1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng chăm sóc, phục hồi chức năng người bệnh tổn thương tủy sống điều trị tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh sơn la năm 2019

43 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 660,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

------ VŨ THỊ NAM HỒNG THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG NGƯỜI BỆNH TỔN THƯƠNG TỦY SỐNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỈNH SƠN LA NĂM 2019 BÁO CÁO CH

Trang 1

- -

VŨ THỊ NAM HỒNG

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

NGƯỜI BỆNH TỔN THƯƠNG TỦY SỐNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỈNH SƠN LA

NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH – 2019

Trang 2

- -

VŨ THỊ NAM HỒNG

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG

NGƯỜI BỆNH TỔN THƯƠNG TỦY SỐNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỈNH SƠN LA

NĂM 2019

Chuyên ngành: Điều dưỡng Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Giảng viên hướng dẫn: TS.BS Vũ Văn Thành

NAM ĐỊNH – 2019

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Ban giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa điều dưỡng trường đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình truyền đạt kiến thức trong hai năm em học tập tại trường Với vốn kiến thức tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp

mà còn là hành trang quý báu để em có thể hoàn thành tốt hơn sự nghiệp mà em đang theo đuổi

Em tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS.BS Vũ Văn Thành đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình viết chuyên đề tốt nghiệp

Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La

đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại bệnh viện

Em chân thành cảm ơn toàn thể Điều dưỡng, Bác sỹ trong khoa Ngoại - Chỉnh hỉnh Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La đã hướng dẫn chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình viết chuyên đề

Sơn La, ngày 20 tháng 6 năm 2019

Học viên

Vũ Thị Nam Hồng

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Vũ Thị Nam Hồng xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, do chính tôi lần đầu thực hiện, các số liệu trong báo cáo là trung thực, chính xác và đáp ứng các quy định về trích dẫn

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về cam đoan này

Nam Định, ngày 20 tháng 6 năm 2019

Người cam đoan

Vũ Thị Nam Hồng

Trang 7

MỤC LỤC

Lời cảm ơn……… i

Lời cam đoan……….ii

Mục lục………

Danh mục chữ viết tắt……… iii

Danh mục bảng……… iv

Danh mục hình ảnh……… v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.2 Cơ sở thực tiễn 8

CHƯƠNG 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN ……… 16

2.1 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 166 2.2 Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh TTTS tại Khoa Ngoại – Chỉnh hình bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La 6 tháng đầu năm 2019………17

2.3 Chăm sóc phục hồi chức năng 32 người bệnh TTTS tại khoa Ngoại – Chỉnh hình bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Sơn La ……….……….……260 2.4 Mức độ hài lòng của người bệnh……… ……….26

2.5 Những ưu điểm và tồn tại……… ……27

2.6 Nguyên nhân 27

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ………28 Kết luận Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Trang

Bảng 2.2.2 Điểm trung bình chất lượng cuộc sống qua các thời điểm 19 Bảng 2.2.3 Sự thay đổi CLCS của bệnh nhân sau 1 tháng được PHCN 19 Bảng 2.2.4 Mối liên quan giữa tuổi và sự thay đổi CLCS sau 1 tháng được

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1 Người bệnh loét vùng cùng cụt, mấu chuyển lớn xương đùi do tì đè 24 Hình 2: Vết loét vùng cùng cụt, mấu chuyển lớn xương đùi sau một thời gian điều trị

và chăm sóc 25

Hình 3: Tập phục hồi chức năng cho người bệnh tổn thưởng tủy sống 28

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ Tổn thương tủy sống (TTTS) là tình trạng bệnh lý gây rối loạn trầm trọng chức năng của nhiều cơ quan khác nhau: Liệt hoặc giảm vận động tứ chi hoặc hai chi dưới kèm theo những rối loạn khác như cảm giác, bàng quang, ruột, sinh dục [13]

Theo số liệu thống kê hàng năm trên thế giới, tỷ lệ tổn thương tuỷ sống ngày càng có xu hướng gia tăng Năm 2013 tại Mỹ có khoảng 12.000 trường hợp tổn thương tuỷ sống mắc mới, tỷ lệ hiện mắc khoảng 73.000 người, trong đó nam giới chiếm 80,6%, nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông và ngã cao [17]

Tại Việt Nam, hiện chưa có số liệu thống kê và đầy đủ và đại diện cho cả nước

về tỷ lệ tổn thương tuỷ sống, tuy nhiên qua một số số liệu báo cáo của các bệnh viện lớn trên cả nước cho thấy tỷ lệ tổn thương tủy sống ngày một gia tăng, đặc biệt do tai nạn giao thông, tai nạn lao động và tai nạn sinh hoạt, độ tuổi thường gặp là 20-59 tuổi, đây là lứa tuổi lao động chính, cống hiến nhiều nhất cho xã hội [8], [11]

Do vậy tổn thương tuỷ sống không những làm người bệnh mất khả năng độc lập trong cuộc sống mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội Trước đây tổn thương tuỷ sống được coi là một bệnh không thể chữa trị, tuy nhiên hiện nay sự phát triển vượt bậc của y học cho thấy rằng những người bệnh tổn thương tuỷ sống nếu được chăm sóc và phục hồi chức năng kịp thời thì có thể có một cuộc sống như bình thường [9] Mục tiêu của phục hồi chức năng là đảm bảo cho người bệnh được tái hội nhập xã hội,

có cơ hội bình đẳng tham gia các hoạt động gia đình và xã hội, đồng thời cải thiện được chất lượng cuộc sống ở mức cao nhất cho người bệnh [13]

Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của các bệnh viện, đặc biệt là nhân viên y tế trong công tác chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh Ở các nước phát triển đã sớm hình thành những trung tâm phục hồi chức năng chuyên biệt và mạng lưới chăm sóc người bệnh tổn thương tuỷ sống Tuy nhiên tại Việt Nam, người bệnh tổn thương tuỷ sống thường chỉ được quan tâm điều trị trong giai đoạn cấp sau đó xuất viện mà chưa chú trọng đúng mức đến giai đoạn phục hồi chức năng, giai đoạn sẽ góp phần quyết định đến sự hồi phục và chất lượng cuộc sống của người bệnh [9]

Hiệu quả cải thiện tình trạng sức khỏe của người bệnh nói chung và người bệnh nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào công tác chăm sóc phục hồi chức năng của đội ngũ nhân viên y tế tại bệnh viện Hiện nay ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu về thực trạng

Trang 12

chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh tổn thương tuỷ sống Do đó, để góp phần vào công tác điều trị và chăm sóc phục hồi chức năng, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh tổn thương tuỷ sống, tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề:

“Thực trạng chăm sóc, phục hồi chức năng người bệnh tổn thương tủy sống điều trị tại bệnh viện phục hồi chức năng tỉnh Sơn La năm 2019”

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Định nghĩa tổn thương tủy sống

Tổn thương tủy sống là tình trạng bệnh lý gây liệt hoặc giảm vận động tứ chi hoặc hai chân kèm theo các rối loạn khác như: Cảm giác, hô hấp, tim mạch, bàng quang, đường ruột, loét do tì đè do nguyên nhân chấn thương hoặc do các bệnh lý khác của tủy sống, thường để lại nhiều di chứng nặng nề và dẫn tới tàn tật nếu không được điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng tốt [3]

1.1.2 Nguyên nhân tổn thương tủy sống [3]

Có nhiều nguyên nhân gây TTTS:

- Do chấn thương: chiếm 65% trường hợp bao gồm: tai nạn giao thông, tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt, tai nạn thể thao, chiến tranh, bạo lực

- Các bệnh tủy sống: ung thư, xơ tủy rải rác, nhiếm trùng

- Các biến dạng cột sống: gù, vẹo, thoát vị, gai đôi cột sống

- Bệnh mạch máu hay huyết khối mạch tủy

1.1.3 Phân loại tổn thương tủy sống [3]

1.1.3.1 Phân loại theo tổn thương thần kinh

+ Tổn thương tủy hoàn toàn: khi không có chức năng vận động cảm giác ở

đoạn tủy cùng thấp nhất

+ Tổn thương tủy không hoàn toàn: nếu còn bảo tồn một phần chức năng cảm

giác và/hoặc bên dưới mức thương tổn và bao gồm đoạn tủy cùng thấp nhất

1.1.3.2 Phân loại theo ASIA (Hiệp hội chấn thương tủy sống Mỹ)

Dựa vào sự chi phối thần kinh của tứ chi để kiểm tra, đánh giá TTTS theo tổng điểm vận động và cảm giác, chia làm 5 mức:

+ ASIA A = Tổn thương tủy hoàn toàn :không còn chức năng vận động, cảm

giác tại vùng tủy cùng S4-S5

+ ASIA B = Tổn thương tủy không hoàn toàn: Còn cảm giác nhưng mất chức

năng vận động dưới mức thần kinh tổn thương

+ ASIA C = Tổn thương tủy không hoàn toàn: còn chức năng vận động dưới

mức thần kinh tổn thương và hơn một nửa số cơ chính dưới mức tổn thương có bậc cơ dưới 3

Trang 14

+ ASIA D = Tổn thương tủy không hoàn toàn: còn chức năng vận động dưới

mức tổn thương thần kinh và ít nhất một nửa số cơ chính dưới mức tổn thương có bậc

cơ lớn hơn hoặc bằng 3

+ ASIA E = Bình thường: Chức năng vận động, cảm giác bình thường

1.1.4 Biểu hiện lâm sàng của liệt tủy [3]

1.1.4.1 Các dấu hiệu lâm sàng

Dấu hiệu lâm sàng phụ thuộc vào hai yếu tố sau:

- Vị trí tổn thương

- Mức độ tổn thương

Khi tủy sống bị tổn thương gây nên hội chứng liệt tủy biểu hiện:

- Rối loạn vận động:

+ Liệt vận động: mất hoặc giảm vận động dưới mức tổn thương

+ Liệt tứ chi: có thể kèm liệt hô hấp và cơ hoành Khó khăn khi thở, ho và khạc đờm

+ Liệt hai chân: kèm liệt cơ thân mình

- Rối loạn cảm giác:

+ Rối loạn cảm giác nông: đau, sờ mò, cảm giác nóng lạnh

+ Rối loạn cảm giác sâu: vị trí, tư thế

+ Rối loạn dị cảm: tê bì, kiến bò

+ Rối loạn cơ tròn: đại tiểu tiện không tự chủ

+ Tăng phản xạ hoặc co cứng

+ Giảm khả năng tình dục

1.1.4.2 Diễn biến lâm sàng

Gồm 2 giai đoạn:

- Giai đoạn choáng tủy:

Choáng tủy là hậu quả của việc cắt đứt về mặt sinh lý và giải phẫu của tủy sống,

là hiện tượng mất hoàn toàn tạm thời tất cả hoặc hầu hết các hoạt động phản xạ tủy tại mức tổn thương và dưới mức tổn thương Giai đoạn này thường xảy ra ngay sau tai nạn, biểu hiện lâm sàng như sau:

+ Liệt mềm nhẽo hoàn toàn dưới mức tổn thương

+ Mất hoàn toàn cảm giác nông và cảm giác sâu dưới mức tổn thương

Trang 15

+ Mất các phản xạ gân xương, dấu hiệu Babinski (phản xạ da bàn chân) không đáp ứng hai bên

+ Đại tiểu tiện không tự chủ

Trong giai đoạn này khó xác định vị trí, mức độ tổn thương Thời gian từ khi bị thương đến khi xuất hiện hồi phục đầu tiên càng ngắn thì kết quả hồi phục chức năng càng tốt

- Giai đoạn hồi phục:

Bắt đầu từ khi có sự xuất hiện trở lại của bất kỳ dấu hiệu thần kinh nào bao gồm: phản xạ, vận động, cảm giác ở dưới mức tổn thương Lúc này bệnh cảnh lâm sàng sẽ rõ rệt tùy theo vị tri và mức dộ tổn thương, với các hội chứng rối loạn vận động, rối loạn cảm giác, rối loạn cơ tròn, rối loạn dinh dưỡng, rối loạn thần kinh thực vật

1.1.4.3 Tổn thương thứ cấp thường gặp

Tổn thương thứ cấp là các biến chứng xáy ra sau quá trình bệnh lý, do người bệnh nằm bất động lâu hoặc không được chăm sóc đúng Tổn thương thứ cấp có thể xảy ra ở nhiều cơ quan, bộ phận khác nhau của cơ thể như vận động, hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu như teo cơ, tụt huyết áp tư thế, nhiễm trùng tiết niệu, loét

1.1.5 Chăm sóc phục hôì chức năng cho người bệnh tổn thương tủy sống

1.1.5.1 Định nghĩa

 Chăm sóc NB trong bệnh viện:

Theo Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 1 năm 2011 của Bộ Y tế về việc “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc NB trong bệnh viện”, chăm sóc

NB trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của mỗi NB nhằm duy trì hô hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và tránh các nguy cơ từ môi trường bệnh viện cho người bệnh [12]

 Phục hồi chức năng người bệnh TTTS là dùng các biện pháp y học, xã hội học, giáo dục học, kinh tế và kỹ thuật PHCN nhằm đảm bảo cho người bệnh tái nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng tham gia các hoạt động trong gia đình, xã hội, có

cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh của họ [6]

1.1.5.2 Các bước chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh TTTS [3]

Trang 16

Nhận định

- Hỏi, khám người bệnh liệt 2 chân hay tứ chi

- Đại, tiểu tiện không tự chủ hay bí đại, tiểu tiện Xem cơ teo hay phù nề, da đã

có dấu hiệu loét chưa, có sốt không? Có khó thở không?

+ Theo dõi dấu hiệu sinh tồn

- Phục hồi chức năng và chăm sóc các hệ thống cơ quan đề phòng nhiễm khuẩn

và biến chứng

- Giáo dục sức khỏe

 Thực hiện kế hoạch chăm sóc

Người bệnh bị liệt không tự vận động được, người bệnh rất buồn, lo lắng, nên khi đón tiếp người bệnh người điều dưỡng cần có thái độ, cử chỉ ân cần thông cảm với tình trạng bệnh của họ, giúp họ vào giường Chú ý tư thế toàn thân cũng như các chi

đề phòng biến dạng, loét sớm xảy ra

 Vệ sinh cơ thể, phòng chống loét:

- Hàng ngày vệ sinh mặt mũi, răng, miệng, đầu tóc, vệ sinh da, chú ý vùng tỳ đè,

bộ phận sinh dục cần khô ráo, sạch sẽ

- Ga giường người bệnh luôn luôn sạch sẽ, không có nếp gấp

- Thay đổi tư thế người bệnh 2 giờ một lần, thường xuyên kiểm tra các vùng tỳ

đè, dễ gây loét như vùng chẩm, xương bả vai, khuỷu tay, xương cùng cụt, vùng mông, gai chậu, mất cá chân

- Dấu hiệu của nguy cơ loét là da vùng đó đỏ lên không mất đi sau 15 phút Nếu

có vết trợt điều trị ngay, tránh nhiễm khuẩn

- Cho người bệnh nằm đệm chống loét như vòng hơi cao su hay phao giường bơm nước…

Trang 17

- Đảm bảo dinh dưỡng cho người bệnh đủ số lượng và chất lượng, tăng protid như: trứng, sữa, thịt, cá và đầy đủ các vitamin có trong quả tươi

 Thực hiện y lệnh:

Khi cho người bệnh uống thuốc, tiêm thuốc, truyền thuốc đúng theo y lệnh Chú

ý khi truyền thuốc phải theo dõi sát đề phòng thuốc truyền ra ngoài tĩnh mạch, vì người bệnh có rối loạn cảm giác nên không nhận biết đau

* Làm các xét nghiệm chính xác kịp thời Phụ giúp bác sĩ chọc dò thắt lưng để xét nghiệm dịch não tủy

- Xét nghiệm máu, phân, đờm, nước tiểu, ngoáy họng

- Xquang thần kinh: Chụp cột sống,chụp tủy sống, chụp tủy cản quang…

- Thăm dò chức năng: Ghi điện cơ, điện tim

- Khám các chuyên khoa ngoại, sản khoa, mắt, tai mũi họng, da liễu

* Theo dõi dấu hiệu sinh tồn: Lấy mạch, nhiệt độ, đếm mạch nhịp thở

Chú ý theo dõi nhịp thở, đối với người bệnh có biểu hiện triệu chứng tổn thương tủy lan lên thường gây khó thở, lo sợ vật vã phải báo cáo bác sĩ để cấp cứu vì rất dễ liệt trung tâm hô hấp

 Chăm sóc, phục hồi chức năng vận động:

Để tránh tình trạng người bệnh co cứng, co rút, đặt người bệnh nằm đúng tư thế, nên đặt gối và đệm lót để giữ chân thẳng, bàn chân vuông góc với cẳng chân

Tập và cử động khớp háng, khớp vai

Xoa bóp cơ thể tăng cường lưu thông máu, tránh teo cơ

 Chăm sóc, phục hồi chức năng tiết niệu:

Người bệnh bí tiểu khi có cầu bàng quang cần đặt thông tiểu bàng quang

Đề phòng nhiễm khuẩn đường tiết niệu Khi thông tiểu đảm bảo đúng kỹ thuật,

vô khuẩn, không thông nhiều lần trong ngày, lưu thông tại bàng quang không để lâu quá 3 ngày thay thông khác, hàng ngày bơm rửa bàng quang bằng dung dịch NaCl 0,9%

Cho người bệnh uống đủ nước trung bình 2 lít trong một ngày Uống nước hoa quả có nhiều vitamin, vì vi khuẩn khó phát triển khi nước tiểu có môi trường axid Luôn giữ vệ sinh ống thông, túi đựng nước tiểu, rửa bộ phận sinh dục ngoài sạch sẽ, khô ráo hàng ngày

 Chăm sóc, phục hồi chức năng đường ruột:

Trang 18

Luyện tập cho người bệnh có thói quen đại tiện hàng ngày vào thời gian nhất định

- Xoa bóp khung đại tràng theo chiều nhu động ruột

- Kích thích đại tiện "bằng cách đặt thuốc đạn vào hậu môn"

 Chăm sóc, phục hồi chức năng đường hô hấp:

- Đề phòng bội nhiễm viêm phổi, xẹp phổi

- Rung vỗ lồng ngực

 Giáo dục sức khỏe:

Khi bị tổn thương tủy bệnh thường tiến triển kéo dài, tâm lý người bệnh và người thân của họ rất bi quan nên người điều dưỡng cần có thái độ ân cần, động viên nâng đỡ an ủi người bệnh tin tưởng vào chuyên môn, có ý chí quyết tâm cao kiên trì tập luyện phục hồi chức năng, hòa nhập vào xã hội và cộng đồng

- Nâng cao thể trạng đảm bảo dinh dưỡng

- Đề phòng các sang chấn để không ảnh hưởng thêm cho cột sống và tủy

 Đánh giá:

Người điều dưỡng cần đánh giá:

- Thể trạng người bệnh tốt lên: ăn ngủ được

- Cơ thể, quần áo, giường chiếu được vệ sinh sạch sẽ

- Không có dấu hiệu bội nhiễm và các di chứng như: Loét da, viêm đường tiết niệu, cứng khớp, teo cơ…

- Tinh thần người bệnh an tâm tin tưởng chuyên môn

Dựa trên các triệu chứng lâm sàng để xem xét, đánh giá kịp thời tình trạng bệnh

từ đó điều chỉnh kế hoạch chăm sóc đáp ứng nhu cầu của người bệnh

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tình hình chăm sóc người bệnh Tổn thương tủy sống trên thế giới

Chấn thương tủy sống tác động đến hàng nghìn người mỗi năm, gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe, làm mất chức năng vận động, rối loạn cảm giác và các cơ quan khác như bàng quang, đường ruột, hô hấp, tim mạch và loét do tỳ đè dẫn đến giảm CLCS Nghiêm trọng hơn, CTTS làm người bệnh mất cơ hội việc làm, mất khả năng độc lập trong cuộc sống và thay đổi tâm lý sức khỏe nặng nề.Theo số liệu điều tra dịch tễ học cho thấy hàng năm trên thế giới tỷ lệ CTTS thay đổi theo vùng và có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở các nước có mật độ giao thông đông đúc, ngay cả ở các nước phát

Trang 19

triển, với 80% nạn nhân là nam giới, đang trong độ tuổi lao động Điều này cho thấy CTTS không những ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, mà còn ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng cuộc sống của chính người bệnh Ngoài việc điều trị bằng thuốc thì chăm sóc và Phục hồi chức năng là yếu tố quyết định nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh Nếu người bệnh Tổn thương tủy sống được chăm sóc tốt sẽ làm giảm các biến chứng thứ cấp [10]

1.2.1.1 Một số nghiên cứu liên quan đến thực trạng chất lượng cuộc sống của người bệnh chấn thương tủy sống

- PH Smith và RM Decter (2015) sử dụng bộ công cụ đánh giá CLCS của người bệnh sau CTTS (FIQL) để xác định mức độ rò rỉ phân ngoài ý muốn ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh Điểm CLCS (FIQL) được thể hiện ở 4 lĩnh vực: cách sống, cách ứng phó, sự buồn chán/tự nhận thức hay sự xấu hổ Bộ câu hỏi được phát trước

và sau phẫu thuật Sử dụng T-test để so sánh trước và sau phẫu thuật Kết quả cho thấy

từ 2003-2010, nghiên cứu được thực hiện trên 17 người bệnh CTTS, bao gồm 10 người bệnh liệt 2 chân và 7 NB liệt tứ chi có thời gian trung bình là 33 năm sau phẫu thuật Có tới 85% người bệnh CTTS trải qua các mức độcủa phân bón nặng, việc điều trị ban đầu của táo bón liên quan đến thần kinh ruột rối loạn chức năng nói chung bao gồm sự kết hợp của phương pháp điều trị răng miệng , thuốc đạn và dung dịch thụt tháo, phương pháp điều trị như vậy có lợi ích của việc không xâm lấn Các ACE (Antegrade continence enema) cho phép người bệnh quản lý hiệu quả việc kiểm soát phân, các (ACE) cung cấp cải thiện đáng kể ở người bệnh (FIQL) là bộ công cụ đáng tin cậy và hợp lệ để đo CLCS liên quan đến không kiểm soát phân Hơn nữa, khi phân tích tính cho thấy mối tương quan của (FIQL) phù hợp với bộ công cụ đánh giá CLCS toàn cầu SF-36 và nó đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về CLCS ở người bệnh chấn thương tủy sống [18]

- V Bochkezanian, J Raymond, de Oliveira và cộng sự (2015) dùng kết hợp bài tập aerobic và những bài tập tăng sức mạnh theo vòng tròn đối với NB CTTS Chất lượng cuộc sống của người bệnh sau CTTS được đánh giá thông qua khả năng độc lập với việc sử dụng thang PEDro (Physiotherapy Evidence Database); nghiên cứu thực nghiệm bởi hai nhà nghiên cứu khác nhau Kết quả: Nghiên cứu phân tích 7981 NB, trong đó 9 thử nghiệm đạt tiêu chuẩn lựa chọn Từ 9 thử nghiệm trên, 7 cho kết quả của việc tập aerobic, và 2 trong số đó cho thấy sự cải thiện có ý nghĩa thống kê 5

Trang 20

nghiên cứu cho kết quả tăng sức mạnh cơ, 4 trong số đó có kết quả có ý nghĩa thống

kê 2 nghiên cứu khác xem xét chất lượng cuộc sống và 1 trong 2 nghiên cứu cho thấy

sự khác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi có sự can thiệp tập thể dục kết hợp NB sẽ có sự suy yếu về thể chất do đó nó ảnh hưởng đến khả năng tập thể dục, dẫn đến CLCS ở những NB CTTS giảm theo [9]

- D M Cushman, K Thomas, D Mukherjee (2015) đã sử dụng bảng câu hỏi điều tra của các bác sĩ PM&R (Physical Medicine and Rehabilitation) và EM (Emergency Medicine) Người tham gia nghiên cứu là các bác sĩ có chứng chỉ thuộc Hiệp hội PHCN Mỹ và giảng viên tại các trường đại học Y khoa của Mỹ và Canada Nghiên cứu nhằm đánh giá các khía cạnh trong CLCS của người bệnh CTTS bao gồm hoạt động giải trí, quan hệ xã hội, hạnh phúc, công việc có ý nghĩa, đời sống tình dục

và chất lượng sống nói chung Kết quả cho thấy trong tổng số 91 bác sĩ cấp cứu và 89 bác sĩ PHCN được hỏi, thì số lượng bác sĩ PHCN nhiều hơn so với bác sĩ cấp cứu cho rằng người bệnh sẽ có CLCS tốt hơn không kể đến mức độ chấn thương hay khía cạnh cuộc sống nào được nói đến (p<0.01) Bác sĩ nữ, không kể đến chuyên ngành, chọn mức thấp hơn cho câu hỏi liệu người bệnh có muốn kết thúc cuộc sống nếu bị CTTS không (p = 0.03) Cả hai nhóm bác sĩ đều có xu hướng không đồng ý với nhận định mức độ chấn thương thấp hơn thì cho CLCS cao hơn Thái độ của bác sĩ có thể có một tác động đáng kể về y tế chăm sóc, và nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bác sĩ đánh giá thấp chất lượng cuộc sống đối với của người sống khuyết tật [16]

- Ravenek K E và cộng sự (2012) thực hiện một nghiên cứu tổng quan có hệ thống sử dụng dữ liệu từ PubMed và CINAHL để tìm hiểu các nghiên cứu sử dụng công cụ đo lường CLCS và đánh giá hiệu quả của hoạt động thể chất hay sử dụng hoạt động thể chất để xác định mối liên hệ giữa hoạt động thể chất và CLCS Kết quả cho thấy, trong 13 nghiên cứu có 9 công cụ đo CLCS được sử dụng Hai bộ công cụ đánh giá khách quan (SF-36) và QWB (Quality of Well-being) Bảy công cụ đánh giá chủ quan: (1) tự đánh giá CLCS PqoL (Perceived Quality of Life), (2) thang điểm thỏa mãn cuộc sống SWLS (Satisfaction with Life Scale), (3) chỉ số CLCS của NB CTTS - phiên bản III, (4) thang thỏa mãn cuộc LISAT (Life Satisfaction), (5) phản hồi chất lượng cuộc sống, (6) hồ sơ chất lượng cuộc sống: Phiên bản cho người khuyết tật thể chất và giác quan QOLP-PSD (Quality of Life Profile - Physical and Sensory

Trang 21

Disabilities Version) và (7) CLCS theo đánh giá chủ quan SQOL (Subjective Quality

of Life) [15]

- Nghiên cứu phân tích các công cụ cho thông tin về CLCS liên quan đến sức khỏe HRQoL (Health-related quality-of-life), bao gồm Bản điều tra ngắn (SF-36), Bản điều tra ngắn 36 dành cho cựu chiến binh (SF-36V), Bản điều tra ngắn 12 (SF-12), Bản điều tra ngắn 6 dành cho người khuyết tật (SF-6D), Hồ sơ ảnh hưởng của bệnh thật (SIP-68), Bảng tự đánh giá CLCS (QWB-SA), Qualiveen và Công cụ NB tự đánh giá ảnh hưởng của co cứng (PRISM) Trong số 22 bài báo với 8 công cụ đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe của người bệnh cho thấy người bệnh CTTS có CLCS kém hơn nhiều so với dân số nói chung, đặc biệt là về thể chất [16]

1.2.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh sau chấn thương tủy sống

- Y Akkoc, M Ersoz và N Yıldız (2013) nghiên cứu các NB CTTS ít nhất 6 tháng sau chấn thương (n = 195, 74.4% nam) Người bệnh trên được chia vào 5 nhóm: tiểu tiện bình thường, tiểu tiện có hỗ trợ, người bệnh tự thông tiểu ngắt quãng, thông tiểu ngắt quãng do người khác trợ giúp và thông tiểu lưu Bảng điều tra câu hỏi King được sử dụng để đánh giá CLCS của người bệnh sau CTTS Kết quả là các nhóm người bệnh quản lý bàng quang giống nhau về tuổi, thời gian sau chấn thương, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp Không có sự khác biệt nào về sức khỏe nói chung, mối quan hệ cá nhân, điểm giấc ngủ/năng lượng Trong khi nhóm tiểu tiện bình thường có điểm số thấp nhất (nghĩa là có CLCS cao nhất), nhóm có người giúp đặt thông tiểu có CLCS tồi nhất Vậy yếu tố NB khi có sự can thiệp để có thể tiệu tiện

và tiện cho việc chăm sóc và theo dõi có là yếu tố ảnh hưởng đến CLCS của người bệnh sau CTTS [17]

- Trong nghiên cứu tổng hợp y văn của Leeuwen V, Kraaijeveld S, Lindeman E

và cộng sự (2012), một số hệ thống dữ liệu trực tuyến đã tham khảo PubMed, Embase

và PsychInfo Tiêu chuẩn lựa chọn các bài báo là các bài báo phải phân tích định lượng mối quan hệ giữa các biến độc lập liên quan đến chất lượng sống và các yếu tố tâm lý như các biến phụ thuộc Nghiên cứu tổng hợp này chỉ xem xét các thử nghiệm lâm sàng bằng tiếng Anh Chất lượng phương pháp nghiên cứu cũng được đánh giá Kết quả cho thấy có 48 nghiên cứu đáp ứng đủ tiêu chuẩn lựa chọn Không có bằng chứng nào được tìm thấy về mối liên quan giữa phương pháp giải quyết vấn đề và chất

Ngày đăng: 23/02/2021, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Thị Ngọc Anh (2015), Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống giai đoạn tái hòa nhập cộng đồng
Tác giả: Đỗ Thị Ngọc Anh
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2015
2. Bộ môn Phục hồi chức năng Trường Đại học Y Hà Nội (2011), Phục hồi chức năng (dùng đào tạo cử nhân điều dưỡng), NXB Giáo dục, tr.65-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng (dùng đào tạo cử nhân điều dưỡng)
Tác giả: Bộ môn Phục hồi chức năng Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2011
3. Bộ môn Phục hồi chức năng - Trường Đại học Y Hà Nội (2003), Phục hồi chức năng tổn thương tủy sống- Bài giảng Vật lý trị liệu-Phục hồi chức năng, Nhà xuất bản Y học, tr. 126-139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Vật lý trị liệu-Phục hồi chức năng
Tác giả: Bộ môn Phục hồi chức năng - Trường Đại học Y Hà Nội
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
6. Cao Minh Châu (2009), Phục hồi chức năng, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, tr.33-40, tr.66-77, tr.82, tr.100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi chức năng
Tác giả: Cao Minh Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
7. Nguyễn Phương Sinh (2012), Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tuỷ bằng phương pháp tập thở tự điều khiển, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả phục hồi chức năng hô hấp cho bệnh nhân chấn thương cột sống có liệt tuỷ bằng phương pháp tập thở tự điều khiển
Tác giả: Nguyễn Phương Sinh
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2012
8. Cầm Bá Thức (2008), Nghiên cứu thực trạng bệnh nhân liệt hai chi dưới do chấn thương tuỷ sống tại cộng đồng và đề xuất một số giải pháp can thiệp. Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh nhân liệt hai chi dưới do chấn thương tuỷ sống tại cộng đồng và đề xuất một số giải pháp can thiệp
Tác giả: Cầm Bá Thức
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2008
9. Nguyễn Anh Tú (2016), Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Bạch Mai, Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ y học, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Nguyễn Anh Tú
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2016
10. Vũ Thị Hiền Trinh (2005), Nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng và kết quả phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống tại Trung tâm Phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa. Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng và kết quả phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống tại Trung tâm Phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Vũ Thị Hiền Trinh
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2005
13. Đỗ Đào Vũ (2006), Bước đầu đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt tứ chi sau chấn thương cột sống cổ, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá hiệu quả phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt tứ chi sau chấn thương cột sống cổ
Tác giả: Đỗ Đào Vũ
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2006
14. Đỗ Đào Vũ (2014), Nghiên cứu hiệu quả điều trị bàng quang tăng hoạt do nguyên nhân thần kinh bằng tiêm BoNT/A trong phục hồi chức năng bệnh nhân chấn thương tủy sống, Luận văn tốt nghiệp tiến sỹ y khoa, Trường Đại học Y Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hiệu quả điều trị bàng quang tăng hoạt do nguyên nhân thần kinh bằng tiêm BoNT/A trong phục hồi chức năng bệnh nhân chấn thương tủy sống
Tác giả: Đỗ Đào Vũ
Nhà XB: Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2014
15. Akkoỗ Y., Ersửz M., Yıldız N., et al. (2013), Effects of different bladder management methods on the quality of life in patients with traumatic spinal cord injury, Spinal Cord, 51(3), 226–231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spinal Cord
Tác giả: Akkoỗ Y., Ersửz M., Yıldız N., et al
Năm: 2013
16. Cushman D.M., Thomas K., Mukherjee D., et al. (2015), Perceived Quality of Life With Spinal Cord Injury: A Comparison Between Emergency Medicine and Physical Medicine and Rehabilitation Physicians. PM&amp;R, 7(9), 962–969 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PM&R
Tác giả: Cushman D.M., Thomas K., Mukherjee D., et al
Năm: 2015
17. Joy B. (2012), Relationship of nursing education and care management inpatient rehabilitation interventions and patient characteristics to outcomes following spinal cord injury: The SCIRehab project, The Journal of Spinal Cord Medicine Sách, tạp chí
Tiêu đề: Relationship of nursing education and care management inpatient rehabilitation interventions and patient characteristics to outcomes following spinal cord injury: The SCIRehab project
Tác giả: Joy B
Nhà XB: The Journal of Spinal Cord Medicine
Năm: 2012
18. Leeuwen C.M., Kraaijeveld S., Lindeman E., et al. (2012), Associations between psychological factors and quality of life ratings in persons with spinal cord injury: a systematic review. Spinal Cord, 50(3), 174–187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spinal Cord
Tác giả: Leeuwen C.M., Kraaijeveld S., Lindeman E., et al
Năm: 2012
19. Mortenson W.B., Noreau L., và Miller W.C (2010), The relationship between and predictors of quality of life after spinal cord injury at 3 and 15 months after discharge, Spinal Cord, 48(1), 73–79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spinal Cord
Tác giả: Mortenson W.B., Noreau L., và Miller W.C
Năm: 2010
4. Bệnh viện PHCN tỉnh Sơn La (2016), Báo cáo tổng kết công tác khám, chữa bệnh năm 2016, phương hướng và nhiệm vụ trọng tâm năm 2017 Khác
5. Bệnh viện PHCN tỉnh Sơn La (2017), Báo cáo tổng kết công tác khám chữa bệnh năm 2017, phương hướng và nhiệm vụ năm 2018 Khác
11. Bộ Y tế (2013), Thông tư 46/2013-TT-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2013, Quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ sở phục hồi chức năng Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w