1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá các tác động xã hội của các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp, chế xuất và công nghệ cao về việc nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn

9 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 434,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đánh giá các tác động xã hội của các doanh nghiệp hoạt động bên ngoài các khu công nghiệp, khu chế xuất, và khu công nghệ cao trong công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐND của Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong những vấn đề rất cần thiết đối với công tác bảo vệ môi trường.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: http://sj.sgu.edu.vn/

ĐÁNH GIÁ CÁC TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI KHU CÔNG NGHIỆP, CHẾ XUẤT VÀ CÔNG NGHỆ CAO VỀ VIỆC NỘP PHÍ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG

NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Social impact of enterprises outside industrial zones, export processing zones, and high-tech parks on environmental protection fees for industrial wastewater in

Ho Chi Minh City

TS Nguyễn Thị Minh Thu(1), ThS.NCS Đoàn Tuân(2),

PGS.TS Phạm Nguyễn Kim Tuyến(3)

(1),(2),(3) Trường Đại học Sài Gòn

TÓM TẮT

Nghiên cứu đánh giá các tác động xã hội của các doanh nghiệp hoạt động bên ngoài các khu công nghiệp, khu chế xuất, và khu công nghệ cao trong công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐND của Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong những vấn

đề rất cần thiết đối với công tác bảo vệ môi trường Các tác động xã hội được phân tích trong nghiên cứu này bao gồm các tác động về nhận thức, thái độ và hành vi Quá trình nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp như lựa chọn cỡ mẫu ngẫu nhiên đơn giản, phân tích và thống kê mô tả Kết quả từ 577 phiếu khảo sát cho thấy việc thu và nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp đã có những tác động tích cực đến nhận thức cũng như hành vi của các doanh nghiệp, song việc chấp hành các quy định vẫn chưa đầy đủ Để góp phần nâng cao hiệu quả công tác thu và nộp phí bảo vệ môi trường các doanh nghiệp đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn Thành phố, nhóm nghiên cứu đề xuất những kiến nghị điều chỉnh về chính sách, công thức, phương thức và lộ trình thu phí phù hợp với điều kiện hiện nay

Từ khóa: nước thải công nghiệp, phí bảo vệ môi trường, tác động xã hội

ABSTRACT

This study assesses social impact of enterprises outside industrial zones, export processing zones, and high-tech parks on environmental protection fees for industrial wastewater according to resolution no.02/2018/NQ-HDND in Ho Chi Minh City, which is very essential in terms of environmental protection In the study, the social influence includes perception, attitude and behaviour The study applies simple random sample size selection, exploratory data analysis method, and descriptive statistical method Though results from 577 surveys show positive impacts on perception and behavior, compliance attitude with regulations of most samples is not positive Therefore, proposals of policies, fee calculation, methods and fee increase scheme are recommended in this study to improve the effect

of environmental protection fee system for industrial wastewater

Keywords: industrial wastewater, environmental protection fee, social impact

Email: phngktuyen@gmail.com

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Phí bảo vệ môi trường (BVMT) là phí

đánh vào lượng chất thải thực tế của cơ sở

sản xuất, với mức phí được xác định dựa

trên các chi phí cần thiết để làm giảm một

đơn vị ô nhiễm Đây là một trong những

công cụ kinh tế nhằm hạn chế và giảm

thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường do các

hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra, đồng

thời tạo nguồn thu để phục vụ cho công tác

bảo vệ môi trường Trên thế giới, phí bảo

vệ môi trường đối với nước thải được áp

dụng khá sớm tại một số nước như Phần

Lan (1950), Ireland (2002) [1] Ở khu vực

Đông Nam Á, phí nước thải đã được áp

dụng ở Malaysia, Philippines và Thái Lan

từ những năm 2000 [2], [3] Tại Việt Nam,

từ năm 2003 Chính phủ đã có nhiều quy

định về thu phí BVMT đối với nước thải

công nghiệp, và nhiều nghiên cứu về đánh

giá tác động của việc thu phí bảo vệ môi

trường đối với các đối tượng nộp phí đã

được thực hiện trên cả nước [4] Trải qua

nhiều thay đổi, hiện Nghị định

154/2016/NĐ-CP (NĐ154) năm 2016 là

văn bản có hiệu lực cao nhất quy định về

hình thức và cách thức thu phí, có hiệu lực

áp dụng trên cả nước [5] Tuy nhiên, đến

ngày 01 tháng 07 năm 2020, Nghị định này

(NĐ154) được thay thế bởi Nghị định

53/2020/NĐ-CP được ban hành vào ngày

05 tháng 05 năm 2020 [6]

Để triển khai thực hiện các nội dung

của Nghị quyết số 54/2017/QH14 ngày 24

tháng 11 năm 2017 của Quốc hội về thí

điểm cơ chế, chính sách đặc thù phát triển

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 03

năm 2018, Hội đồng nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh đã ban hành Nghị Quyết

02/2018/NQ-HĐND (NQ02) về điều chỉnh

mức thu phí bảo vệ môi trường đối với

nước thải công nghiệp trên địa bàn Thành

phố có hiệu lực từ ngày 1/7/2018 [7] Sau hơn một năm triển khai NQ02, số phí thu được cao hơn nhiều lần so với trước đây thu theo NĐ154 Từ đó, các quy định của NQ02 được dự đoán sẽ gây nhiều tác động lên các đối tượng doanh nghiệp (DN) nộp phí, đặc biệt là nhóm DN sản xuất kinh doanh hoạt động bên ngoài các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu công nghệ cao (KCNC)

Theo Chi cục Bảo vệ Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019 cơ quan này đang thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành đối với khoảng 3.460 DN, trong đó có khoảng 3.344 DN nằm trong danh mục thu phí của năm Đặc điểm của nhóm DN này là đa số có quy mô sản xuất vừa và nhỏ, phân bố rải rác và nhiều nhất tại các quận, huyện vùng ven Thành phố có tốc độ phát triển kinh tế nhanh như Bình Tân, Bình Chánh, Củ Chi, Quận 12, Thủ Đức, Quận 9, nhưng có chất lượng nước thải công nghiệp không đồng đều Đây là nhóm DN được dự đoán chịu nhiều tác động từ việc thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp theo quy định của NQ02 Song, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đánh giá chuyên sâu về các tác động này đối với các DN trên địa bàn Thành phố

Vì vậy, nghiên cứu này nhằm đánh giá các tác động xã hội của các DN hoạt động ngoài các KCN, KCX, KCNC trên địa bàn TP.HCM trong việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp khi

áp dụng quy định thu phí theo NQ02 Qua kết quả khảo sát các khó khăn và tồn tại của việc thu nộp phí hiện nay được xác định, hệ thống hóa, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp cải thiện công tác thu và nộp phí đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường Kết quả của nghiên cứu này còn là cơ sở giúp cho các

Trang 3

cơ quan quản lý hoạch định chính sách,

xây dựng phương hướng, kế hoạch, lộ trình

thu nộp phí bảo vệ môi trường một cách

hiệu quả và phù hợp hơn

2 Nội dung và phương pháp nghiên

cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp

điều tra, khảo sát xã hội học đối với các

DN là đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường

đối với nước thải công nghiệp Theo đó,

các nội dung nghiên cứu chính trong đề tài

là khảo sát bằng phiếu điều tra, thống kê

kết quả và đánh giá kết luận Để thực hiện

các nội dung trên, đề tài đã sử dụng các

phương pháp nghiên cứu dưới đây:

2.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều

tra bằng phiếu khảo sát để tiến hành thu thập

thông tin Phương pháp này có ưu điểm là

cho phép thu thập các thông tin khách quan

và chủ quan trong phạm vi lớn, với kết quả

khảo sát mang tính chất thống kê Theo đó,

các bước thực hiện điều tra gồm có xây

dựng cỡ mẫu khảo sát, nội dung khảo sát,

thiết kế phiếu khảo sát và phương pháp thu

thập thông tin [8]

2.2.1 Xác định cỡ mẫu

Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu

ngẫu nhiên đơn giản, cỡ mẫu với độ tin cậy

95% được tính theo công thức Yamane [9],

[10]:

Trong đó: n là cỡ mẫu cần thu thập,

N: là số lượng quần thể;

e: là mức sai số cho phép

Với e là 0,05 và số DN có xả nước thải

công nghiệp được thống kê là 3444, số đơn

vị mẫu tối thiểu phải lấy theo công thức này được xác định là 359 Từ đó, 577 phiếu khảo sát đã được thu thập từ các DN để đánh giá

2.2.2 Nội dung phiếu khảo sát

Nội dung phiếu khảo sát được trình bày theo dạng trắc nghiệm chọn nhiều đáp

án khả thi, kết hợp với câu hỏi mở Theo

đó, các nội dung chính của khảo sát tập trung vào các tác động xã hội của DN về nhận thức, thái độ và hành vi, bao gồm:

- Các tác động đến nhận thức của DN như các quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (cách thức thu phí, công thức tính phí, quy trình thu nộp phí), năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của

DN (giá thành sản phẩm, lợi thế cạnh tranh, doanh thu và hình ảnh xã hội của DN), tác động đến người lao động tại các

DN (thu nhập, thời gian làm việc, phúc lợi,

và ý thức bảo vệ môi trường), nhận thức về tác động đến xã hội và cộng đồng (ý thức tiết kiệm nước, sử dụng hiệu quả nguồn nước, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường, hạn chế ô nhiễm môi trường và nâng cao trách nhiệm với xã hội);

- Các tác động đến thái độ thể hiện ở mức độ tuân thủ quy định pháp luật của

DN về việc nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải;

- Các tác động đến hành vi như hoạt động tăng giá sản phẩm, các quy trình cải tiến sản xuất (công nghệ sản xuất hiện đại, tăng cường giám sát quy trình sản xuất, cải tiến bao bì sản phẩm, tái sử dụng chất thải,

sử dụng nguyên liệu tốt hơn, sử dụng năng lượng tái tạo, thay thế đường ống bị rò rỉ, giảm lưu lượng xả thải, tiết kiệm nước, tăng cường tập huấn chuyên môn và cải thiện các biện pháp an toàn lao động) và các hoạt động bảo vệ môi trường tại khu vực nhà máy của DN

Trang 4

3.2.3 Thiết kế phiếu khảo sát

Phiếu khảo sát được thiết kế gồm các

câu hỏi nhiều lựa chọn (checklist) kết hợp

với câu trả lời mở (open - ended) để thu

thập các thông tin một cách tốt nhất [11]

3.2.4 Phương pháp khảo sát

Phiếu khảo sát được gửi bằng đường

bưu điện, hoặc phỏng vấn trực tiếp tại các

DN trên địa bàn Thành phố để tiến hành

thu thập thông tin

3.3 Phương pháp xử lý số liệu

3.3.1 Phương pháp xử lý số liệu khảo

sát

Các thông tin thu thập trong phiếu khảo

sát là những thông tin định tính và do đó

được áp dụng phương pháp xử lý số liệu

khảo sát (Exploratory Data Analysis) Các

bước thực hiện bao gồm mã hóa dữ liệu, lập

danh sách các nhóm mã, xây dựng bản đồ

quan hệ và phân tích trình bày [12], [13]

3.3.2 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê mô tả là

phương pháp tổng hợp các số liệu thu thập

được và trình bày diễn giải qua các bảng biểu, đồ thị và các giá trị thống kê của tập hợp như trung bình, trung vị, giá trị cao nhất, giá trị thấp nhất, tần suất, tỷ lệ, phương sai [14]

4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1 Kết quả khảo sát

4.1.1 Tổng số lượng doanh nghiệp và tổng lưu lượng xả thải

Theo quy định của NQ02, các DN có mức xả thải dưới 5 m3/ngày-đêm chỉ phải đóng phí cố định (1,5 triệu đồng/năm) mà không xét đến chất lượng nước thải Các

DN có mức xả thải từ 5 m3/ngày-đêm phải chịu thêm phí biến đổi (là hàm số gồm 06 thông số ô nhiễm và tổng lưu lượng xả thải) cùng với phí cố định Do vậy, nghiên cứu này đánh giá chất lượng nước thải của những DN có lưu lượng xả thải từ 5

m3/ngày-đêm trở lên, gồm COD và TSS Các thông tin về số lượng, tổng lưu lượng

xả thải và tỷ lệ mẫu nước thải đạt chuẩn

được trình bày trong Bảng 1

Bảng 1 Tóm tắt các thông tin về số lượng, lưu lượng và chất lượng xả thải

Phân loại theo lưu lượng

(m3/ngày)

Số doanh nghiệp

Tổng lưu lượng xả thải (m3/ngày-đêm)

Tỷ lệ % số mẫu đạt tiêu chuẩn cột

A - QCVN 40:2011/BTNMT

Số

Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường Thành phố

4.1.2 Tình hình thu và nộp phí

Qua thống kê năm 2019, có 3.344 DN

nằm trong danh sách nộp phí, đạt tỷ lệ

97% Mặc dù có số lượng DN nộp phí và

số thu phí cao nhất qua các năm từ 2016 đến 2019, nhưng tỷ lệ nộp phí đầy đủ của năm 2019 lại chiếm tỷ lệ thấp nhất (đạt 52%) so với các năm trước (Bảng 2)

Trang 5

Bảng 2 Tóm tắt số DN, số nộp phí qua các năm từ 2016 đến 2019

Năm

Tổng số DN

nộp phí

(tỷ đồng)

Nguồn: Chi cục Bảo vệ môi trường Thành phố

4.1.3 Kết quả phiếu khảo sát

Nhu cầu sử dụng nước và nhu cầu xả

thải nước thải

Khảo sát 577 DN đang hoạt động

ngoài các KCN, KCX, KCNC cho thấy

100% các DN đều sử dụng nguồn nước

được cấp (nước máy) làm nguyên liệu sản

xuất kinh doanh Bên cạnh đó, các DN còn

sử dụng nước ngầm tập trung ở các quận

huyện vùng ven và có trữ lượng lớn như

quận 9, 12, quận Bình Tân, huyện Củ Chi

và huyện Hóc Môn Đối với nước mặt, kết

quả khảo sát cũng cho thấy một tỷ lệ nhỏ

các DN ở quận 7, các huyện Bình Chánh,

Củ Chi và Hóc Môn vẫn còn sử dụng để

làm nguyên liệu sản xuất

Về lưu lượng nước sử dụng, 70% các

DN (401/577 DN) được khảo sát có lưu

lượng sử dụng nước dưới 12,5 m3

/ngày-đêm và 19% (109/577 DN) có mức sử

dụng trên 25 m3/ngày-đêm Nhìn chung các

DN có mức lưu lượng sử dụng nước vẫn còn thấp và nằm trong giới hạn cho phép của Tiêu chuẩn Việt Nam, từ 22 đến 45

m3/ngày-đêm với diện tích nhà xưởng trung bình khoảng 1 ha [15]

Kết quả khảo sát các tác động xã hội của DN

Các DN ngoài các KCN, KCX, KCNC

đa phần là các cơ sở sản xuất kinh doanh

có quy mô nhỏ đến vừa, đã có hoặc chưa

có hệ thống xử lý nước thải; lưu lượng nước thải công nghiệp có nhiều khác biệt

và chất lượng nước thải cũng không đồng đều Vì vậy, đây là nhóm DN chịu tác động

rõ rệt nhất từ việc thu phí theo quy định của NQ02 Kết quả các tác động xã hội của các DN ngoài các KCN, KCX, KCNC

được trình bày trong Bảng 3

Trang 6

Bảng 3 Kết quả tổng hợp các tác động xã hội

Nhận thức về tác

động đến năng lực

sản xuất và khả

năng cạnh tranh

về giá thành sản phẩm 25% 75%

về lợi thế cạnh tranh 23% 77%

về hình ảnh xã hội của DN 36% 64%

Nhận thức về tác

động đến người lao

động tại DN

về thời gian làm việc 12% 88%

về ý thức bảo vệ môi trường 39% 61%

Nhận thức về tác

động của việc thu

phí bảo vệ môi

trường đến xã hội và

cộng đồng

về nâng cao ý thức tiết kiệm nước 68% 32%

về sử dụng hiệu quả nguồn nước 44% 56%

về bảo vệ môi trường 49% 51%

về hạn chế ô nhiễm 48% 52%

về nâng cao trách nhiệm xã hội 38% 62%

Hoạt động cải tiến

quy trình sản xuất

(03 giải pháp chính)

tiết kiệm nước 69% 31% thay thế đường ống nước bị rò rỉ 53% 47% giảm lưu lượng xả thải 43% 57%

Hoạt động bảo vệ

môi trường

dọn vệ sinh khu vực nhà máy công xưởng 73% 27% tuyên truyền nâng cao ý thức cộng đồng 48% 52%

đóng góp tài chính 41% 59%

tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường 27% 73%

4.2 Đánh giá kết quả

4.2.1 Tổng lưu lượng xả thải

Với tổng số DN hoạt động ngoài các

KCN, KCX, KCNC vào khoảng 3.444 DN,

các DN có lượng xả thải nhỏ (dưới 5

m3/ngày-đêm) chiếm tỷ lệ lớn (83%), tuy

nhiên chất lượng xả thải vẫn chưa được

kiểm tra và kiểm soát tốt

Chất lượng xả thải của nhóm DN có

mức xả thải vừa và lớn (trên 5m3/

ngày-đêm) khá tốt với tỷ lệ mẫu đạt tiêu chuẩn là

68% Trong đó, các DN có mức xả thải từ

5 – 20 m3/ ngày-đêm có mức ô nhiễm lớn nhất (78,7% tổng hàm lượng COD và 82% tổng hàm lượng TSS) trên tổng số DN có mức xả thải từ 5 m3/ngày-đêm trở lên

4.2.2 Tổng số thu phí

Tính đến quý 3 năm 2019, tổng số phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp thực tính là 55,7 tỷ đồng, trong đó

đã thu được 46,83 tỷ đồng (84%) và số phí chưa thu được là 8,9 tỷ đồng (16%) Trong

Trang 7

tổng số phí thực tính 55,7 tỷ đồng, tỷ lệ phí

cố định là 64% (35,69 tỷ đồng) và phí biến

đổi chiếm 36% (20,02 tỷ đồng) Thống kê

về tình hình thu và nộp phí trong các năm

từ 2016 đến 2019 cũng cho thấy, năm 2019

có tỷ lệ số DN nộp phí đầy đủ thấp nhất

(52%) so với các năm còn lại

4.2.3 Kết quả khảo sát tác động xã hội

của các DN

Về nhận thức, một số ít các DN vẫn

chưa nắm rõ các quy định về thu và nộp

phí, chẳng hạn có 5% số DN không biết

được cách thức đo lượng nước thải công

nghiệp làm cơ sở tính phí

Về tác động của việc nộp phí đối với

chính DN và người lao động, đa số các DN

cho rằng không có ảnh hưởng Bên cạnh

đó, hầu hết các DN nhận thức rất rõ về các

tác động tích cực của việc thu phí đối với

xã hội và cộng đồng, gồm nâng cao ý thức

tiết kiệm nước, sử dụng hiệu quả nguồn

nước, hạn chế ô nhiễm và nâng cao trách

nhiệm xã hội

Khảo sát thái độ của DN đối với việc

tuân thủ theo các quy định về thu và nộp

phí, hầu hết các DN tự nhận xét đã nộp phí

đầy đủ và đúng hạn Tuy nhiên, số liệu

khảo sát cũng cho thấy, có đến 25% DN

cho biết đã không kê khai việc nộp phí bảo

vệ môi trường, đặc biệt số lần trễ hạn nộp

phí năm 2019 của các DN ở mức cao nhất

trong các năm từ 2016 đến 2019 Bên cạnh

đó, dữ liệu về số thu phí cũng cho thấy số

DN chưa nộp phí năm 2019 chiếm tỷ lệ

42%, cùng với số phí chưa thu được chiếm

tỷ lệ hơn 20% (5,29 tỷ đồng) Điều này

phản ánh thái độ tuân thủ chưa nghiêm túc

của một số DN đối với các quy định về thu

và nộp phí bảo vệ môi trường

Về đánh giá các tác động đến hành vi

của DN, đa số DN sản xuất kinh doanh vẫn

chưa tính phí bảo vệ môi trường vào đơn

giá sản phẩm (93%) Hầu hết các DN áp

dụng nhiều cách thức cải tiến quy trình sản

xuất và có nhiều hoạt động bảo vệ môi

trường đối với chính DN và cộng đồng

nhằm nâng cao ý thức, đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường

Như vậy, thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp của các DN ngoài các KCN, KCX, KCNC trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo NQ02 đã có tác động nhiều đối với DN Chính vì vậy, cần

có các giải pháp thu và nộp phí một cách hiệu quả nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và phát triên bền vững của thành phố

4.3 Thảo luận

4.3.1 Thảo luận về kết quả nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy các tác động tích cực về nhận thức, thái độ và hành vi của DN khi áp dụng quy định về thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp Các hoạt động cải tiến sản xuất đơn giản như tiết kiệm nước và thay thế đường ống nước thường được các DN lựa chọn để giảm lưu lượng nước sử dụng Bên cạnh đó, một điều đáng lưu ý ở kết quả nghiên cứu này chính là sự khác biệt giữa kết quả phiếu khảo sát về mức độ chấp hành quy định (đóng phí đầy đủ) của DN (91% DN cho rằng chấp hành đóng phí đầy

đủ và đúng hạn) và số lượng DN đóng phí đầy đủ trên thực tế chỉ đạt 58% trong năm

2019 Từ kết quả này, các nghiên cứu chuyên sâu về hành vi tuân thủ quy định của

DN cần được tiến hành để có thể đánh giá rõ ràng hơn về các tác động của việc thu phí

4.3.2 Đề xuất các giải pháp

Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội hiện nay, việc điều chỉnh các quy định thu phí cần đảm bảo yêu cầu không gây áp lực quá lớn lên các DN, không làm xáo trộn đến đời sống và tạo điều kiện cho DN có thời gian thích ứng

Từ đó, nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp về chính sách, phương thức, lộ trình thu phí như sau:

Về chính sách

Mục tiêu đầu tiên trước khi điều chỉnh tăng phí là cần phải ban hành các chính sách và quy định rõ mức xử lý, các tiêu chí,

Trang 8

vấn đề hỗ trợ, cụ thể: các chính sách ưu

đãi, hỗ trợ các DN có các biện pháp bảo vệ

môi trường và tái sử dụng chất thải; các

quy định cụ thể về chế tài, xử lý vi phạm

đối với các DN chậm nộp phí hoặc không

nộp phí; quy định áp dụng thực hiện dịch

vụ công trực tuyến, quy định về việc xử lý

nước thải sản xuất kinh doanh của các DN

vừa và nhỏ

Về công thức thu phí

Công thức thu phí theo NQ02 đã bộc lộ

nhiều bất cập về cách tính định mức lưu

lượng xả thải (hệ số K), từ đó không

khuyến khích các DN nâng cao chất lượng

xả thải Vì vậy, công thức thu phí cần phải

được nghiên cứu và tính toán theo hướng

khuyến khích DN đầu tư nâng cấp hệ thống

xử lý nước thải

Về phương thức thu phí

Số lượng nhân lực của các cơ quan thi

hành (Chi cục bảo vệ môi trường, Phòng

Tài nguyên Môi trường Quận Huyện) có

giới hạn, vì vậy đề xuất việc thu phí đối với

các DN nhỏ và vừa (quy mô xả thải dưới 5

m3/ngày-đêm) vào hóa đơn tiền sử dụng

nước do Công ty cấp thoát nước thực hiện

Đồng thời, tiến hành công khai nguồn thu

và chi cho các hoạt động bảo vệ môi

trường cho các DN

Về lộ trình thu phí

Mặc dù việc tăng phí là không thể

tránh khỏi nhằm mục tiêu bảo vệ môi

trường, sử dụng tối ưu tài nguyên thiên

nhiên và khuyến khích DN chuyển đổi

công nghệ sản xuất, nhưng nhóm nghiên

cứu đề xuất không tăng phí trong giai đoạn

ngắn hạn (2020 – 2022) để tạo điều kiện

cho DN thích ứng và phục hồi nền kinh tế

sau những khó khăn về đại dịch Covid-19

Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất xem xét

tăng lũy tiến +3%/năm bắt đầu từ năm

2023 cho đến khi đạt đến mức +10% so với

số phí năm 2019 (ước tính hơn 74 tỷ đồng)

5 Kết luận

Kết quả đánh giá tác động xã hội đối

với các DN ngoài KCN, KCX, KCNC trên

địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo NQ02 như sau:

Đa số các DN đều hiểu rõ và nhận thức được mục đích và ý nghĩa của việc thu phí này và đã có các hoạt động cải tiến quy trình sản xuất kinh doanh để giảm tác động tiêu cực Tuy nhiên, các số liệu khảo sát cho thấy các DN nộp phí trễ hạn cũng như chưa nộp phí năm 2019 ngày còn nhiều, điều này phản ánh thái độ tuân thủ chưa nghiêm túc của một số DN đối với các quy định về thu và nộp phí bảo vệ môi trường Phần lớn các DN cho rằng việc thu loại phí này vẫn chưa có tác động mạnh đến năng lực cạnh tranh và hình ảnh của DN hoặc có tác động tiêu cực đến người lao động Kết quả của nghiên cứu này cũng là một kênh tham khảo quan trọng cho các cơ quan quản lý hoạch định chính sách để điều chỉnh các quy định về thu và nộp phí trong tương lai, đặc biệt trong bối cảnh kết quả khảo sát

đã cho thấy việc thu phí theo quy định hiện nay đã có các tác động tích cực lên nhận thức

và hành vi của DN Kết quả khảo sát của nghiên cứu này còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về xây dựng mô hình tác động và dự đoán các tác động kinh tế - xã hội của DN

6 Kiến nghị

Nghiên cứu này đã cơ bản đánh giá được các tác động xã hội của các DN ngoài các KCN, KCX, KCNC là đối tượng thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp khi áp dụng quy định tại NQ02 Tuy nhiên, một trong những giới hạn của nghiên cứu này là chưa tiến hành

so sánh đánh giá với các nghiên cứu tương

tự ở các nước láng giềng hoặc các địa phương có áp dụng chính sách tương tự

Vì vậy, nhóm tác giả đề xuất có những nghiên cứu chuyên sâu về tác động xã hội

về việc nộp phí BVMT đối với nước thải công nghiệp, đặc biệt đối với hành vi đóng phí của DN Các nghiên cứu tiếp theo cũng sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu trên

Trang 9

các quốc gia láng giềng để có sự so sánh

và học hỏi, từ đó rút ra các bài học kinh

nghiệm để có những điều chỉnh cụ thể về

chính sách, thể chế cho phù hợp với mức

độ phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] META, (29/12/2019) The 5 most sucessful environmental taxes in Europe, [online] Available: https://meta.eeb.org/2017/11/23/the-5-most-successful-environmental-taxes-in-europe/2017

[2] N T Thu, (12/06/2019) Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải: Những điểm mới

và vấn đề đặt ra, [online] Available:

https://thukyluat.vn/news/trong-nuoc/phi-bao-ve-moi-truong-dang-duoc-su-dung-nhu-the-nao-41722.html

[3] W Simachaya, “Environmental Financing Strategies: User Charges in the Wastewater

Sector in Thailand”, Financing Urban Water Supply and Sanitation in Asia, 2003

[4] L T M Thuần, “Nghiên cứu hiện trạng công tác thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam”, Thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Khoa hoc môi trường, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội, 2011

[5] Chính phủ, Nghị định 154/2016/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 2017

[6] Chính phủ, Nghị định 53/2020/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải 2020

[7] Hội đồng nhân dân TPHCM, Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐND về điều chỉnh mức thu

phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 2018

[8] R.L.Chambers, và C.J.Skinner, “Analysis of Survey Data”, John Wiley & Sons, England, 2003

[9] Ajay S.Singh, và Micah B.Masuku, “Fundamentals of applied research and sampling

techniques”, International Journal of Medical and Applied sciences, Vol2 2013

[10] T Yamane, Statistic, An Introductory Analysis, N Y Harper Row, 1967

[11] S Sreejesh, M Sanjay, và M R Anusree, “Questionnaire Design”, in Business

Research Methods, Switzerland, Springer International Publishing Switzerland, 2014

[12] L M Given, (29/12/2019) Exploratory Data Analysis - SAGE Research Methods [Online] Available: https://methods.sagepub.com/reference/sage-encyc-qualitative-research-methods/n165.xml

[13] E R Babbie, The practice of social research, Belmont, Calif: Wadsworth Cengage,

2010

[14] J Nicholas, Introduction to descriptive statistics, Mathematics Learning Centre,

University of Sydney, 1999

[15] TCXDVN 33:2006: Cấp nước - Mạng lưới đường ống và công trình Tiêu chuẩn thiết kế

Ngày nhận bài: 26/02/2020 Biên tập xong: 15/5/2020 Duyệt đăng: 20/5/2020

Ngày đăng: 23/02/2021, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w