NGUYỄN THỊ MAI LY ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIÊM KHỚP DẠNG THẤP ĐẾN SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN SƠN LA NĂM 2019 BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Nam Định,
Trang 1NGUYỄN THỊ MAI LY
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIÊM KHỚP DẠNG THẤP ĐẾN SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH
VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN SƠN LA NĂM 2019
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Nam Định, tháng 6 năm 2019
Trang 2NGUYỄN THỊ MAI LY
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA VIÊM KHỚP DẠNG THẤP ĐẾN SINH HOẠT HÀNG NGÀY CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH
VIỆN Y DƯỢC CỔ TRUYỀN SƠN LA NĂM 2019
Chuyên nghành : Điều dưỡng Nội người lớn
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỠNG DẪN: Tiến sỹ Trần Văn Long
Nam Định, tháng 6 năm 2019
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Thời gian học tập đã qua, giờ đây cuốn khóa chuyên đề tốt nghiệp Điều dưỡng chuyên khoa I đã hoàn thành, với lòng chân thành và kính trọng em xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Đảng ủy, Ban giám hiệu, phòng đào tạo Sau Đại học, phòng công tác học sinh sinh viên, quý thầy, cô giáo Trường Đại Học Điều dưỡng Nam Định và đặc biệt là các thầy cô trong khoa Điều Dưỡng sau đại học đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho em kiến thức chuyên môn, hết lòng giúp đỡ em trong hai năm học tập vừa qua
Ban giám đốc bệnh viện, phòng Điều dưỡng và khoa Cơ – Xương – Khớp Bệnh Viện Y Dược cổ truyền Sơn La đã tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em thực hiện chuyên đề tốt nghiệm này
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết sâu sắc nhất tới TS Trần Văn Long người thầy đã tận tình hướng dẫn, động viên em trong quá trình học tập, nghiên cứu
và thực hiện chuyên đề tốt nghiệp
Cuối cùng xin bày tỏ lòng biết tới những người thân trong gia đình đã chia sẻ khó khăn, giúp đỡ, động viên con trong suốt quá trình học tập vừa qua, cũng là nguồn động viên trong suốt quá trình phấn đấu học tập
Nam Định, tháng 6 năm 2019
Học Viên
Nguyễn Thị Mai Ly
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi phối hợp thực hiện cùng phòng Điều dưỡng - Bệnh viện Y Dược cổ truyền Sơn La Các số liệu trên là
có thật, do tôi tiến hành thu thập và điều tra tại Bệnh viện Bệnh viện Y Dược cổ truyền Sơn La
Số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận được nhập và tính toán trung thực, chính xác và chưa được công bố trong công trình tài liệu nào
Nam Định, tháng 6 năm 2019
Học Viên
Nguyễn Thị Mai Ly
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN……… ………i
LỜI CAM ĐOAN ……… ………ii
MỤC LỤC……….………
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……….…………iii
ĐẶT VẤN ĐỀ……… 1
Chương 1 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2
1 Cơ sở lý luận 2
2 Cơ sở thực tiễn 8
Chương 2 13
LIÊN HỆ THỰC TẾ 13
2.1.Giới thiệu về Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Sơn La 13
2.2.Giới thiệu sơ lược về khoa cơ xương khớp bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Sơn La 14
2.3 Thực trạng ảnh hưởng của viêm khớp dạng thấp đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Sơn La 16
Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 31
3.1.Cơ sở xây dựng giải pháp 31
3.2 Giải pháp cho bệnh viện 32
3.3 Giải pháp cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân……… ………32
KẾT LUẬN 34
TÀI LIÊU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACR ( American Colleges of Rheumatology ) Hội thấp khớp học Mỹ CXK Cơ Xương Khớp SHHN Sinh hoạt hàng ngày ĐLHT Độc lập hoàn toàn TGTB Trợ giúp trung bình PTHT Phụ thuộc hoàn toàn VAS ( Visual Analogue Scale ) Thang điểm đau theo sự lượng giá VKDT Viêm khớp dạng thấp
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm khớp dạng thấp là bệnh viêm khớp mạn tính – thuộc nhóm bệnh tự miễn, Tổn thương xuất hiện sớm, cơ bản nhất và cũng là nguyên nhân dẫn đến mọi thương tôn khác trong viêm khớp dạng thấp là tình trạng viêm khớp không đặc hiệu của màng hoạt dịch khớp Cuối cùng là sự dính và biến dạng khớp đưa đến hậu quả tàn phế
Ở Việt Nam, qua các cuộc điều tra dịch tễ học, đều thấy nhóm bệnh thấp khớp chiếm tỉ lệ khá cao, tỉ lệ mắc bệnh chung là 12,11%[19] Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, mọi địa phương trên cả nước
Theo các thống kê gần đây, VKDT chiếm tỉ lệ 0,5% trong nhân dân và 20%
số bệnh nhân mắc bệnh khớp điều trị ở bệnh viện[20] Trên thế giới, VKDT chiếm 0,5-3% dân số, là bệnh hay gặp nhất trong nhóm các bệnh khớp[4]
Bệnh có diễn biến kéo dài nhiều năm và có thể dẫn đến sự tàn phế suốt đời Mặt khác, phần lớn bệnh tập trung ở lứa tuổi lao động từ 16-55 tuổi, chiếm tỉ lệ 71,28%[16] nên gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi sinh hoạt hàng ngày cũng như chất lượng sống của bệnh nhân, Ở giai đoạn đầu, bệnh nhân còn vận động được gần như bình thường, nhưng khi bệnh tiến triển đến giai đoạn nặng hơn thì họ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống từ những việc đơn giản như: Đánh răng, rửa mặt, vệ sinh cá nhân đến những công việc đòi hỏi sự vận động như lao động, sản xuất, làm việc Độc lập trong SHHN là một giai đoạn hết sức quan trọng, bởi con người ta có hội nhập, tái hội nhập xã hội được hay không, chất lượng cuộc sống cao hay thấp đều phụ thuộc không nhỏ vào sự độc lập trong SHHN
Hiện tại ở Sơn La, chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của VKDT đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành chuyên đề này với mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng ảnh hưởng của viêm khớp dạng thấp đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền Sơn La năm 2019
2 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng của viêm khớp dạng thấp đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền Sơn La năm 2019
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận
1.1 Lịch sử:
Viêm khớp dạng thấp được Landrévais mô tả trong luận văn của ông năm
1880, lúc này ông cho là bệnh mới phát hiện, gọi là bệnh Gút suy nhược nguyên phát với 9 bệnh nhân nữ để phân biệt với Gút ở nam Nhưng thật ra trước đó, VKDT đã được Syndenhan mô tả đầu tiên vào năm 1676, với tên gọi Thấp khớp teo đét để chỉ đây là bệnh khớp mãn tính, có biến dạng khớp Năm 1703, Musgrave đã
mô tả một bệnh việm đa khớp mãn tính khác với Gút và Thấp khớp cấp[30] Cuối thế kỉ 18, Heberden cũng đã mô tả bệnh này và Charcot năm 1853 đã tách riêng nó với các bệnh khớp khác Năm 1890, Garrod trình bày bệnh dưới tên viêm khớp dạng thấp (Rheumatoid Arthritis) và tên này được giữ cho đến tận ngày nay và được nhiều nước sử dụng
1.2 Đặc điểm dịch tễ:
Dịch tễ học của bệnh được nghiên cứu vào 1964 ở Massachusetk sử dụng tiêu chuẩn của Hội thấp khớp học Mỹ năm 1958 ( American Colleges of Rheumatology – ACR ) chuẩn đoán VKDT trên 4552 người được điều tra, tỷ lệ mắc bệnh chung là 0,2-0,5% [24][25]
Năm 1985 ở Mỹ, Mac Duffic áp dụng tiêu chuẩn ACR 1958, tỷ lệ mắc bệnh VKDT là 0,5-1% trong quần thể dân cư từ 20-80 tuổi, ở nhóm 55-75 tuổi là 4,5%[28][33]
VKDT gặp nhiều nhất ở tuổi trung niên, ở người ở độ tuổi trên 74, tỷ lệ chết
là 33 nam, 81 nữ trên 1.000.000 người mỗi năm Ước lượng tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp trong các quần thể dân cư năm 1990 ở các châu lục: Ở Mỹ chiếm từ 0,5-2,1% ở Bắc Mỹ dân bản xứ là 0,6-5,3% ở Châu Âu là 0,6-2%, Châu Á là 0,2-1% và Châu Phi là 0-0,9%[27]
Tổng kết tình hình bệnh tật ở khoa CXK - Bệnh viện Bạch Mai từ 1978 đến năm 1982 cho thấy bệnh nhân VKDT chiếm 1/5 tổng số bệnh nhân CXK, trong đó chiếm 90% bệnh nhân nữ và 70% bệnh nhân trên 30 tuổi[13]
Trang 12Trong mô hình bệnh tật khoa CXK 10 năm từ 1991 đến năm 2000, trong nhóm các bệnh khớp thìVKDT là bệnh hay gặp nhất, chiếm tỉ lệ 21,94%, gặp nhiều nhất ở lứa tuổi lao động từ 16-55 tuổi chiếm 71,38%[16]
Tóm lại, theo các công trình nghiên cứu ở miền Bắc Việt Nam, VKDT chiếm 0,5% trong nhân dân Trong bệnh viện, VKDT chiếm 20% số bệnh nhân điều trị khoa khớp, 70-80% là nữ, 60-70% lớn hơn 30 tuổi[3][4]
1.3 Bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh:
Viêm khớp dạng thấp là bệnh khớp viêm mãn tính, đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh, Nguyên nhân của bệnh hiện còn chưa rõ bao gồm nhiều yếu tố Đặc điểm bệnh sinh là phản ứng viêm mãn tính gây nên bởi phản ứng miễn dịch, thông qua đáp ứng miễn dịch trung gian tế bào và thể dịch[2][39] Diễn biến lâm sàng là những đợt tiến triển xen kẽ các đợt lui bệnh, có khi nặng dẫn đến tàn phế hoặc tử vong
Đến nay bệnh nguyên vẫn còn chưa rõ, chỉ biết rằng một phản ứng miễn dịch
mà nguyên nhân chưa rõ đó tồn tại trong màng hoạt dịch Các giả thuyết được nêu
ra gồm các yếu tố di truyền, yếu tố nhiễm khuẩn, vai trò quan trọng của các lympho
B và T, các siêu kháng nguyên và mới đây hiện tượng chết tế bào theo chương trình
có vai trò trong khởi phát bệnh tự miễn[29]
Những nghiên cứu gần đây nêu rõ vai trò của các tác nhân nhiễm khuẩn mặc
dù không tìm thấy sự tồn tại của vi khuẩn hay siêu vi nơi tổn thương[26][31], nhưng người ta vẫn tìm thấy những kháng thể chống lại những kháng nguyên này trong máu của những bệnh nhân VKDT [35][36]
Lúc đầu tác nhân gây bệnh ( chưa rõ nguyên nhân: có thể là virus ) tác động vào một cơ thể sẵn có cơ địa thuận lợi ( giới tính, lứa tuổi, yêu tố HLA-DR )
Cơ thể sinh ra kháng thể I chống lại tác nhân gây bệnh Kháng thể I này trở thành tác nhân kháng nguyên kích thích cơ thể sản sinh ra một kháng thể II chống lại kháng thể I Kháng thể I và kháng thể II kết hợp với nhau nhờ sự có mặt của bổ thể trong dịch khớp tạo thành những phức hợp kháng nguyên – kháng thể Những
phức hợp kháng nguyên kháng thể này được một số tế bào đến để thực bào ( đại thực bào, đa nhân trung tính ) Sau đó những tế bào này bị phá hủy bởi chính các
men tiêu thể mà chúng vừa giải phóng ra Những men tiêu thể này sẽ kích thích và
Trang 13phá hủy màng hoạt dịch khớp gây ra một quá trình viêm không đặc hiệu Quá trình này kéo dài không chấm dứt đi từ khớp này sang khớp khác mặc dù tác nhân gây bệnh ban đầu không còn tồn tại
Tình trạng viêm không đặc hiệu của màng hoạt dịch khớp lúc đầu là phù nề, xung huyết, thâm nhập nhiều tế bào viêm mà phần lớn là đa nhân trung tính Sau một thời gian hiện tượng phù nề được thay bằng quá trình tăng sinh và phì đại của các hình lông và lớp liên bào phủ Các hình lông của màng hoặt dịch tăng sinh và phì đại, sẽ phát triển ăn sâu vào đầu xương phần dưới sụn khớp nên các thương tổn
ở phần này Sau một thời gian tiến triển kéo dài, tổ chức xơ phát triển sẽ thay thế cho tổ chức viêm và dẫn tới tình trạng biến dạng và dính khớp Tóm lại, tổn thương xuất hiện sớm nhất, cơ bản nhất là nguyên nhân dẫn đến mọi tổn thương khác trong bệnh VKDT là tình trạng viêm không đặc hiệu mạn tính của màng hoạt dịch khớp[4]
Sơ đồ 1: Cơ chế bệnh sinh của VKDT
Trang 14Hình ảnh 1: cơ chế bệnh sinh viêm khớp dạng thấp
1.4 Các tiêu chuẩn chuẩn đoán bệnh VKDT:
Có nhiều chuẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp như tiêu chuẩn ARC 1958, Roma 1961, New York 1968, tiêu chuẩn Roma cải tiến của Zvereva 1983, gần nhất
là tiêu chuẩn của hội thấp khớp học Mỹ năm 1987 ( American Colleges of Rheumatology – ACR ) và trong hoàn cảnh Việt Nam tiêu chuẩn của Phạm Thị
Ngọc Bích đề nghị áp dụng năm 1996 [9][10]
Tiêu chuẩn chuẩn đoán VKDT theo ACR, gồm 7 tiêu chuẩn sau:
Hiện nay tiêu chuẩn này vẫn đang được áp dụng rộng rãi nhất trên thế giới và Việt Nam đối với thể biểu hiện nhiều khớp và thời gian diễn biến viêm khớp trên 6 tuần
+ Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ
+ Viêm tối thiểu ba nhóm khớp: sưng phần mềm hay tràn dịch tối thiểu 3 trong số 14 nhóm khớp sau (kể cả hai bên): khớp ngón gần bàn tay, khớp bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân, khớp bàn ngón chân
+ Viêm các khớp ở bàn tay: sưng tối thiểu một nhóm trong số các khớp cổ tay, khớp ngón gần, khớp bàn ngón tay
+ Viêm khớp đối xứng
+ Hạt dưới da
+ Yếu tố dạng thấp trong huyết thanh dương tính
Trang 15+ Dấu hiệu X quang điển hình của VKDT: chụp khớp tại bàn tay, cổ tay hoặc khớp tổn thương: hình bào mòn, hình hốc, hình khuyết đầu xương, hẹp khe khớp, mất chất khoáng đầu xương
1.5 Lâm sàng và cận lâm sàng:
Bệnh khởi phát từ từ tăng dần từ vài tuần đến vài tháng Đau viêm ,cứng khớp, số lượng khớp tổn thương tăng lên dần cùng với thời gian Có thể sốt nhẹ, mệt mỏi, gầy sút, ra nhiều mồ hôi Có khi bắt đầu đột ngột với các biểu hiện cấp tính [26][32]
1.5.1 Đặc điểm lâm sàng
1.5.1.1 Biểu hiện tại khớp:
Viêm khớp với các biểu hiện sưng và đau, ít nóng đỏ, vị trí thường gặp: các khớp nhỏ bàn tay ( cổ tay, bàn tay, ngón gần ) các khớp khuỷu, gối, bàn ngón chân,
cổ chân thường đối xứng 2 bên Các khớp như khớp háng, cột sống, hàm, ức đòn ít gặp và thường xuất hiện muộn Cứng khớp buổi sáng kéo dài thường trên 1h Các di chứng như biến dạng, dính lệch trục, làm bàn tay biến dạng có hình dạng lưng lạc
Trang 16Hình ảnh 4: Bàn chân người bệnh
Hoàng Thị Đỏ
Hình ảnh 5: Bàn chân người bệnh
Hoàng Thị Đỏ 1.5.1.2 Biểu hiện ngoài khớp:
Bệnh nhân mệt mỏi, gầy sút, kém ăn, thiếu máu, rồi loạn thần kinh thực vật
Hạt dưới da 10-20% [23], ở Việt Nam chỉ thấy 3-5% các trường hợp [3][4][9] Ngoài ra còn có viêm mao mạch, teo cơ quanh khớp do thiếu vận động, viêm gân, bao khớp tổn thương
1.5.2 Đặc điểm cận lâm sàng
1.5.2.1 Xét nghiệm phản ứng viêm: Tốc độ máu lắng tăng, sợi huyết tăng,
điện di protêin có albumin giảm Theo Trần Xuân Đào: ”Tốc độ máu lắng tăng là
76,5-96%; bạch cầu máu tăng là 15-37%” [15]
1.5.2.2 Hình ảnh X-Quang:
Thấy ở các khớp cổ tay, khớp bàn ngón, khớp ngón gần hình ảnh đặc hiệu nhất, khe khớp và ranh giới giữa các xương hẹp và mờ sau sẽ dính lại thành khối Đầu xương bàn tay và ngón tay xuất hiện hình khuyết, khe khớp hẹp rồi sẽ dính xương khớp Những hình ảnh chung như mất vôi đầu xương, cảm quang phần mềm quanh khớp, khuyết xương hay bào mòn phần tiếp giáp giữa sụn khớp và đầu xương, khe khớp hẹp, sau cùng hủy hoại sụn khớp và đầu gây dính, biến dạng khớp
1.5.2.3 Siêu âm khớp
1.6 Tiến triển
Trong quá trình diễn biến của người ta chia bốn giai đoạn, dựa theo chức năng vận động và tổn thương X-Quang ( theo Stein Brocker ):
* Giai đoạn I: Tổn thương mới khu trú ở màng hoạt dịch, sưng đau chỉ
ở phần mềm X-Quang chưa có thay đổi Bệnh nhân vận động được bình thường
* Giai đoạn II: Tổn thương đó ảnh hưởng một phần đến đầu xương, sụn khớp Trên X-Quang có hình bào mòn, khe khớp hẹp, khả năng vận động hạn chế, tay còn nắm được
* Giai đoạn III: Tổn thương nhiều đầu xương, sụn khớp, dính khớp một phần, khả năng vận động còn ít, chỉ còn tự phục vụ mình trong sinh hoạt
* Giai đoạn IV: Dính khớp và biến dạng trầm trọng Mất hết chức năng vận động, tàn phế hoàn toàn Giai đoạn này thương gặp sau 10-20 năm
Trang 171.7 Điều trị
VKDT là bệnh mãn tính kéo dài hàng chục năm, đòi hỏi quá trình điều trị phải kiên trì, liên tục có khi suốt cả cuộc đời Phải sự dụng kết hợp các biện pháp điều trị như nội khoa, ngoại khoa, vật lý, chỉnh hình, tái giáo dục lao động nghề nghiệp Thời gian điều trị chia làm nhiều giai đoạn: nội trú, ngoại trú, điều dưỡng Tóm lại, vấn đề điều trị mang tính chất xã hội liên quan đến nhiều chuyên khoa và nhiều ngành khác nhau
Các chiến lược điều trị: Sử dụng ngay từ đầu các thuốc có thể ngăn chặn
được sự hủy hoại xương và sụn nhằm thay đổi được diễn biến của bệnh, kết hợp Corticoid và các thuốc điều trị cơ bản Điều trị triệu chứng đồng thời với điều trị cơ bản và giảm dần thuốc điều trị triệu chứng khi điều trị cơ bản đạt hiệu quả Các thuốc thường dùng là:
- Thuốc chống viêm ( chống viêm không Steroid và glucocorticoid )
- Các thuốc giảm đau ( theo sơ đồ bậc thang của Tổ chức Y tế thế giới )
- Các thuốc điều trị cơ bản – còn gọi là DMADRs ( Disease modifyin Antirheumatis Drugs ): thuốc chống thấp khớp, có thể thay đổi cơ địa, thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm
1.2 Cơ sở thực tiễn
Viêm khớp dạng thấp hay còn được gọi là bệnh viêm đa khớp dạng thấp Khi mắc bệnh sẽ gây nên tình trạng sưng đỏ dẫn đến tình trạng đau, sưng khớp, xơ cứng Bệnh viêm thấp khớp thường xuất hiện ở những khớp tay, khớp lưng hay khớp gối Bệnh xuất hiện do tình trạng rối loạn tự miễn của cơ thể gây nên Tình trạng viêm cũng có thể xuất hiện ở một số bộ phận khác cơ cơ thể như: ở da, mắt, tim, mạch máu hay các dây thần kinh,
Trang 18Bệnh viêm khớp dạng thấp là gì?
Khi mắc bệnh sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh hoạt như: quá trình mặc áo quần, mở vật dụng hay khi mang vác đồ Bên cạnh đó, khi bị viêm khớp mắt cá, các khớp gối/ khớp bàn chân sẽ gây khó khăn cho mọi người khi cúi người hay những lúc đi đứng
Bệnh lý viêm khớp dạng thấp thường xảy ra khi hệ thống miễn dịch của bạn
sẽ tấn công các bao hoạt dịch - các màng bao quanh khớp Vì vậy, dẫn đến tình trạng viêm nhiễm và gây nên tình trạng phá hủy những sụn và xương bên trong các khớp Bên cạnh đó, các dây chằng, gân giữa các khớp với nhau cũng bị giãn và dần suy yếu nên khớp sẽ bị biến dạng và mất tính liên kết
Nguyên nhân nào gây bệnh viêm khớp dạng thấp
Trang 19Các nhà khoa học vẫn chưa tìm được những nhiều điều gây nên tình trạng rối loạn miễn dịch Một số yếu tố di truyền có thể liên quan vì một số gen mặc dù không trực tiếp gây bệnh nhưng cũng sẽ khiến mọi người nhạy cảm hơn với những yếu tố môi trường như: một số loại virus/vi khuẩn, từ đó sẽ gây khởi phát bệnh
Những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp bao gồm: + Giới tính: phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cao hơn so với nam giới
+ Yếu tố di truyền: nếu một thành viên trong gia đình bị mắc bệnh viêm khớp dạng thấp, khi đó nguy cơ mắc bệnh đối với bạn là rất cao
+ Tuổi tác: bệnh lý viêm khớp dạng thấp có thể xảy ra đối với mọi lứa tuổi khác nhau Tuy nhiên, thống kê cho thấy bệnh này thường gặp ở những người có độ tuổi từ 40 - 60 tuổi
Chức năng sinh hoạt hàng ngày của người bệnh viêm khớp dạng thấp
Khái niệm sinh hoạt hàng ngày
Chức năng sinh hoạt hằng ngày là những nhu cầu cần thiết đối với con người, là những hoạt động căn bản của đời sống hằng ngày như vệ sinh, ăn uống Thêm vào đó là những nhu cầu khác như đọc, viết, làm việc trong nhà hoặc ra ngoài
để giải trí hay mưu sinh
Sau VKDT, nhất là ở giai đoạn tiến triển và có biến chứng, hay gặp nhất là bệnh nhân giảm hoặc mất khả năng độc lập, phải phụ thuộc vào người khác trong các hoạt động SHHN làm ảnh hưởng đến khả năng tái hội nhập xã hội của người bệnh
Có nhiều cách đánh giá về chức năng SHHN nhưng thường dùng thang điểm Barthel đánh giá về các chức năng như: ăn uống, vệ sinh cá nhân, thay quần áo, khả năng di chuyển, Năm 1995, bảng điềm Barthel được thành lập, ban đầu chỉ áp dụng đánh
Trang 20giá khả năng độc lập trong SHHN ở bệnh nhân tai biến mạch máu não [18] Về sau được biến đổi và áp dụng đánh giá cho các dạng tàn tật khác bởi tính đơn giản, dễ dánh giá lại có độ tin cậy cao nên chúng tôi sử dụng bảng điểm Barthel Index trong nghiên cứu này
Cách đánh giá sinh hoạt hàng ngày
Thang điểm đánh giá SHHN của bệnh nhân:
Thỉnh thoảng có rối loạn cần
Trang 21Cần giúp đỡ hoàn toàn 0
Viêm khớp dạng thấp là bệnh khớp viêm mãn tính thuộc nhóm bệnh tử nhiễm Tổn thương xuất hiện sớm, cơ bản nhất và cũng là nguyên nhân dẫn đến mọi tổn thương khác trong VKDT là tình trạng viêm không đặc hiệu của màn hoạt dịch khớp Cuối cùng là sự dính và biến dạng khớp đưa đến hậu quả tàn phế Đặc biệt tổn thương ở các khớp bàn tay sẽ làm bàn tay cử động khó khăn, mất hết tính linh hoạt, giảm các hoạt động SHHN và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lao động Theo Dellhag B [28] bàn tay bệnh nhân VKDT giảm đi 75% sức mạnh so với bàn tay người bình thường Tại Berlin, tác giả Westhoff G [37] đó cho biết 33% số bệnh nhân VKDT bị phụ thuộc vào trợ giúp từ bên ngoài 7% phụ thuộc vào hệ thống chăm sóc sức khỏe
Bệnh có diễn biến kéo dài nhiều năm, phần lớn có tiến triển từ tăng dần, rất hiếm thấy trường hợp lui dần rồi khỏi hẳn Ở giai đoạn đầu bệnh nhân còn hoạt động gần như bình thường Nhưng đến giai đoạn sau khả năng vận động bị hạn chế, tay còn nắm được, đi lại phải nhờ vào sự trợ giúp của gậy, nạng Điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt của bệnh nhân Khi bệnh tiến triển sang giai đoạn nặng hơn, bệnh nhân chỉ còn tự phục vị mình trong sinh hoạt, không đi lại được, rồi dần dần mất hết chức năng vận động, tàn phế hoàn toàn
Trang 22Chương 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN 2.1 Giới thiệu về Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Sơn La
Hình ảnh 6: Ảnh Bệnh viện Y Dược cổ truyền
Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Sơn La được thành lập ngày 23 tháng 02 năm 1968, là bệnh viện hạng III nằm trong hệ thống các cơ sở chăm sóc sức khỏe công lập của tỉnh với các chức năng nhiệm vụ chính là khám chữa bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền kết hợp với y học hiện đại và phục hồi chức năng; bảo tồn và phát triển y, dược cổ truyền; nghiên cứu khoa học; đào tạo; chỉ đạo tuyến
về chuyên môn kỹ thuật và là cơ sở thực hành về y, dược cổ truyền của các cơ sở đào tạo y, dược và các đơn vị có nhu cầu Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Sơn La
đã được UBND tỉnh tặng bằng khen và cộng nhận là bệnh viên xuất sắc toàn diện Với 50 năm hình thành và phát triển Bệnh viện Y Dược cổ truyền đã được xây dựng khang trang hiện đại tương đối hoàn chỉnh với 07 khoa lâm sàng và 04 khoa cận lâm sàng và 06 phòng chức năng với quy mô 361 giường thực kê nhân lực của bệnh viện có 147 viên chức trong đó số lượng điều dưỡng khá đông 50 người gồm 06 điều dưỡng đại học , 10 điều dưỡng cao đẳng còn lại 34 điều dưỡng trung học nhưng hiện 100% đang theo học liên thông lên đại học
Trang 23Hình ảnh 7: Hoạt động khám bệnh của Bệnh viện Y Dược cổ truyền
Trong những năm qua, bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Sơn La không ngừng nỗ lực đạt được nhiều tiến bộ, tạo được niềm tin đối với người dân trong khu vực đến khám và điều trị bệnh ngày càng nhiều, hàng năm tiếp đón và điều trị hơn
5000 người bệnh đến điều trị nội trú
Bên cạnh việc chăm sóc điều trị cho người bệnh, Bệnh viện cũng rất quan tâm đến công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh và người nhà người bệnh;Các khoa trong bệnh viện mỗi tháng có ít nhất 1 buổi tổ chức tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người bệnh điều trị nội trú;…tổ chức hoạt động định kỳ hàng quý để tư vấn, giáo dục sức khỏe cho người bệnh khá hiệu quả, được người bệnh đánh giá cao
Trang 24Hình ảnh 8: Tập thể khoa Cơ Xương Khớp Bệnh viện Y Dược cổ truyền
Việc thành lập khoa Cơ Xương Khớp của Bệnh việnY dược cổ truyền Sơn
La là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết để đáp ứng nhu cầu khám, điều trị bệnh
cơ xương khớp cho người dân Ngày 08 tháng 01 năm 2019, khoa Cơ xương khớp được chính thức thành lập theo quyết định số 06/QĐ-BVYDCT với đội ngũ gồm 13 nhân lực y, bác sỹ và điều dưỡng
Hình ảnh 9: Góc truyền thông khoa Cơ Xương Khớp
Trang 25Ngay sau khi thành lập khoa đã triển khai những phương pháp điều trị các bệnh cơ, xương, khớp hết sức tiên tiến và có hiệu quả tốt như: tiêm nội khớp, tiêm huyết tương giàu tiểu cầu…Ngoài các bệnh về cơ xương khớp khoa còn điều trị một
số bệnh lý khác như: suy nhược thần kinh, đau thần kinh hông to, suy nhược cơ thể… Việc triển khai thực hiện các phương pháp điều trị mới đã giúp cho nhiều bệnh nhân không phải vất vả chuyển về các bệnh viện tuyến trung ương điều trị, tiết kiệm được tiền bạc, công sức và bớt phải đi lại khó khăn Đội ngũ y bác sĩ của khoa
cơ xương khớp có tâm huyết với nghề, hết lòng vì ngươi bệnh.với nhân lực của khoa có 04 bác sỹ và 09 điều dưỡng từ khi thành lập đến này mới chỉ 04 tháng khoa
đã tiếp nhân và điều trị gần 700 người bệnh
2.3 Thực trạng ảnh hưởng của viêm khớp dạng thấp đến sinh hoạt hàng ngày của người bệnh tại Bệnh viện Y Dược cổ truyền tỉnh Sơn La
2.3.1 Đối tượng và phương pháp thu thập số liệu
Đối tượng nghiên cứu:
- Bệnh nhân được chuẩn đoán là VKDT và điều trị tại khoa Cơ Xương Khớp
- bệnh viện Y Dược Cổ truyền tỉnh sơn La
- Thời gian từ 01 tháng 4 năm 2019 đến 15 tháng 6 năm 2019
Tiêu chuẩn chọn đối tượng:
Bệnh nhân được chuẩn đoán là VKDT được điều trị tại khoa Cơ Xương Khớp – bệnh viện Y Dược Cổ truyền tỉnh Sơn La: Theo ACR ( hội thấp khớp Mỹ ) – 1987 gồm 7 điểm Chuẩn đoán xác định có từ 4 tiêu chuẩn trở lên:
- Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ
- Sưng đau tối thiểu 3 trong 14 vị trí khớp ( khớp ngón tay gần, bàn ngón, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, bao gồm cả 2 bên ) thời gian kéo dài trên 6 tuần lễ
- Sưng đau tối thiểu 1 trong 3 vị trí khớp: ngón tay gần, bàn ngón tay, cổ tay thời gian trên 6 tuần
- Viêm khớp có tính chất đối xứng
- Hạt dưới da
- Phản ứng tìm yếu tố dạng thấp dương tính
Trang 26- Hình ảnh XQ điển hình: Những dấu hiệu điển hình của VKDT trên phim
XQ bàn tay và cổ tay thấy bào mòn, mất vôi hình dải ( không tìm được dấu hiệu hư khớp )
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Bệnh nhân có tiền sử gãy xương, phẫu thuật khớp, bệnh lý thần kinh ( tai biến mạch máu não, tâm thần, bại não ), có dị tật bẩm sinh ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày
- Bệnh toàn thân nặng: Xuất huyết tiêu hóa nặng, suy thận, thiếu máu nặng, sốt cao
Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu và mô cắt ngang
- Các bước tiến hành:
+ Xác đinh thông tin về tên, tuổi, giới tính, địa chỉ liên lạc
+ Nội dung đánh giá:
Đánh giá các chức năng SHHN của bệnh nhân theo bảng điểm Barthel Index ( Barthel Index Scoring ) [22] Chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại 3 thời điểm: lúc vào viện, thời điểm nghiền cứu là sau khi vào viện 7 ngày và khi ra viện, thông quan phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu phỏng vấn đã được thiết kế sẵn
Bảng điểm được đánh giá thông qua 10 hoạt động sống hằng ngày có tổng điểm là 100, được chia làm 4 mức độ:
- Độc lập hoàn toàn: 95-100 điểm
- Trợ giúp ít: 65-90 điểm
- Trợ giúp trung bình: 25-60 điểm
- Phụ thuộc hoàn toàn: 0-20 điểm