BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ------ NGUYỄN VĂN LONG THỰC TRẠNG TỰ TIÊM INSULIN CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM
Trang 1BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
- -
NGUYỄN VĂN LONG
THỰC TRẠNG TỰ TIÊM INSULIN CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2019
Nam Định, năm 2019
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Trang 2BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
- -
NGUYỄN VĂN LONG
THỰC TRẠNG TỰ TIÊM INSULIN CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2019
Chuyên ngành: Nội người lớn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới BGH trường đại học Điều Dưỡng Nam Định, các thầy cô giáo trong toàn trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất TS Vũ Văn Đẩu –
Trưởng Bộ môn Quản lý Điều dưỡng – Nghiên cứu khoa học - Trường Đại
Học Điều Dưỡng Nam Định - người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành chuyên
đề tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các bác sỹ và điều dưỡng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện chuyên đề
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện chuyên đề một cách hoàn chỉnh nhất Song không thể tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa thấy được Tôi rất mong được sự đóng góp của Quý thầy cô và các bạn trong lớp, đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
NGUYỄN VĂN LONG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, do chính tôi thực hiện, tất
cả các số liệu trong báo cáo này chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào khác Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG iii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1.Cơ sở lý luận 4
1.1.1.Định nghĩa đái tháo đường 4
1.1.2.Phân loại đái tháo đường 4
1.1.3.Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường 5
1.1.4.Điều trị đái tháo đường 6
1.1.5.Quy trình kỹ thuật tự tiêm insulin 9
1.1.6.Thực trạng mắc đái tháo đường type 2 trên thế giới và tại Việt Nam 10
1.2.CƠ SỞ THỰC TIỄN 13
1.2.1.Thực trạng tự tiêm insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 trên thế giới 13
1.2.2.Thực trạng tự tiêm insulin ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Việt Nam 15
Chương 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 16
2.1.Thực trạng tự tiêm insulin củabệnh nhân đái tháo đường tuyp II điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên 16
2.2.Ưu điểm và nhược điểm 20
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TỰ TIÊM INSULIN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ 23
KẾT LUẬN 26
TÀI LIỆU THAM KHẢO 3
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành,
không có thai 6 Bảng 2.1 Khả năng tự tiêm Insulin của bệnh nhân ĐTĐ type 2 17 Bảng 2.2 Mối liên quan giữa khả năng tự tiêm Insulin và các yếu tố nhân trắc học
18 Bảng 2.3 Mối liên quan giữa đặc điểm bệnh và khả năng tự tiêm Insulin 19 Bảng 2.4 Mối liên quan giữa chức năng nhận thức và khả năng tự tiêm Insulin 20
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Đái tháo đường type 2 (ĐTĐ type2)là một bệnh rối loạn chuyển hóa thường gặp nhất Đái tháo đường type 2 đang trở thành một thách thức lớn với ngành y học bởi nó gây ra nhiều tác động bất lợi như làm tăng gánh nặng chí phí điều trị, làm tăng tỷ lệ tử vong
Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế năm 2017, có 425 triệu người trên toàn thế giới mắc đái tháo đường và dự đoán đến năm 2045 sẽ tăng lên
629 triệu người Trong đó, vùng Đông Nam Á có đến 82 triệu người mắc đái tháo đường Cũng theo nghiên cứu này Việt Nam có 3,5 triệu người mắc đái tháo, chiếm 6,0% dân số và 1,83 triệu người mắc đái tháo đường chưa được chẩn đoán[18] Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế Giới, tỷ lệ mắc đái tháo đường trên toàn cầu đã tăng rừ 4,7% năm 1980 lên 8,5% năm 2014[24]
Đái tháo đường type 2 là một bệnh mạn tính và đa phần bệnh nhân được điều trị ngoại trú lâu dài Trong điều trị Đái tháo đường type 2, bên cạnh việc thay đổi lối sống và sử dụng thuốc hạ đường huyết đường uống, bệnh nhân có thể cần sử dụng insulin để kiểm soát đường huyết hiệu quả và giảm bớt gánh nặng lên tuyến tụy Tuy nhiên nếu bệnh nhân không tự tiêm insulin đúng cách sẽ làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc, đồng thời gây ra một số phản ứng có hại của thuốc (ADR) như:
hạ đường huyết, ngứa, đau tại chỗ tiêm, rối loạn dưỡng mỡ[9] Do đó, để giảm thiểu các phản ứng có hại của thuốc và phát huy hiệu quả điều trị của thuốc, bệnh nhân cần có kiến thức và thực hành đúng về cách tự tiêm insulin tại nhà
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Hân và Nguyễn Thị Hoàng Vân tại Bệnh viện tim mạch An Giang cho thấy, có 27,2% bệnh nhân thực hiện không chính xác về vị trí tiêm insulin, 27,2% bệnh nhân thực hiện sai hoàn toàn về kỹ thuật tiêm, 45,5% bệnh nhân thực hiện chưa chính xác kỹ thuật tiêm insulin[5] Theo một nghiên cứu khác của Dương Thị Liên và cộng sự tại Bệnh Viện Lão Khoa Trung ương cho thấy, chỉ có 34,4% bệnh nhân có khả năng tự tiêm tốt, có 40% bệnh nhân
có sai sót trong khi tiêm và có 25,6% bệnh nhân có khả năng tự tiêm insulin kém[7]
Trang 9Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về tự tiêm Insulin ở bệnh nhân đái tháo đường nói chung, tuy nhiên nghiên cứu về khả năng tự tiêm Insulin còn khá khiêm tốn.TháiNguyên là một tỉnh có tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường khá cao trong
số các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Chỉ riêng điều trị ngoại trú tại Khoa Khám Bệnh-Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên đã có khoảng 3000 bệnh nhân, trong số
đó tỷ lệ bệnh nhân phải tiêm Insulin chiếm trên 1/3 nhưng mới chỉ có nghiên cứu của Phùng Văn Lợi đánh giá khả năng tự tiêm Insulin ở bệnh nhân đái tháo đường trên đối tượng người cao tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 34,2% bệnh nhân Đái tháo đường type 2 có khả năng tự tiêm insulin tốt, còn có đến 18% bệnh nhân có khả năng tự tiêm inssulin kém[8]
Từ đó có thể nhận thấy vai trò quan trong của việc tự tiêm insulin đúng cách
ở bệnh nhânĐái tháo đường type 2 và để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng tự tiêm insulin chúng tôi tiến hành chuyên đề “Thực trạng tự tiêm insulin của bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2019”, với 2 mục tiêu:
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tự tiêm insulin của bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2019
2 Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả tự tiêm insulin của bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1.1 Định nghĩa đái tháo đường
Theo Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2010, định nghĩa đái tháođường: “Đái tháo đường là nhóm những rối loạn không đồng nhất gồm tăng đườnghuyết và rối loạn dung nạp glucose do thiếu insulin, do giảm tác dụng của insulin hoặccả hai Đái tháo đường type 2 đặc trưng bởi kháng insulin và thiếutương đối insulin,một trong hai rối loạn này có thể xuất hiện ở thời điểm có triệu chứng lâm sàng bệnhđái tháo đường”[17] Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA), đái tháo đường là “nhóm những rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tăng đường huyết
do thiếu hụt sản sinh insulin, giảm hoạt động của insulin hoặc cả hai[11]
1.1.2 Phân loại đái tháo đường
Năm 1936, Himsworth đề nghị có hai loại bệnh đái tháo đường là đái tháo đường nhạy với insulin và đái tháo đường không nhạy với insulin, tiền thân do thiếuinsulin Năm 1979, ADA đã chính thức công nhận đái tháo đường phụ thuộc insulinđồng nghĩa đái tháo đường type 1 và đái tháo đường không phụ thuộc insulin đồngnghĩa đái tháo đường type 2
Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ đưa ra phân loại đái tháo đường như sau[11]:
Đái tháo đường type 1 là có phá hủy tế bào bêta và thiếu insulin tuyệt đối, đượcchia làm hai thể theo nguyên nhân là do cơ chế tự miễn và do không tự miễn, khôngphụ thuộc kháng thể kháng bạch cầu ở người (Human Leucocyst Antigen: HLA)
Đái tháo đường type 2 đặc trưng bởi kháng insulin, giảm tiết insulin, tăng sảnxuất glucose từ gan và bất thường chuyển hóa mỡ Béo phì đặc biệt mỡ nội tạng hoặcbéo phì trung tâm là phổ biến nhất trong ĐTĐ type 2
Các type đặc hiệu khác như đái tháo đường do thiếu hụt chức năng tế bào bêtadi truyền (MODY 1,2,3,4,5,6), do thiếu hụt hoạt động insulin do di truyền, do các bệnhtuyến tụy ngoại tiết, do các bệnh nội tiết như hội chứng đa nội tiết tự miễn, Cushing, utế bào tiết glucagon, u tủy thượng thận, cường giáp, u tế bào tiết somatin,
Trang 12u vỏ thượngthận, đái tháo đường do thuốc hoặc hóa chất, do nhiễm trùng, hoặc các týp đái tháođường do trung gian tự miễn như hội chứng Stiff – Man, Down, Klinerfelter, Turner
Đái tháo đường thai nghén là đái tháo đường phát hiện lần đầu lúc mang thaivà sau khi sinh phần lớn glucose máu trở về bình thường, một số ít tiến triển thành đáitháo đường type 2 [21] Đái tháo đường thể LADA (LatentAutoimmune Diabetes inAdulthood) là đái tháo đường tự miễn nhưng xảy ra ở người lớn
1.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường
Theo tiêu chuẩn chấn đoán được Hiệp hội Đái tháo đướng Hoa kỳ và Bộ Y tế Việt Nam, bệnh nhân được chẩn đoán là đái tháo đường khi có một trong bốn tiêu chuẩn sau[4, 11]:
a) Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose: FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L) Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc:
b) Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: Bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300
ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày
c) HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol) Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế
d) Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L)
Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm chẩn đoán
Trang 13a, b, d ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày
Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126mg/dL (hay 7 mmol/L) Nếu HbA1c được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1c 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ
1.1.4 Điều trị đái tháo đường
Theo hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế:
a) Mục tiêu điều trị:
Mục tiêu điều trị ở các cá nhân có thể khác nhau tùy tình trạng của bệnh nhân Mục tiêu điều trị có thể nghiêm ngặt hơn: HbA1c <6,5% (48 mmol/mol) nếu có thể đạt được và không có dấu hiệu đáng kể của hạ đường huyết và những tác dụng có hại của thuốc: Đối với người bị bệnh đái tháo đường trong thời gian ngắn, bệnh ĐTĐ type 2 được điều trị bằng thay đổi lối sống hoặc chỉ dùng metformin, trẻ tuổi hoặc không có bệnh tim mạch quan trọng
Ngược lại, mục tiêu điều trị có thể ít nghiêm ngặt (nới lỏng hơn): HbA1c < 8% (64 mmol/mol) phù hợp với những bệnh nhân có tiền sử hạ glucose huyết trầm trọng, lớn tuổi, các biến chứng mạch máu nhỏ hoặc mạch máu lớn, có nhiều bệnh lý đi kèm hoặc bệnh ĐTĐ trong thời gian dài và khó đạt mục tiêu điều trị
Nếu đã đạt mục tiêu glucose huyết lúc đói nhưng HbA1c còn cao, cần xem lại mục tiêu glucose huyết sau ăn, đo vào lúc 1-2 giờ sau khi bệnh nhân bắt đầu ăn
Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân đái tháo đường ở người trưởng thành,
Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau
ăn 1-2 giờ <180 mg/dL (10.0 mmol/L)*
Trang 14Huyết áp Tâm thu <140 mmHg, Tâm trương <90
mmHg Nếu đã có biến chứng thận: Huyết áp
<130/85-80 mmHg Lipid máu LDL cholesterol <100 mg/dL (2,6
mmol/L), nếu chưa có biến chứng tim mạch
LDL cholesterol <70 mg/dL (1,8 mmol/L) nếu đã có bệnh tim mạch Triglycerides <150 mg/dL (1,7 mmol/L) HDL cholesterol >40 mg/dL (1,0 mmol/L) ở nam và >50 mg/dL (1,3 mmol/L) ở nữ
b) Điều trị cụ thể
* Thay đổi lối sống
Thay đổi lối sống hay điều trị không dùng thuốc bao gồm luyện tập thể lực, dinh dưỡngvà thay đổi lối sống
Luyện tập thể lực
Cần kiểm tra biến chứng tim mạch, mắt, thần kinh, biến dạng chân trước khi luyện tập và đo huyết áp, tần số tim Không luyện tập gắng sức khi glucose huyết > 250-270 mg/dL và ceton dương tính
Loại hình luyện tập thông dụng và dễ áp dụng nhất: đi bộ tổng cộng 150 phút mỗi tuần (hoặc 30 phút mỗi ngày), không nên ngưng luyện lập 2 ngày liên tiếp Mỗi tuần nên tập kháng lực 2-3 lần (kéo dây, nâng tạ)
Người già, đau khớp có thể chia tập nhiều lần trong ngày, thí dụ đi bộ sau 3 bữa ăn, mỗi lần 10-15 phút Người còn trẻ nên tập khoảng khoảng 60 phút mỗi ngày, tập kháng lực ít nhất 3 lần mỗi tuần
Dinh dưỡng
Trang 15Dinh dưỡng cần được áp dụng mềm dẻo theo thói quen ăn uống củabệnh nhân, các thức ăn sẵn có tại từng vùng miền Tốt nhất nên có sự tư vấn của bác sĩ chuyên khoa dinh dưỡng
Chi tiết về dinh dưỡng sẽ được thiết lập cho từng bệnh nhân tùy tình trạng bệnh, loại hình hoạt động, các bệnh lý, biến chứng đi kèm
Các nguyên tắc chung về dinh dưỡng nên được khuyến cáo cho mọi bệnh nhân:Bệnh nhân béo phì, thừa cân cần giảm cân, ít nhất 3-7% so với cân nặng nền.Nên dùng các loại carbohydrat hấp thu chậm có nhiều chất xơ, không chà xát
kỹ như gạo lứt, bánh mì đen, nui còn chứa nhiều chất xơ
Đạm khoảng 1-1,5 gam/kg cân nặng/ngày ở người không suy chức năng thận Nên ăn cá ít nhất 3 lần/tuần Người ăn chay trường có thể bổ sung nguồn đạm
từ các loại đậu (đậu phụ, đậu đen, đậu đỏ) Nên chú trọng dùng các loại mỡ có chứa acid béo không no một nối đôi hoặc nhiều nối đôi như dầu ô liu, dầu mè, dầu lạc,
mỡ cá Cần tránh các loại mỡ trung chuyển (mỡ trans), phát sinh khi ăn thức ăn rán, chiên ngập dầu mỡ.Giảm muối trong bữa ăn, còn khoảng 2300 mg Natri mỗi ngày; Chất xơ ít nhất 15 gam mỗi ngày; Các yếu tố vi lượng: nên chú ý bổ sung các yếu
tố vi lượng nếu thiếu, thí dụ sắt ở bệnh nhân ăn chay trường Dùng Metformin lâu ngày có thể gây thiếu sinh tố B12, nên chú ý đến tình trạng này nếu bệnh nhân có thiếu máu hoặc triệu chứng bệnh lý thần kinh ngoại vi; Uống rượu điều độ: một lon bia (330 ml)/ngày, rượu vang đỏ khoảng 150-200ml/ngày; Ngưng hút thuốc; Các chất tạo vị ngọt: như đường bắp, aspartame, saccharin có nhiều bằng chứng trái ngược Do đó nếu sử dụng cũng cần hạn chế đến mức tối thiểu
* Điều trị đái tháo đường bằng thuốc
Các nhóm thuốc hạ glucose huyết đường uống và thuốc dạng tiêm không thuộc nhóm insulin như: Sulfonylurea, Glinides, Metformin, và một số biệt dược
khác
Insulin: Insulin được sử dụng ở bệnh nhân ĐTĐ type 1 và cả ĐTĐ type 2 khi
có triệu chứng thiếu insulin hoặc không kiểm soát được glucose huyết dù đã ăn uống luyện tập và phối hợp nhiều loại thuốc viên theo đúng chỉ dẫn Ngoài ra ĐTĐ type 2 khi mới chẩn đoán nếu glucose huyết tăng rất cao cũng có thể dùng insulin
Trang 16để ổn định glucose huyết, sau đó sẽ dùng các loại thuốc điều trị tăng glucose huyết khác
* Điều trị các bệnh phối hợp và các biến chứng nếu có: theo hướng dẫn
chuyên môn của các bệnh và biến chứng đó
1.1.5 Quy trình kỹ thuật tự tiêm insulin
Theo hướng dẫn về quy trình kỹ thuật tiêm insulin của Bộ Y tế được ban
hành trong Danh mục hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh
chuyên ngành nội tiết(Ban hành kèm theo Quyết định số 1119 ngày 05 tháng 4
năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế)[3]:
Bước 3: Bật nắp nhựa bảo vệ phía trên nắp lọ bằng cao su
Bước 4: Vệ sinh trên nút lọ (Phía phần nút cao su) bằng cồn
Bước 5: Tháo bỏ nắp bảo vệ trên kim tiêm insulin; hút vào bơm tiêm một lượng khí đúng bằng lượng Insulin cần lấy
Bước 6: Đâm kim qua nút cao su theo chiều thẳng đứng; đẩy lượng khí vào
lọ Insulin
Bước 7: Lộn ngược lọ thuốc; một tay giữ lọ Insulin; tay kia kéo nhẹ Piston Lúc này Insulin sẽ được kéo vào bơm tiêm; lấy đủ lượng insulin là X đơn vị
Trang 17Bước 8: Kiểm tra insulin trong lọ xem có không khí không? Nếu có, nhẹ nhàng đẩy piston đưa một phần insulin trở lại lọ; sau đó nhẹ nhàng kéo piston ra, lượng Insulin lại được lấy bù vào đủ
Bước 9: Rút kim ra khỏi lọ; kiểm tra xem đã đủ liều insulin chưa?
Bước 10: Đậy nắp kim, chuẩn bị tiêm
* Cách lấy Insulin có trộn
Nguyên tắc trộn insulin:
Nguyên tắc 1: Hai loại Insulin phải do cùng một hãng sản xuất
Nguyên tắc 2: Insulin nhanh lấy trước, bán chậm hoặc chậm lấy sau
Nguyên tắc 3: Không nên trộn Insulin người và động vật với nhau
Nguyên tắc 4: Nồng độ của 2 loại insulin phải giống nhau
có không khí trong bơm tiêm
Bước 4: Trộn insulin nhẹ nhàng ở lọ có tác dụng bán chậm cho đến khi chắc chắn insulin trong lọ đã được trộn đều
Bước 5: Đảo ngược lọ; nhẹ nhàng kéo piston và lấy đủ Y đơn vị insulin ở lọ insulin có tác dụng bán chậm hoặc chậm; không để insulin tràn vào lọ; lượng insulin lúc này là: T= X+Y
b) CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
* Tư thế bệnh nhân: Nằm hoặc ngồi
* Kỹ thuật tiêm
Đường vào: tiêm dưới da
* Chọn vị trí tiêm: Các vị trí khác nhau sẽ làm cho insulin vào máu với tốc độ nhanh chậm khác nhau:
Trang 18Vùng bụng: Insulin vào máu nhanh nhất
Vùng mặt ngoài cánh tay: Insulin vào máu chậm hơn so với vùng bụng
Vùng mông và mặt ngoài đùi
* Các nguyên tắc cần nhớ khi tiêm
Nguyên tắc 1: Ở mỗi vị trí tiêm, da phải được giữ sạch, cơ bắp và lớp mỡ dưới da vùng này phải hoàn toàn bình thường Đây là điều kiện để Insulin được hấp thu tốt Nguyên tắc 2: Các vị trí đều phải được sử dụng luân chuyển
Nguyên tắc 3: Nếu sử dụng từ 2 mũi tiêm trở lên trong một ngày, phải tiêm vào các
vị trí ở các vùng khác nhau Khi tất cả các vị trí trong vùng đã sử dụng hết mới chuyển sang vùng khác
* Các bước tiến hành tiêm Insulin
Bước 1: Chọn vị trí tiêm và sát trùng nơi tiêm bằng bông cồn 700
C
Bước 2: Làm căng bề mặt da vùng sát trùng; đâm nhanh kim thẳng đứng vuông góc với mặt da (900)
Bước 3: Đẩy piston để thuốc vào cơ thể
Bước 4: Rút kim theo chiều thẳng đứng như khi đâm vào, không chà xát lại nơi đã tiêm
Người ta còn một cách tiêm khác, đó là phương pháp kéo da Trong phương pháp này, sau khi sát trùng, dùng một tay kéo nhẹ vùng da, nhanh chóng đẩy kim tiêm một góc từ 450 – 900 so với mặt da
c) TAI BIẾN VÀ XỬ TRÍ
Hạ đường huyết: Tùy mức độ hạ đường huyết cho bệnh nhân ăn hoặc uống một lượng khoảng 15 g carbonhydrat hoặc truyền glucose ưu trương tĩnh mạch
Nhiễm trùng nơi tiêm: Kháng sinh
Loạn dưỡng mỡ dưới da tại điểm tiêm: hoặc lớp mỡ dưới da bị teo lại hoặc tại nơi tiêm tạo thành cục Để phòng tránh cần phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc cần nhớ khi tiêm insulin đã được nói ở trên Lọ insulin đang dùng không nên để trong tủ lạnh
1.1.6Thực trạng mắc đái tháo đường type 2 trên thế giới và tại Việt Nam
Trang 19a) Trên thế giới
Trong những năm gần đây, mô hình bệnh tật có nhiều thay đổi, các bệnh nhiễm trùng có xu hướng ngày một giảm thì ngược lại các bệnh không lây nhiễm như: tim mạch, tâm thần, ung thư đặc biệt là bệnh ĐTĐ và các rối loạn chuyển hoá ngày càng tăng [2]
Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế năm 2017, có 425 triệu người trên toàn thế giới mắc đái tháo đường và dự đoán đến năm 2045 sẽ tăng lên
629 triệu người Trong đó, vùng Tây Thái Bình Dương có số người mắc đái tháo đường cao nhất với 159 triệu người, tiếp theo là vùng Đông Nam Á với 82 triệu người mắc đái tháo đường[18]
Số người mắc đái tháo đường tại Mỹ được chẩn đoán là 30,19 triệu người, chiếm tỷ lệ 10,8% dân số của Mỹ và còn 11,5 triệu người Mỹ mắc đái tháo đường nhưng chưa được chẩn đoán [18] Cũng theo báo cáo của CDC năm 2017, tại Mỹ có 30,3 triệu người Mỹ mắc đái tháo đường, theo đó cứ 10 người Mỹ thì có 1 người mắc đái tháo đường Cũng theo báo cáo đó, trên 1 nửa số người được chẩn đoán đái tháo đường mới nằm trong độ tuổi từ 45-64 tuổi Tuy nhiên, ngày càng nhiều trường hợp đái tháo đườn type 2 được chẩn đoán gặp ở người trẻ tuổi[15]
Tại Châu Âu, theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế năm
2017, có 58 triệu người mắc đái tháo đường và số người mắc đái tháo đường sẽ tăng thêm 16% vào năm 2045 (khoảng 67 triệu người) Bên cạnh đó, số người mắc đái tháo đường tại Châu Phi năm 2017 là khoảng 16 triệu người ở vùng Nam Phi và 39 triệu người mắc đái tháo đường tại Bắc và Trung Phi, con số này cũng tăng từ 110-156% vào năm 2045 [18]
b) Tại Việt Nam
Cũng theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường quốc tế, Việt Nam có 3,5 triệu người mắc đái tháo, chiếm 6,0% dân sốvà 1,83 triệu người mắc đái tháo đường chưa được chẩn đoán Số người mắc đái tháo đường tại Việt Nam được dự đoán tăng lên 6,1 triệu người vào năm 2040[18]
Năm 2013, trong kết quả công bố của “Dự án phòng chống Đái tháo đường Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải