1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp đẩy mạnh triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thị xã chí linh, tỉnh hải dương

106 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BHYT là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển, đóng vai trò quan trọng không những đối với người tham gia bản hiểm, các cơ sở y tế mà còn là thành tố quan trọng trong việc t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

PHẠM THỊ LY

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TRIỂN KHAI

BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI THỊ XÃ CHÍ LINH,

TỈNH HẢI DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HỮU XUYÊN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hữu Xuyên Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào./

Hải Dương, ngày … tháng … năm 2018

Tác giả luận văn

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vi

PHẦN MỞ ĐẦU vi

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 6

1.1 Khái niệm 6

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm 6

1.1.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội 7

1.1.3 Khái niệm Bảo hiểm y tế 9

1.1.4 Các loại hình bảo hiểm y tế tại Việt Nam 12

1.2 BHYT hộ gia đình 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Bản chất, vai trò của BHYT hộ gia đình 16

1.2.3 Nguyên tắc hoạt động của BHYT hộ gia đình 18

1.2.4 Chính sách BHYT hộ gia đình 19

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển BHYT hộ gia đình 23

1.3 Kinh nghiệm thực hiện BHYT hộ gia đình 25

1.3.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới 25

1.3.2 Bài học kinh nghiệm thực hiện BHYT hộ gia đình tại Việt Nam 27

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG GIAI ĐOẠN 2015-2017 29

2.1 Giới thiệu về thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương 29

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 29

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 30

2.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến thực hiện BHYT hộ gia đình 37

2.2 Thực trạng thực hiện BHYT hộ gia đình tại Thị xã 39

2.2.1 Thực trạng các hộ gia đình tại Thị xã 39

2.2.2 Kết quả phát triển đối tượng tham gia BHYT 45

2.2.3 Hệ thống các kênh phân phối BHYT hộ gia đình 50

2.2.4 Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh 55

2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến công tác thực hiện BHYT hộ gia đình tại Thị xã 57

2.3.1 Khảo sát mức độ ảnh hưởng của các nhân tố 57

Trang 5

2.3.2 Mức phí tham gia BHYT hộ gia đình 63

2.3.3 Hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình 64

2.3.4 Công tác thông tin tuyên truyền 65

2.3.5 Công tác quản lý bán BHYT 66

2.3.6 Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh 68

2.3.7 Thủ tục khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT 70

2.4 Đánh giá chung công tác thực hiện BHYT hộ gia đình trên địa bàn Thị xã71 2.4.1 Thành tựu đã đạt được 71

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 72

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TRIỂN KHAI BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH TẠI THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG ĐẾN NĂM 2020 75

3.1 Xu hướng phát triển BHYT hộ gia đình trong bối cảnh mới 75

3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chính sách BHYT hộ gia đình của tỉnh Hải Dương 76

3.2.1 Mục tiêu 76

3.2.2 Nhiệm vụ và giải pháp 77

3.3 Giải pháp đẩy mạnh triển khai BHYT hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương 79

3.3.1 Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về BHYT hộ gia đình 79

3.3.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh tại cơ sở y tế địa phương82 3.3.3 Nâng cao năng lực quản lý và kỹ năng chuyên môn của cán bộ, nhân viên tại các đại lý thu BHYT 87

3.4 Đề xuất và khuyến nghị 90

3.4.1 Đối với Nhà nước 90

3.4.2 Đối với các tổ chức chính trị - xã hội 90

3.4.3 Đối với BHXH tỉnh Hải Dương 90

3.4.4 Đối với các hộ gia đình 91

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Mức đóng BHYT năm 2017 21

Bảng 1.2 Mức đóng BHYT năm 2018 21

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội ước tính năm 2017 31

Bảng 2.2 Dân số trung bình và mật độ dân số tại Thị xã 37

Bảng 2.3 Dân số trung bình theo xã, phường giai đoạn 2013-2017 40

Bảng 2.4 Dân số trung bình, số hộ, số người bình quân hộ phân theo xã, phường năm 2017 41

Bảng 2.5 Đặc điểm của các xã trên địa bàn Thị xã 42

Bảng 2.6 Tỷ lệ người tham gia BHYT trên tổng số dân 46

Bảng 2.7 Bảng số người tham gia BHYT theo xã, phường giai đoạn 2015-2017 47

Bảng 2.8 Tổng số người tham gia BHYT hộ gia đình tại Thị xã giai đoạn 2015-2017 48

Bảng 2.9 Bảng số người tham gia BHYT hộ gia đình theo xã, phường giai đoạn 2015-2017 49

Bảng 2.10 Cơ cấu nhân viên làm việc tại các đại lý thu BHYT hộ gia đình 50

Bảng 2.11 Tổng hợp phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình tại các đại lý năm 2017 52

Bảng 2.12 Hệ thống cơ sở KCB có đăng ký BHYT tại tỉnh Hải Dương 56

Bảng 2.13 Bảng tóm tắt tên biến và các nhóm nhân tố ảnh hưởng tới công tác thực hiện BHYT hộ gia đình tại Thị xã Chí Linh 58

Bảng 2.14 Phân bổ cơ cấu chọn mẫu 60

Bảng 2.15 Mô tả mẫu khảo sát 60

Bảng 2.16 Nguồn thu nhập chính của hộ gia đình trong 12 tháng qua 61

Bảng 2.17 Lý do tham gia BHYT hộ gia đình 62

Bảng 2.18 Đánh giá về mức phí tham gia BHYT hộ gia đình 63

Bảng 2.19 Đánh giá hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình 64

Bảng 2.20 Đánh giá về công tác thông tin, tuyên truyền 66

Bảng 2.21 Đánh giá về công tác quản lý bán BHYT 67

Bảng 2.22 Đánh giá về chất lượng dịch vụ KCB bằng thẻ BHYT 69

Bảng 2.23 Đánh giá của người dân về thủ tục KCB bằng thẻ BHYT 70

Bảng 3.1 Kế hoạch tuyên truyền BHYT hộ gia đình tại Thị xã 81

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương 29

Hình 2.2 Số người tham gia BHYT hộ gia đình giai đoạn 2015-20117 48

Hình 2.3 Cơ cấu nguồn thu nhập chính của hộ gia đình 61

Hình 2.4 Thời gian tham gia BHYT hộ gia đình của người dân 61

Hình 2.5 Lý do không tham gia BHYT hộ gia đình 62

Hình 2.6 Tỷ lệ đánh giá mức phí tham gia BHYT hộ gia đình 63

Hình 2.7 Tỷ lệ hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình 64

Hình 2.8 Kênh thông tin tuyên truyền người dân biết tới BHYT hộ gia đình 65 Hình 2.9 Tỷ lệ đánh giá công tác thông tin, tuyên truyền BHYT hộ gia đình 66

Hình 2.10 Tỷ lệ đánh giá công tác thông tin, tuyên truyền BHYT hộ gia đình 67 Hình 2.11 Tỷ lệ dùng thẻ BHYT hộ gia đình 68

Hình 2.12 Lý do chưa dùng thẻ BHYT 68

Hình 2.13 Tỷ lệ đánh giá về chất lượng dịch vụ KCB bằng thẻ BHYT 69

Hình 2.14 Tỷ lệ đánh giá về chất lượng dịch vụ KCB bằng thẻ BHYT 70

Hình 3.1 Hình thức thông tin tuyên truyền phù hợp BHYT hộ gia đình 80

Hình 3.2 Giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ KCB bằng thẻ BHYT 83

Hình 3.3 Giải pháp cho hệ thống các đại lý bán BHYT hộ gia đình 87

Sơ đồ 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHXH của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phúc Yên 23

Sơ đồ 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện BHYT toàn dân tại Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh 24

Sơ đồ 1.3 Các nhân tố tác động tới việc tham gia BHYT của người dân xã Hua La, thành phố Sơn La 24

Sơ đồ 2.1 Hệ thống các kênh thu BHYT hộ gia đình 51

Sơ đồ 2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương 57

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do thực hiện đề tài:

Bảo hiểm y tế (BHYT) là chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách bảo đảm an sinh xã hội ở nước ta, cho nên luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước Năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ đã ban hành nghị định về công tác BHYT Ngày 1/7/2009, Luật BHYT chính thức có hiệu lực, đánh dấu một bước tiến trong hoàn thiện pháp luật về BHYT với mục tiêu BHYT toàn dân, xây dựng nền y tế Việt Nam theo định hướng công bằng, hiệu quả và phát triển

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 Nghị quyết Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: “Đổi mới và hoàn thiện đồng bộ các chính sách

bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh và viện phí phù hợp; có lộ trình thực hiện bảo hiểm

y tế toàn dân” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2011, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ XI, tr.127-129)

Luật BHYT được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực từ 01/7/2009 đã quy định trách nhiệm tham gia BHYT của các nhóm đối tượng theo lộ trình Theo đó, đến 01/01/2014 là thời điểm được xem là tất cả các công dân Việt Nam đều có trách nhiệm tham gia BHYT Bên cạnh

đó, lộ trình BHYT toàn dân vào năm 2020 đang được triển khai tích cực, song kết quả không mấy thuận lợi, khi tỷ lệ người tham gia BHYT tính đến tháng 12/2014 mới chỉ đạt 70.8% dân số (Theo Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn năm 2016-2020 của Bộ Y tế) Nhiều năm qua, số đối tượng tham gia BHYT không ngừng gia tăng, đến nay toàn tỉnh Hải Dương đã có 1.552.818 người có thẻ BHYT đạt tỷ lệ trên 86,95% dân

số tham gia, trong đó đa phần người tham gia BHYT hiện nay thuộc diện đối tượng chính sách; cán bộ hưu trí; công chức, viên chức; người lao động tại các doanh nghiệp; học sinh, sinh viên; người nghèo; trẻ em dưới 6 tuổi; và những người cận nghèo, được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ 70%, Quỹ hỗ trợ y tế các tỉnh Đông Bắc bộ và đồng bằng sông Hồng hỗ trợ 20%, còn lại 10% do NSNN của tỉnh hỗ trợ Số người được tiếp cận các dịch vụ y tế ngày một nhiều Mỗi năm, có trên 2 triệu lượt người được KCB bằng BHYT

Thị xã Chí Linh là Đô thị lớn thứ hai của tỉnh Hải Dương, với 20 đơn vị hành chính gồm 08 phường và 12 xã, diện tích tự nhiên là 28.292 ha, dân số 166.725 người Đây được coi là đối tượng để cơ quan BHXH tỉnh Hải Dương mở rộng, phát triển các hình thức BHYT Tuy nhiên, công tác triển khai nhằm “phủ sóng” bảo hiểm đến từng nhà còn có nhiều khó khăn, số lượng tham gia BHYT theo hình thức

hộ gia đình trên địa bàn đạt tỷ lệ chưa cao, đa số người dân chưa nhận thức được tầm

Trang 10

quan trọng của loại hình bảo hiểm này do đó không nhiệt tình tham gia Mặt khác, mặc dù các cơ quan chức năng đã đầu tư rất nhiều vào công tác thông tin tuyên truyền

về BHYT nhưng dường như việc thông tin, tuyên truyền về BHYT hộ gia đình vẫn

chưa thực sự có hiệu quả Do đó từ thực tế trên, tôi chọn đề tài: “Một số giải pháp đẩy mạnh triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương ” làm chủ để nghiên cứu trong quá trình làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài:

Từ năm 2009 đến nay, sau 9 năm Luật BHYT chính thức có hiệu lực tại Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu của cán bộ lãnh đạo, quản lý, các chuyên gia trong ngành và ngoài ngành, từ đề tài cấp bộ, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung, cũng như từng lĩnh vực cụ thể về BHYT Các nghiên cứu đều xoay quanh các nội dung chính: cơ sở lý luận về BHYT, thực trạng tổ chức thực hiện BHYT tại địa phương và giải pháp đẩy mạnh triển khai thực hiện BHYT

Đã có một số đề tài nghiên cứu phân tích việc tổ chức thực hiện BHYT như:

- Bùi Thị Thu Hằng (2014), Bảo hiểm y tế tự nguyện trong luật Bảo hiểm y tế

Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đề tài đã khái quát chung về BHYT tự nguyện và pháp luật BHYT tự nguyện của một số nước trên thế giới và những gợi mở cho Việt Nam Bằng việc phân tích thực trạng pháp luật BHYT tự nguyện và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam tác giả đã đánh giá được những thành công, hạn chế và nguyên ngân để từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật BHYT tự nguyện và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện ở Việt Nam

- Ngô Đình Hoán (2012), Nghiên cứu phát triển bảo hiểm y tế cho nông dân

huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học nông

nghiệp Hà Nội

Trên cơ sở nghiên cứu sâu về bảo hiểm y tế cho nông dân, tác giả đã làm rõ một số khái niệm xung quanh vấn đề phát triển bảo hiểm y tế, thực trạng quản phát triển BHYT cho nông dân, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả thực hiện BHYT tại đây và đánh giá được những ưu điểm, hạn chế đồng thời đưa

ra giải pháp nhằm hoàn thiện để phát triển BHYT cho nông dân tại tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

- Nguyễn Văn Tình (2013), Giải pháp thực hiện BHYT toàn dân tại thị xã Từ

Sơn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh

– Đại học Thái Nguyên

Đề tài đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về BHYT và các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện BHYT toàn dân và đánh giá thực trạng triển khai BHYT toàn

Trang 11

dân tại thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008 -2012 về công tác truyền thông, công tác thu BHYT, công tác khám chữa bệnh, công tác quản lý và sử dụng quỹ, công tác thanh kiểm tra trong hoạt động BHYT để từ đó xây dựng giải pháp

về vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng và nhóm giải pháp liên quan đến

tổ chức thực hiện

Tuy nhiên, nghiên cứu về đẩy mạnh BHYT hộ gia đình còn rất hạn chế, mới

có một số đề tài trong lĩnh vực này được nghiên cứu một cách có hệ thống, đó là:

- Phạm Thị Giang (2016), Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện bảo hiểm y tế hộ

gia đình tại thành phố Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học

kinh tế và quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên

Qua nghiên cứu việc thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh, luận văn đã có những đóng góp về mặt lý luận và khoa học cụ thể sau:

+ Hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về BHYT, nhất

là vấn đê chính sách và tổ chức thực hiện BHYT hộ gia đình

+ Chỉ ra được những thuận lợi trong việc triển khai BHYT hộ gia đình tại địa bàn nghiên cứu, đồng thời phát hiện ra những khó khăn, hạn chế khiến việc triển khai BHYT hộ gia đình tại địa phương không thành công như mong đợi

+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu và cụ thể nhằm hiện thực hóa thành công BHYT hộ gia đinh trong các đối tượng tiềm năng tại thành phố Bắc Ninh

- Hà Thị Thủy Tiên (2016), Phát triển bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn

thành phố Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh

doanh – Đại học Thái Nguyên

Luận văn đã tập trung phân tích và làm rõ thực trạng của công tác triển khai BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên cũng như tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thành phố Thái Nguyên và đưa ra những giải pháp, đề xuất kiến nghị tới BHXH tỉnh Thái Nguyên, các ban ngành chức năng cũng như người dân Thái Nguyên nhằm nâng cao hiệu quả của công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trên địa bàn

Trong đề tài này, tác giả đã phân tích 6 nhân tố trong mô hình nghiên cứu nhưng chỉ có 3 nhân tố ảnh hưởng tỉ lệ thuận với công tác triển khai BHYT hộ gia đình đó là: Hiểu biết của người dân về BHYT hộ gia đình; thái độ của người dân về chăm sóc sức khỏe; công tác thông tin tuyên truyền với β lần lượt là 0.414, 1.233và 0.195 Dựa trên kết quả phân tích, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao hiểu biết cho người dân về BHYT hộ gia đình cũng như nâng cao thái độ, trách nhiệm trong việc chăm sóc sức khỏe của cá nhân, gia đình và cộng đồng

Với hai công trình nghiên cứu có trên, tôi nhận thấy một số vấn đề như sau:

Trang 12

Thứ nhất, các đề tài đã chỉ ra được những vấn đề cơ bản về BHYT và BHYT

hộ gia đình, tuy nhiên chưa đề cập và phân tích sự thay đổi quy định đóng BHYT

hộ gia đình qua các năm

Thứ hai, các giải pháp đẩy mạnh phát triển BHYT hộ gia đình đưa ra chưa sử

dụng kết quả nghiên cứu để xác định thứ tự ưu tiên thực hiện trong giải pháp

Từ tổng quan về tình hình nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu về triển khai BHYT hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

Do đó luận văn sẽ đi sâu vào phân tích và đưa ra những giải pháp về đẩy mạnh triển khai BHYT hộ gia đình tại địa bàn này

Trên cơ sở kế thừa những kiến thức mà các tác giả đi trước đã dày công nghiên cứu, từ đó giúp tôi có thêm những ý tưởng mới phù hợp với tình hình nghiên cứu triển khai BHYT hộ gia đình, góp phần phân tích rõ thực trạng triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình, những thành công, tồn tại và nguyên nhân để từ đó đề ra giải pháp đẩy mạnh triển khai BHYT hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

3 Mục tiêu nghiên cứu:

3.1 Mục tiêu chung:

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai BHYT hộ gia đình trong những

năm tới nhằm mục tiêu tiến tới hoàn thành thực hiện BHYT toàn dân ở địa phương

3.2 Mục tiêu cụ thể:

- Đánh giá thực trạng BHYT nói chung và BHYT hộ gia đình nói riêng

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới công tác triển khai BHYT hộ gia đình trên địa bàn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình trên địa bàn thị xã Chí Linh đến năm 2020

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào thực trạng thực hiện BHYT hộ gia đình và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác triển khai triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi không gian: Tình hình triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình tại thị

xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

- Phạm vi thời gian: Các số liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 1 - tháng 2 năm 2018, số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2015 - 2017 theo thống kê của BHXH tỉnh Hải Dương

- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trong giai đoạn 2015 – 2017 (trong khuôn khổ luận văn này tác giả tập trung phân tích công tác tác triển khai thực hiện BHYT qua việc phân tích và

Trang 13

đánh giá thực trạng kết quả phát triển đối tượng tham gia BHYT tại Thị xã, tỉnh Hải Dương); phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác triển khai triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình và các giải pháp về phát triển BHYT hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu:

5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu

Trong luận văn này, tác giả sử dụng cả 2 phương pháp nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, nhằm phân tích và tìm ra những yếu tố ảnh hưởng tích cực

và tiêu cực tới việc triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình trên địa bàn thị xã Chí Linh tỉnh Hải Dương bằng số liệu điều tra được thu thập thực tế từ các hộ gia đình sinh sống trên địa bàn:

- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Là những thông tin đã có sẵn, được các cơ quan, đơn vị tổng hợp từ trước và đã được công bố Trong đề tài dữ liệu thứ cấp bao gồm các thông tin về số hộ gia đình, số lượng tham gia BHYT hộ gia đình Thông qua các sách, tạp chí, niên giám Thống kê, các báo cáo tổng kết của cơ quan BHXH huyện, tỉnh, các sở, ban ngành liên quan

- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập qua điều tra, khảo sát đối tượng nghiên cứu là chủ hộ gia đình tại địa bàn thị xã Chí Linh trên cơ sở mẫu phiếu điều tra được chuẩn bị trước với nội dung phù hợp Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Với 24 biến quan sát sử dụng thang

đo Likert, số mẫu tối thiểu cần thiết là: 24*5 = 120 Do giới hạn về thời gian nghiên cứu nên để có đủ cơ sở thực tiễn kết luận cho đề tài tác giả tiến hành khảo sát 150

hộ gia đình tại 5 phường trên địa bàn thị xã có số nhân khẩu, hộ khẩu nhiều nhất

5.2 Phương pháp xử lý dữ liệu

- Phương pháp thống kê so sánh: Thống kê so sánh là phương pháp tính toán các chỉ tiêu theo các tiêu chí khác nhau sau đó đem kết quả so sánh với nhau, so sánh với các chỉ tiêu đã định

- Phương pháp thống kê mô tả: Với số liệu đã được thống kê và mô tả phản

ánh những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu điều tra

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận văn được chia thành ba phần

chính tương ứng nội dung ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của bảo hiểm y tế

Chương 2: Thực trạng triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2015-2017

Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh triển khai bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đến năm 2020

Trang 14

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ

1.1 Khái niệm

1.1.1 Khái niệm bảo hiểm

Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn gốc và lịch sử phát triển khá lâu đời, nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ này, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm Theo các chuyên gia bảo hiểm, một định nghĩa đầy đủ và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành một quĩ tiền tệ (quĩ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro như nhau tạo thành một nhóm tương tác

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít Theo Monique Gaullier:

"Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”

Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ

chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm”

Các định nghĩa trên hoặc quá thiên về góc độ xã hội, hoặc quá thiên về góc độ kinh tế, kĩ thuật, ít nhiều cũng còn thiếu sót, chưa phải là một khái niệm bao quát, hoàn chỉnh Nói một cách chính xác, bảo hiểm là một dịch vụ tài chính, dựa trên cơ

sở tính toán khoa học, áp dụng biện pháp huy động nhiều người, nhiều đơn vị cùng tham gia xây dựng quỹ bảo hiểm bằng tiền để bồi thường thiệt hại về tài chính do tài sản hoặc tính mạng của người được bảo hiểm gặp phải tai nạn rủi ro bất ngờ Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (ban hành ngày 09/12/2000) thì

“Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm."

Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể đưa ra

định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người

Trang 15

được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm”

1.1.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội

BHXH xuất hiện và phát triển cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của nhân loại Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì nước Phổ (nay thuộc Cộng hòa liên bang Đức) là nước đầu tiên trên thế giới ban hành chế độ bảo hiểm ốm đau vào năm 1883, đánh dấu sự ra đời của BHXH Đến nay, BHXH trở thành nền tảng

cơ bản của hệ thống ASXH của mỗi quốc gia, được thực hiện ở hầu hết cỏc nước trên thế giới và ngày càng phát triển Mặc dù đã có quá trình phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay cũng có nhiều khái niệm về BHXH, chưa có khái niệm thống nhất, chẳng hạn như:

- Theo Tổ chức Lao động quốc tế: "BHXH là hình thức bảo trợ mà xã hội

dành cho các thành viên của mình thông qua nhiều biện pháp công nhằm tránh tình trạng khốn khó về mặt kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm đáng kể thu nhập vì bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động, mất sức lao động và tử vong; chăm súc y tế và trợ cấp cho các gia đình có con nhỏ"

- Theo Bộ luật Lao động: "Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bu

đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập

từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội"

- "Bảo hiểm xã hội là việc tạo ra nguồn thu nhập thay thế trong trường hợp nguồn thu nhập bình thường bị gián đoạn đột ngột hoặc mất hẳn, bảo vệ cho những người lao động làm công ăn lương trong xã hội"

- "Bảo hiểm xã hội là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ góp phần đảm bảo an toàn xã hội"

Khái niệm BHXH được khái quát một cách đầy đủ nhất trong Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 9

thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 như sau: "Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay

thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đúng vào quỹ bảo hiểm xã hội"

Trang 16

Khái niệm BHXH được sử dụng trong toàn bộ nghiên cứu của luận văn là khái niệm BHXH đó được ghi trong Luật BHXH Luật BHXH quy định ba loại hình BHXH, bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và BHXH thất nghiệp Theo đó:

- Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia

- Bảo hiểm tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đúng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội

- Bảo hiểm thất nghiệp được hiểu là bảo hiểm bồi thường cho người lao động

bị thiệt hại về thu nhập do bị mất việc làm để họ ổn định cuộc sống và có điều kiện tham gia vào thị trường lao động

Có thể thấy, BHXH là quá trình phân phối lại thu nhập xã hội Thực

chất BHXH là một tổ chức đền bù hậu quả những rủi ro xã hội Sự đền bù này được thực hiện thông qua quá trình tạo lập và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung hình thành do sự đúng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác của BHXH Phân phối trong BHXH là phân phối không đều, nghĩa là không phải ai tham gia BHXH cũng được phân phối với số tiền giống nhau Phân phối trong BHXH vừa mang tính bồi hoàn vừa không mang tính bồi hoàn Những biến cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người như thai sản (đối với lao động nữ), tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH phân phối mang tính bồi hoàn vì người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó Còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm, những rủi ro ngoài dự tính như ốm đau, TNLĐ-BNN, là sự phân phối mang tính không bồi hoàn, có nghĩa là chỉ khi nào người lao động gặp phải những tổn thất do trên thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó

BHXH hoạt động theo nguyên tắc "cộng đồng - lấy số đông bù số ít" tức là dùng số tiền đúng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH để bù đắp, chia sẻ cho một số ít người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro gây tổn thất

Tóm lại, BHXH là hệ thống những chính sách, chế độ do Nhà nước quy định để đảm bảo quyền lợi vật chất cho người tham gia BHXH BHXH là một loại dịch vụ công, lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động BHXH hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bự số ít, chia sẻ rủi ro, là quá trình phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH theo xu hướng có lợi cho đối tượng gặp phải những rủi ro trong lao động và đời sống xã hội

Trang 17

1.1.3 Khái niệm Bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế là bảo hiểm chống lại các nguy cơ phát sinh các chi phí y tế giữa các cá nhân Bằng cách ước lượng rủi ro tổng thể của dịch vụ chăm sóc sức khỏe và hệ thống y tế chi phí, trong một số nhóm mục tiêu, doanh nghiệp bảo hiểm

có thể phát triển một cấu trúc tài chính thông thường như phí bảo hiểm hay biên chế thuế hàng tháng để đảm bảo rằng tiền có sẵn để trả cho các quyền lợi chăm sóc sức khỏe quy định trong hợp đồng bảo hiểm

Theo Hiệp hội Bảo hiểm y tế của Mỹ, BHYT đươc định nghĩa là “Bảo hiểm

cung cấp các khoản thanh toán cho bệnh tật, chấn thương bảo gồm cả bảo hiểm thiệt hại do tai nạn, chi phí y tế, khuyết tật hay tai nạn tử vong.”

BHYT là một bộ phận cấu thành của pháp luật về về an sinh xã hội BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong chăm sóc sức khỏe và là một trong 9 nội dung của bảo hiểm xã hội (BHXH) được quy định tại công ước 102 ngày /06/1952 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH Theo Khoản 1, điều 2 Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày

14/11/2008 do Quốc hội ban hành: “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm áp

dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này” Khái niệm về BHYT dược trình bày trong cuốn Từ điển Bách

Khoa Việt Nam I xuất bản năm 1995 của Nhà xuất bản từ điển Bách Khoa –

trang số 151 như sau: “Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức và

quản lư nhằm huy động sự đóng góp của các cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám chữa bệnh cho nhân dân”

Qua khái niệm trên có thể thấy BHYT có những bản chất sau:

Thứ nhất, quy luật số đông:

Thông qua quy luật số đông, với việc thực hiện nghiên cứu trên một mẫu đủ lớn có thể tính toán được xác suất tương đối chính xác khả năng xảy ra trong thực tế của một biến cố

Do vậy, quy luật số đông là cơ sở khoa học quan trọng của hoạt động bảo hiểm Quy luật này giúp cơ quan bảo hiểm xác định xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, tính phí và quản lư quỹ dự pḥng chi trả, đồng thời cũng là điều kiện để đạt được tác dụng phân tán rủi ro

Trong BHYT quy luật số đông được biểu hiện số đông bù số ít, người khoẻ

hỗ trợ người yếu, người trẻ hỗ trợ người già và trẻ em

Thứ hai, chia sẻ tổn thất:

- BHYT là một cơ chế trong đó số đông cá nhân đóng góp phí BHYT để h́nh thành

Trang 18

nên quỹ BHYT Phí đóng góp BHYT là một khoản tiền nhỏ so với phúc lợi mà người được BHYT nhận được và mức phí phù hợp với đóng góp của nhiều người

- Nguyên tắc chia sẻ rủi ro dựa trên cơ sở là tất cả phần đóng góp tạo thành quỹ BHYT để có thể đủ chi phí cho những người hưởng quyền lợi khi xảy ra ốm đau

Thứ ba, tính b́nh đẳng của các rủi ro:

Để đảm bảo công bằng về quyền lợi của mọi người khi tham gia BHYT cần phải có những quy định về phúc lợi Tính công bằng được thể hiện thông qua hàng loạt các quy định về quyền lợi và trách nhiệm

Thứ tư, cơ sở tính phí BHYT:

Phí đóng góp BHYT được tính toán căn cứ vào tần suất KCB, tỷ lệ người tham gia BHYT, chi phí và lăi đầu tư

Thứ năm, có đóng có hưởng:

Đóng theo thu nhập hưởng theo thực tế khi không may bị ốm đau phải tới các

cơ sở KCB để khám và điều trị bệnh

Thứ sáu, không hoàn lại:

Người tham gia BHYT nếu không đi khám chữa bệnh trong thời gian thẻ có giá trị sử dụng th́ không được hoàn lại phí đă đóng

BHYT là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển, đóng vai trò quan trọng không những đối với người tham gia bản hiểm, các cơ sở y tế mà còn là thành

tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác y tế nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng các thành phần tham gia khám, chữa bệnh nhân dân Các vai trò chính của BHYT bao gồm:

Thứ nhất, BHYT góp phần phục vụ xă hội:

Với mục tiêu là chính sách an sinh xã hội nên thiết yếu là phụ vụ xã hội , phục

vụ người dân trong cả nước, những người có hoàn cảnh khó khăn tương thân, tương

ái, giúp đỡ lẫn nhau…

Thứ hai, bảo vệ sức khỏe cộng đồng:

BHYT là một chính sách an sinh xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe cho nhân dân: BHYT sẽ đảm bảo cho những người tham gia BHYT và các thành viên gia đình họ những khả năng để đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật để chữa trị và khôi phục lại sức khỏe sau bệnh tật Vì khi lâm bệnh người bệnh buộc phải đến các cơ sở yê tế để khám chữa bệnh, từ những bệnh chưa nghiêm trọng đến những bệnh tật kinh niên, mãn tính hoặc bệnh hiểm nghèo đã dẫn đến các khoản chi phí khám chữa bệnh cực kỳ lớn Có những người bệnh được sử dụng các công nghệ

kỹ thuận cao trong việc chẩn đoán và chữa trị bệnh, sử dụng loại thuốc đắt tiền và lưu trú dài ngày tại bệnh viện, những khoản chi phí này không phải ai cũng có thể

Trang 19

tự lo liệu được Đối với những người bệnh có hoàn cảnh nghèo túng thì phải vay mượn để chữa bệnh sau đó trả nợ nhưng bên cạnh đó cũng có những người không

có khả năng vay mượn để tiếp tục chữa trị, những người có điều kiện kinh tế khá hơn hoặc cận nghèo thì sau những đợt bệnh cũng có thể bị đẩy vào tình cảnh nghèo khó Đồng thời bệnh tật cũng kéo do sự mất mát về thu nhập do người bệnh không đủ sức khỏe để làm việc, từ đó đe dọa đến cơ sở kinh tế và sự tồn tại của người lao động

kế đến là các thành viên ăn theo trong gia đình, cuối cùng là ảnh hưởng đến sự ổn định của xã hội Do vậy người ta phải đến với BHYT, BHYT phải chi trả toàn bộ hoặc từng phần những chi phí khám chữa bệnh khổng lồ nói trên, giúp người bệnh vượt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sức khỏe và ổn định cuộc sống

Thứ ba, BHYT góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội:

Khi đề ra chính sách nào đó nhà nước sẽ thông qua nó để thực hiện những mục đích chính trị tùy theo điều kiện từng quốc gia Vì vậy chính sách khám chữa bệnh cho nhân dân hay chính sách BHYT là chính sách thông qua đó được nhà nước thực hiện mục tiêu an sinh xã hội của mình Thông qua chính sách BHYT, những đối tượng, người lao động gặp khó khăn như người nghèo, những người có công, thân nhân sỹ quan, lực lượng vũ trang cũng nhận được phần ưu đãi

Thứ tư, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế:

Ngoài việc giúp nhà nước thực hiện chính sách an sinh xã hội, BHYT còn góp phần quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế Chính sách này tạo khả năng huy động các nguồn lực tài chính cho y tế đồng thời phát triển đa dạng các thành phần tham gia khám chữa bệnh Đối tượng tham gia BHYT được lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh không phân biệt trong hay ngoài công lập và được quỹ BHYT thanh toán với mức phí tương đương

Thứ năm, BHYT điều tiết thu nhập:

Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro và ý tưởng nhân văn cao cả của nó đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT Do vậy BHYT không có khoản thu lợi nhuận và không vì mục đích lợi nhuận Phương thức đoàn kết, tương trợ chia sẻ rủi ro phải được thực hiện bằng sự điều tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội Việc lập ra quỹ khám chữa bệnh và từng bước mở rộng phạm vi đối tượng tham gia là từng bước mở rộng phạm vi cân bằng chia sẻ rủi ro chính là quy trình phân phối lại giữa người khỏe mạnh với người ốm đau, người trẻ với người già và đặc biệt là người giàu với người nghèo Do vậy đối tượng tham gia BHYT không ngừng được mở rộng, phát triển và định hướng cho những đối tượng khác nhau, không phân biệt giữa người lao động có thu nhập cao với người lao động có thu nhập thấp, giữa người đi làm việc với người thất nghiệp

Trang 20

1.1.4 Các loại hình bảo hiểm y tế tại Việt Nam

Có 2 loại hình BHYT tồn tại ở Việt Nam đó là: BHYT tự nguyện và BHYT bắt buộc

BHYT bắt buộc là loại hình BHYT chỉ áp dụng với một nhóm đối tượng nhất định, thường là khu vực có tiềm lực kinh tế, có thu nhập ổn định Tiêu chí để định mức đóng BHYT thường được tính theo % thu nhập của người tham gia bảo hiểm, người có thu nhập cao thì đóng nhiều nhưng việc hưởng chế độ BHYT lại dựa trên

sự kiện pháp lý (ốm đau, tai nạn) theo quy định của pháp luật

BHYT tự nguyện là loại hình BHYT thứ 2 đang được thực hiện ở nước ta So với BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện có số lượng tham gia đông đảo, đa dạng về thành phần và nhận thức xã hội, có điều kiện kinh tế và nhu cầu chăm sóc sức khỏe khác nhau BHYT tự nguyện được triển khai theo địa giới hành chính (áp dụng cho

hộ gia đình, tổ chức triển khai theo cấp xã, phường, thị trấn) và theo nhóm đối tượng BHYT tự nguyện gồm nhiều loại hình khác nhau như: bảo hiểm khám chữa bệnh (KCB) nội trú, bảo hiểm KCB ngoại trú, bảo hiểm bổ sung cho loại hình BHYT bắt buộc, BHYT cộng đồng, BHYT hộ gia đình, và các loại BHYT khác

Khung mức đóng BHYT tự nguyện được xác định theo khu vực và theo nhóm đối tượng Cùng một đối tượng tham gia nhưng mức đóng ở thành thị sẽ cao hơn nông thôn (thành thị 320,000 đồng/ năm, nông thôn 240,000đồng/năm), học sinh sinh viên có mức đóng thấp hơn các đối tượng khác (thành thị 120,000

đồng/năm, nông thôn 100,000 đồng/năm)

1.2 BHYT hộ gia đình

1.2.1 Khái niệm

Được chính thức triển khai từ ngày 01/01/2015 Quy định về nhóm đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình được xem là một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định Tham gia BHYT theo hộ gia đình lần đầu tiên được luật hóa tại Luật Sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 Quy định về nhóm đối tượng tham

Trang 21

gia BHYT theo hộ gia đình được xem là một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân mà Đảng và Nhà nước ta đã xác định Được chính thức triển khai từ ngày 01/01/2015, trải qua hơn một năm, việc thực hiện BHYT đối với nhóm đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình đã có được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những vấn đề đặt

ra, cần có sự nhìn nhận thấu đáo để có giải pháp phù hợp, hiệu quả hơn

Theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2008 thì BHYT là

Hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện” Đối tượng tham gia BHYT được sắp xếp lại theo 5 nhóm dựa vào chủ

thể phải trả tiền mua BHYT, trong đó bổ sung thêm đối tượng tham gia BHYT là hộ gia đình Cũng theo quy định này thì hộ gia đình được định nghĩa là “bao gồm toàn

bộ người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú” Điều này cũng có nghĩa tất cả các thành viên trong gia đình đều phải mua BHYT, nói cách khác là 1 thành viên trong gia đình chỉ có thể có thẻ BHYT nếu tất cả những thành viên khác trong gia đình cùng mua

Như vậy có thể nói, BHYT hộ gia đình là hình thức bảo hiểm bắt buộc được

áp dụng cho những người có tên trong cùng một sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú để chăm sóc sức khỏe không vì mục đích lợi nhuận do nhà nước tổ chức thực hiện

Có thể hiểu, tham gia BHYT theo hộ gia đình là việc toàn bộ người có tên trong sổ hộ khẩu (không bao gồm người đã khai báo tạm vắng) hoặc sổ tạm trú cùng tham gia BHYT, trừ những thành viên gia đình đã thuộc đối tượng đã tham gia BHYT thuộc nhóm do người lao động, chủ sử dụng lao động đóng; nhóm do tổ chức BHXH đóng; các nhóm được ngân sách nhà nước đóng hoặc hỗ trợ mức đóng BHYT Như vậy, nếu người dân không thuộc các nhóm đối tượng tham gia BHYT

có sự hỗ trợ trực tiếp một phần hoặc toàn bộ phí tham gia BHYT từ người sử dụng lao động, tổ chức BHXH hay Nhà nước thì sẽ tham gia BHYT hộ gia đình bằng cách tự đóng góp phí BHYT BHYT theo hộ gia đình như là tấm “lưới đỡ” sau cùng cho những người dân chưa thuộc bất kỳ nhóm đối tượng tham gia BHYT nào khác, đảm bảo mọi người dân trong xã hội đều có cơ hội được bảo vệ bởi BHYT Vậy, tham gia BHYT theo hộ gia đình nói riêng, người dân nhận được những lợi ích gì? Đầu tiên, vấn đề này cần được luận giải từ sự cần thiết khách quan, tầm quan trọng của BHYT Dù mới được triển khai tại Việt Nam hơn hai thập kỷ (Điều lệ BHYT được ban hành đầu tiên vào năm 1992 theo Nghị định 299-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 15/08/1992) nhưng BHYT đã xuất hiện từ giữa thế kỷ XIX tại nước Đức với sự hình thành của mô hình BHYT Otto Von Bismack và sau đó được

Trang 22

lan rộng, phát triển trên toàn thế giới BHYT ra đời xuất phát từ nhu cầu tất yếu của con người về một cơ chế mang tính xã hội trên diện rộng với sự đảm bảo của Nhà nước để chia sẻ tổn thất khi ốm đau, bệnh tật Cho tới nay, BHYT được xem như một công cụ tương trợ cộng đồng văn minh, phổ biến và hữu hiệu nhất để nhân loại phòng ngừa và chống chọi với những rủi ro sức khỏe – vốn là loại rủi ro thường xuyên của con người BHYT góp phần quan trọng đảm bảo quyền con người trong lĩnh vực sức khỏe, giúp người dân mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế, chống lại bệnh tật, đói nghèo, qua đó thực hiện An sinh xã hội, phát triển kinh tế quốc gia

Người tham gia BHYT theo theo hộ gia đình được hưởng đầy đủ những quyền lợi của BHYT Người tham gia được cấp thẻ BHYT để sử dụng khi khám, chữa bệnh và hưởng các quyền lợi BHYT, được trợ cấp tài chính cho những dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ và sinh con với mức hưởng tùy theo từng trường hợp: khám, chữa bệnh tại nơi đăng ký khám, chữa bệnh BHYT hoặc theo quy định về chuyển tuyến điều trị, đảm bảo thủ tục khám, chữa bệnh BHYT; tự đi khám, chữa bệnh không đúng tuyến; khám, chữa bệnh tại cơ sở khám, chữa bệnh giáp ranh của hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; khám chữa bệnh theo yêu cầu Quyền lợi hưởng BHYT theo hộ gia đình cơ bản đầy đủ, tương đồng với những nhóm đối tượng khác tham gia BHYT, mặc dù mức phí tham gia BHYT theo hộ gia đình khá có lợi đối với các hộ gia đình Ở mức cao nhất, Quỹ BHYT có thể chi trả tới 80% chi phí khám, chữa bệnh BHYT và bệnh nhân có thẻ BHYT chỉ cần thực hiện đồng chi trả 20% chi phí Do vậy, tham gia BHYT theo

hộ gia đình chính là việc mỗi cá nhân, gia đình tự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho bản thân và tất cả các thành viên của gia đình mình

Trong xu hướng tăng cao của chi phí y tế hiện nay, cá nhân, hộ gia đình hơn lúc nào hết cần tham gia BHYT nói chung, BHYT theo hộ gia đình nói riêng Do tính chất đặc biệt của dịch vụ BHYT - chất lượng của loại dịch vụ này phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng dịch vụ y tế, cùng với xu thế phát triển, dịch vụ y tế ngày càng tốt hơn, nhưng mức chi phí y tế cũng ngày càng tăng mạnh Việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế là một tất yếu khách quan, đồng thời là yêu cầu trong công cuộc đổi mới căn bản cơ chế tài chính y tế và tạo động lực quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh Trước đây, quy định giá dịch vụ y tế tính đủ bao gồm các yếu tố chi phí: Thuốc, vật tư trực tiếp; Điện, nước, xử lý chất thải; Duy tu, bảo dưỡng tài sản; Tiền lương, phụ cấp; Sửa chữa lớn tài sản cố định; Khấu hao tài sản; Chi phí đào tạo, nghiên cứu khoa học Gần hơn, cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp đã được đưa

ra, và cùng với đó một lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ công đã được thiết lập,

đó là: Năm 2016, mức giá tính đủ tiền lương; năm 2018, mức giá tính đủ tiền lương

Trang 23

và chi phí quản lý; năm 2020, mức giá tính đủ tiền lương, chi phí quản lý và khấu hao tài sản Mới nhất, quy định giá dịch vụ khám, chữa bệnh BHYT giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc đã được ban hành và phát huy hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý cụ thể để xác định chi phí dịch vụ y tế Việc tăng giá dịch vụ khám, chữa bệnh chắc chắn gây sức ép kinh tế không nhỏ cho cá nhân, các gia đình, đặc biệt với trường hợp bệnh nặng, điều trị dài ngày, điều kiện kinh tế hạn hẹp Do đó, tham gia BHYT nói chung, BHYT theo hộ gia đình nói riêng, chính là một giải pháp hiệu quả để hạn chế gánh nặng tài chính khi rủi ro ốm đau, bệnh tật

Bên cạnh những lợi ích thiết thực mà người tham gia BHYT theo hộ gia đình có thể được nhận, tham gia BHYT theo hộ gia đình đồng thời thể hiện trách nhiệm của mỗi cá nhân và gia đình đối với xã hội, bảo đảm tính nhân văn, tương trợ cộng đồng, nguyên tắc chia sẻ rủi ro ngay từ trong gia đình Trước khi Luật Sửa đổi, bổ sung Luật BHYT có hiệu lực, BHYT tự nguyện vẫn còn được triển khai, hiện tượng “lựa chọn ngược” diễn ra khá phổ biến, nhiều người dân khi có nhu cầu sử dụng đến dịch

vụ y tế mới mua thẻ BHYT, hay các gia đình thường chỉ mua thẻ BHYT cho những thành viên có nguy cơ ốm đau, bệnh tật cao nhất Điều này một mặt đã làm “méo mó” bản chất nhân văn vốn có trong BHYT cũng như không phù hợp với mục đích tạo nên một kênh tích lũy cho sức khỏe (khi khỏe mua BHYT để dành cho lúc ốm đau, bệnh tật, người khỏe mạnh chia sẻ với người ốm yếu hơn) của chính sách BHYT Mặt khác, đó chính là một trong những nguyên nhân làm tăng thêm gánh nặng cho Quỹ BHYT, gây khó khăn cho việc cân đối tài chính, đảm bảo thu – chi Do vậy, quy định nghĩa vụ tham gia BHYT đối với toàn bộ thành viên hộ gia đình sẽ là một đảm bảo pháp lý để mỗi người dân, mỗi hộ gia đình xác định được động cơ đúng đắn hơn khi tham gia BHYT, thực hiện trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội, mà trước hết là trách nhiệm với chính những người thân trong cùng một hộ gia đình

Tham gia BHYT theo hộ gia đình là nghĩa vụ, nhưng điều này mang lại rất nhiều quyền lợi cho người dân theo quy định của pháp luật Hơn thế nữa, tham gia BHYT nói chung, tham gia theo nhóm hộ gia đình nói riêng thể hiện tinh thần tương thân tương ái tốt đẹp giữa các thành viên xã hội Nói theo cách của nhà báo Thu Hương của Báo Quân đội nhân dân, “Tham gia BHYT hộ gia đình vừa là trách nhiệm vừa là cơ hội được chia sẻ với cộng đồng” Với nhận thức đầy đủ về tính tất yếu, tầm quan trọng của BHYT nói chung, ý nghĩa của BHYT hộ gia đình nói riêng của người dân, cùng với sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn bộ hệ thống chính trị, việc

đa dạng hóa, linh hoạt hóa công tác tuyên truyền, triển khai trong thực tiễn, tin rằng BHYT theo hộ gia đình sẽ sớm đạt được những thành tựu to lớn, đáp ứng mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân

Trang 24

1.2.2 Bản chất, vai trò của BHYT hộ gia đình

Việc mua bảo hiểm y tế theo hộ gia đình không bắt buộc với tất cả các nhân khẩu trong một hộ Quy định này chỉ áp dụng cho những người tự nguyện muốn tham gia bảo hiểm y tế, còn không áp dụng cho những đối tượng trong hộ gia đình

đã tham gia theo hình thức khác Và để khuyến khích tham gia bảo hiểm y tế theo

hộ gia đình, Luật cũng quy định, người thứ nhất đóng tối đa bằng 4,5% mức lương

cơ sở, người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất, từ người thứ 5 trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất Do vậy, nếu một hộ gia đình có 5 người ở khu vực đô thị loại 1, thì người đầu tiên mua với giá 621.000 đồng, người thứ hai mua với giá bằng 70% người đầu, người thứ ba là 60%, người thứ tư là 50%, người thứ năm trở đi là 40% Tổng mức tiền hộ gia đình 4 người phải bỏ ra khi mua bảo hiểm y tế cả năm là hơn 1,7 triệu đồng; hộ có 5 người chi phí gần 2 triệu đồng

Tuy nhiên, sau 5 tháng triển khai thi hành Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi) đã phát sinh nhiều vướng mắc do quy định pháp luật, cũng như từ cán bộ giải quyết thủ tục mua bảo hiểm y tế ở cấp cơ sở Đối với quy định của luật, việc mua bảo hiểm y tế theo hộ gia đình dù đã giúp giảm mức đóng khá nhiều so với việc mỗi thành viên tự mua, nhưng vẫn là thách thức với những hộ thu nhập thấp Bởi với thu nhập của một hộ thuần nông tại các tỉnh còn khó khăn, ngay cả bố trí kinh phí để mua bảo hiểm y tế cho một thành viên đã không dễ Vì thế, khi số kinh phí tham gia bảo hiểm y tế tăng từ 3 - 4 lần so với trước đây thì họ càng có ít cơ hội hơn

Bên cạnh đó, với quy định mới, khi đăng ký mua bảo hiểm y tế tự nguyện, cá nhân đăng ký phải khai đầy đủ thông tin các thành viên trong hộ gia đình về số thẻ

và loại hình tham gia (ví dụ bảo hiểm y tế học sinh, sinh viên, hưu trí) Yêu cầu như vậy khiến thủ tục tham gia BHYT ngày càng trở nên rắc rối Thực tế, trong một hộ gia đình có người đã tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, song vì một số lý do đang phải chờ để tiếp tục được gia hạn, thì thẻ bảo hiểm của những đối tượng này sẽ không được chấp nhận để loại ra khỏi danh sách những người phải mua theo hộ gia đình Những đối tượng này chắc chắn sẽ không muốn tham gia theo hình thức mới,

vì thủ tục để chuyển đổi không đơn giản Ngay cả khi cán bộ lưu động đồng ý chỉ cần xác nhận của nơi làm, nhưng nếu doanh nghiệp không đồng ý xác nhận, thì thành viên gia đình cũng không thể tham gia bảo hiểm y tế Ngoài ra, người dân cũng gặp khó khăn trong việc việc xác minh tạm vắng đối với người đang công tác,

du học, làm việc ở nước ngoài; người có hộ khẩu hoặc đăng ký tạm trú tại địa phương nhưng chuyển đến nơi khác làm việc, sinh sống Nắm bắt kịp thời những

Trang 25

vướng mắc này, Bộ Y tế đã ban hành nhanh một số văn bản hướng dẫn thực hiện chế độ gia hạn thẻ, hướng dẫn thủ tục mua bảo hiểm y tế gia đình, kéo dài thời gian

áp dụng bắt buộc Song khó khăn với người tham gia bảo hiểm y tế vẫn chưa giảm,

vì những văn bản hướng dẫn chưa bao phủ hết các vướng mắc phát sinh, trong khi, cán bộ thực hiện lại hiểu sai quy định, nên áp dụng không đúng tinh thần của luật

Ví dụ như, Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi) quy định, người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện trước thời điểm 1.1.2015 có thể lựa chọn gia hạn thẻ hoặc mua cùng gia đình, chỉ người mới tham gia mới bắt buộc theo hộ gia đình Nhưng các cán bộ thực hiện lại bắt buộc cá nhân đã tham gia muốn tiếp tục phải theo hộ gia đình Điều này cũng có hạn chế đó là nếu chỉ cần một cá nhân trong gia đình không muốn tham gia, thì người đã mua từ trước sẽ không được tiếp tục gia hạn thẻ Cá biệt, ngay cả khi

họ được giải quyết được phép tiếp tục gia hạn thẻ, thì dù vẫn chưa hết thời hạn xem xét (trong 3 tháng kể tính từ lúc thẻ hết hạn), nhưng cán bộ không rõ vì lý do nào vẫn yêu cầu mua thẻ mới Vì thế, người tham gia đã mất hết khoảng thời gian được tích lũy trước đó, cũng như các ưu đãi liên quan như: tiếp cận y tế công nghệ cao, tăng mức giảm trừ chi phí khám chữa bệnh

Những vướng mắc này cũng không phải chưa được tiên lượng, mà nhiều ĐBQH đã đề cập trong quá trình xem xét, thông qua Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi) Khi đó, cơ quan chủ trì soạn thảo Luật này (Bộ Y tế) đã nêu rõ, bản chất của bảo hiểm y tế không phải quỹ tương trợ, mà là cơ chế tài chính để chia sẻ rủi ro giữa cộng đồng những người tham gia.Vì thế, ngay bản thân trong một hộ, các thành viên phải có trách nhiệm đối với nhau, sau đó có trách nhiệm với cộng đồng, rồi từ

đó cộng đồng mới có trách nhiệm với cá nhân Việc luật hóa hình thức tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình cũng là để khắc phục tình trạng chỉ chọn mua cho những người ốm, người bị bệnh mạn tính Tiếp thu ý kiến ĐBQH, Bộ Y tế cũng khẳng định sẽ rà soát, chỉnh lý, bổ sung một số quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người tham gia bảo hiểm y tế Bản chất của bảo hiểm y tế là số đông bù cho số

ít nên mỗi cá nhân cần biết chia sẻ rủi ro với người khác Nhưng điều này không thể

là lý do để biện minh cho những hạn chế nêu trên Mặt khác, bảo hiểm y tế cũng là

hỗ trợ cuối cùng cho những người không có khả năng chi trả cho việc khám chữa bệnh Với những đối tượng này, nếu chậm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi), thì họ cũng không có lựa chọn khác để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình Do đó, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng tháo gỡ những vướng mắc của bảo hiểm y tế theo hộ gia đình, tạo điều

kiện cho mọi người dân đều được tham gia

Trang 26

1.2.3 Nguyên tắc hoạt động của BHYT hộ gia đình

1.2.3.1 Thủ tục gia hạn thẻ, đăng ký tham gia

* Đối với các trường hợp đã tự nguyện tham gia BHYT năm 2014 có thẻ BHYT hết hạn sử dụng từ 31/01/2015 trở đi

- Người có thẻ cần gia hạn lập Tờ khai tham gia BHXH, BHYT (TK01- TS)

và Danh sách đăng ký tham gia BHYT (D01-HGD) Việc kê khai danh sách đăng

ký tham gia BHYT (mẫu D01-HGD) chỉ cần đại diện hộ gia đình (không nhất thiết

là chủ hộ) Người kê khai phải chịu trách nhiệm về nội dung kê khai đó, nếu kê khai sai thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi hoàn chi phí khám chữa bệnh (nếu có phát sinh)

+ Đối với các trường hợp đang tham gia BHYT, khi kê khai Danh sách đăng

ký tham gia (mẫu D01-HGĐ), tại cột (số 5) chỉ cần ghi có thẻ thuộc đối tượng nào

Ví dụ: Nếu có thẻ BHYT theo diện Hưu trí, học sinh sinh viên, người lao động đang làm việc, thì tại cột (số 5) ghi “hưu trí”, “học sinh sinh viên”, “đang làm việc” + Đối với người lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp nợ BHXH, BHYT nên chưa được cấp thẻ thì tại cột ghi chú (số 8) ghi rõ “do đơn vị nợ chưa được cấp thẻ BHYT”

- Khi đến nộp thủ tục tại các Đại lý thu BHYT, cần mang theo: Bản chính sổ

hộ khẩu hoặc sổ tạm trú (để đối chiếu và được trả lại ngay).Việc sao chụp thẻ BHYT để nộp kèm theo Danh sách đăng ký tham gia BHYT trong trường hợp 100% thành viên hộ gia đình đều tham gia BHYT là cơ sở để xác định ngay việc giảm trừ mức đóng BHYT theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2014 của Chính phủ

- Thời hạn của thẻ BHYT có giá trị sử dụng kể từ ngày đầu tháng sau nếu lập danh sách và nộp tiền trước ngày 20 của tháng trước Thời hạn sử dụng thẻ và mức đóng tiền BHYT căn cứ vào thời hạn sử dụng sau cùng của thẻ BHYT đã cấp, đang còn hạn sử dụng của thành viên tham gia BHYT trong hộ

* Đối với các trường hợp mới bắt đầu tham gia BHYT theo Hộ gia đình từ ngày 01/01/2015 và trường hợp tham gia không liên tục từ 3 tháng trở lên trong năm tài chính

Trang 27

- Nếu gián đoạn dưới 3 tháng: Phải nộp tiền (ở đại lý) trước ngày 20 của tháng thứ 2 (sau tháng gián đoạn) và thẻ có giá trị ngay tháng sau

VD: Thẻ hết hạn từ 1/12/2014, nếu nộp tiền trước ngày 20/02/2015 thì sẽ được cấp thẻ để sử dụng từ 01/3/2015.Khi tính thời gian tham BHYT liên tục 5 năm (để không đồng chi trả khi có số tiền cùng chi trả chi phí KCB trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở), là thời hạn sử dụng ghi trên thẻ BHYT lần sau nối tiếp với ngày hết hạn sử dụng thẻ

lần trước (trong trường hợp thời gian gián đoạn không quá 03 tháng)

có ảnh trước khi ra viện

- Trường hợp chuyển tuyến điều trị, phải có hồ sơ chuyển viện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

- Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị, người tham gia bảo hiểm y tế phải có giấy hẹn khám lại của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

1.2.4 Chính sách BHYT hộ gia đình

Luật số 46/2014/QH13, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 13/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015 Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những chính sách an sinh xã hội, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc Quy định BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc đối với mọi người không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà

nước tổ chức thực hiện nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân

1.2.4.1 Đối tượng tham gia

Phải tham gia BHYT cho tất cả các thành viên trong hộ gia đình theo sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú trừ các thành viên đã tham gia theo các nhóm đối tượng BHYT khác và người đã khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương

Trang 28

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân chưa đăng ký tạm trú nhưng thực tế sinh sống ổn định tại địa bàn phường thì cần có đơn xác nhận tạm trú của công an

phường hoặc tổ trưởng dân phố nơi mình sinh sống

1.2.4.2 Thủ tục và phương thức đóng

Khi đăng ký tham gia thẻ BHYT hộ gia đình cần:

+ Đối với người mua mới cần xuất trình sổ hộ khẩu, chứng minh thư nhân dân (bản phô tô hoặc bản chính), thẻ BHYT hoặc ghi sẵn số thẻ BHYT của những người

đã có thẻ thuộc đối tượng khác có tên trong sổ hộ khẩu

+ Đối với người đã có thẻ BHYT để nối tiếp thẻ cần xuất trình thêm thẻ BHYT cũ

Người tham gia có thể đăng ký tham gia thẻ BHYT hộ gia đình: 3 tháng, 6

ngày nộp tiền (Không được quyền nối thẻ cũ)

Khi mua BHYT theo hộ gia đình, mức đóng được giảm dần từ thành viên thứ hai trở đi Cụ thể mức đóng BHYT theo hộ gia đình được quy định tại điểm g khoản

1 Điều 2 Nghị định 105/2014/NĐ-CP quy định về mức đóng như sau:

“g) Mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia đ́nh theo quy định tại

Khoản 5 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất”

Hiện nay, mức đóng của tất cả các thành viên thuộc hộ gia đình theo quy định tại Khoản 5 Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt

Trang 29

bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất

Tuy vậy, căn cứ Nghị quyết 27/2016/QH14 về dự toán ngân sách nhà nước năm

2017, từ ngày 01/7/2017 mức đóng bảo hiểm y tế đối với hộ gia đình sẽ có sự thay đổi vì mức lương cơ sở sẽ tăng từ 1.210.000 đồng/tháng lên 1.300.000 đồng/tháng

Dưới đây là bảng thể hiện mức đóng bảo hiểm y tế đôi với hộ gia đình năm 2017:

Bảng 1.1 Mức đóng BHYT năm 2017

(đvt: đồng)

Thành viên

Mức đóng BHYT từ ngày 01/01/2017 - 30/6/2017

Mức đóng BHYT từ ngày 01/7/2017 - 31/12/2017 Theo tháng Theo năm Theo tháng Theo năm

(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)

Từ năm 2017 đến năm 2018 do mức lương cơ sở có sự thay đổi nên, mức đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình cũng thay đổi

Bảng 1.2 Mức đóng BHYT năm 2018

(đvt: đồng)

Thành viên

Mức đóng BHYT từ ngày 01/01/2018 - 30/6/2018

Mức đóng BHYT từ ngày 01/7/2018 - 31/12/2018 Theo tháng Theo năm Theo tháng Theo năm

Trang 30

Mức đóng BHYT theo hộ gia đình thay đổi do có sự thay đổi về mức lương cơ

sở vào năm 2018

1.2.4.5 Quyền lợi khi khám chữa bệnh

- Đăng ký khám chữa bệnh ban đầu :

+ Đối với các trường hợp mua nối tiếp thẻ: hiện tại nếu thẻ cũ đã đăng ký KCB ở các bệnh viện tuyến trên thì được giữ nguyên nơi ĐK KCB như thẻ cũ + Đối với trường hợp mua mới: nơi ĐK KCB ban đầu gồm Trung tâm y tế, Phòng khám đa, và trạm y tế phường

- Mức hưởng:

* Khám bệnh, chữa bệnh đúng nơi đăng ký ban đầu ghi trên thẻ hoặc theo đúng tuyến chuyên môn kỹ thuật thanh toán theo mức:

+ 100% chi phí khi đi KCB tại tuyến xã, phường

+ 100% chi phí KCB khi tổng chi phí của một lần KCB thấp hơn 15% mức lương tối thiểu(hiện nay là 195.000đồng) ở mọi tuyến điều trị

+ 100% chi phí KCB đối với người tham gia BHYT 5 năm liên tục và có số tiền cùng chi trả trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở(7.800.000đồng) tính từ thời điểm tham gia đủ 5 năm liên tục trừ trường hợp tự đi khám chữa bệnh không đúng tuyến + 80% chi phí khám chữa bệnh thông thường

* Khám bệnh, chữa bệnh không đúng nơi đăng ký ban đầu ghi trên thẻ hoặc không đúng theo tuyến chuyên môn kỹ thuật có trình thẻ BHYT được thanh toán theo mức:

- Đối với khám ngoại trú:

+ 100% chi phí đối với bệnh viện tuyến quận huyện theo mức hưởng

+ Không được thanh toán khi Khám ngoại trú tại BV tuyến Tỉnh và BV tuyến Trung ương

- Đối với khám chữa bệnh nội trú được hưởng như sau:

+ 100% chi phí đối với bệnh viện tuyến quận,huyện theo mức hưởng

+ 60% chi phí nội trú đối với bệnh viện tuyến tỉnh theo mức hưởng

+ 40% chi phí nội trú đối với bệnh viện tuyến trug ương theo mức hưởng Trường hợp cấp cứu được hưởng quyền lợi tại bất kỳ cơ sở KCB nào và phải xuất trình thẻ BHYT và giấy tờ theo quy định trước khi ra viện

Khi khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở không ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh BHYT được thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi quyền lợi và mức hưởng BHYT nhưng tối đa cho 01 đợt điều trị không vượt quá mức:

+ Ngoại trú tuyến huyện: không quá 60.000đồng

+ Nội trú: tuyến huyện không vượt quá 3.600.000 đồng

Trang 31

+ Nội trú tuyến tỉnh và tương đương không vượt quá 1.200.000 đồng

+ Nội trú tuyến Trung ương không vượt quá 3.600.000 đồng

Trường hợp cấp cứu, người tham gia BHYT được khám chữa bệnh tại bất kỳ

cơ sở KCB nào và phải xuất trình thẻ BHYT cùng giấy tờ tùy thân có ảnh trước khi

ra viện đều được hưởng quyền lợi BHYT theo quy định

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển BHYT hộ gia đình

Có rất nhiều tác giả đã thực hiện những nghiên cứu liên quan đến đề tài BHYT Tác giả Trương Thị Phượng (2012) đã thực hiện nghiên cứu sơ cấp về đề tài

“Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phúc Yên” Theo tác giả này, có 7 yếu tố

được kiểm tra về sự ảnh hưởng tới ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phúc Yên đó là: ý định, nhận thức về

an sinh xã hội, thái độ của người lao động, ảnh hưởng xã hội, hiểu biết về BHXH tự nguyện, thu nhập của người lao động, và truyền thông

Có thể khái quát các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phúc Yên dưới sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định tham gia BHXH của người lao

động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phúc Yên

(Nguồn: Trương Thị Phượng, 2012)

Năm 2013, tác giả Nguyễn Văn Tình cũng đã khảo sát sự ảnh hưởng của 5 nguyên tố (điều kiện kinh tế xã hội; công tác thông tin, tuyên truyền; vai trò của hệ thống chính trị; khả năng đáp ứng, tiếp cận dịch vụ y tế; và quyền lợi khi tham gia BHYT) tới việc thực hiện BHYT toàn dân tại Thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Ý định của người lao động Nhận thức về an sinh xã hội và bảo hiểm xã hội

Thái độ của người lao động Hiểu biết về BHXH tự nguyện Thu nhập của người lao động Ảnh hưởng của xã hội Truyền thông

Ý định tham gia BHXH tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phúc Yên

Trang 32

Sơ đồ 1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện BHYT

toàn dân tại Thị xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh

(Nguồn: Nguyễn Văn Tình, 2013)

Tác giả Lê Thị Luyên cũng đã đưa ra những yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của người dân xã Hua La, thành phố Sơn la trong một nghiên cứu của tác giả này vào năm 2014 Các yếu tố đó là: mức phí BHYT, mức hưởng phí BHYT; trình

độ tay nghề của bác sỹ; chất lượng thuốc được cấp theo BHYT; thủ tục khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT; và chất lượng kỹ thuật khám chữa bệnh bằng BHYT

Sơ đồ 1.3 Các nhân tố tác động tới việc tham gia BHYT của người

dân xã Hua La, thành phố Sơn La

(Nguồn: Lê Thị Luyên, 2014)

Điều kiện kinh tế xã hội

Quyền lợi BHYT Các thông tin tuyên truyền

Khả năng đáp ứng và tiếp cận dịch vụ y tế

Vai trò của hệ thống chính trị

thực hiện BHYT toàn dân tại Thị

xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh

Mức phí Mức hưởng phí BHYT Chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh

Trình độ tay nghề của bác sỹ Chất lượng thuốc được cấp theo BHYT

Thủ tục KCB bằng thẻ BHYT Chất lượng kỹ thuật KCB bằng BHYT

Việc tham gia BHYT của người dân xã Hua

La, thành phố Sơn La

Trang 33

Trên đây là những nhân tố nghiên cứu mà tác giả đã tham khảo của các tác giả

đi trước, các nhân tố này là cơ sở, tiền đề để tác giả xây dựng cho mình mô hình nghiên cứu phù hợp với lý luận và thực tiễn

1.3 Kinh nghiệm thực hiện BHYT hộ gia đình

1.3.1 Kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới

Trừ một số ít quốc gia như Việt Nam, Lào, Trung Quốc, thực hiện BHYT theo

cá nhân Đa phần các quốc gia có trình độ kinh tế phát triển khác nhau như Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Tiệp Khắc, Đài Loan đều thực hiện BHYT theo hộ gia đình Mô hình BHYT hộ gia đình được coi là mô hình an toàn hay có tính xã hội cao, có tác động tương tác và sự hợp tác của nhiều bên trong việc hình thành Mô hình BHYT theo cá nhân không chỉ hạn chế về mặt thành viên tham gia mà còn tạo phức tạp về thủ tục hành chính trong việc quản lý đối tượng (đối tượng quản lý tăng cao, chi phí hành chính phức tạp, khó theo dõi chi phí đặc biệt với nhóm người ăn theo) BHYT

hộ gia đình là một tất yếu khách quan bởi chủ gia đình sau nhu cầu tồn tại bao giờ cũng tìm kiếm một sự an toàn về sức khỏe cho các thành viên của gia đình thông qua cơ chế BHYT, đặc biệt là phụ nữ, người tàn tật và con cái trong gia đình mình (những người không có quan hệ lao động và dễ bị các nhà xây dựng chính sách bỏ sót), nhằm tăng khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế, tránh nguy cơ nghèo hóa do ốm đau bệnh tật gây ra Một nghiên cứu ở Mỹ năm 2006 cho thấy, trẻ em trong các gia đình tham gia theo hộ gia đình có cơ hội tiếp cận dịch vụ cao hơn so với trẻ em của những gia đình đóng bảo hiểm theo cá nhân; trẻ em thuộc các gia đình không tham gia theo hộ gia đình có sự khác biệt lớn về số lượng và loại dịch vụ sử dụng trong khi trẻ thuộc gia đình có thẻ BHYT gia đình khá đồng nhất về nội dung này

Quá trình thực hiện BHYT theo hộ gia đình ở các nước cho thấy có mấy nội dung sau cần được nghiên cứu thấu đáo để đảm bảo khả năng thực thi chính sách này tại Việt Nam

Do phần lớn các nước thực hiện BHYT theo hộ gia đình đều có sự hỗ trợ lớn

từ Chính phủ hoặc chủ sử dụng lao động cho các thành viên khác của hộ gia đình (như vợ không đi làm, con cái, bố mẹ, người bảo hộ theo pháp luật…) nên khái niệm này được quy định chặt chẽ theo điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước Tuy có thể khác biệt về một vài nội dung nhưng khái niệm này ở các nước đều có một điểm chung, một nội hàm khá thống nhất: người ăn theo là người có tên trong sổ hộ khẩu

và là người thuộc diện được miễn trừ thuế thu nhập cá nhân của lao động chính

Trang 34

trong gia đình Chương trình Obama Care của nước Mỹ quy định, người ăn theo là người độc thân có tên trong hộ khẩu, chưa có quan hệ lao động và dưới 26 tuổi (có thể là tuổi tối đa của con cái đang theo học các trường Đại học, Cao đẳng…) Người trên 26 tuổi phải thực hiện trách nhiệm tham gia BHYT như một lao động chính của một hộ gia đình Hộ gia đình có thể là nhiều người nhưng có thể chỉ có một người duy nhất Hộ gia đình có thể là hộ mà quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là quan hệ hôn nhân chính thức và các con của họ kể các con nuôi được pháp luật công nhận nhưng cũng có thể là người sống chung với chủ hộ được cơ quan quản lý nhân khẩu địa phương xác nhận

Để hộ gia đình có thể tham gia, các quốc gia đều tính mức phí chung cho hộ gia đình ví dụ như Đức là 9,6%, Pháp 13,6% , Đài Loan 6%… Các quốc gia khác chuyển trách nhiệm này sang cho chủ sử dụng lao động như Mỹ, hoặc chủ sử dụng lao động hỗ trợ từ 50-100% cho người ăn theo, hoặc Chính phủ dùng ngân sách để

hỗ trợ cho toàn bộ người ăn theo trong hộ gia đình (Cộng hòa Séc) nếu đó là trẻ em dưới 06 tuổi, vợ ở nhà không đi làm, người khuyết tật, người già chưa có BHYT Tại Cộng hòa Séc, dân số khoảng 10 triệu người trong đó Quỹ BHYT Nhà nước đang quản lý 7,5 triệu; 2,5 triệu còn lại đang tham gia với các Quỹ BHYT tư nhân phi lợi nhuận khác Khoảng 05 triệu trong tổng số 10 triệu dân tham gia BHYT do Nhà nước hỗ trợ hoàn toàn Nhiều quốc gia thực hiện hỗ trợ tùy theo mức thu nhập của hộ gia đình

Tại Mỹ, chương trình Obama Care khi gia đình hội đủ điều kiện chỉ phải trả bảo hiểm trong khoảng 2% đến 9,5% tổng số thu nhập Phần dư còn lại, nếu có, sẽ

do Chính phủ liên bang gánh vác, thông qua trợ cấp Ví dụ: Trường hợp một gia đình 04 người gồm cha mẹ và 02 con, có thu nhập mỗi năm $47.100, nghĩa là bằng 200% Mức nghèo khổ - giả dụ gia đình này mua bảo hiểm sức khỏe tốn kém

$10.000/năm - thì theo quy định hiện hành, gia đình này chỉ có trách nhiệm trả đến 6,3% tổng số thu nhập (khoảng $2.967) Số còn lại $7.033 ($10.000 - $2.967) sẽ được Chính phủ liên bang trợ cấp thông qua ngân sách Chính phủ liên bang Một số quốc gia Tây Âu thực hiện chính sách thu theo đầu hộ gia đình bất luận gia đình đó

có mấy người, ví dụ như 9,5%/ theo đầu hộ đăng ký với cơ quan hành chính địa phương Đây là chính sách buộc người độc thân (thường có thu nhập trung bình cao hơn) có trách nhiệm nhiều hơn đối với xã hội Nhiều nước áp dụng mức đóng góp của người ăn theo như nhau nhưng có trần cho một gia đình như Israel hoặc như Mỹ

Trang 35

quy định các doanh nghiệp có từ 50 lao động trở lên đều phải thực hiện BHYT cho người lao động theo hộ gia đình

Ở Mỹ, các gia đình khi tham gia BHYT ngoài phần hỗ trợ của Chính phủ liên bang có thể còn được tự quyết mức hưởng, chế độ hưởng, ví dụ như mức đồng chi trả 40%, 30% hay 0% phù hợp với điều kiện kinh tế và nhu cầu ưu tiên của các gia đình trong các thời điểm khác nhau, hoặc một số nước áp dụng trần đồng chi trả cho mỗi lần khám, điều trị như Đài Loan không quá 6% mức lương trung bình toàn xã hội Mức đồng chi trả một năm của một gia đình cũng không quá 10% mức thu nhập chung của xã hội

Khi thực hiện vận động tham gia theo hộ gia đình, trong nghiên cứu của Jean Marie Abraham và đồng sự về tham gia BHYT theo hộ gia đình ở Mỹ đã chỉ ra rằng các gia đình có thu nhập ổn định, có quan hệ hôn nhân chính thức, có nhiều con có

xu hướng dễ dàng chấp thuận tham gia theo hộ gia đình hơn là các kiểu khuôn mẫu gia đình khác (độc thân, cùng chung sống) Độ co giãn về nhu cầu tham gia BHYT với khả năng đóng góp của nhóm có thu nhập thấp và làm việc cho các cơ quan Chính phủ có độ nhạy cao hơn rất nhiều so với nhóm thu nhập cao Nhóm có thu nhập thấp cũng không muốn tham gia BHYT với mức đồng chi trả cao Nói một cách khác, chỉ một thay đổi nhỏ về mức đóng hoặc quyền lợi sẽ làm nhóm này cân nhắc dừng hoặc tiếp tục tham gia BHYT Các nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho thấy chủ sử dụng lao động nào thực hiện BHYT cho cả hộ gia đình thường có

số lượng và cơ cấu công nhân như mong muốn ổn định hơn nhiều so với các công

ty thực hiện BHYT cho cá nhân

Thẻ BHYT gia đình thường là thẻ dùng chung cho tất cả thành viên trong gia đình với mặt trước có các thông tin cá nhân của chủ thẻ, mã quản lý của cơ quan BHYT, thời hạn sử dụng, mức đồng chi trả; mặt sau là tên các thành viên của gia đình (người ăn theo)

Tin học hóa thành công hệ thống cơ sở dữ liệu gia đình và hệ thống giám định thanh toán đã làm cho hệ thống BHYT Đài loan trở thành BHYT có chi phí quản lý

bộ máy thấp nhất thế giới, chưa đến 2,9% năm 2012

1.3.2 Bài học kinh nghiệm thực hiện BHYT hộ gia đình tại Việt Nam

BHYT hộ gia đình là một khái niệm không mới hay có thể nói nó là một khái niệm đương nhiên trong thực thi chính sách BHYT từ nhiều năm nay ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, trong tài liệu BHYT ở các nước đang phát triển như Việt Nam thì

Trang 36

nhóm thu nhập thấp thường quan niệm BHYT là một khái niệm dành cho nhà giàu,

họ không tin vào các sản phẩm của BHYT, họ không tin vào cơ quan BHYT, họ không hiểu khái niệm chia sẻ rủi ro và thật sự họ thường không đủ tiền để trang trải cho những sản phẩm mà họ không thật sự hiểu rõ về nó Việc vận dụng vào Việt Nam

và triển khai mô hình BHYT hộ gia đình - thường cũng dành cho đối tượng thu nhập không cao của xã hội - cũng không ngoại lệ, do vậy cần lưu ý một số vấn đề sau:

- Vận động tham gia BHYT theo hộ gia đình là cơ hội tốt đảm bảo sự tiếp cận dịch vụ y tế đúng lúc, kịp thời, hiệu quả và bình đẳng, đặc biệt cho người ăn theo của người lao động ở khu vực phi chính thức vốn dĩ là những đối tượng dễ bị

bỏ sót trong các chính sách xã hội Do vậy, cần có sự chỉ đạo thống nhất của các ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương để chính sách BHYT theo hộ gia đình được thực hiện theo đúng yêu cầu, góp phần thực hiện BHYT toàn dân

- Cần quy định thống nhất về khái niệm hộ gia đình, người ăn theo làm cơ sở cho việc quản lý, xây dựng kế hoạch tính toán, thống nhất cơ chế hỗ trợ cho nhóm đối tượng này

- Cần có sự tính toán của cơ quan chuyên môn về mức độ hỗ trợ cần thiết từ Nhà nước cho nhóm hộ gia đình gồm phần lớn là lao động phi chính thức, nông dân (nghề nặng nhọc, nguy hiểm với thu nhập không ổn định) bởi đây là nhóm có tính thích ứng thấp với sự biến động đi lên của mức đóng góp trừ khi có nguồn hỗ trợ khác (từ ngân sách hoặc chủ sử dụng lao động) Bài học từ Cộng hòa Séc, Mỹ và các nước Tây Âu cho thấy chắc chắn Nhà nước phải là nhà tài trợ chính nếu muốn duy trì hệ thống BHYT hộ gia đình một cách bền vững cho người lao động

ở khu vực phi chính thức

- Cần xây dựng một văn hóa bảo hiểm: khái niệm này theo kinh nghiệm của thế giới sẽ được xây dựng trên cơ sở hiểu biết và niềm tin Hai yêu cầu này đòi hỏi một quá trình bền bỉ, nhiều sáng tạo đặc biệt là tính thuận tiện và hữu ích của các chương trình BHYT nhằm thay đổi quan niệm về hành vi ứng phó với rủi ro sức khỏe một cách chủ động

Cần tiếp tục ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quản lý đối tượng

và thanh toán với cơ sở khám, chữa bệnh, nhất là khi mô hình BHYT hộ gia đình

đang được triển khai mạnh mẽ trong cả nước

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI BẢO HIỂM Y TẾ

HỘ GIA ĐÌNH TẠI THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

GIAI ĐOẠN 2015-2017 2.1 Giới thiệu về thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

Thị xă Chí Linh nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Hải Dương, cách thành phố Hải Dương gần 40 km; phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông giáp tỉnh Quảng Ninh, phía nam giáp huyện Nam Sách và huyện Kinh Môn

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hải Dương

(Nguồn: http://chilinh.org.vn/portal/home/)

Chí Linh có vị trí địa lư thuận lợi để phát triển kinh tế - xă hội Đường bộ có Quốc lộ 18 chạy dọc theo hướng Đông - Tây qua trung tâm Thị xă nối liền Hà Nội với Hạ Long, Quảng Ninh; đường Quốc lộ 37 nối Quốc lộ 5 và Quốc lộ 18, là đường vành đai chiến lược quốc gia từ trung tâm Thị xă Chí Linh đi tỉnh Bắc Giang Đường thủy có chiều dài 40 km, với 3 con sông bao bọc là sông Kinh Thầy, sông Thương và sông Đồng Mai, là những tuyến giao thông thuỷ quan trọng trong việc giao lưu kinh tế xă hội giữa thị xă với các vùng lân cận

Trang 38

Tổng diện tích tự nhiên của toàn thị xă là 28.292 ha; trong đó: đất nông nghiệp

là 10.580 ha, chiếm 37,4%; đất lâm nghiệp là 8.110 ha, chiếm 28,7%; đất nuôi trồng thủy sản là 961 hà, chiếm 3,4%; đất phi nông nghiệp là 8.641 ha, chiếm 30,5%

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

Chí Linh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; toàn thị xã có 20 đơn vị hành chính, khu vực nông thôn gồm 12 xã, 95 thôn

và khu vực thành thị gồm 8 phường, 76 khu dân cư Công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh, tạo điều kiện để thị xã sắp xếp lại lực lượng lao động tại chỗ, tăng thu nhập và cải thiện đời sống khu vực nông nghiệp và nông thôn Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp đã được triển khai, nhân rộng như: Mô hình nuôi gà đồi, mô hình trồng cây lâu năm cho giá trị kinh tế cao như Na, Nhãn , công tác khuyến nông được thực hiện có hiệu quả, tạo điều kiện và khuyến khích nhiều hộ nông dân tham gia thâm canh tăng năng suất cây trồng, vật nuôi

Về sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, trong những năm qua, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Chí Linh vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định; cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi, dịch vụ Hàng năm, diện tích gieo trồng duy trì 13.000-13.200 ha (trong đó cây lúa 9.000 ha), tổng diện tích cây ăn quả 7.969 ha; là một trong những địa phương có diện tích đất sản xuất nông nghiệp lớn của tỉnh, cơ cấu chúng loại sản phẩm nông nghiệp đa dạng, phong phú, trong đó có nhiều sản phẩm mũi nhọn đặc trưng mang bản sắc vùng như: gà thả đồi, cá lồng, vải thiều, na, nhãn Diện tích nuôi trồng thủy sản khoảng

1000 ha; đàn gia súc, gia cầm phát triển, đặc biệt là đàn gà nuôi theo phương tức thả đồi ở các xã, phường miền núi phía bắc quốc lộ 18

Chí Linh là đô thị trẻ, là trung tâm văn hóa – xã hội lớn thứ 2 của tỉnh Hải Dương nhưng vẫn còn khoảng gần 70% dân số có thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp Trong những năm qua, nông nghiệp Chí Linh đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng mới bước đầu hình thành các vùng sản xuất tập trung, tạo chuỗi liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ nên chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường chưa cao, một số loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao đã được quan tâm phát triển nhưng chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có của địa phương

Để duy trì đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn, xây dựng nền sản xuất nông nghiệp sạch, bền vững trong đó những sản phẩm mũi nhọn mang đặc trưng vùng miền có giá trị mang tính hàng hóa cao, sức cạnh tranh trên thị trường và góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương trong thời gia tiếp theo cần phát huy hơn nữa những lợi thế về tiềm năng đất đai, đa dạng hóa về địa hình để xây dựng nền sản xuất

Trang 39

Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội ước tính năm 2017

hiện năm 2017

Giá trị một số ngành kinh tế chủ yếu

1 GTSX Nông - Lâm - Thuỷ sản (giá 2010) Triệu đồng 1.972.000

2 GTSX Công nghiệp - XD (giá 2010) Triệu đồng 10.775.000

- Công nghiệp Chế biến Triệu đồng 3.700.000

- Công nghiệp SX và phân phối điện, nước Triệu đồng 5.700.000

5 Số xã, phường đạt chuẩn quốc gia về Y tê Xã, phường 20

7

Tỷ lệ khối thôn, khu dân cư đạt danh hiệu

(Nguồn: Báo cáo tổng kết BHXH tỉnh Hải Dương năm 2017)

Phong trào xây dựng nông thôn mới được triển khai thực hiện sâu rộng ở các địa phương, đạt kết quả quan trọng, diện mạo nông thôn có nhiều thay đổi Với sự

Trang 40

tích cực chung của các cấp, các ngành trong việc xây dựng nông thôn mới, tính đến năm 2017, thị xã Chí Linh có 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 100%

Từ năm 2012-2017, chất lượng đường nông thôn được nâng cấp với tốc độ khá nhanh Số xã có tỷ lệ đường giao thông nội bộ xã/liên thôn; đường nội bộ thôn/ngõ xóm được nhựa, bê tông hóa đạt 100% tăng nhanh, cùng với đó số xã có tỷ

lệ đường giao thông nội bộ xã/liên thôn, đường nội bộ thôn/ngõ xóm được nhựa, bê tông hóa đạt từ 50% đến dưới 100% giảm đi tương ứng Tại thời điểm 01/7/2017, toàn thị xã có 9 xã, chiếm 75% có đường trục xã được nhựa hóa, bê tông hóa 100%;

3 xã tỷ lệ đường được nhựa, bê tông hóa từ 75% đến dưới 100% , chiếm 25% Đường trục thôn được nhựa, bê tông hóa đạt 100% là 7 xã, chiếm 58,4%, tăng 7 xã; đạt tỷ lệ từ 75% đến dưới 100% là 4 xã, chiếm 33,3%, tăng 2 xã; đạt tỷ lệ từ 50 đến dưới 75% là 1 xã, chiếm 8,3%, giảm 2 xã so với năm 2012

Hệ thống trường học các cấp được đầu tư nâng cấp kiên cố, cao tầng, với trang thiết bị chuẩn quốc gia Trong những năm qua, các xã đã huy động các nguồn lực để đầu tư nâng cấp, kiên cố hóa trường học, đáp ứng tốt hơn cho công tác giảng dạy và học tập ở các cấp Số trường học các cấp được kiên cố hóa tăng lên, giảm số trường bán kiến cố Theo kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016, tỷ lệ các trường trung học cơ sở, tiểu học đều được xây dựng kiên cố với

tỷ lệ 100%, trường mầm non là 91,7% Trong 5 năm qua, cùng với việc đầu tư kiên

cố hóa trường lớp, thị xã Chí Linh đã chú trọng đầu tư trang thiết bị phục vụ giảng dạy để nâng cao chất lượng giáo dục đạt chuẩn quốc gia Theo kết quả Tổng điều tra, tại thời điểm 01/7/2016, khu vực nông thôn toàn thị xã có 6 trường trung học cơ

sở đạt chuẩn quốc gia, chiếm 60%; 11 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, chiếm 91,7%; 5 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, chiếm 41,7%

Xã hội hóa y tế góp phần đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh nhân dân Trong những năm qua, hệ thống y tế khu vực nông thôn đã đạt được những kết quả tích cực trong xây dựng cơ sở vật chất cũng như chăm sóc sức khỏe nhân dân Hệ thống

y tế phát triển cả về số lượng cơ sở y tế tư nhân, trình độ chuyên môn của cán bộ y

tế, cơ sở vật chất và các trang thiết bị khám chữa bệnh của trạm y tế xã Đến ngày 01/7/ 2016, số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế theo bộ tiêu chí ban hành theo Quyết định số 4667/QĐ-BYT ngày 07 tháng 11 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế là 7 xã, chiếm 58,3% tổng số xã Cùng với hệ thống các trạm y tế, thực hiện chủ trương xã hội hoá trong lĩnh vực y tế, hệ thống khám, chữa bệnh tư nhân được mở rộng và góp phần quan trọng vào chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Đến năm 2017, có 5 xã, chiếm 41,7% có cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân ngoài trạm y tế; có 9 xã, chiếm 75% số xã

Ngày đăng: 23/02/2021, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[7] Phạm Thị Giang (2016), Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Phạm Thị Giang
Năm: 2016
[8] Bùi Thị Thu Hằng (2014), Bảo hiểm y tế tự nguyện trong luật Bảo hiểm y tế Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm y tế tự nguyện trong luật Bảo hiểm y tế Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Thu Hằng
Năm: 2014
[9] Lê Viết Hưởng (2017), Hoàn thiện công tác thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, Luận văn thạc sĩ, Đại học thương mại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện công tác thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
Tác giả: Lê Viết Hưởng
Năm: 2017
[10] Vũ Ngọc Huyên, Nguyễn Văn Song (2014), Thực trạng tham gia BHYT tự nguyện của nông dân tỉnh Thái Bình, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2014, tập 12, số 6, tr.53-861 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tham gia BHYT tự nguyện của nông dân tỉnh Thái Bình
Tác giả: Vũ Ngọc Huyên, Nguyễn Văn Song
Năm: 2014
[11] Ngô Đình Hoán (2012), Nghiên cứu phát triển bảo hiểm y tế cho nông dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển bảo hiểm y tế cho nông dân huyện Thuận Thành
Tác giả: Ngô Đình Hoán
Năm: 2012
[12] Lê Thị Luyên (2014), Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của người dân xã Hua La, thành phố Sơn La, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT của người dân xã Hua La, thành phố Sơn La
Tác giả: Lê Thị Luyên
Năm: 2014
[13] Nguyễn Kim Ngọc (2011), Một số giải pháp hoàn thiện công tác thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ, Học viện Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp hoàn thiện công tác thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả: Nguyễn Kim Ngọc
Năm: 2011
[14] Trương Thị Phượng (2012), Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phúc Yên, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phúc Yên
Tác giả: Trương Thị Phượng
Năm: 2012
[15] Phạm Minh Thành (2010), Quản lý tài chính bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý tài chính bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Phạm Minh Thành
Năm: 2010
[16] Lê Cảnh Bích Thơ, Võ Văn Tuấn, Trương Thị Thanh Tâm (2017), Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân thành phố Cần Thơ, Tạp chí Khoa học trường Đại học Cần Thơ, tập 48, tr.20-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân thành phố Cần Thơ
Tác giả: Lê Cảnh Bích Thơ, Võ Văn Tuấn, Trương Thị Thanh Tâm
Năm: 2017
[17] Hà Thị Thủy Tiên (2016), Phát triển bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Hà Thị Thủy Tiên
Năm: 2016
[18] Nguyễn Văn Tình (2013), Giải pháp thực hiện BHYT toàn dân tại thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp thực hiện BHYT toàn dân tại thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Văn Tình
Năm: 2013
[19] Nguyễn Đình Tuân, (2014) Một số yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Xã hội học số 3 (127), tr.43-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người nghèo ở Việt Nam hiện nay
[1] Bảo hiểm xã hội tỉnh hải Dương (2017), Báo cáo tổng kết BHXH tỉnh Hải Dương năm 2017 Khác
[2] Bảo hiểm xã hội (2010), 15 năm thực hiện chính sách BHXH, BHYT góp phần đảm bảo An sinh xã hội Khác
[3] Bộ Chính trị (2005), Nghị Quyết 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 Về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới Khác
[4] Quốc hội khóa XII (2008), Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ban hành ngày 14/11/2008 Khác
[5] Quốc hội khóa XIII (2014), Luật số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế Khác
[6] Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu (2013), Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w