1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chăm sóc dẫn lưu sọ não sau phẫu thuật chấn thương sọ não tại khoa hồi sức tích cực và chống độc bệnh viện đa khoa tỉnh tuyên quang 6 tháng đầu năm 2019

46 83 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ----- PHAN THANH KHOA CHĂM SÓC DẪN LƯU SỌ NÃOSAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TUYÊN QUANG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

-

PHAN THANH KHOA

CHĂM SÓC DẪN LƯU SỌ NÃOSAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TUYÊN QUANG

6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH – 2019

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

-

PHAN THANH KHOA

CHĂM SÓC DẪN LƯU SỌ NÃOSAU PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

TẠIBỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH TUYÊN QUANG

6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019

Chuyên ngành: Điều dưỡng ngoại người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

TS NGUYỄN VĂN SƠN

NAM ĐỊNH - 2019

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và hỗ trợ chân thành, hiệu quả của các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học và Bộ môn Điều dưỡng Người lớn Ngoại khoa Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định tạo mọi điều kiện và giúp đỡ hỗ trợ tôi hoàn thành chuyên đề

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi chân thành gửi đến: Tiến sĩ Nguyễn Văn Sơn, những người Thầy cô đã tận tình hướng dẫn khóa học, truyền dạy cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu của các Thầy cô giúp tôi có thể hoàn thành cuốn chuyên đề này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Đảng ủy, Ban giám đốc Bệnh viện

Đa khoa tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện cho tôi thực tế tại cơ sở Tôi cũng xin cảm ơn toàn thể các bác sỹ, điều dưỡng và các đồng nghiệp đã tham gia giúp đỡ đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình thực tập và viết chuyên đề báo cáo

Cuối cùng, tôi luôn ghi nhớ sự chia sẻ, động viên, hết lòng của Bố mẹ, Vợ, con và bạn bè đã giúp đỡ, cho tôi thêm nghị lực để học tập và hoàn thành chuyên đề này

Nam Định, ngày tháng 11 năm 2019

Học viên

Phan Thanh Khoa

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là chuyên đề của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của Tiến sỹ Nguyễn Văn Sơn Tất cả các nội dung trong báo cáo này là trung thực chưa được báo cáo trong bất kỳ hình thức nào trước đây Nếu phát hiện có bất

kỳ sự gian lận nào tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung chuyên đề của mình

Nam Định, ngày tháng 11 năm 2019

Học viên

Phan Thanh Khoa

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC HÌNH ẢNH iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1.4.4 Động mạch não 5

1.1.1.4.5 Các tĩnh mạch não - màng não 5

1.2 Cơ sở thực tiễn 8

Chương 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 13

2.1 Tình hình nghiên cứu chấn thương sọ não 13

2.2 Quy trình chăm sóc dẫn lưu sọ não 14

2.3 Thực trạng CS DLSN người bệnh sau phẫu thuật sọ não tại khoa hồi sức tích cực và chống độc bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên quang 19

2.4 Nhận xét quy trình CSNB sau phẫu thuật CTSN có DLSN 27

2.5 Những ưu điểm và nhược điểm: 31

2.6 Nguyên nhân của những việc đã làm và chưa làm được 32

Chương 3: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 34

1 Thực trạng CSNB sau phẫu thuật CTSN có dẫn lưu sọ não 36

2 Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật CTSN có dẫn lưu sọ não 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ALNS Áp lực nội sọ

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Trang

Hình 1.2: Vị trí đặt catheter trong não thất đo ALNS 6

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ người dân sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân cao nhất thế giới, luật giao thông chưa được người dân chấp hành một cách tự giác nên tai nạn giao thông đang là một vấn đề được các cấp chính quyền và toàn xã hội quan tâm, chấn thương sọ não là một cấp cứu ngoại khoa thường gặp và chấn thương sọ não nặng chiếm khoảng 30%, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong hoặc

di chứng nặng nề, là gánh nặng cho gia đình và xã hội [1]

Theo báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia trong năm 2016, cả nước xảy ra 21.589 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.685 người, làm bị thương 19.280 người.như vậy trung bình mỗi ngày có 24 người chết do tai nạn giao thông

và thiệt hại lên đến 885 triệu USD mỗi năm Số trường hợp chấn thương sọ não ngày càng tăng, hay gặp ở người trẻ đang trong độ tuổi lao động, tỷ lệ tử vong cao,

di chứng nặng nề và chi phí điều trị tốn kém Theo thống kê, tỷ lệ tử vong do CTSN tại bệnh viện Việt Đức là 17,4% Ở những nước phát triển CTSN là nguyên nhân thứ ba gây tử vong sau bệnh ung thư và bệnh tim mạch Tỷ lệ tử vong ở Mỹ (45%), Anh (52%), Pháp (50-70%)[8], [9]

Thương tổn hay gặp trong chấn thương sọ não gồm các biến chứng thường gặp là các loại máu tụ trong sọ, giập não, phù não hậu quả làm tăng áp lực trong sọ gây tử vong cho người bệnh

Tuy nhiên trong nhiều trường hợp chấn thương sọ não nặng, hồi sức nội khoa đơn thuần không thể khống chế được tình trạng tăng áp lực trong sọ Vì vậy dẫn lưu não thất ra ngoài là phương pháp phẫu thuật đặt ống dẫn lưu vào hệ thống não thất để dẫn lưu nước não tủy ra ngoài với một hệ thống kín chuyên dụng, hoặc

hệ thống kín tự tạo Phẫu thuật này được chỉ định trong bệnh giãn não thất cấp do nhiều nguyên nhân khác nhau như u não chèn ép cống não gây ứ nước, chấn thương

sọ não, tai biến mạch máu não, viêm màng não, bẩm sinh và trong bệnh chảy máu não thất do chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não

Dẫn lưu sọ não ra ngoài sẽ làm giảm áp lực trong sọ và cứu sống người bệnh, dẫn lưu thường được cố định trong một thời gian và chúng ta có thể gặp một số biến chứng như: nhiễm trùng, chảy máu não thất, chảy máu nhu mô não, máu tụ dưới màng cứng, động kinh Vì vậy, nếu không được chăm sóc, theo dõi và phát hiện kịp thời sẽ dẫn tới hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh

Trang 9

2

Hiện nay ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về chẩn đoán, chăm sóc và xử trí các biến chứng của dẫn lưu sọ não sau phẫu thuật CTSN, tuy nhiên bệnh viện chưa có một quy trình chuẩn cho điều dưỡng trong việc chăm sóc

và theo dõi người bệnh có dẫn lưu não thất ra ngoài, mặt khác các tài liệu tham khảo cho điều dưỡng về vấn đề này còn hạn chế Nhận thấy vai trò của người điều dưỡng ngoại khoa với bệnh nhân sau phẫu thuật sọ não và tầm quan trọng của việc chăm sóc và theo dõi toàn diện, đặc biệt là công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh chấn thương sọ não có dẫn lưu Trước thực trạng đó chúng tôi tiến hành viết chuyên đề:

“ Chăm sóc dẫn lưu sọ não sau phẫu thuật chấn thương sọ não tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên quang 6 tháng đầu năm 2019 ”

 Với mục tiêu sau:

- Mô tả chăm sóc dẫn lưu sọ não sau phẫu thuật chấn thương sọ não tại khoa hồi sức tích cực và chống độc bệnh viện đa khoa tỉnh tuyên quang 6 tháng đầu năm 2019

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Đặc điểm giải phẫu sọ não: [6], [7], [8]

Não nằm trong hộp sọ và được hộp sọ bảo vệ, có cân cơ và da bao phủ bên ngoài 1.1.1.1 Da đầu và tổ chức dưới da

Da đầu là phần có tóc mọc nó tạo ra dáng vẻ khác biệt ở mỗi người, tổ chức dưới da là mô liên kết, cân Galéa có vai trò quan trọng đối với các phẫu thuật được chia viên thần kinh

b Màng nhện

- Có hai lá dính chặt vào nhau bao bọc não và tủy sống, giữa màng cứng và màng nhện là khoang dưới cứng là khoang ảo Các vách của màng cứng ngăn cách khoang dưới màng cứng bán cầu đại não bên phải với bên trái và với khoang dưới màng cứng hố sau, vì vậy không có sự lan tràn máu tụ dưới màng cứng giữa các

Trang 11

4

khoang dưới màng cứng

- Giữa màng nhện và màng nuôi là khoang dưới nhện chứa dịch não tủy

- Phần màng nhện của não đi lướt qua các khe, rãnh não chứ không đi vào khe rãnh não như màng nuôi

c Màng nuôi: Bao bọc bề mặt não và tủy sống, là màng mạch vì chứa nhiều

mạch máu và đám rối mạch máu nhỏ Nó đi sâu vào các khe, rãnh của bán cầu đại não và tiểu não, cùng với mạch màng não tạo nên các đám rối mạch mạc não thất bên, đám rối mạch mạc não thất III và đám rối mạch mạc não thất IV

Hình 1.1: Sự lưu thông dịch não tủy

1.1.1.4 Não

Não gồm hai bán cầu Đại não, Tiểu não và Thân não

1.1.1.4.1 Bán cầu đại não

Bán cầu đại não gồm có 3 mặt (trên ngoài, dưới và trong) và 3 cực (trán ở trước, chẩm ở sau, thái dương ở bên) được các khe, rãnh Sylvius và Rolando chia thành nhiều phần nhỏ gọi là các thuỳ và các hồi, trong các rãnh có mạch máu não đi kèm

đám rối mạch mạc não thất bên

Bể thể trai Màng não cứng

Màng nhện

Xoang tĩnh mạch dọc trên Khoang dưới nhện Các hạt màng cứng

Bể hãnh tiểu não

Lỗ bên (Luschka) đám rối mạch mạc não thất bốn Lỗ giữa ( lỗ Magendie) Màng cứng

Màng nhện Khoang dưới nhện

Ống trung tâm

Trang 12

- Vỏ não là lớp chất xám bao quanh hai bán cầu đại não, là trung tâm của nhiều chức năng vận động, cảm giác, chức năng thực vật…

Thân não gồm hành não, cầu não và não giữa:

- Cấu trúc vận động: hành não là phần thần kinh nằm trên tuỷ sống và ở trong hộp sọ, cầu não nằm ngay trên hành não Hành- cầu não là nơi xuất phát của các dây thần kinh sọ: V, VI, VII, IX, X, XI, XII

- Chức năng chi phối vận động của nhãn cầu, các cơ đầu – mặt – cổ, các cơ

và tuyến tiêu hoá Hành - cầu não là trung tâm của các phản xạ điều hoà hô hấp và tim mạch, trung tâm điều hoà thân nhiệt, phản xạ tiêu hoá

1.1.2 Các phương pháp theo dõi ALNS (ICP) [1], [11]

1.1.2.1 Theo dõi áp lực dịch não thất (não thất bên)

Lỗ khoan sọ được thực hiện ở vùng trán Cách gốc mũi 12 - 13 cm, 2,5 cm cách đường giữa (ở người lớn) Trorca đi lệch góc với mặt phẳng trán đỉnh trên đường tới lỗ tai ngoài và mặt phẳng dọc hướng tới khoé trong của mắt đối diện, tới não thất bên Rút nòng kiểm tra sự có mặt của dịch não tủy Nếu áp lực thấp có thể hút nhẹ sẽ thấy dịch não tủy chảy ra

Trang 13

Hình 1.2: Vị trí đặt catheter trong não thất đo ALNS

* Ưu điểm:

- Là phương pháp cho kết quả chính xác nhất

- Có thể rút bớt dịch não tủy để làm giảm ALNS ngay tức thì hoặc khi các biện pháp điều trị khác đều thất bại

- Cho phép đánh giá chức năng của não

- Cho phép lấy dịch não tủy đánh giá gián tiếp các rối loạn chuyển hóa

* Nhược điểm:

Là phương pháp "gây chảy máu” có thể gây:

- Chảy máu, tạo thành cục máu trong não ở thùy trán

- Nhiễm trùng: viêm màng não, viêm não thất

- Tổn thương các nhân xám nếu sai hướng hoặc chọc quá mạnh

- Dễ thất bại khi não phù nhiều, não thất bị đẩy xẹp

Nếu cần theo dõi lâu hơn có thể thay catheter sang phía đối diện Mặc dù có những nguy cơ trên, độ chính xác và sự ổn định của kết quả theo dõi ALNS đã làm cho phương pháp này trở nên thông dụng nhất trong lâm sàng, đặc biệt đối với bệnh nhân CTSN

1.1.2.2 Theo dõi áp lực dưới màng cứng hoặc dưới màng nhện

Có thể thực hiện bằng

Trang 14

- Đặt catheter: Khoan xương sọ như trong đặt catheter não thất Luồn catheter có 3- 4 lỗ bên dưới màng cứng, tránh tất cả các tĩnh mạch cầu nối và làm đầy catheter bằng dung dịch muối sinh lý

* Ưu điểm:

- Phương pháp đơn giản hơn, có thể thực hiện ngay tại giường ở phòng hồi sức, phòng điều trị này trong phòng mổ

- Không làm thương tổn vỏ não, ít nguy cơ chảy máu và nhiễm trùng

- Vẫn cho phép đánh giá chức năng của não

- Cho kết quả đáng tin cậy vì vậy ưa dùng hơn khi xét thấy đặt catheter vào não thất

là không cần thiết

* Nhược điểm:

- Dụng cụ đo bị bít tắc khi não phù lên (vì mất khoang dưới nhện) Có thể làm thông bằng dịch, nhưng sẽ tăng nguy cơ nhiễm trùng

- Không cho phép dẫn lưu dịch não tủy khi cần

- Độ chính xác kém hơn Dẫn lưu có thể lõm sâu xuống dưới làm tốn thương não 1.1.2.3 Theo dõi áp lực ngoài màng cứng

- Dụng cụ đo áp lực được đặt giữa ngoài màng cứng và xương sọ

- Là phương pháp ít gây tổn thương nhất, tỷ lệ nhiễm trùng rất thấp vì màng cứng không rách

- Tuy nhiên không thể xác định được chức năng não cũng như dẫn lưu dịch não tủy khi cần Rất dễ thiếu chính xác khi đặt dụng cụ chưa đúng chỗ, khi màng cứng dày hoặc đầu dụng cụ bị vòm sọ che bịt

1.1.2.4 Theo dõi áp lực trong nhu mô não

- Cũng có những nguy cơ như trong đặt catheter não thất nhưng ít hơn Ở đây Catheter được đặt vào trong tổ chức não và thường được kết hợp khi mổ sọ não ( lấy máu tụ trong não, não dập, u não )

- Là phương pháp cho kết quả khá chính xác và được ưa dùng trong mổ chấn thương sọ não

Trang 15

8

- Phương pháp này hay được thực hiện để theo dõi ALNS trên lâm sàng vì những lý

do sau:

+ Biện pháp tiến hành đơn giản có thể thực hiện được trên buồng bệnh

+ Độ chính xác cao Giá trị của biện pháp này cũng gần tương đương với phương pháp đo áp lực trong não thất

+ Theo dõi liên tục áp lực nội sọ

+ Biến chứng chảy máu nhiễm trùng ít hơn so với phương pháp theo dõi áp lực trong não thất

Hình 1.3: Vị trí đặt catheter

A Trong não thất C Dưới màng não 1 Xương sọ 3 Não thất

B Ngoài màng cứng D Trong não 2 Màng cứng

Trang 16

- Không có DHTKKT; ALNS bình thường

- CT- Scaner sọ não: không có hình ảnh tổn thương

1.2.1.2 Vỡ nền sọ

- Thường các đường nứt sọ ở vòm lan xuống sàng

- Nếu vỡ nền sọ ở tầng trước, thường thấy tụ máu quanh hốc mắt (dấu hiệu đeo kính râm), chảy dịch não tuỷ hoặc chảy máu ra mũi

1.2.1.3 Dập não (hay tổn thương nhu mô não)

- Bệnh nhân thường mê ngay sau tỉnh, tiên lượng nặng hay khá dần tuỳ thuộc vào mức độ chấn thương Là loại thương tổn rất nặng, bao gồm hai hiện tượng:

+ Hoại tử các tế bào não

+ Nhiều thương tồn các mạch máu lớn Nếu dập não lan vào trong sâu, có thể hình thành một khối máu tụ trong mô não (MTTN)

- DHTK thực vật:

+ Nôn, buồn nôn

+ Dấu hiệu sinh tồn: Mạch nhanh, Huyết áp tăng nhẹ ; thở nông hơi nhanh

- DHTKKT: Giãn đồng tử cùng bên dập não, liệt nửa người bên đối diện

- Dập não thường khu trú ở đáy hai thuỳ trán và /hoặc thái dương

- Cơ chế bệnh sinh: do các thành phần trong sọ di chuyển với tốc độ khác nhau khi

bị một lực va chạm mạnh tác động vào đầu, vì vậy khi đầu đụng vào vật cản, đáy não

“vỗ” trực tiếp vào sàn sọ gồ ghề nhất là cánh bé xương bướm phân chia tầng trước sàn

sọ cao hơn với tầng giữa thấp hơn Chính sự chuyển động với vận tốc khác nhau không dừng lại cùng một lúc đã gây ra nhiều thương tổn gọi chung là dập não

Trang 17

10

của hộp sọ, có thể dẫn tới vỡ xương sọ Sự tăng giảm tốc độ đột ngột, sự xoay trượt của

vỏ não trên các gờ xương lồi lõm, gây dập nát tổ chức não, hoặc làm cho động mạch màng não giữa bị bong ra khỏi các rãnh ở mặt trong của vòm sọ, làm đứt hoặc rách các mạch máu này sẽ gây chảy máu, tạo thành máu tụ trong sọ Những khối máu tụ này, sẽ

đè ép não gây rối loạn tuần hoàn, rối loạn về thần kinh – thể dịch gây thiếu oxy não, làm cho phù não tăng lên và chèn ép các mạch máu hậu quả là thiếu máu não hay thiếu oxy não

- Máu tụ nội sọ gồm: máu tụ NMC, máu tụ DMC và máu tụ trong não

1.2.1.5.1 Máu tụ NMC

- Máu tụ ngoài màng cứng là cục máu đông hình thành nằm giữa mặt trong xương

sọ và màng cứng

- Nguồn chảy máu:

+ Thường từ động mạch màng não giữa (nằm sát với mặt xương thái dương) + Tĩnh mạch ngoài màng cứng

+ Số ít gặp ở trường hợp vỡ xương

- Vị trí điển hình của máu tụ NMC là vùng thái dương (chiếm 75%)

Hình 1.4: Hình ảnh máu tụ ngoài màng cứng 1.2.1.5.2 Máu tụ DMC

- Là bọc máu tụ nằm giữa màng cứng và màng nhện

Trang 18

- Máu tụ DMC có thể xảy ra bất cứ chỗ nào trong hộp sọ nhưng vị trí hay gặp là vùng trước thái dương, dưới trán

- Thường gặp hơn máu tụ NMC, trên lâm sàng có khoảng 30% bệnh nhân CTSN có MT DMC

- Nguồn chảy máu:

+ Đứt các mạch máu vỏ não tại điểm va chạm hoặc cả 2 bên bán cầu khi dập não + Đứt các tĩnh mạch cầu đi từ vỏ não đến màng cứng

1.2.1.5.3 Máu tụ trong não

- Là bọc máu tụ nằm trong nhu mô não có đặc điểm là máu cục (máu tụ đơn thuần ) hoặc máu cục lẫn với tổ chức não hoại tử (máu tụ kèm dập não)

- Thể tích máu tụ dao động từ 30-150ml, đường kính máu tụ có thể 3cm

- Vị trí máu tụ hay gặp ở : thuỳ thái dương và thuỳ trán

- MTTN thường kết hợp với giập não lớn, máu tụ DMC Phần lớn máu tụ trong não được điều trị nội khoa ( không mổ ) Máu tụ sẽ được hấp thu sau 4- 6 tuần nhờ quá trình đại thực bào và quá trình tăng sinh thần kinh đệm

- Bệnh nhân thường mê ngay sau tai nạn nhưng không tỉnh lại mà chỉ chuyển từ trạng thái hôn mê sâu sang hôn mê nông hơn

Máu tụ trong não hình thành được là trên cơ sở những ổ dập não Khi dập não có đứt các sợi trục lan toả, thường kèm theo đứt mạch máu đi theo sợi trục

Hình 1.5: Hình ảnh máu tụ dưới màng cứng

Trang 19

Ú ớ hoặc kêu rên ( 2đ ) Không trả lời ( 1đ )

* Vận động

Làm theo lệnh nhanh ( 6đ ) Làm theo lệnh chậm ( 5đ ) Gạt đúng khi kích thích đau ( 4đ ) Gấp tay khi kích thích đau ( 3đ ) Duỗi tay cứng khi gây đau ( 2đ ) Không cựa khi kích thích đau ( 1đ ) 1.2.3 Một số biến chứng sau mổ

+ Chảy máu vết mổ + Phù não

+ Máu tụ tái phát + Nhiễm trùng vết mổ + Loét tỳ đè + Nhiễm trùng hô hấp

+ Tắc dẫn lưu não thất

Trang 20

Chương 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN

2.1 Tình hình nghiên cứu chấn thương sọ não

2.1.1 Tại việt nam

Ở Việt Nam hiện nay, Theo báo cáo của Ủy ban an toàn giao thông quốc gia trong năm 2016, cả nước xảy ra 21.589 vụ tai nạn giao thông, làm chết 8.685 người, làm bị thương 19.280 người Như vậy trung bình mỗi ngày có 24 người chết do tai nạn giao thông và thiệt hại lên đến 885 triệu USD mỗi năm Số trường hợp chấn thương sọ não ngày càng tăng, hay gặp ở người trẻ đang trong độ tuổi lao động, tỷ lệ

tử vong cao, di chứng nặng nề và chi phí điều trị tốn kém.Theo thống kê, tỷ lệ tử vong

do CTSN tại bệnh viện Việt Đức là 17,4%

Thương tổn hay gặp trong chấn thương sọ não thường gặp là các loại máu tụ trong sọ, giập não, phù não hậu quả làm tăng áp lực trong sọ gây tử vong cho người bệnh

2.1.2 Trên thế giới

Rất khó để xác định số người bị CTSN, bất kể thể nặng hay nhẹ, do những khó khăn trong việc mã hóa tình trạng này tại các bệnh viện Rất nhiều người bị CTSN nhẹ không tìm đến các dịch vụ y tế Hiện tại, gần như không thể biết được có bao nhiêu người phải vào cấp cứu hoặc đi khám bác sĩ với tình trạng chấn thương đầu là do thật

sự bị CTSN (New Zealand Guidelines Group, 2006) Nghiên cứu tổng hợp y văn được thực hiện bởi WHO Collaborating Centre Task Force on Mild Traumatic Brain Injury kết luận rằng tỷ lệ “thật sự” trên tổng dân số bị CTSN nhẹ là lớn hơn 600 trường hợp trên 100.000 người mỗi năm Tỷ lệ đó nếu tính cho Việt Nam sẽ là lớn hơn 560.000 trường hợp mỗi năm Chấn thương gây ra do tai nạn giao thông được cho là nguyên nhân dẫn đến tử vong xếp hàng thứ tám trên toàn thế giới (xấp xỉ 1,24 triệu người chết mỗi năm do tai nạn giao thông trên toàn thế giới), gây ra hậu quả tương đương với hậu quả của các bệnh truyền nhiễm như sốt rét (WHO, 2013)

Trang 21

+ Tránh tụt lưỡi : đặt ống canuyn Mayo

+ Tránh tắc đờm rãi : nếu người bệnh có dấu hiệu thở khò khè thì phải hút sạch đờm rãi

+ Tránh trào ngược dịch dạ dày vào khí quản: để người bệnh nằm thẳng, nghiêng đầu, theo dõi ống sonde dạ dày

+ Theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở

+ Hệ thống dẫn lưu đảm bảo đạt hiệu quả Đặc biệt Ông dẫn lưu sọ não về màu sắc, số lượng, tính chất để phát hiện sớm các biến chứng : suy hô hấp, chảy máu lại trong sọ não

+ Theo dõi được diễn tiến nơi vết thương có đặt ống dẫn lưu: xì bục đường khâu miệng nối

+ Thực hiện thuốc theo y lệnh

+ Làm các xét nghiệm theo y lệnh

+ Giúp cho người bệnh sớm phục hồi

+ Giúp vết mổ mau khỏi, không bị nhiễm khuẩn bởi DLSN

+ Phát hiện những biến chứng để bác sĩ xử trí kịp thời

+ Tránh loét miệng vết thương

+ Tránh nhiễm trùng và lây chéo trong bệnh viện

+ Đề phòng tụ dịch sau mổ hay theo dõi nguy cơ chảy máu sau mổ

+ Đảm bảo an toàn cho người bệnh sau mổ

 Chăm sóc các ngày sau

+ Chăm sóc vết mổ : thay băng vết mổ và chân ống dẫn lưu đảm bảo đúng quy trình

Trang 22

+ Thực hiện y lệnh thuốc kháng sinh, giảm đau

+ Theo dõi mạch, huyết áp, nhiệt độ, tình trạng vết mổ và các ống dẫn lưu nhằm phát hiện sớm nhiễm trùng

+ Dinh dưỡng cho người bệnh: trong giai đoạn chưa có trung tiện thì nuôi dưỡng qua đường tĩnh mạch, sau khi có trung tiện cho người bệnh ăn các chất mềm, dễ tiêu, cần chú ý cho người bệnh ăn ít chất béo ở giai đoạn đầu sau mổ

+ Cắt chỉ vết mổ : thường cắt chỉ sau 10 ngày, tùy bệnh nhân có thể lâu hơn + Tập vận động sớm cho người bệnh

Hình 2.6: Thay băng vết mổ có dẫn lưu sọ não

Trang 23

16

Ống dẫn lưu sọ não là loại ống mềm ngắn được đặt trong sọ não, ngành dài đi từ chỗ não tổn thương đi qua xương sọ ra ngoài Nguyên tắc theo dõi ống dẫn lưu này khác các ống dẫn lưu khác

- Mục đích đặt ống sọ não

+ Giảm áp lực sọ não

+ Chụp kiểm tra lại xem còn máu tụ không

- Biến chứng của dẫn lưu sọ não

+ Chảy máu chân dẫn lưu sọ não

+ Nhiễm trùng chân dẫn lưu sọ não

+ Tuột dẫn lưu sọ não

+ Tắc dẫn lưu sọ não

- Cách theo dõi ống dẫn lưu dẫn lưu sọ não

+ Ống dẫn lưu sọ não được nối dẫn vào túi hoặc chai vô trùng, túi hoặc chai phải thấp hơn vị trí sọ não để tránh trào ngược dịch vào trong

Hình 2.7: Vị trí đặt DLSN đúng quy trình

+ Ống dẫn lưu dẫn lưu sọ não phải thông, ghi chính xác số lượng, màu sắc, tính chất của dịch trong túi dẫn lưu hàng ngày Trung bình dịch chảy qua dẫn lưu sọ não khoảng 150-200ml/24 giờ trong những ngày đầu, ngày sau giảm dần tùy thuoccj vào vị trí của đặt dẫn lưu Khi có trung tiện (2-3 ngày sau mổ)

Ngày đăng: 23/02/2021, 14:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị phục hồi chức năng cho người bệnh chấn thương sọ não (Ban hành kèm theo Quyết định số 5623 /QĐ-BYT ngày 21/9/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị phục hồi chức năng cho người bệnh chấn thương sọ não
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2018
2. Bộ Y tế. (2011). “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện”. Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/1/2011 Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện”
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
3. Kingkeo segkhamyong (2012). “ Nghiên cứu chẩn đoán và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật máu tụ ngoài màng cứng cấp tính trên lều do chấn thương” Luận văn tiến sĩ y học, Học viện quân Y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chẩn đoán và đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật máu tụ ngoài màng cứng cấp tính trên lều do chấn thương
Tác giả: Kingkeo segkhamyong
Năm: 2012
4. Nguyễn Văn Châu (2012). Nghiên cứu thực trạng tai nạn xe máy, các yếu tố liên quan đến chấn thương sọ não và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại thành phố Hồ Chí Minh (2005 - 2010) Luận văn tiến sĩ y học, Học viện quân YTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng tai nạn xe máy, các yếu tố liên quan đến chấn thương sọ não và hiệu quả một số giải pháp can thiệp tại thành phố Hồ Chí Minh (2005 - 2010)
Tác giả: Nguyễn Văn Châu
Nhà XB: Học viện quân Y
Năm: 2012
7. Gershon Spitz (2014) Post-traumatic amnesia following traumatic brain injury. Epworth HealthCare & Monash University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Post-traumatic amnesia following traumatic brain injury
Tác giả: Gershon Spitz
Nhà XB: Epworth HealthCare
Năm: 2014
8. Herr KA, Garand L. (2001) Assessment and measurement of pain in older adults. Clin Geriatr Med. 2001 Aug; 17(3): 457–vi. Retrieved from Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment and measurement of pain in older adults
Tác giả: Herr KA, Garand L
Nhà XB: Clin Geriatr Med
Năm: 2001
9. Jessup RL. (2007) Interdisciplinary versus multidisciplinary care teams: do we understand the difference? In: Australian Health Review. August 2007 Vol 31 No 3 9.MoH. (2014) Decision to approve the National Action Plan on Rehabilitation Development Period 2014 – 2020. Hanoi, October 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Interdisciplinary versus multidisciplinary care teams: do we understand the difference
Tác giả: Jessup RL
Nhà XB: Australian Health Review
Năm: 2007
5. British Society of Rehabilitation Medicine [BSRM] (2003) Rehabilitation following acquired brain injury: National Clinical Guidelines Khác
6. Cassidy JD, Carroll LJ, Peloso PM, et al. (2004) Incidence, risk factors and prevention of mild traumatic brain injury: results of the WHO Collaborating Centre Task Force on Mild Traumatic Brain Injury. J Rehabil Med 2004;43 S:28–60 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm