặt với một số thách thức đáng báo động, bao gồm: (i) Khai thác tài nguyên thiếu bền vững, trong đó việc đánh bắt nguồn lợi thủy sản, chủ yếu
là các loài cá quá giới hạn cho phép, mang tính hủy diệt, làm mất khả năng tự tái tạo phục hồi của chúng; (ii) Ô nhiễm nguồn nước, nước trong hồ từ các hoạt động kinh
tế đặc biệt là sự gia tăng các hoạt động phát triển du lịch; (iii) Hệ thống chính sách, luật pháp và năng lực quản lí còn nhiều bất cập, hạn chế; xung đột giữa bảo tồn và phát triển kinh tế, phát triển du lịch, đa dạng hóa sinh kế ; (iv) Nhận thức, dân trí, đói nghèo và các vấn đề xã hội của cộng đồng ven hồ Ba Bể và khu vực lân cận đang cản trở việc quản lí và khai thác sử dụng tài nguyên đất ngập nước
Trang 14Một trong những quan điểm chủ đạo của Quyết định 218/QĐ-TTg, ngày 07 tháng 2 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quản lí hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn năm 2030” nhấn mạnh “Nhà nước khuyến khích sự tham gia quản lí của cộng đồng dân cư vùng đệm khu rừng đặc dụng, vành đai bảo vệ khu bảo tồn biển, vùng nước nội địa để quản lí bền vững, phù hợp với quy định của pháp luật” [72] Theo đó, một trong những nhiệm vụ chiếm lược thực hiện Quyết định này là
“Xã hội hóa hoạt động bảo tồn vùng nước nội địa nhằm huy động tối đa nguồn lực
từ các thành phần xã hội, đặc biệt là cộng đồng địa phương ” Từ đó, có thể khẳng định sự tham gia của cộng đồng trong quản lí và bảo tồn các khu ĐNN là vô cùng quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định thành công của nhiệm vụ này
Sử dụng khôn khéo ĐNN là “Duy trì những đặc điểm sinh thái của ĐNN qua các tiếp cận hệ sinh thái trong khuôn khổ phát triển bền vững” [43] Vì vậy, việc thực thi các sáng kiến về trao quyền cho cộng đồng địa phương, xây dựng và tăng cường mô hình quản lí ĐNN dựa vào cộng đồng và các bên liên quan tại các khu Ramsar trong đó có khu Ramsar VQG Ba Bể là vô cùng quan trọng và cần thiết
Mới đây, ngày 29/7/2019 Nghị định 66 về quản lí và bảo tồn các khu ĐNN của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành, Nghị định cũng nhấn mạnh việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng và xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng đối với cộng đồng từ các hoạt động quản lí và bảo tồn các khu ĐNN [24]
Vấn đề đặt ra đối với khu Ramsar VQG Ba Bể là làm thế nào để đề xuất được các giải pháp quản lí bền vững ĐNN thông qua việc phát huy các giá trị tích cực của nguồn tri thức bản địa (TTBĐ) của cộng đồng để áp dụng mô hình phát triển du lịch bền vững dựa vào cộng đồng mà không làm thay đổi những tính chất
cơ bản của hệ sinh thái (HST) tự nhiên của ĐNN trên cơ sở có sự tham gia tích cực của cộng đồng cư dân, những người hưởng lợi trực tiếp từ các dịch vụ HST của hồ
Ba Bể và sự tham gia của các cộng đồng liên quan
Trang 15Xuất phát từ những lý do trên, thì việc nghiên cứu và thực hiện luận án
“Quản lí bền vững tài nguyên đất ngập nước dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể”, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn là hết sức cấp thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Các câu hỏi nghiên cứu chính
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời cho các câu hỏi sau:
(i) Quản lí bền vững tài nguyên ĐNN dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể
4 Luận điểm bảo vệ của luận án
(i) Quản lí bền vững tài nguyên ĐNN là sử dụng khôn khéo ĐNN và đảm bảo 5 nguyên tắc dựa vào cộng đồng;
(ii) Cộng đồng địa phương và sự tham gia của các cộng đồng liên quan có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng và thực hiện các giải pháp quản lí bền
Trang 16vững tài nguyên ĐNN nhằm hạn chế những bất cập trong quản lí và sử dụng tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể
(iii) Tri thức bản địa của cộng đồng có vai trò quan trọng trong việc sử dụng khôn khéo ĐNN đảm bảo hài hòa việc sử dụng các dịch vụ HST cho phát triển kinh
tế mà vẫn đảm bảo được cấu trúc, chức năng của chúng nhằm khắc phục những bất cập trong quản lí và sử dụng tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể
5 Điểm mới của luận án
(i) Luận án đã vận dụng cách tiếp cận quản lí bảo tồn dựa vào cộng đồng trong phân tích, đánh giá thực trạng quản lí tài nguyên ĐNN tại khu Ramsar Ba Bể
(ii) Đề xuất được mô hình phát triển du lịch bền vững dựa vào cộng đồng để quản lí bền vững tài nguyên ĐNN tại khu Ramsar Ba Bể
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lí bền vững tài nguyên ĐNN dựa vào cộng đồng khu vực hồ Ba Bể Hướng tiếp cận này đảm bảo 3 nguyên tắc từ dưới lên (những người trực tiếp khai thác và sử dụng ĐNN) , tiếp cận từ trên xuống (những cơ quan quản lí, những nhà hoạch định chính sách ở tầm vĩ mô) và tiếp cận ngang mang tính liên ngành tức là có sự tham gia và đồng thuận giữa các cộng đồng liên quan
Luận án cũng làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của các bên liên quan tham gia vào mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng thông qua việc bảo tồn và phát huy những giá trị tích cực của tri thức bản địa như một giải pháp khả thi nhằm quản lí bền vững tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
(i) Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở để các nhà quản lí tỉnh Bắc Kạn, huyện Ba Bể và xã Nam Mẫu tham khảo trong quá trình xây dựng chiến lược, chính sách phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là phát triển du lịch bền vững của địa phương nhằm quản lí bền vững tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể
(ii) Kết quả nghiên cứu của luận án đưa ra các khuyến nghị đề xuất đối với
Trang 17hướng dẫn chi tiết thực hiện Nghị định số 66 NĐ-CP ngày 29 tháng 7/2019 của Chính phủ về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ĐNN của Việt Nam nhằm sớm khắc phục những bất cập trong cơ chế chính sách để tạo điều kiện cho việc các giải pháp quản lí bền vững tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể thông qua việc áp dụng
và nhân rộng mô hình du lịch bền vững dựa vào cộng đồng và sử dụng tri thức bản địa trong việc thực hiện mô hình
7 Bố cục của luận án
Luận án bao gồm các nội dung chính sau:
Mở đầu
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận;
Chương 2 Địa bàn, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu;
Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết luận và khuyến nghị
Danh mục các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CỞ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu về quản lí bền vững đất ngập nước
Trên cơ sở phân tích, đánh giá và so sánh các cách tiếp cận liên quan đến quản lí bền vững ĐNN dựa vào cộng đồng hiện nay nhằm đánh giá ưu điểm, hạn chế và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về mô hình quản lí bền vững ĐNN dựa vào cộng đồng Từ việc nghiên cứu mô hình quản lí bền vững ĐNN đã áp dụng tương đối thành công trên phạm vi toàn cầu (thế giới, trong khu vực và Việt Nam) Luận án nhằm làm nổi bật vai trò, tầm quan trọng và cách thức của cộng đồng tham gia vào mô hình quản lí bền vững ĐNN để từ đó áp dụng vào khu vực nghiên cứu Ngoài ra, các mô hình này có một số điều kiện khá tương đồng với Việt Nam nói chung và khu Ramsar VQG Ba Bể nói riêng, vì thế việc nghiên cứu áp dụng trong điều kiện thực tế là rất cần thiết Dưới đây là một số mô hình quản lí bền vững ĐNN
đã thành công trên thế giới và khu vực
Vùng ĐNN Blyth và Liverpool là vùng ĐNN nội địa rộng lớn thuộc lưu vực sông Liverpool (Úc) là nơi cư trú đa dạng, như đầm lầy, các hồ của các đầm lầy nước ngọt và rừng ngập nước, vùng ĐNN này là nguồn tài nguyên chính cung cấp sinh kế cho người dân bản địa, kết nối văn hóa của họ với vùng đất này, họ có kho tàng tri thức rất phong phú về nơi cư trú và thảm thực vật ở đây và là kho tàng văn hóa kết nối Người dân bản địa sở hữu đất đai được duy trì và sử dụng theo phương thức truyền thống của họ [135]
Để xử lý các mối đe dọa xâm lấn của các loài động vật hoang dã, cỏ dại và các hoạt động khai khoáng của các doanh nghiệp đến từ bên ngoài, cộng đồng người dân địa phương đã tham gia vào quá trình tham vấn và xây dựng các sáng kiến quản lí đề cao nguyện vọng của người dân liên quan đến vấn đề sử dụng đất theo hướng truyền thống mà không ưu tiên cho các sáng kiến quản lí theo hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa Ở đây ĐNN được quản lí theo mô hình các bên cùng tham gia, bao gồm cơ quan quản lí chuyên môn ĐNN của địa phương, chính quyền Liên bang và các cơ quan nghiên cứu có sự tham vấn của cộng đồng Theo đó, một
Trang 19Ban quản lí của địa phương được các bên đề cử với vai trò là đại diện của các bên làm cơ quan trung gian hòa giải và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình quản
lí Việc thành lập một nhóm tuần tra được tập huấn nâng cao về công tác bảo vệ tuần tra tài nguyên ĐNN của địa phương đóng vai trò là đầu mối đại diện cho người dân tham gia các hoạt động quản lí Bên cạnh đó, lợi ích của cộng đồng được xử lý thông qua quá trình hợp tác và trao đổi về TTBĐ và tri thức hiện đại, điều này đã tăng cường tham vấn kỹ thuật và củng cố lòng tin giữa các bên liên quan tham gia quản lí ĐNN Kinh nghiệm từ mô hình quản lí ĐNN ở Úc cho rằng để quản lí ĐNN bền vững không thể tách rời vai trò, giá trị của TTBĐ và sinh kế của cộng đồng trong quá trình quản lí ĐNN
Ở Tanzania (Đông Nam châu Phi), để quản lí bền vững ĐNN, bên cạnh việc xây dựng mối quan hệ và cơ chế hợp tác giữa người dân bản địa với các bên liên quan, các bên liên quan và cộng đồng còn được hỗ trợ tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật
và công nghệ mới được mô tả tại Bảng 1.1 [155]
Bảng 1.1 Vai trò của các bên liên quan trong quản lí bền vững ĐNN
ở Tanzania Các bên liên
Cộng đồng
Nhận diện và thực hiện các hoạt động quan trọng đối với sinh
kế của họ, đồng thời chia sẻ những thông tin liên quan đến quản lí bền vững ĐNN
Các nhà hoạch
định chính sách
Xây dựng chính sách quản lí ĐNN và hướng dẫn thực hiện, đồng thời cung cấp các thông tin, kiến thức cho các bên liên quan
Cơ quan quản lí
ĐNN của địa
phương
Tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hỗ trợ, khuyến khích việc thực hiện hướng dẫn các tập quán và phương pháp quản lí bền vững ĐNN
Khu vực tư nhân
Đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các cơ hội, lợi ích, quản lí rủi ro, được cho phép đầu tư triển khai các hoạt động quản lí bền vững ĐNN
Trang 20Cơ quan giáo dục
& đào tạo
Hỗ trợ xây dựng năng lực nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng
về tập quán và phương pháp quản lí bền vững ĐNN Các cơ quan
Từ mô hình quản lí ĐNN ở Tanzania cho thấy việc thiết lập cơ chế hợp tác
và xây dựng mối quan hệ giữa người dân bản địa (cộng đồng) với các bên liên quan, đồng thời việc phát huy vai trò, giá trị của TTBĐ trong sử dụng khôn khéo ĐNN là những điều kiện tiên quyết cho việc quản lí bền vững ĐNN
Vùng ĐNN Kampung Kuantan, Bang Selangor State, Malaysia, để quản lí,
xử lý các vấn đề ô nhiễm môi trường phát sinh do các hoạt động du lịch sinh thái, trong đó các doanh nghiệp du lịch tổ chức các họa động thăm quan bằng xuồng gây ảnh hưởng tới nơi cư trú của một số loài trong vùng, như: đom đóm, ếch Mô hình quản lí tổng hợp ĐNN đã được xây dựng và áp dụng, bao gồm sự tham gia quản lí của nhiều bên liên quan: An ninh thôn, Hội đồng phát triển thôn và các doanh nghiệp thông qua các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, tham vấn về các vấn đề quản lí và bảo tồn, tuyên truyền, giáo dục, cung cấp tài liệu và nâng cao nhận thức về bảo tồn [33] Từ mô hình quản lí ĐNN của Malaysia, rút ra bài học rằng để xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường do các hoạt động phát triển du lịch gây ra, cần áp dụng mô hình
Trang 21quản lí tổng hợp, theo đó cần tăng cường sự tham gia của các bên liên quan vào quá trình quản lí ĐNN vừa đảm bảo được công tác bảo tồn đồng thời hoạt động phát triển kinh tế từ hoạt động du lịch, tận dụng lợi thế đặc thù của vùng Tuy nhiên, mô hình này chưa đề cập đến cơ chế chia sẻ lợi ích và kế hoạch bảo tồn lâu dài cũng như việc xác định cụ thể các vùng môi trường bị tác động và chưa có các giải pháp
đề xuất cụ thể
Mô hình quản lí ĐNN tại Thái Lan, trong bối cảnh khoảng trên một nửa diện tích rừng ngậm mặn (RNM) cho việc phát triển nuôi tôm đã bị mất thì Tổ chức phi chính phủ Yad Fon đã nhận thức được vai trò của RNM và sự phụ thuộc sinh kế của các cộng đồng cư dân ven biển vào nguồn tài nguyên này Hơn một thập kỷ, Pisit Chansnoh, một thành viên đồng sáng lập và là chủ tịch hiện nay của Yad Fon, đã đưa Tổ chức này thành đơn vị dẫn đầu trong việc thúc đẩy cộng đồng địa phương tham gia vào quản lí tài nguyên ven biển [31]
Sau một thời gian hoạt động, Tổ chức của Yad Fon đã hỗ trợ, hướng dẫn cộng đồng giải quyết, xử lý các vấn đề bức xúc nhất trong cộng đồng Thông qua các hội thảo và các buổi thảo luận cởi mở, những vấn đề nổi cộm, bức xúc của cộng đồng đã được tháo gỡ, gải quyết và chính cộng đồng là người đề ra các giải pháp khắc phục, xử lí vấn đề
Qua mô hình quản lí ĐNN của Thái Lan cho thấy rằng điều kiện tiên quyết cho thành công của mô hình phục hồi và quản lí RNM là: sự kết nối, tham gia và phối hợp giữa tổ chức phi chính phủ có kinh nghiệm, uy tín với cộng đồng địa phương trong bảo tồn Tuy nhiên, vai trò của chính quyền địa phương trong mô hình này còn mờ nhạt, chưa thực sự vào cuộc với cộng đồng, bên cạnh đó chưa có
cơ chế chia sẻ lợi ích của cộng đồng một cách bình đẳng, tính bền vững để duy trì
mô hình sau khi dự án kết thúc chưa rõ ràng
1.1.2 Các nghiên cứu về quản lí và sử dụng đất ngập nước dựa vào cộng đồng
Mô hình sử dụng hợp lý ĐNN tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định [104] Vấn đề được xác định tại khu vực này là người dân tự do khai thác ngao
Trang 22giống không có sự quản lí phù hợp Mô hình sử dụng hợp lý ngao giống đã được nghiên cứu và ứng dụng tại khu vực này Trong mô hình này đã xác định các bên liên quan tại địa phương: Chính quyền tỉnh, Chính quyền huyện và xã; Vườn quốc gia; người dân địa phương; doanh nghiệp nhỏ thuê mặt nước Các bên liên quan tại khu vực vườn đã thống nhất và tuân thủ quy chế bảo tồn và sử dụng hợp lý Quy chế này được UBND tỉnh thông qua Theo đó, các bên liên quan đều có trách nhiệm quản lí, bảo tồn cũng như chia sẻ lợi ích có được từ sử dụng tài nguyên ngao giống
Đối với người dân, họ được phép khai thác ngao giống trong giới hạn nhất định, đồng thời họ có trách nhiệm đóng một phần kinh phí lợi nhuận họ thu được cho các bên liên quan khác trong vùng Đối với chính quyền địa phương họ có thêm nguồn kinh phí tăng cường công tác quản lí xã hội tại khu vực nuôi ngao
Đối với Vườn quốc gia, họ có thêm một nguồn thu, đồng thời họ tăng cường
và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc quản lí, bảo tồn ĐDSH trong khu vực Chính quyền cấp tỉnh điều phối chung công tác quản lí, bảo tồn tại khu vực này Như vậy có thể thấy trong mô hình này, trách nhiệm và quyền lợi đều được gắn chặt với nhau đối với các bên liên quan, hình thành nên cơ chế quản lí khá bền vững [105]
Mô hình quản lí tài nguyên rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại Đông Hải - Tiên Yên và Đại Bình – Đầm Hà, Quảng Ninh [65] Đây là mô hình quản lí, bảo tồn dựa vào cộng đồng được triển khai tại một xã có hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên điển hình tại miền Đông tỉnh Quảng Ninh Đây cũng là một mô hình có sự kết hợp của các nhà: Nhà Quản lí, Nhà Khoa học và Nhà Nông Theo đó, tất cả các thành phần của cộng đồng đều được tham gia vào quá trình chuẩn bị, xây dựng và triển khai thực hiện dự án và có được sự đồng thuận từ tất cả các thành phần và hộ gia đình của cộng đồng Việc cộng đồng tham gia quản lí và sử dụng bền vững tài nguyên rừng ngập mặn đã hạn chế được những bất cập mà chính quyền và các cơ quan chức năng đang gặp phải trong quá trình quản lí và bảo vệ tài nguyên HST rừng ngập mặn
Mặc dù mô hình đã chứng minh kết quả thành công tích cực, có tính khả thi
Trang 23phương thức quản lí truyền thống theo hướng từ trên xuống và chưa quan tâm, vận dụng sự kết hợp giữa quản lí, bảo tồn ĐNN và phát huy giá trị của TTBĐ của cộng đồng tại địa phương [65]
Mô hình Khu bảo tồn (KBT) biển Rạn Trào tại xã Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa [80], một trong những yếu tố then chốt để triển khai mô hình KBT biển Rạn Trào là
đa dạng hóa nguồn lực, bên cạnh những nguồn lực chính thức từ Ngân sách Nhà nước thì các nguồn lực bên ngoài khác cũng cần được coi trọng Bên cạnh đó, sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan khác đi kèm với việc đảm bảo quyền lợi của họ trong đó có quyền lợi của cộng đồng là thực sự cần thiết cho việc điều phối hiệu quả hoạt động của mô hình Trên cơ sở đó, mọi hoạt động diễn ra đều được các bên liên quan hiểu rõ, tham gia và ủng hộ Đồng thời, tính tự chủ, tích cực của chính quyền địa phương là nhân tố then chốt đảm bảo cho quá trình triển khai hiệu quả các dự án cũng như duy trì và phát huy những thành quả do các dự án mang lại
Tuy nhiên, mô hình chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan đơn
vị quản lí về tài nguyên môi trường và chưa có cơ chế giám sát, huy động tài chính bền vững, cơ chế tài chính thiếu minh bạch [80]
Nghiên cứu và đề xuất các mô hình sử dụng khôn khéo ĐNN tại các xã vùng cửa sông Ba Chẽ của huyện Tiên Yên [81] Theo đó, Trung tâm nghiên cứu TN&MT, ĐHQG Hà Nội đã nghiên cứu mô hình quản lí tổng hợp TNTN dựa vào cộng đồng phục vụ PTBV tại thôn Hà Thụ, xã Hải Lạng, Tiên Yên, Quảng Ninh
Mô hình này đã có sự tham gia tích cực của cộng đồng, các hoạt động trong mô hình được thực hiện theo hướng “tiếp cận từ dưới lên”, song chưa đề cập đến các dịch vụ HST và cơ chế chia sẻ lợi ích đối với các bên liên quan sử dụng dịch vụ HST này Ngoài ra, một số doanh nghiệp và các đối tượng liên quan khác chưa được đề cập đến, đồng thời mô hình này được thực hiện trong phạm vi nhỏ
Nghiên cứu về “Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lí bảo tồn đa dạng sinh học cá tại Hồ Ba Bể, Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” [38], mục tiêu chính của nghiên cứu là điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lí
Trang 24bảo tồn đa dạng sinh học cá tại hồ Ba Bể, VQG Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”, nghiên cứu đã phát hiện những khó khăn hạn chế trong quản lí và bảo tồn ĐDSH ở VQG Ba Bể, như chưa có cơ chế phối hợp giữa các UBND xã Nam Mẫu, Ban quản lí BQG Ba Bể và cộng đồng trong quản lí và bảo tồn ĐDSH nói chung và ĐDSH cá nói riêng; nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích của các bên liên quan chưa được phân định rõ ràng; chưa có quy hoạch cụ thể khu vực đánh bắt, khu vực du lịch và khu vực bảo tồn
Nhận xét về các mô hình quản lí và sử dụng ĐNN dựa vào cộng đồng
Đa số các công trình và đề tài nghiên cứu thường mang tính đơn ngành, chưa chú ý đến sự lồng ghép giữa khoa học tự nhiên và xã hội, thiếu tính đa ngành, đa lĩnh vực, các kết quả nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích khai thác, sử dụng tài nguyên theo từng ngành, từng địa phương, thiếu những giải pháp phù hợp với mục đích quản lí bảo tồn và phát triển bền vững, do đó chưa phải là những mô hình “Dựa vào cộng đồng” vì thiếu sự tham gia và đồng thuận của tất cả các bên liên quan, đặc biệt thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng Vì vậy cách tiếp cận quản lí bảo tồn dựa vào cộng đồng là cách tiếp cận cấp bách trong quản lí bền vững tài nguyên thiên nhiên khu vực hồ Ba Bể
Hiện nay đã có một số đề tài, dự án đã chú ý đến sự tham gia của cộng đồng nhưng chưa thực hiện theo hướng xây dựng kế hoạch hay áp dụng những mô hình
cụ thể dựa vào cộng đồng để giải quyết những khó khăn, bất cập nhằm nâng cao hiệu quả của công tác kế hoạch, quản lí, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên ĐNN, bảo vệ môi trường nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo và đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của các địa phương và của cả nước mà Việt Nam đã cam kết thực hiện [30] Qua rà soát, nghiên cứu, tác giả cho rằng mô hình sử dụng hợp lý ĐNN tại VQG Xuân Thủy, Nam Định và mô hình quản lí tài nguyên rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại Đông Hải, Tiên Yên và Đại Bình, Đàm Hà, Quảng Ninh là
02 mô hình phù hợp có thể tham khảo, áp dụng tại khu Ramsar Ba Bể
1.1.3 Các nghiên cứu về tác động của du lịch tới môi trường của khu bảo tồn (KBT) và vườn quốc gia (VQG)
Theo Sunlu (2003), trong một nghiên cứu về tác động của du lịch tới môi
Trang 25với phát triển kinh tế xã hội, các hoạt động phát triển du lịch cũng tạo ra những tác động tiêu cực tới tài nguyên và môi trường, bao gồm các hoạt động xây dựng cơ sở
hạ tầng, như đường xá, sân bay, các cơ sở du lịch, như nhà hàng, khách sạn, sân gold, tàu du lịch biển vv Nghiên cứu đã cho thấy phát triển du lịch đã: (1) hủy hoại tài nguyên thiên nhiên, bao gồm: tài nguyên nước, tài nguyên môi trường của địa phương, làm suy thoái đất (2) gây ô nhiễm, bao gồm: gây tiếng ồn và ô nhiễm không khí, rác thải và chất thải rắn, nước thải và ô nhiễm môi trường, phá vỡ các kết cấu kiến trúc bản địa (3) tác động hữu hình từ phát triển du lịch: xây dựng hạ tầng quá nóng, quy hoạch sử dụng đất thiếu bền vững, hủy hoại nơi cư trú và tính kết nối giữa lục địa, đới bờ và biển của các loài do các hoạt động khai thác du lịch, ảnh hướng tới cây trồng và thay đổi đặc tính của các loài (4) tác động của phát triển
du lịch tới môi trường ở phạm vi toàn cầu: giảm tính đa dang sinh học, hủy hoại tầng ô-dôn, tác nhân gây biến đổi khí hậu toàn cầu
Ở khu vực Đông Nam Á, hằng năm Thái Lan đón trên 15 triệu lượt du khách quốc tế, tuy nhiên cùng với nguồn thu hàng tỉ đô la mỗi năm từ du lịch là cái giá phải trả cho vấn đề ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, biển Phuket quá tải bởi hàng ngàn du khách và sự di chuyển thường xuyên của rất nhiều chuyến ca-nô cao tốc đã khiến những lớp san hô bị chết do ô nhiễm môi trường Ngoài ra, những chuyến tàu chở khách ra khơi ngắm san hô và cá cũng là một trong những tác nhân gây hủy hoại môi trường tự nhiên ở đây Du lịch là ngành công nghiệp không khói đáng tự hào của Thái Lan, nhưng cũng giống như bất kỳ một điểm đến du lịch khác trên thế giới, du lịch bao giờ cũng phải trả giá bằng sự hy sinh về môi trường [61]
Theo các chuyên gia, du lịch Việt Nam chưa phát triển đủ sâu và rộng như Thái Lan để có thể thấy rõ những tác động về môi trường và xã hội từ du lịch, tuy nhiên các vấn đề về môi trường và cảnh quan trước sự gia tăng đột biến về du lịch trong vài năm gần đây đã gióng lên hồi chuông cảnh báo và là một thách thức lớn đối với các nhà quản lí, các doanh nghiệp, các nhà công nghiệp và cộng đồng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, theo Tổng cục Du lịch Việt Nam, giai đoạn 2011-2018 tốc độ tăng trưởng trung bình khách quốc tế đạt khoảng 14,5%/năm, khách nội địa khoảng 15%/năm [101] Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về
Trang 26phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn [7] đã thức đẩy sự phát triển kinh tế du lịch mạnh mẽ ở các địa phương, tuy nhiên bên cạnh đó là những tồn tại hạn chế chính sách về môi trường, chế tài về môi trường đối với hoạt động du lịch
và hoạt động kinh doanh, sản xuất, phát triển đô thị chưa được hoàn thiện Chưa có chính sách, quy định về kiểm soát sức chứa tại các điểm đến, đặc biệt là các điểm đến nhạy cảm về môi trường và xã hội Số liệu khách du lịch của Việt Nam tăng trung bình 15% qua các năm được mô tả tại Hình 1.1 [102]
số 141 quốc gia: (i) mức độ bền vững về môi trường, hạng 132/141 (ii) Các quy định về môi trường còn lỏng lẻo, hạng 115/141 (iii) Mức độ chất thải, hạng 128/141 (iv) Nạn phá rừng, hạng 103/141 (v) Hạn chế về xử lý nước, hạng 107/141 [102]
Trang 27Theo đó, năm 2017-2018, Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch (Tổng cục Du Lịch Việt Nam) đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá tác động của hoạt động du lịch đến môi trường sinh thái tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn”, nghiên cứu đã tiến hành điều tra khảo sát tại vườn quốc gia: Hoàng Liên; Cúc Phương; Tam Đảo; Phong Nha - Kẻ Bàng, Phú Quốc và khu bảo tồn Tân Trào, tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác động của các hoạt động phát triển du lịch tới môi trường tại khu Ramsar Ba Bể chưa được đánh giá Nghiên cứu cho rằng việc phát triển du lịch tại các vườn quốc gia và vùng đệm có thể gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường, đời sống, văn hóa của cộng đồng dân cư địa phương
Nghiên cứu của Ram Kumar Adhikari và cộng sự thực hiện năm 2017 [107, mục tiêu chính của nghiên cứu là nghiên cứu đánh giá tác động của việc đa dạng hóa
và đền bù tài chính cho mục tiêu bảo tồn ĐDSH, theo đó nghiên cứu đã khuyến cáo để
bù đắp đủ nguồn tài chính chi cho mục tiêu bảo tồn, cần khuyến khích phát triển du lịch Homestay, tăng mức chi trả dịch vụ môi trường rừng Tuy nhiên, nghiên cứu chưa tìm hiểu, đánh giá vai trò sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch Homestay tại khu vực hồ Ba Bể, đây là khoảng trống để luận án tiếp tục tìm hiểu, phát hiện các vấn
đề mới, từ đó đề xuất các giải pháp về cơ chế chia sẻ lợi ích thông qua mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
Nghiên cứu của Nguyễn Quang Hồng về “ Đánh giá giá trị giải trí và giá trị sử
dụng Vườn Quốc gia Ba Bể- Bắc Kạn” thực hiện năm 2006, đã sử dụng phương pháp
chi phí du lịch để đánh giá giá trị cảnh quan du lịch của VQG Ba Bể phục vụ công tác quản lý bảo tồn tại VQG Ba Bể [52] Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung điều tra, đánh giá giá trị cảnh quan du lịch của VQG Ba Bể từ đó đề xuất các giải pháp khai thác hiệu quả các hoạt động du lịch từ giá trị sinh cảnh của VQG Ba Bể mà chưa nghiên cứu về tác động tiêu cực của du lịch tới môi trường
Nhận xét tổng quan các nghiên về tác động của phát triển du lịch tới môi trường trên thế giới, khu vực và Việt Nam, cho thấy tại các vườn quốc gia, mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư sống tại vùng đệm và tài nguyên thiên nhiên khu vực VQG được thiết lập và có mối quan hệ tương hỗ từ lâu đời Người dân sống tại
Trang 28vùng đệm phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số, sống chủ yếu dựa vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, coi đó là phương tiện sống, là kế sinh nhai của mình Vì vậy, muốn bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học tại các VQG thì cộng đồng địa phương chính là những người đóng vai trò quan trọng
Theo đó, luận án cần tìm hiểu, nghiên cứu và làm rõ sự tham gia cũng như vai trò của cộng đồng trong quản lí ĐNN thông qua các hoạt động phát triển du lịch
có trách nhiệm với môi trường tại khu vực hồ Ba Bể, từ đó đề xuất các giải pháp quản lí bền vững ĐNN
1.1.4 Các nghiên cứu về tri thức bản địa trong quản lí và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên
Nghiên cứu của Dixon (2012) về vai trò của tri thức bản địa (TTBĐ) trong quản lí bền vững ĐNN ở Ethiopia, cho rằng [117]: (i) Trong nhiều trường hợp, cộng đồng người dân thích sử dụng các TTBĐ của họ hơn là áp dụng các kiến thức khoa học hiện đại về sử dụng và bảo tồn ĐNN do các cơ quan quản lí nhà nước khuyến cáo vì lí do TTBĐ dễ truyền đạt, áp dụng và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của cộng đồng hơn (ii) Nguồn TTBĐ chủ yếu được lưu truyền và tiếp nhận từ tổ tiên, ông bà, các thế hệ đi trước về các kiến thức ĐNN tại hoàn cảnh mà đặc điểm, tính chất hệ sinh thái ĐNN của địa phương khác với thời điểm hiện tại (có sự thay đổi, biến động về HST qua thời gian), vì vậy nếu TTBĐ mà không có sự tiếp biến để thích ứng với những biến động, thay đổi hệ sinh thái ĐNN trong điều kiện hiện tại thì sẽ khó áp dụng nguồn TTBĐ đó cho hiện tại (iii) Tổ chức, đơn vị tham gia hỗ trợ quản lí và bảo tồn ĐNN ở cấp cộng đồng đóng vai trò quan trọng, tiên quyết không thể thiếu để khuyến khích, hỗ trợ cộng đồng trong việc sử dụng TTBĐ kết hợp với các tri thức, kỹ thuật hiện đại trong sử dụng và bảo tồn ĐNN Các cơ quan quản lí nhà nước ở cấp cao hơn (huyện, tỉnh, Trung ương) không tham gia vào việc khuyến khích, hỗ trợ cộng đồng trong việc sử dụng TTBĐ (iv) Người dân bản địa
có nhiều kênh chia sẻ trao đổi thông tin, tri thức của họ bằng nhiều hình thức khác nhau, có thể giữa cá nhân với cá nhân, các nhân với tổ chức, cộng đồng ở trong và
Trang 29phát huy các giá trị tích cực của TTBĐ phù hợp với những biến động, thay đổi của
hệ sinh thái ĐNN hiện nay
Bài học từ mô hình quản lí ĐNN ở Ethiopia, để quản lí bền vững ĐNN cần khuyến khích người dân sử dụng TTBĐ của họ trong sử dụng và bảo tồn ĐNN, bên cạnh đó muốn sử dụng và phát huy hiệu quả TTBĐ trong quản lí ĐNN cần nghiên cứu và có những hiểu biết về các kênh chia sẻ, trao đổi thông tin, đồng thời tăng cường khuyến khích và hỗ trợ cộng đồng phát huy các giá trị tích cực của TTBĐ để quản lí bền vững ĐNN
Nghiên cứu của Sekhar N.U (2007) về “Thoái hóa đất và Phát triển”, mục tiêu chính của nghiên cứu này là đề xuất giải pháp cải thiện sinh kế nông lâm nghiệp tại khu vực hồ Ba Bể [144] Nghiên cứu đã phát hiện được vai trò của hệ thống canh tác nông lâm truyền thống đối với bảo tồn đa dạng sinh học và một số TTBĐ về giống, loài cây trồng của nông dân Tuy nhiên, nghiên cứu chưa nghiên cứu về vai trò, sự tham gia của cộng đồng người dân và các bên liên quan trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị của TTBĐ trong hệ thống canh tác nông lâm của cộng đồng, theo đó nghiên cứu cũng chưa đưa ra được các giải pháp bảo tồn và phát huy vai trò của TTBĐ trong hệ thống canh tác nông lâm của cộng đồng, đây là khoảng trống để luận án tiếp nối nghiên cứu về TTBĐ của cộng đồng trong các sinh kế về khai thác và bảo tồn ĐNN khu vực hồ Ba Bể
Theo nghiên cứu của Lê Thanh An và cộng sự về các giá trị lịch sử, văn hóa và các yêu tố tâm linh để thu hút du khách thăm quan tại 30 VQG của Việt Nam [108], TTBĐ của cộng đồng người dân khu vực hồ Ba Bể vẫn chưa được quan tâm, coi trọng
so với các vấn đề khác, đây là khoảng trống để luận án tiếp nối nghiên cứu
1.1.5 Tổng quan về chính sách quản lí và bảo tồn ĐNN của Việt Nam
Các văn bản pháp luật liên quan đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lí và phát triển bền vững ĐNN ở Việt Nam Trong đó, Nghị định số 109/2003/NĐ-CP là văn bản pháp lý đầu tiên quy định trực tiếp đến bảo tồn, sử dụng bền vững ĐNN [18] và góp phần thực hiện hiệu quả cam kết của Việt Nam là quốc
Trang 30gia thành viên Công ước Ramsar Cụ thể, Việt Nam đã đề cử và được Ban thư ký Công ước Ramsar công nhận 09 khu ĐNN có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar) gồm: 07 Vườn quốc gia (Xuân Thủy thuộc tỉnh Nam Định, Ba Bể thuộc tỉnh Bắc Kạn, Bầu Sấu-Cát Tiên thuộc tỉnh Đồng Nai, Tràm Chim thuộc tỉnh Đồng Tháp, Mũi
Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau, Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang) và 02 khu bảo tồn thiên nhiên (Láng Sen thuộc tỉnh Long An, Vân Long thuộc tỉnh Ninh Bình); quy hoạch được 47 khu bảo tồn ĐNN tại Quyết định số 45/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước; kiểm soát và hạn chế được các hoạt động khai thác trái phép tài nguyên ĐNN [71], đặc biệt là chuyển đổi mục đích sử dụng ĐNN; xác định và công bố được các hệ sinh thái, loài thủy sinh nguy cấp, quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ ở các vùng ĐNN; nâng cao được ý thức và trách nhiệm của cộng đồng trong sử dụng, bảo vệ tài nguyên ĐNN thông qua phát huy các giá trị của vùng ĐNN nước mà họ phụ thuộc [11]
Hệ thống pháp luật về ĐNN hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu quản lí trước sự biến động không ngừng về diện tích và chất lượng các vùng ĐNN Mặc dù,
có nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành, lĩnh vực liên quan đến ĐNN nhưng chỉ quy định mang tính riêng rẽ cho từng đối tượng trên vùng đất ngập nước và chưa quy định cụ thể về quản lí các vùng ĐNN theo đúng đặc tính sinh thái ĐNN theo hướng dẫn của Công ước Ramsar Thiếu các quy định pháp luật về bảo tồn
và sử dụng bền vững ĐNN dẫn đến ô nhiễm, suy thoái, thu hẹp diện tích ĐNN tự nhiên và gây các tổn thất về kinh tế cũng như ảnh hưởng đến sinh kế của người dân
Ngày 29/7/2019 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị đính số 66/NĐ-CP
về bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng ĐNN trên toàn lãnh thổ Việt Nam [24] Tuy nhiên, tới đây Bộ TN&MT, cơ quan được Chính phủ giao trách nhiệm chủ trì xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định 66, cần có cơ chế điều phối, tham vấn và hướng dẫn các địa phương thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ của Nghị định đã ban hành, đặc biệt là những nhiệm vụ tăng cường khuyến khích sự than gia của cộng đồng, chia sẻ lợi ích công bằng giữa các bên liên quan trong đó có lợi ích
Trang 311.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Một số khái niệm liên quan của luận án
1.2.1.1 Tài nguyên thiên nhiên và đất ngập nước
a) Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên (Natural Resources) là các dạng vật chất được tạo thành trong suốt quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên và sinh vật Các dạng vật chất này cung cấp nguyên – nhiên vật liệu, hỗ trợ và phục vụ cho các nhu cầu phát triển của con người Tài nguyên thiên nhiên (TNTN) bao gồm tài nguyên tái tạo và tài nguyên không tái tạo Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v ) là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lí một cách hợp lý Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể tái tạo được Tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng [50, 119]
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi quan tâm nghiên cứu tài nguyên ĐNN, được hiểu là một dạng của tài nguyên thiên nhiên Khái niệm về tài nguyên đất ngập nước được trình bày chi tiết dưới đây:
b) Định nghĩa đất ngập nước
Hiện nay, có khoảng trên 50 định nghĩa về ĐNN đang được sử dụng trên thế giới (Mitsch and Gosselink, 1986 & 1993; Dugan, 1990) [130, 118] Các nhà khoa học từ nhiều quốc gia như New Zealand, Australia, Canada hay các tổ chức quốc tế như Tổ chức bảo vệ thiên nhiên Quốc tế (IUCN) và Công ước Ramsar… đều đã nghiên cứu và đưa ra định nghĩa về ĐNN Có thể chia các định nghĩa này thành 02 nhóm chính: nhóm định nghĩa theo nghĩa rộng và nhóm định nghĩa theo nghĩa hẹp Việc sử dụng các định nghĩa này cũng khác nhau, tùy thuộc vào cách tiếp cận và mục đích quản lí của mỗi quốc gia hay tổ chức quốc tế
Theo nghĩa hẹp, ĐNN được xem như đới chuyển tiếp sinh thái (ecotones),
những diện tích chuyển tiếp giữa môi trường trên cạn và thủy sinh, những nơi mà sự ngập nước của đất gây ra sự phát triển của một hệ thực vật đặc trưng [43]
Theo nghĩa rộng, ĐNN là những các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước
tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước
Trang 32chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng biển ven bờ có độ sâu không quá 6m khi thủy triều thấp (Điều 1.1 Công ước Ramsar, 1971) [136, 137] Tại Việt Nam, định nghĩa ĐNN trên được sử dụng phổ biến nhất Hiểu theo định
nghĩa này ĐNN bao gồm: Nhiều sinh cảnh ĐNN khác nhau (đầm lầy, bãi lầy, rừng
ngập mặn, ao, hồ, phá, sông, kênh, bãi cỏ biển, rạn san hô ); Nhiều kiểu địa mạo
khác nhau (đồng bằng, cửa sông, eo biển, vịnh biển ); Các chế độ ngập nước khác nhau (thường xuyên và không thường xuyên); Các HST khác nhau (nước mặn, nước
ngọt, trên đất liền, ven biển); Nguồn gốc khác nhau (tự nhiên hay nhân tạo) [64]
Bên cạnh đó, định nghĩa về ĐNN theo công ước Ramsar (1971) đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường chính thức sử dụng trong Chiến lược quốc gia, Kế hoạch hành động về Bảo tồn và Phát triển bền vững ĐNN Việt Nam, đồng thời các cơ quan nghiên cứu, đào tạo ở Việt Nam sử dụng trong các dự án, các đề tài nghiên cứu về ĐNN Trong quá trình phát triển các hoạt động về ĐNN Việt Nam, các nhà khoa học hoặc các cơ quan nghiên cứu về ĐNN có thể đưa ra những định nghĩa khác phù hợp với mục địch nghiên cứu hoặc quản lí tài nguyên ĐNN của mình
c) Phân loại đất ngập nước
Phân loại ĐNN nhằm xác định các kiểu ĐNN phục vụ cho các mục tiêu về điều tra, đánh giá và quản lý, tạo điều kiện cho việc bảo tồn và sử dụng khôn khéo ĐNN Ở Việt Nam, việc phân loại ĐNN đã được một số chuyên gia trong và ngoài nước khởi xướng và áp dụng từ những thập niêm 80 của thế kỷ trước, bao gồm Lê Diên Dực và D Scott [40, 143] Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu và áp dụng về phân loại ĐNN của Việt Nam như Phan Nguyên Hồng và cộng sự [51]; Lê Diên Dực [40]; Nguyễn Chu Hồi và cộng sự [49]; Bộ Khoa học công nghệ và môi trường [8]; Nguyễn Chí Thành và cộng sự [62, 63]; Vũ Trung Tạng [60]; Hoàng Văn Thắng [64]; R.J Safford, Dương Văn Ni Emaltby, V.T Xuân (Chủ biên) [58] Các công trình này dựa chủ yếu vào hệ thống phân loại của Công ước Ramsar và chỉ dừng lại ở mức nêu ra những vùng ĐNN mà chưa hoặc ít đưa ra các yếu tố để “xác định ranh giới” cũng như “phân biệt” giữa các loại hình ĐNN Theo Quyết định 1093/QĐ-TCMT ngày 22 tháng 8 năm 2016 của Tổng cục Môi
Trang 33trường về việc ban hành Hướng dẫn kỹ thuật Phân loại ĐNN, ĐNN được chia thành 3 nhóm với 26 kiểu [78]:
- ĐNN biển, ven biển (ĐNN mặn-lợ): là những vùng ĐNN mặn, lợ ở ven biển, những đảo nhỏ và những vùng ven đảo lớn, chịu ảnh hưởng bởi thủy triều ven biển
- ĐNN nội địa (còn gọi là ĐNN ngọt): là những vùng ĐNN nằm trong lục địa hoặc nằm gần ven biển
- ĐNN nhân tạo: là các vùng ĐNN được hình thành bởi tác động của con người Trong khuôn khổ của luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu nhóm đất ngập nước nội địa
d) Đất ngập nước nội địa
Theo công ước Ramsar (1971) thì đất ngập nước hồ Ba Bể là kiểu đất ngập nước (ĐNN) thứ 13 tại Bảng 1.2 Đây là loại hình ĐNN hồ nước ngọt, thuộc các hệ thống nước ngầm trong vùng Karst có nước mặt thường xuyên quanh năm được sử dụng khai thác nguồn lợi thủy sản [32, 43]
Bảng 1.2 Các loại hình đất ngập nước theo Công ước Ramsar
1 Các vịnh nông có mức nước từ 6 m trở lại khi triều thấp
2 Các vùng cửa sông châu thổ
3 Những đảo nhỏ xa bờ
4 Những bờ biển có đá, vách đá ven biển
5 Những bãi biển dù là cát hay sỏi
6 Những bãi gian triều dù là cát hay bùn
7 Những vùng đầm lầy rừng ngập mặn
8 Những đầm phá ven biển dù là mặn hay lợ
9 Những ruộng muối
10 Ao nuôi tôm, cá
Trang 34TT Các loại hình đất ngập nước
11 Các sông suối
12 Đầm lầy ven sông, hồ do dòng sông đổi dòng
13 Hồ nước ngọt
14 Ao nước ngọt dưới 8 ha, đầm lầy nước ngọt
15 Ao nước mặn, những hệ thống thoát nước nội địa
16 Đập chứa nước
17 Rừng ngập nước theo mùa như rừng tràm
18 Đất canh tác ngập nước, đất được tưới tiêu
19 Bãi than bùn,v.v
Nguồn:[43,44]
- Theo hệ thống phân loại ĐNN Việt Nam của Cục Bảo vệ môi trường (2006), khu Ramsar VQG Ba Bể được phân theo 02 mã ĐNN tự nhiên nội địa, gồm:
A II2 14 và A II2 16 được trình bày tại Bảng 1.3
Bảng 1.3 Phân loại các kiểu ĐNN nội địa của Việt Nam
Hệ
thống
Hệ thống
phụ
IUCN Code
Việt Nam Code
Các hồ nước ngọt có nước thường xuyên (trên 8ha); bao gồm các hồ hình móng ngựa
Nguồn:[34]
- Theo hồ sơ đăng kí công nhận Khu Ramsar của VQG Ba Bể, tài nguyên ĐNN khu vực hồ Ba Bể gồm các đặc tính sau được mã hóa theo quy định của Công ước Ramsar: Hồ có nước thường xuyên (O) - Sông suối có nước thường xuyên (M); Các hệ thống nước ngầm trong vùng Cát-tơ (Zk(b)); Ao đầm nước ngọt có nước thường xuyên (Tp); Ao đầm nước ngọt có nước theo mùa (Ts); Đất nông nghiệp có tưới tiêu (3); Đất
Trang 35- Theo quan điểm của luận án thì ĐNN nội địa khu vực nghiên cứu là một loại hình được phân loại chi tiết theo hồ sơ khu Ramsar VQG Ba Bể do Cục Bảo tồn đa dạng sinh học là đầu mối tổng hợp, báo cáo Ban thư kí Công ước Ramsar, bao gồm: 1) Sông suối có nước thường xuyên 2) hồ, ao nước ngọt có nước thường xuyên 3) Đất nông nghiệp có tưới tiêu 4) đất nông nghiệp có nước theo mùa 5) Ao nuôi trồng thủy sản
đ) Các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước
Định nghĩa các dịch vụ hệ sinh thái là “Những lợi ích con người có được từ các hệ sinh thái, bao gồm dịch vụ cung cấp như thức ăn và nước; các dịch vụ điều tiết như điều tiết lũ lụt, hạn hán; các dịch vụ hỗ trợ như hình thành đất và chu trình dinh dưỡng; và các dịch vụ văn hóa như giải trí, tinh thần, tín ngưỡng và các lợi ích phi vật chất khác” [128]
Theo Báo cáo đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (MA 2005), cũng giống như bất kỳ hệ sinh thái nào khác, hệ sinh thái đất ngập nước có 4 chức năng cơ bản tương ứng với 4 giá trị dịch vụ hệ sinh thái: dịch vụ cung cấp, dich vụ điều tiết, dịch
vụ văn hóa và dịch vụ hỗ trợ [128]
Dựa trên bốn dịch vụ đó, Báo cáo đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ đã liệt
kê 18 loại hình dịch vụ hệ sinh thái do đất ngập nước cung cấp
Bảng 1.4 Các dịch vụ hệ sinh thái do đất ngập nước cung cấp
Dịch vụ cung cấp
1 Thức ăn Đánh bắt cá, săn thú hoang dã, hái lượm và sản xuất
lương thực
2 Nước ngọt Lưu trữ và giữ nước cho mục đích sử dụng nước sinh
hoạt, nước công nghiệp và nông nghiệp
3 Sợi và nhiên liệu Cung cấp gỗ, nguyên liệu củi, than bùn và cỏ khô
4 Hóa sinh Chiết xuất thuốc và các vật liệu khác từ thực vật
5 Nguyên liệu nguồn
Trang 36TT Dịch vụ Ví dụ
lượng mưa và các quá trình khí hậu khác ở mức độ địa phương và khu vực
7 Điều tiết dòng chảy
8 Làm sạch nước và
xử lý ô nhiễm
Giữ, phục hồi và loại bỏ các chất dinh dưỡng thừa và các chất ô nhiễm khác qua quá trình tự xử lý
9 Điều tiết xói mòn Giữ đất và bồi lắng trầm tích
10 Điều tiết thiên tai
các khía cạnh ĐNN
chính thức Dịch vụ hỗ trợ
16 Hình thành đất Giữ trầm tích và tích lũy các chất hữu cơ
17 Chu trình dinh dưỡng Lưu giữ, tái chế và thu nhận các chất dinh dưỡng
18 Tạo sinh khối Tạo ra nguồn năng lượng sinh học, nhiên liệu thay thế
nhiên liệu hóa thạch…
Nguồn:[128]
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng giữa HST/dịch vụ HST với phúc lợi của con người có mối quan hệ rất mật thiết Con người, một mặt, sống nhờ vào HST thông qua các dịch vụ của nó Bên cạnh đó, con người lại tác động vào hệ sinh thái thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp cùng các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội đã
Trang 37vụ cung cấp mà hầu như bỏ qua các dịch vụ quan trọng khác, như dịch vụ hỗ trợ của HST tạo ra sinh khối Mối tương tác giữa con người và HST có sự thay đổi và chịu
sự tác động của các cấp: địa phương, quốc gia và quốc tế như hình 1.2 dưới đây:
Nguồn:[121]
Hình 1.2 Mối liên quan giữa hệ thống tự nhiên (các dịch vụ hệ sinh thái)
và hệ thống xã hội (quản lí và sử dụng)
1.2.1.2 Quản lí bền vững ĐNN
Theo Sổ tay Ramsar số 18 về quản lí ĐNN (2010) [135], “Quản lí bền vững
ĐNN là việc lồng ghép các kế hoạch quản lí ĐNN vào trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, vùng và địa phương (tỉnh, huyện), theo đó việc lồng ghép kế hoạch quản lí ĐNN một cách phù hợp về không gian và kinh tế xã hội sẽ
Trang 38đảm bảo việc triển khai thực hiện các kế hoạch quản lí có sự tham gia và quyền làm chủ của người dân địa phương” Bên cạnh đó, trong quá trình lồng ghép các
kế hoạch quản lí ĐNN vào trong các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở các cấp còn có thể huy động nguồn lực và đảm bảo được kinh phí/ngân sách cho các hoạt động quản lí ĐNN [104]
Tại Việt Nam, bảo tồn và quản lí bền vững ĐNN ở Việt Nam cần có sự quan tâm, tham gia của các ngành, các cấp, cần có một chiến lược quản lí tổng hợp lâu dài cùng với một khung pháp lý và thể chế phù hợp Tuy nhiên, việc bảo tồn và quản lí bền vững các hệ sinh thái ĐNN ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu, bởi hiện nay việc quản lí ĐNN ở nước ta còn mang tính chất đơn ngành, chồng chéo, thiếu phối hợp, thiếu tập trung, chức năng quản lí ĐNN chưa được phân định rõ Các chính sách về quản lí ĐNN thường không nhất quán, thiếu tính hệ thống và thường bị thay đổi theo thời gian nên đã gây ra những tác động tiêu cực, như: suy thoái, tổn thất đa dạng sinh học, ô nhiễm môi trường
Trong nghiên cứu này, quản lí bền vững tài nguyên ĐNN được hiểu là sử
dụng khôn khéo ĐNN và quản lí bảo tồn dựa vào cộng đồng, sẽ được giải thích và
làm rõ tại Tiểu mục 1.2.1.4 và Mục 1.2.2 của luận án về nội hàm khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của quản lí bảo tồn DVCĐ và sử dụng không khéo ĐNN
1.2.1.3 Cộng đồng và sự tham gia của cộng đồng
a) Cộng đồng
- Trên thế giới: “Cộng đồng” là một khái niệm được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực liên quan đến chính sách xã hội và phát triển cộng đồng Giống như nhiều thuật ngữ khác, hiện vẫn chưa có sự đồng thuận giữa các học giả về khái niệm cộng đồng Một số nhà nghiên cứu định nghĩa cộng đồng thông qua việc xem xét các mối quan hệ trong đó Chaskin (1997) cho rằng "cộng đồng là sự kết nối giữa những người có cùng niềm tin, hoàn cảnh, ưu tiên, mối quan hệ hoặc mối quan tâm chia sẻ"[110] Một số học giả khác coi "cộng đồng là những người ở trong một ranh giới địa lý hoặc nhóm người
có cùng sở thích, mục đích, hoặc giá trị" [110] Bên cạnh đó, Chaskin (1997) còn lập luận: "cộng đồng là một nhóm người trong xã hội có các mối liên kết, như: liên kết xã
Trang 39hội (thân nhân, tình bạn và mạng lưới người quen); liên kết chức năng (tiêu dùng và chuyển giao hàng hoá và dịch vụ); liên kết văn hoá (tôn giáo, truyền thống, hoặc sắc tộc" [110] Như vậy, dù là cộng đồng được giới hạn, khu biệt trong một khu vực địa lý hay cộng đồng cùng có các mối quan tâm thì các học giả đều thừa nhận ở trong cộng đồng tồn tại một mối liên kết để tạo ra cơ hội nhận diện nhóm và tạo ra cơ hội cho các hoạt động tập thể Bray (1996) định nghĩa cộng đồng là "một nhóm người sống trong một khu vực địa lý cụ thể (xã, thôn, huyện,) cùng có một vài giá trị chung, cùng đối diện những thách thức chung mặc dù họ có thể khác nhau về nền tảng, kinh nghiệm
và kỹ năng" [41, 42]
Điểm chung của các tác giả đều cho rằng: cộng đồng là "Một tập hợp công
dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định, hợp tác với nhau vì những lợi ích chung, cùng chia sẻ trách nhiệm trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống và sự phát triển của cộng đồng"
- Ở Việt Nam: “Cộng đồng” chỉ một tập đoàn người rộng lớn, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng họ, một sắc tộc, một dân tộc Như vậy cộng đồng xã hội bao gồm một loạt các yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát Đó là những mặt cộng đồng về kinh tế, về địa lý, về ngôn ngữ, về văn hóa, về tín ngưỡng, về tâm lý, về lối sống Những yếu tố này trong tính tổng thể của nó tạo nên tính ổn định và bền vững của một cộng đồng xã hội Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên một quy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và đa màu sắc của các cộng đồng xã hội với quy mô nhỏ hơn [42]
Lê Diên Dực đã phát triển lý thuyết về cộng đồng của Gene Barrett (2000) với 4 chuẩn mực sau đây: Địa điểm sinh tụ hay lãnh thổ cư trú, quyền lợi hay mối quan tâm, luật tục (hương ước) và bản sắc [42]
Địa điểm sinh tụ và cư trú
Trang 40Khái niệm này được vận dụng cho các đặc điểm không gian của một địa điểm tự nhiên như địa lý, sinh thái, môi trường, cảnh quan Vùng phân bố của các địa điểm tự nhiên trong đó tất cả các cộng đồng nông thôn sinh sống trong phạm vi toàn thế giới được gọi là quần xã sinh vật (biome) tự nhiên Địa điểm được thể hiện
ở ranh giới tự nhiên trong đó luôn có sự tương tác do đó tác động đến sức mạnh của luật tục, địa điểm hay lãnh thổ xác định nội dung và tính thích hợp của tri thức bản địa nó cho phép xác định ranh giới pháp lý gắn liền với tài sản và tài nguyên và tổ chức quyền lực Địa điểm hay lãnh thổ cũng là một hợp phần quan trọng của bản sắc với ý nghĩa là gắn kết và ràng buộc
Quyền lợi hay mối quan tâm
Thể hiện cơ sở vật chất của các cộng đồng như tài nguyên và các mối quan
hệ tài sản, nhưng nói chung quyền lợi hay mối quan tâm có liên quan đến tài sản như ruộng đất và tiền bạc Trong đó quyền sở hữu đóng vai trò quyết định Quyền sở hữu thể hiện ở: cơ sở vật chất, uy tín, thanh thế và quyền lực Tất cả đều thể hiện các mối quan hệ Cơ sở vật chất của cộng đồng cũng liên quan đến quyền tiếp cận tài nguyên của cộng đồng Uy tín và thanh thế liên quan đến ai chiếm được sự quý trọng, còn quyền lực liên quan đến ai kiểm soát hoạt động của ai
Luật tục
Liên quan đến xây dựng luật và tiêu chuẩn đạo đức được dựng lên dựa trên tương tác của mọi người và sự sản sinh của những quyền lợi hay mối quan tâm của cộng đồng Luật tục thể hiện luật dựa trên tiêu chuẩn đạo đức trong đời sống hàng ngày và sự kỳ vọng vào hành vi được gắn liền với những tiến trình tổ chức Luật tục
có hai mối quan hệ về sản sinh và tự trị đối với rất nhiều mối quan hệ dựa trên quan
hệ quyền lợi của cộng đồng Với nghĩa rộng, chức năng của luật tục thể hiện tính tự trị cao trong việc hình thành cuộc sống cộng đồng nông thôn Luật tục thỏa mãn 3 yêu cầu trong hình thành xã hội: tính có thể dự đoán (làm theo đúng thể thức trong mối tương tác), kế thừa (bảo tồn truyền thống) và an toàn (sản sinh của con người
và tổ chức xã hội) Những tiêu chuẩn luật tục trong các cộng đồng cũng khác nhau ở