Bài viết đưa ra một số khuyến nghị đối với người sử dụng báo cáo kiểm toán và đối với kế toán viên nhằm đánh giá sự phù hợp của ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần được phát hành.
Trang 1các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên Sở Giao dịch
Chứng khoán Hà Nội
Nguyễn Thị Lê Thanh
Khoa Kế toán - Kiểm toán, Học viện Ngân hàng
Nguyễn Thị Khánh Phương
Khoa Kế toán - Kiểm toán, Học viện Ngân hàng
Ngày nhận: 29/12/2020
Ngày nhận bản sửa: 14/01/2021
Ngày duyệt đăng: 28/01/2021
Tóm tắt: Kiểm toán viên có thể đưa ra các dạng ý kiến kiểm toán khác nhau tùy
thuộc vào kết quả của một cuộc kiểm toán Nghiên cứu này nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp xây dựng (DNXD) niêm yết do KTV độc lập phát hành, cụ thể nghiên cứu dạng ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Dữ liệu được thu thập từ
61 DNXD niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) giai đoạn 2010-
2018 Phương pháp nghiên cứu định lượng với sự hỗ trợ của phần mềm STATA nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến
ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Kết quả cho thấy dạng
ý kiến kiểm toán này được phát hành chịu ảnh hưởng của các nhân tố: dạng ý kiến
Determinants affecting modified audit opinion on financial audit reports- Evidence from
listed construction enterprises on Hanoi Stock Exchange
Abstract: This study examines the determinants that affect the modified opinion on financial audit
reports from listed construction enterprises For this purpose, a quantity research using STATA 14 is set up with a sample of 61 listed construction enterprises on Hanoi stock exchange for the period from the year 2010 to 2018 The result shows that the current modified audit opinion is affected by six determinants are: the prior audit opinion, earnings from the operation, current ratio, company size and time lag (number of days from the ending of the fiscal year and the day of the audit report) After that, the authors raise some suggestions for the users and auditors to assess the suitable issued modified audit opinions.
Keywords: modified audit report, construction enterprises, Hanoi Stock Exchange
Thanh Thi Le Nguyen
Email: thanhntl@hvnh.edu.vn
Phuong Thi Khanh Nguyen
Email: phuongntk029@gmail.com
Organization of all: Accounting and Auditing Faculty - Banking Academy of Vietnam
Trang 2kiểm toán năm trước, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, khả năng thanh toán ngắn hạn, quy mô doanh nghiệp, thời gian phát hành báo cáo kiểm toán Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị đối với người sử dụng báo cáo kiểm toán và đối với KTV nhằm đánh giá sự phù hợp của ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần được phát hành.
Từ khóa: ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần, doanh nghiệp
xây dựng, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
1 Cơ sở lý thuyết về dạng ý kiến kiểm
toán phát hành và các yếu tố ảnh hưởng
1.1 Cơ sở lý thuyết về dạng ý kiến kiểm
toán phát hành
Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA/
Việt Nam VSA 700 Hình thành ý kiến kiểm
toán và báo cáo kiểm toán về BCTC, KTV
có thể đưa ra các dạng ý kiến kiểm toán sau:
- “Ý kiến chấp nhận toàn phần”: Là ý kiến
được đưa ra khi KTV kết luận rằng BCTC
đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu,
phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày
BCTC được áp dụng” Khi đơn vị có BCTC
được kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn
phần không có nghĩa là KTV bảo đảm rằng
BCTC đó không tồn tại sai sót nào, mà chỉ
bảo đảm không tồn tại sai sót trọng yếu
- “Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến
chấp nhận toàn phần” gồm 3 dạng: “Ý
kiến kiểm toán ngoại trừ”; “Ý kiến kiểm
toán trái ngược” và “Từ chối đưa ra ý kiến”
KTV và doanh nghiệp kiểm toán sẽ phát
hành báo cáo kiểm toán với dạng Ý kiến
không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
khi “Dựa trên bằng chứng kiểm toán đã thu
thập được, KTV kết luận là tổng thể BCTC
vẫn còn sai sót trọng yếu; hoặc KTV không
thể thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán
thích hợp để kết luận rằng tổng thể BCTC
không còn sai sót trọng yếu” Cụ thể:
○ Ý kiến kiểm toán ngoại trừ
+ Ngoại trừ do tồn tại sai sót trọng yếu:
Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, KTV kết luận
là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại,
có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC;
+ Ngoại trừ do giới hạn phạm vi kiểm toán:
KTV không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng KTV kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với BCTC
○ Ý kiến kiểm toán trái ngược
Ý kiến kiểm toán trái ngược được phát hành khi KTV thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp cho thấy BCTC đã phản ánh không trung thực và hợp lý hoặc đã không được lập tuân thủ, trên các khía cạnh trọng yếu, không phù hợp với khuôn khổ về lập
và trình bày BCTC được áp dụng và mức
độ nghiêm trọng của các vấn đề được phát hiện phải có ảnh hưởng lan tỏa Khi đưa ra
ý kiến kiểm toán trái ngược, KTV phải trình bày rõ trong đoạn ý kiến kiểm toán rằng, theo ý kiến của KTV, do mức độ nghiêm trọng của những vấn đề mô tả trong đoạn
“Cơ sở của ý kiến kiểm toán trái ngược”
○ Từ chối đưa ra ý kiến KTV từ chối đưa ra ý kiến khi không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm
Trang 3toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến
kiểm toán, trong khi mức độ nghiêm trọng
của những vấn đề không xác định được này
phải có ảnh hưởng lan tỏa Khi từ chối đưa
ra ý kiến, KTV phải trình bày lí do không
thể thu thập đủ bằng chứng kiểm toán thích
hợp trong đoạn “Cơ sở của việc từ chối đưa
ra ý kiến”
1.2 Yếu tố ảnh hưởng đến các dạng ý
kiến kiểm toán phát hành
○ Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
(LOINHUAN)
Theo Keasey và cộng sự (1988), những
doanh nghiệp mà lợi nhuận có xu hướng
giảm thì có khả năng nhận được ý kiến
không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
nhiều hơn Nghiên cứu của Spathis (2003)
tại Hy Lạp với độ tin cậy 78% cho thấy
ý kiến kiểm toán dạng nào cũng bị ảnh
hưởng bởi thông tin lợi nhuận, Caramanit
và Spathis (2006) cho thấy, doanh nghiệp
hoạt động kém hiệu quả, lợi nhuận thấp thì
nhà quản lý luôn muốn chỉnh sửa BCTC,
do đó nhận về báo cáo kiểm toán với ý
kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần cao hơn Kirkos và cộng
sự (2007) chỉ ra rằng, nhưng công ty có lợi nhuận thấp thường có báo cáo kiểm toán với ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần phát hành nhiều hơn Akhgar M.Omid (2015) cũng có ý kiến tương đồng với các nghiên cứu trước đó, tác giả cho rằng lợi nhuận thuần càng thấp thì ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ được phát hành nhiều hơn Ahmet (2016) cho rằng ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần được phát hành nhiều hơn với các doanh nghiệp có lợi nhuận cao hơn Laitinen (1998) khi nghiên cứu
về các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến KTV thì nhận thấy rằng lợi nhuận thấp sẽ có khả năng nhận được báo cáo kiểm toán với ý kiến chấp nhận toàn phần cao hơn
○ Quy mô doanh nghiệp - tổng tài sản (SIZE)
Trong nghiên cứu của Laitinen (1998) về ảnh hưởng của các nhân tố đến ý kiến kiểm toán viên, tác giả Laitinen đã chỉ ra rằng doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao
Sơ đồ 1 Các dạng ý kiến kiểm toán
Nguồn: Tổng hợp từ các quy định của ISA/VSA liên quan
Trang 4thì khả năng nhận được báo cáo kiểm toán
với ý kiến chấp nhận toàn phần cao hơn
Nguyễn Thiên Tú (2012) đã nghiên cứu về
mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông
tin trên báo cáo tài chính Kết quả nghiên
cứu chỉ ra rằng, quy mô tổng tài sản có ảnh
hưởng đến ý kiến của kiểm toán viên Phạm
Anh Thư (2017) khi nghiên cứu các nhân tố
ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán giai đoạn
2014- 2016 đã cho thấy, biến quy mô tổng
tài sản có ảnh hưởng tới ý kiến kiểm toán
không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
○ Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn
(CURRE)
Nghiên cứu của Citron và Taffler (1992)
cho rằng, hệ số khả năng thanh toán ngắn
hạn có tác động ngược chiều với ý kiến
kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận
toàn phần Spathis (2003) nghiên cứu ở
Hy Lạp với hơn 100 công ty và cho thấy,
các doanh nghiệp có khả năng thanh toán
không tốt thì ý kiến kiểm toán không phải
là ý kiến chấp nhận toàn phần được phát
hành nhiều hơn Caramanit và Spathis
(2006) khi nghiên cứu 185 doanh nghiệp
trên thị trường chứng khoán (TTCK)
Athens với độ tin cậy 90% thì nhận thấy
hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn có ảnh
hưởng đến ý kiến kiểm toán Ahmet (2016)
nghiên cứu tại Turkey cho rằng, khi hệ số
thanh toán cao thì ý kiến kiểm toán chấp
nhận toàn phần được phát hành nhiều hơn
Lê Thiên Hương (2017) cũng nghiên cứu
về sử dụng thông tin trên BCTC chưa kiểm
toán cho thấy hệ số thanh toán ngắn hạn có
ảnh hưởng ngược chiều làm giảm khả năng
công ty nhận ý kiến kiểm toán không phải là
ý kiến chấp nhận toàn phần
○ Dạng ý kiến kiểm toán năm trước
(PRI-OPI)
Akhgar M Omid (2015) nghiên cứu các
công ty niêm yết ở Tehran và thấy rằng
dạng ý kiến kiểm toán năm trước là ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần thì khả năng cao là ý kiến kiểm toán năm nay cũng là ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Nghiên cứu của Roberto và cộng sự (2017) tại Brazil trong giai đoạn 2012- 2015, kết quả cho thấy ý kiến kiểm toán ngoại trừ năm trước ảnh hưởng rất lớn và cùng chiều với
ý kiến kiểm toán ngoại trừ năm nay Kết quả kiểm định mô hình hồi quy đa biến của Phạm Anh Thư (2017) nghiên cứu tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh cho thấy, biến ý kiến kiểm toán năm trước
có ảnh hưởng lớn nhất và ảnh hưởng cùng chiều tới dạng ý kiến kiểm toán được phát hành năm nay
○ Thời gian phát hành báo cáo (DAYS) Keasey và cộng sự (1988) đã chỉ ra rằng, thời gian phát hành báo cáo kiểm toán chậm trễ thì có khả năng nhận được ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần nhiều hơn Akhgar M.Omid (2015) nghiên cứu tại TTCK Tehran cho thấy, khoảng thời gian từ thời điểm kết thúc niên độ đến thời điểm phát hành báo cáo kiểm toán càng dài thì càng có khả năng cao năm nay ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần được phát hành
Giới hạn phạm vi nghiên cứu trong bài viết này là tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tới dạng
Ý kiến kiểm toán phát hành, cụ thể là dạng
“Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần”
2 Khung phân tích
Từ tổng quan nghiên cứu, nhóm tác giả xác định có 5 yếu tố có thể đưa vào mô hình nghiên cứu Từ đó phát triển các giả thuyết
và mô hình nghiên cứu cụ thể
2.1 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 5H1: Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
doanh có tác động ngược chiều đến việc
phát hành ý kiến kiểm toán không phải là ý
kiến chấp nhận toàn phần của KTV
H2: Tổng tài sản có tác động cùng chiều
đến việc phát hành ý kiến kiểm toán không
phải là ý kiến chấp nhận toàn phần của
KTV
H3: Khả năng thanh toán ngắn hạn có tác
động ngược chiều đến việc phát hành ý
kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp
nhận toàn phần của KTV
H4: Dạng ý kiến kiểm toán năm trước có
tác động cùng chiều đến việc phát hành ý
kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp
nhận toàn phần của KTV
H5: Thời gian phát hành báo cáo có tác
động cùng chiều đến việc phát hành Ý kiến
kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận
toàn phần của KTV
2.2 Mô hình nghiên cứu
ánh các yếu tố này trong quan hệ với dạng
Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần như sau:
Mô hình lý thuyết: CUR_OPI = f (LOINHUAN, SIZE, CURRE, PRI_OPI, YEARS, DAYS)
Kế thừa phương pháp và mô hình nghiên cứu của các nghiên cứu trước có liên quan đến ý kiến kiểm toán được phát hành, điển hình là nghiên cứu của Keasey và cộng sự (1988), Spathis (2003), Akhgar M Omid (2015), Ahmet (2016) đều sử dụng mô hình hồi quy đa biến để đánh giá
Từ đó nhóm tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu cụ thể đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới dạng Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần như sau:
CUR_OPIit = b0 + b1 LOINHUANit +
b2SIZEit + b3CURREit + b4PRI_OPIit +
b5DAYSit + eit
Bảng 1 Mô tả quan hệ giữa các biến trong mô hình nghiên cứu Biến Giải thích các biến Quan hệ với biến phụ thuộc
(lý thuyết) Nguồn tham khảo
CUR_OPI Biến phụ thuộc, biểu thị dạng Ý kiến kiểm toán không phải là
ý kiến chấp nhận toàn phần
LOINHUAN Biến độc lập, biểu thị lợi nhuận từ hoạt động kinh
doanh
Quan hệ ngược chiều (-)
Keasey và cộng sự (1988) Spathis (2003)
Kirkos và cộng sự (2007) Akhgar M.Omid (2015) Ahmet (2016)
Laitinen (1998) SIZE Biến độc lập, biểu thị Quy mô doanh nghiệp- Tổng Tài sản Quan hệ cùng chiếu (+) Laitinen (1998)
CURRE Biến độc lập, biểu thị hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn Quan hệ ngược chiều (-)
Citron và Taffler (1992) Spathis (2003)
Ahmet (2016)
Lê Thiên Hương (2017) PRI_OPI Biến độc lập, biểu thị dạng ý kiến kiểm toán năm trước Quan hệ cùng chiều (+) Akhgar M Omid (2015)Phạm Anh Thư (2017)
DAYS Biến độc lập, biểu thị thời gian phát hành báo cáo kiểm toán Quan hệ cùng chiều (+) Keasey và cộng sự (1988)Akhgar M.Omid (2015)
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất dựa trên tổng quan nghiên cứu
Trang 63 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm tác giả lựa chọn phương pháp nghiên
cứu định lượng Cụ thể sử dụng công cụ
Stata 14 phân tích dữ liệu bảng, lựa chọn mô
hình nghiên cứu phù hợp trong 3 mô hình
Pool OLS (Mô hình hồi quy bình phương
nhỏ nhất thuần túy), REM (Mô hình hồi
quy tác động ngẫu nhiên), FEM (Mô hình
hồi quy tác động cố định), phát hiện và sửa
chữa các khuyết tật có thể có của mô hình
Từ đó, đưa ra mô hình cuối cùng biểu hiện
mối quan hệ giữa các biến với ý kiến kiểm
toán không chấp nhận toàn phần trên báo
cáo kiểm toán được phát hành
3.1 Phương thức thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập từ BCTC đã kiểm
toán của các DNXD niêm yết trên HNX
(địa chỉ lấy dữ liệu http://cafef.vn)
Thực hiện lần lượt các bước trên, nghiên
cứu đã có đầy đủ bộ chỉ tiêu CUR_OPI,
LOINHUAN, SIZE, CURRE, PRI_OPI,
DAYS để tiếp tục nghiên cứu
3.2 Kích thước mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu thu thập toàn bộ dữ liệu liên quan của tất cả các đối tượng nghiên cứu
là DNXD niêm yết trên HNX trong khoảng thời gian 2010 - 2018, sau đó tiến hành làm sạch số liệu, loại bỏ những công ty thiếu nhiều dữ liệu cần thiết phục vụ cho nghiên cứu (giá trị missing) Các DNXD niêm yết sàn HNX tính đến thời điểm nhóm tác giả thu thập thông tin (tháng 7/2019) trong giai đoạn 2010 - 2018, đều có niên độ kế toán trùng với năm dương lịch (bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12) và không thay đổi năm tài chính trong giai đoạn 2010 - 2018 Do đó, mẫu nghiên cứu hợp lệ được lựa chọn là 61 công ty Tác giả tổng hợp được bảng kích thước mẫu nghiên cứu (Bảng 3)
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Với bộ dữ liệu thu thập được, nhóm tác giả tiến hành kiểm định và lựa chọn ra mô hình phù hợp nhất là mô hình FEM Sau
đó, nhóm tác giả thực hiện kiểm định: hiện tượng phương sai sai số thay đổi, phần dư
tự tương quan và hiện tượng đa cộng tuyến Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 5 biến Lợi nhuận thuần từ
hoạt động kinh doanh
(LOINHUAN)
Dạng ý kiến kiểm toán năm
trước (PRI_OPI)
Dạng ý kiến kiểm toán
được phát hành
Thời gian phát hành báo cáo kiểm toán
(DAYS)
Tổng tài sản (SIZE)
Khả năng thanh toán ngắn hạn (CURRE) (+) H5
(+) H2 (-) H1
Sơ đồ 2 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng tới dạng
Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần của KTV
Nguồn: Nhóm tác giả phát triển mô hình nghiên cứu từ tổng quan
Trang 7(PRI_OPI, LOINHUAN, SIZE, CURRE,
DAYS) đưa vào mô hình đều có ý nghĩa
thống kê giải thích được cho biến phụ thuộc
là dạng ý kiến kiểm toán phát hành (Bảng
4) Kết quả của mô hình cho thấy các biến
độc lập đưa vào mô hình giải thích được
24,76% sự thay đổi của biến phụ thuộc
Từ kết quả phân tích hồi quy bội của mô
hình phù hợp nhất cho thấy cả 5 giả thuyết
từ H1 đến H5 đều được chấp nhận Kết quả
nghiên cứu cho thấy: Với độ tin cậy 90%
thì biến PRI_OPI và với độ tin cậy 95%
thì 4 biến độc lập còn lại (LOINHUAN,
CURRE, SIZE, DAYS) tác động tới biến
phụ thuộc dạng ý kiến kiểm toán không
phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (CUR_
OPI) Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh
doanh (LOINHUAN), Khả năng thanh toán
ngắn hạn (CURRE) có tác động ngược
chiều đến việc phát hành ý kiến kiểm toán
không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
của KTV Kết quả này là tương đồng với
kết quả nghiên cứu của Keasey và cộng
sự (1988), Caramanit và Spathis (2006),
Kirkos và cộng sự (2007), Akhgar M.Omid
(2015), Ahmet (2016), Citron và Taffler
(1992), Lê Thiên Hương (2017) Lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh càng thấp thì sẽ
có khả năng nhận được báo cáo kiểm toán
với dạng ý kiến kiểm toán không phải là ý
kiến chấp nhận toàn phần cao hơn Doanh
nghiệp có hệ số thanh toán càng cao thì khả năng dạng ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần sẽ được phát hành nhiều hơn
Chỉ tiêu tổng tài sản (SIZE), Ý kiến kiểm toán năm trước (PRI_OPI), Thời gian phát hành báo cáo (DAYS) có tác động cùng chiều đến việc phát hành dạng Ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần của KTV Kết luận này phù hợp với nghiên cứu của Laitinen (1998), Citron
và Taffler (1992), Caramanit và Spathis (2006), Nguyễn Thiên Tú (2012), Phạm Anh Thư (2017), Akhgar M Omid (2015), Keasey và cộng sự (1988) đã chỉ ra rằng doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng và ý kiến kiểm toán ngoại trừ năm trước, thời gian phát hành báo cáo kiểm toán chậm trễ thì có khả năng nhận được dạng Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần nhiều hơn Điều này hoàn toàn phù hợp với giả thuyết nghiên cứu và mô hình lý thuyết
Từ kết quả nghiên cứu của mô hình ta có thể khái quát mối quan hệ giữa các yếu tố đến dạng ý kiến kiểm toán phát hành của các doanh nghiệp xây dựng niêm yết trên
sở giao dịch chứng khoán Hà Nội giai đoạn 2010- 2018 như sau:
CUR_OPI = - 0,3705425 + 0,1207503 PRI_OPI - 0,011534 LOINHUAN + 0,4274551 SIZE - 0,000492 CURRE +
0,0026399 DAYS + e it
Bảng 2 Bảng đo lường biến
CUR_OPI Ý kiến của KTV trên báo cáo kiểm toán năm nay
LOINHUAN Logarit của Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trên Báo cáo Kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD)
SIZE Tổng tài sản trên Bảng cân đối kế toán (BCĐKT)
CURRE Tính toán từ chỉ tiêu tài sản ngắn hạn, nợ ngắn hạn trên BCĐKT
PRI_OPI Ý kiến của KTV trên báo cáo kiểm toán năm trước
DAYS Số ngày kể từ ngày khóa sổ kế toán lập BCTC năm (31/12 năm nghiên cứu) đến ngày phát hành báo cáo kiểm toán của năm tương ứng
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất dựa trên tổng quan nghiên cứu
Trang 8Nhìn vào mô hình mối quan hệ này có thể
thấy yếu tố quy mô doanh nghiệp có ảnh
hưởng lớn nhất tới dạng ý kiến kiểm toán
không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
được phát hành, sau đó là dạng ý kiến kiểm
toán năm trước và cuối cùng là lợi nhuận
từ hoạt động kinh doanh, hệ số thanh toán
ngắn hạn và thời gian phát hành báo cáo
kiểm toán
5 Kết luận và khuyến nghị
Nhóm tác giả đã tiến hành nghiên cứu thực
chứng về mối quan hệ giữa các yếu tố với
việc phát hành ý kiến kiểm toán không chấp
nhận toàn phần của 61 DNXD niêm yết trên
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội với việc
đưa 5 biến độc lập vào mô hình nghiên cứu
trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2018
Với việc thực hiện kiểm định tính dừng đã
chứng tỏ bộ dữ liệu nghiên cứu là phù hợp Nghiên cứu thực hiện các kiểm định để lựa chọn ra mô hình tác động cố định là mô hình phù hợp nhất
Kết quả của nghiên cứu có ý nghĩa thực tế đối với các KTV, công ty kiểm toán và các đối tượng sử dụng thông tin tài chính Từ phương trình thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận, quy mô doanh nghiệp (tổng tài sản), khả năng thanh toán ngắn hạn, dạng ý kiến kiểm toán năm trước và thời gian phát hành báo cáo kiểm toán tới dạng ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần năm nay Về phía các KTV và công
ty kiểm toán, có thể đánh giá mức độ hợp
lý của dạng ý kiến kiểm toán dự định phát hành Nếu dạng ý kiến kiểm toán quá khác biệt giữa bằng chứng thu thập được thực
tế và kết quả dự đoán của mô hình nghiên cứu này, các KTV với tính thận trọng nghề
Bảng 3 Danh sách mã chứng khoán của các DNXD niêm yết HNX
tính đến tháng 7/2019
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ https://www.stockbiz.vn/Industries.aspx?Code=2357&view=0
Trang 9nghiệp của mình, có thể mở rộng giai đoạn
thực hiện kiểm toán, thu thập thêm bằng
chứng kiểm toán (nếu thấy cần thiết)
Đối với các đối tượng sử dụng thông tin tài
chính (ngân hàng thương mại, nhà đầu tư,
đối tác,…) có thể dựa vào các thông tin trên
BCTC của doanh nghiệp và kết quả nghiên
cứu này để dự đoán trước dạng ý kiến kiểm
toán có thể phát hành
Bài viết đã thực hiện tổng quan các nghiên
cứu trước trên thế giới và Việt Nam một
cách khá đầy đủ và khoa học Đảm bảo
phương pháp nghiên cứu nhóm tác giả sử
dụng là có cơ sở lý thuyết vững chắc và
được kiểm chứng bởi các nghiên cứu thực
nghiệm ở nhiều nước trong những năm qua
Tuy nhiên bài viết vẫn có một số hạn chế
nhất định Thứ nhất, mẫu nghiên cứu còn
HNX, mà chưa thực hiện được trên toàn
TTCK Việt Nam Thứ hai, bài viết mới chỉ
thực hiện kiểm chứng ảnh hưởng của 5 yếu
tố tới dạng ý kiến kiểm toán không phải là
ý kiến chấp nhận toàn phần mà chưa nghiên cứu ảnh hưởng của một số các yếu tố khác như: Dòng tiền thuần trong năm, Thời gian hoạt động kinh doanh, Thời gian niêm yết, Nhóm/Loại công ty kiểm toán hoặc các yếu
tố liên quan đến quản trị doanh nghiệp (quy
mô ban giám đốc doanh nghiệp, tỷ lệ thành viên quản trị từ bên ngoài ) Đây chính là hạn chế lớn nhất của nghiên cứu, vì vậy
biến độc lập trong mô hình chỉ giải thích được 24,76% biến phụ thuộc, còn lại là sai
số ngẫu nhiên hoặc các yếu tố khác ngoài
mô hình, vì vậy các nghiên cứu trong tương lai nhóm tác giả sẽ bổ sung thêm các biến độc lập khác ■
Bảng 4 Kết quả mô hình hồi quy
Fixed-effects (within) regression
R-sp = 0.2476
corr(u_i, Xb) = 0.3928
Obs per group:
F(5, 60) = 766.81 Prob > F = 0.0000 (Std.Err.adjusted for 61 clusters in id)
(fraction of variance due to u_i)
Nguồn: Nhóm tác giả, phần mềm hỗ trợ Stata 14
Trang 10Tài liệu tham khảo
Ahmet (2016), Determining Factors Affecting Audit Opinion: Evidence from Turkey, International Journal of
Accounting and Financial Reporting, Vol.6, No.2
Akhgar M Omid (2015), Qualified Audit Opinion, Accounting Earnings Management and Real Earnings Management: Evidence from Iran, Asian Economics and Financial Review, 2015, 5 (1), 46-57
Caramanit, C., & Spathis, C (2006), Auditee and audit firm characteristics as determinants of audit qualifications:
evidence from the Athens stock exchange, Managerial Auditing Journal, 21 (9), 905-920
Citron, D B., & Taffler, R J (1992) The audit report under going concern uncertainties: an empirical analysis
Accounting and Business Research, 22(88), 337-345
Keasey, K., Watson, R., & Wynarczyk, P (1988), The small company audit qualification: a preliminary investigation, Accounting and Business Research, 18 (72), 323-334
Kirkos, E., Spathis, C., Nanopoulos, A., & Manolopoulos, Y (2007), Identifying qualified auditors’ opinions: a data
mining approach, Journal of Emerging Technologies in Accounting, 4 (1), 183-197
Laitinen, E K., & Laitinen, T (1998), Qualified audit reports in Finland: evidence from large companies European
Accounting Review, 7 (4), 639-653
Lê Thiên Hương (2017) “Sử dụng thông tin trên BCTC chưa kiểm toán để dự đoán ý kiến không phải ý kiến chấp nhận toàn phần trên báo cáo kiểm toán - Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết tại Việt Nam”, Luận văn
thạc sĩ, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Thiên Tú (2012) “Nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán đối với BCTC của các công
ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2010 và tỷ số tài chính”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Phạm Anh Thư (2017), Các nhân tố ảnh hưởng đến ý kiến kiểm toán về BCTC của các công ty niêm yết tại Sở Giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh
Roberto Tommasetti et al (2018), Relationship between Modified Audit Opinion, Earning Managements and Auditor Size: Evidence from Brazil, Pensar Contabil, Rio de Janeiro, v.20, n.72, 50-57
Spathis, C.T (2003), Audit qualification, firm litigation, and financial information: an empirical analysis in Greece,
International Journal of Auditing, 7 (1), 71-85