Giáo trình Đánh giá tác động môi trường gồm 4 chương cung cấp đến các bạn những kiến thức đó là giới thiệu chung về đánh giá tác động môi trường; trình tự thực hiện đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường; các phương pháp sử dụng trong đánh giá tác động môi trường; đánh giá các tác động đến chất lượng môi trường và lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA MÔI TRƯỜNG
Hoàng Ngọc Khắc, Nguyễn Khắc Thành
Vũ Văn Doanh, Lê Đắc Trường
GIÁO TRÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
HÀ NỘI, 2013
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 7
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 7
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 7
1.1.1 Lịch sử phát triển ĐTM 7
1.1.2 Định nghĩa đánh giá tác động môi trường 8
1.1.3 Mục đích của ĐTM 9
1.1.4 Ý nghĩa của ĐTM 9
1.2 CÁC HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG 9
1.2.1 Phân loại đánh giá tác động môi trường 9
1.2.2 Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) 10
1.2.3 Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) 18
1.2.4 Cam kết bảo vệ môi trường (CKBVMT) 27
CHƯƠNG 2 33
TRÌNH TỰ THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 33
2.1 QUY TRÌNH CHUNG 33
2.2 LƯỢC DUYỆT 38
2.3 ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG SƠ BỘ 39
2.4 LẬP BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CHI TIẾT 40
2.4.1 Lập đề cương, tham khảo ý kiến và chuẩn bị tài liệu 40
2.4.2 Phân tích, đánh giá tác động môi trường 41
2.4.3 Các biện pháp giảm thiểu và quản lý tác động 42
2.4.2 Lập báo cáo ĐTM 44
2.5 THAM VẤN CỘNG ĐỒNG TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 54
2.6 THẨM ĐỊNH BÁO CÁO ĐTM 59
2.7 QUẢN LÍ VÀ GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG 64
2.8 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN BẢN CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 69
2.8.1 Lập bản cam kết bảo vệ môi trường (CKBVMT) 69
2.8.2 Đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường 69
2.8.3 Xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường 70
2.8.4 Gửi hồ sơ xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường 71
CHƯƠNG 3 CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG TRONG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 73
3.1 Phương pháp liệt kê số liệu 73
3.2 Phương pháp danh mục 74
3.3 Ma trận môi trường 78
3.4 Chồng bản đồn môi trường 80
3.5 Phương pháp mạng lưới 82
Trang 33.6 Phương pháp đánh giá nhanh 85
3.7 Mô hình hóa môi trường 87
3.8 Phán đoán của chuyên gia (Hệ thống đánh giá môi trường Battelle) 91
3.9 Phương pháp phân tích chi phí lợi ích 93
3.10 Sử dụng chỉ thị và chỉ số môi trường 94
CHƯƠNG 4 ĐÁNH GIÁ CÁC TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG VÀ LẬP BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 98
4.1 Nguyên tắc cơ bản đánh giá tác động của dự án đến môi trường 98
4.2 Nội dung cơ bản đánh giá tác động của dự án đến môi trường 98
4.3 Phân tích, nhận biết tác động môi trường 99
4.4 Đánh giá tác động đến một số yếu tố môi trường 106
4.4.1 Đánh giá tác động đến môi trường không khí 106
4.4.2 Đánh giá tác động đến môi trường nước mặt 107
4.4.3 Đánh giá tác động đến môi trường đất 108
4.4.4 Đánh giá tác động đến môi trường xã hội 108
4.4.5 Đánh giá tác động đến môi trường sinh vật 108
4.4.6 Đánh giá và quản lí rủi ro môi trường 109
4.7 LẬP BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 111
4.7.1 Nội dung đánh giá tác động môi trường sơ bộ 111
4.7.2 Tiến hành đánh giá tác động môi trường 112
4.7.3 Nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường chi tiết 115
4.7.4 Một số nghiên cứu báo cáo ĐTM điển hình 117
4.8 LẬP BẢN CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 149
PHỤ LỤC I 151
PHỤ LỤC II 152
PHỤ LỤC III 161
TÀI LIỆU THAM KHẢO 162
Trang 4Danh mục hình
Hình 2.1 Quy trình ĐTM của Việt Nam 34
Hình 2.2 Chu trình đánh giá tác động môi trường 35
Hình 2.3 Các bước chính của quá trình ĐTM ở Châu Á 36
Hình 2.4 Các bước chính của quá trình ĐTM ở Việt Nam 37
Hình 2.5 Các bước tiến hành lược duyệt 38
Hình 2.6 Các bước xác định mức độ phạm vi đánh giá 40
Hình 3.1: Sơ đồ mạng lưới các nguồn tác động tiềm tàng và hậu quả tác động môi trường 83
Hình 3.2: Sơ đồ mạng lưới về tác động môi trường của dự án nạo luồng tàu 84
Trang 5CHỮ VIẾT TẮT
ADB: Ngân hàng phát triển Châu Á
BVMT: Bảo vệ môi trường
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
CHXHCNVN: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam CKBVMT: Cam kết bảo vệ môi trường
ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM: Đánh giá tác động môi trường
UBND: Uỷ Ban nhân dân
UNDP: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc UNEP: Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc WHO: Tổ chức y tế thế giới
BKHCNMT Bộ khoa học, công nghệ và Môi trường
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
Phát triển kinh tế - xã hội là xu thế tất yếu của hầu hết các quốc gia trên Thế giới Các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc xây dựng và triển khai các dự án đầu tư Các hoạt động phát triển kinh tế xã hội làm môi trường ngày càng trở nên ô nhiễm, suy thoái Để hạn chế và giảm thiểu ô nhiễm cần sử dụng các công cụ quản lý môi trường tổng hợp đa dạng trong đó Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là công cụ quản
lý môi trường chiến lược trong việc lựa chọn các dự án tối ưu, ngăn ngừa giảm thiểu ô nhiễm trước khi các dự án đi vào hoạt động Hiện nay ở Việt Nam Đánh giá tác động môi trường là một chế định lớn trong Luật bảo vệ môi trường (BVMT), nó được đặt ra để các chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý trong lĩnh vực BVMT, xem xét hành vi của các chủ thể nhằm ngăn chặn, kiểm soát những tác động xấu tới môi trường
Giáo trình “Đánh giá tác động môi trường” được biên soạn phục vụ chương trình đào tạo cử nhân ngành môi trường của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Giáo trình này trình bày về tầm quan trọng của đánh giá tác động môi trường trong công tác quản lý và bảo vệ môi trường, trang bị cho sinh viên quy trình thực hiện đánh giá tác động môi trường và các phương pháp sử dụng trong đánh giá tác động môi trường đồng thời sinh viên được phân tích, thực hiện trên các báo cáo đánh giá tác động môi trường đã thực hiện
Đánh giá tác động môi trường ở nước ta là một những nội dung mới được tiếp cận trong những năm gần đây Tài liệu tham khảo và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế Hơn nữa, đây là một trong những giáo trình được biên soạn lần đầu của nhóm tác giả cho nên giáo trình không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi chân thành cảm ơn và tiếp thu các
ý kiến đóng góp của các bạn đọc để sửa chữa, bổ sung cho giáo trình hoàn thiện hơn
Các tác giả
Trang 8Trong xã hội công nghiệp, với sự phát hiện những nguồn năng lượng mới, vật liệu mới và kỹ thuật tiên tiến, con người đã có tác động mạnh mẽ vào tài nguyên thiên nhiên và môi trường, can thiệp một cách trực tiếp và nhiều khi thô bạo vào các hệ thiên nhiên Để “chế ngự” thiên nhiên, con người nhiều khi đã tạo ra những mâu thuẫn sâu sắc giữa mục tiêu phát triển của loài người với các quá trình diễn biến của tự nhiên Để đạt tới những năng suất cao trong sản xuất công nghiệp, con người đã chuyển đổi những dòng năng lượng tự nhiên, cắt nối các xích thức ăn vốn
có của thiên nhiên, đơn điệu hóa các hệ sinh thái, sử dụng năng lượng bổ sung to lớn để duy trì những cân bằng nhân tạo mong manh
Đặc biệt trong nửa cuối thế kỷ 20, sau những năm hồi phục hậu quả của thế chiến thứ hai, hàng loạt các nước tư bản chủ nghĩa cũng như xã hội chủ nghĩa tiếp tục đi sâu vào công nghiệp hóa, nhiều nước mới được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũng có điều kiện phát triển mạnh mẽ nền kinh tế của mình Một số nhân tố mới như cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, bùng nổ dân
số, sự phân hóa các quốc gia về thu nhập đã tạo nên nhiều nhu cầu và khả năng mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên và can thiệp vào môi trường Trật tự bất hợp lý về kinh tế thế giới đã tạo nên hai loại ô nhiễm: “ô nhiễm do dư thừa” tại các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và “ô nhiễm
do đói nghèo” tại các nước chậm phát triển về kinh tế
Tại các nước Tư bản chủ nghĩa phương Tây, trong các năm 60 và đầu 70, sự quan tâm và lo lắng của công chúng đối với tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con người đã trở thành một vấn đề chính trị quan trọng trong xã hội, đòi hỏi nhà nước có đường lối
để giải quyết Một ví dụ tiêu biểu là tại Mỹ, năm 1969, Quốc Hội đã ban hành luật về chính sách quốc gia về môi trường, thường được gọi tắt là NEPA (National Environment Protection Act) Luật này quy định rằng tất cả những kiến nghị quan trọng ở cấp Liên bang về luật pháp, các dự
án và các quy định hoạt động kinh tế, kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được nhà nước chấp thuận phải kèm theo một báo cáo tường tận về tác động đến môi trường Bản hướng dẫn kèm theo luật trình bày một cách chi tiết mục đích, yêu cầu, nội dung và cách thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường Tiếp theo Mỹ, nhiều nước khác như Canada, Australia, Anh, Nhật Bản, CHLB Đức đã lần lượt ban hành những luật pháp hoặc quy định ở mức độ chặt chẽ khác nhau về đánh giá tác động đến môi trường
Trong những năm 1970 - 1980, một số nước đang phát triển đã ban hành những quy định về đánh giá tác động môi trường (ĐTM) Riêng trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, các nước Thái Lan, Hàn Quốc, Phillipines, Indonesia, Malaysia đều đã có những quy định chính thức hoặc tạm thời về ĐTM, và đã thực sự tiến hành nhiều báo cáo về ĐTM cho các hoạt động phát triển của mình Tư liệu của Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNDP) cho thấy rằng tính
Trang 9đến năm 1985, ¾ những nước phát triển đã có quy định về ĐTM ở những mức độ khác nhau, hoặc ít nhất cũng đã hoàn thành một báo cáo về ĐTM
Quá trình phát triển hệ thống ĐTM của Việt Nam có thể chia thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (trước ngày 27 tháng 12 năm 1993): Từ năm 1983, Chương trình nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trường bắt đầu đi vào nghiên cứu phương pháp luận ĐTM Năm 1985, trong Nghị quyết về công tác điều tra cơ bản, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường, Hội đồng Bộ trưởng đã quy định: trong xét duyệt luận chứng kinh tế – kỹ thuật của các công trình xây dựng lớn, hoặc các chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng cần tiến hành ĐTM Đến đầu năm 1993, trong Chỉ thị số 73-TTg về một số công tác cần làm ngay về BVMT, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ thị: “Các ngành, các địa phương khi xây dựng các dự án phát triển, kể cả dự án hợp tác với nước ngoài, đều phải thực hiện nội dung ĐTM trong các luận chứng kinh tế - kỹ thuật” Ngày 10 tháng 9 năm 1993, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã ban hành bản “Hướng dẫn tạm thời về ĐTM”
- Giai đoạn 2 (từ ngày 27 tháng 12 năm 1993 đến ngày 01 tháng 7 năm 2006): Ngày 27/12/1993, Luật BVMT được Quốc hội thông qua và công bố ngày 10 tháng 01 năm 1994 Tại Điều 18 của Luật đã quy định “tất cả các dự án phát triển ở mọi quy mô đều phải lập báo cáo ĐTM để thẩm định Kết quả thẩm định báo cáo ĐTM của dự án là một trong những căn cứ có tính pháp lý để cấp có thẩm quyền xét duyệt dự án hoặc cho phép thực hiện
Nghị định số 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật BVMT (Nghị định có 1 chương riêng về công tác ĐTM, trong đó đáng lưu ý là những quy định cụ thể về các dự án phải lập báo cáo ĐTM, nội dung của một Báo cáo ĐTM sơ bộ, Báo cáo ĐTM chi tiết, thẩm quyền thẩm định và phân cấp thẩm định Báo cáo ĐTM); Ngoài ra, trong giai đoạn này còn một số văn bản khác liên quan đến thủ tục, trình tự, nguyên tắc thẩm định như Thông tư số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày 29 tháng 4 năm 1998 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án đầu tư; Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định Báo cáo ĐTM ban hành kèm theo Quyết định số 04/2003/QĐ-BTNMT ngày
21 tháng 8 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ TN & MT
- Giai đoạn 3 (từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 đến nay): với sự ra đời của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 (ban hành ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006), công tác bảo vệ môi trường được tăng cường hơn, các vai trò, ý nghĩa có ĐTM được nâng cao Việc thực hiện ĐTM được đặt ra với yêu cầu chặt chẽ, rõ ràng hơn cho các dự án đầu tư có nguy cơ tác động
môi trường ở mức độ cao, những dự án đầu tư còn lại thì yêu cầu phải đăng ký bản cam kết bảo vệ
môi trường (thực chất vẫn là hình thức đơn giản của ĐTM) Bên canh hệ thống văn bản pháp luật
được xây dựng và ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã và đang xây dựng và ấn phẩm nhiều hướng dẫn kỹ thuật ĐTM cho các loại hình dự án khác nhau Lực lượng tư vấn lập báo cáo ĐTM, CKBVMT phát triển mạnh về số lượng cũng như chất lượng; năng lực thẩm định báo cáo ĐTM của các cơ quan quản lý nhà nước và của đội ngũ cán bộ được nâng lên đáng kể
1.1.2 Định nghĩa đánh giá tác động môi trường
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam do Quốc hội thông qua trong kỳ họp thứ 8
từ ngày 10 – 29/11/2005, định nghĩa: “Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo
các tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó”
Ngoài ra, có nhiều định nghĩa được đưa ra bởi các nhà khoa học trong nước và trên thế giới
Trang 10Theo GS Lê Thạc Cán, 1994 “ĐTM của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội là xác định,
phân tích, dự báo những tác động lợi và hại, trước mắt và lâu dài mà việc thực hiện hoạt động
có thể gây ra cho tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường sống của con người tại nơi có liên quan tới hoạt động, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng, tránh, khắc phục các tác động tiêu cực”
Định nghĩa được xem là đầy đủ và phù hợp nhất do Harvey đưa ra năm 1995 như sau:
“Đánh giá tác động môi trường là quá trình xác định, đánh giá và dự báo các tác động môi
trường tiềm tàng (bao gồm các tác động địa – sinh – hoá, kinh tế – xã hội và văn hoá) của các
dự án, chính sách và chương trình và thông tin đến các nhà hoạch định chính sách trước khi ban hành quyết định về dự án, chính sách hoặc chương trình đó” (Harvey 1995)
Trang 111.1.3 Mục đích của ĐTM
- ĐTM nhằm cung cấp một quy trình xem xét tất cả các tác động có hại đến môi trường của
các chính sách, chương trình, hoạt động và của các dự án;
- ĐTM tạo ra cơ hội để có thể trình bày với người ra quyết định về tính phù hợp của các
chính sách, chương trình, hoạt động và của các dự án về mặt môi trường, nhằm ra quyết định có
tiếp tục thực hiện hay không;
- ĐTM tạo ra phương thức để cộng đồng có thể đóng góp cho quá trình ra quyết định, thông
qua các đề nghị bằng văn bản hoặc ý kiến gửi tới người ra quyết định;
- Với ĐTM, toàn bộ quá trình phát triển được công khai để xem xét đồng thời lợi ích của tất
cả các bên: chủ dự án, Chính phủ và cộng đồng Điều đó góp phần lựa chọn được dự án tốt hơn
để thực hiện;
- Thông qua ĐTM, nhiều dự án được chấp nhận nhưng phải thực hiện những điều kiện nhất
định, chẳng hạn chủ dự án phải đảm bảo quá trình đo đạc, giám sát, lập báo cáo hàng năm, phải
có phân tích sau dự án và kiểm toán độc lập;
- Trong ĐTM, phải xem xét cả đến khả năng thay thế, chẳng hạn như công nghệ, địa điểm
đặt dự án phải được xem xét hết sức cẩn thận
1.1.4 Ý nghĩa của ĐTM
- ĐTM là công cụ quản lý môi trường quan trọng, nó không thủ tiêu, loại trừ, gây khó dễ cho
phát triển kinh tế - xã hội Ngược lại, nó hỗ trợ phát triển theo hướng đảm bảo hiệu quả kinh tế,
bảo vệ môi trường Vì vậy, nó góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững;
- ĐTM huy động được sự đóng góp của đông đảo tầng lớp trong xã hội, góp phần nâng cao
trách nhiệm của các cấp quản lý, của chủ dự án đến việc bảo vệ môi trường Đồng thời, ĐTM liên kết được các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm giải quyết công việc chung là đánh giá mức độ tác động đến môi trường của các dự án, giúp cho người ra quyết định lựa chọn
được dự án phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường;
- ĐTM khuyến khích công tác quy hoạch tốt hơn và có thể tiết kiệm được chi phí, thời gian
trong thời hạn phát triển lâu dài của dự án Qua các nhân tố môi trường được xem xét trong quá trình ra quyết định ở giai đoạn quy hoạch mà các cơ quan quan lý và Chính phủ tránh được những chi phí không cần thiết, đôi khi tránh được những hoạt động sai lầm, phải khắc phục trong
tương lai;
- ĐTM giúp cho nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn Các đóng
góp của cộng đồng trước khi dự án được đầu tư, hoạt động có thể nâng cao mối liên hệ cộng
đồng và đảm bảo hiệu quả đầu tư;
- Thông qua các kiến nghị của ĐTM, việc sử dụng tài nguyên sẽ thận trọng hơn và giảm
được sự đe dọa của suy thoái môi trường đến sức khỏe con người và hệ sinh thái
1.2 CÁC HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG
1.2.1 Phân loại đánh giá tác động môi trường
Mỗi quốc gia, căn cứ vào những điều kiện cụ thể, loại dự án, quy mô dự án, khả năng gây tác động… mà có quy định mức độ đánh giá đối với mỗi dự án cụ thể
a Theo ngân hàng phát triển Châu Á (ADB - Asian Development Bank), có 3 nhóm sau:
Trang 12- Nhóm A: là những dự án nhất thiết phải tiến hành ĐTM đầy đủ, nghĩa là phải lập, duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường và kiểm soát sau khi dự án đi vào hoạt động Thuộc về nhóm này là những dự án có thể gây tác động lớn làm thay đổi các thành phần môi trường, cả môi trường xã hội, vật lý và sinh học
- Nhóm B: không cần tiết phải tiến hành ĐTM đầy đủ nhưng phải kiểm tra các tác động môi trường Thường thì những dự án thuộc nhóm này là những dự án có quy mô nhỏ hơn các dự án thuộc nhóm A Chẳng hạn, nhà máy nhiệt điện quy mô lớn thì thuộc nhóm A, còn quy mô vừa và nhỏ thì thuộc nhóm B
- Nhóm C: Là nhóm các dự án không phải tiến hành ĐTM Thường thì những dự án này không gây tác hại đáng kể hoặc những tác động đó có thể khắc phục được
b Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 của Việt Nam quy định 3 loại đối tượng:
- Đối tượng phải lập báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) bao gồm:
+ Chiến lược (C), quy hoạch (Q), kế hoạch (K) phát triển kinh tế- xã hội cấp quốc gia + Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực trên quy mô cả nước
+ Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, vùng
+ Quy hoạch sử dụng đất; bảo vệ và phát triển rừng; khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác trên phạm vi liên tỉnh, liên vùng
+ Quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm
+ Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông quy mô liên tỉnh
- Đối tượng phải lập báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) bao gồm:
+ Dự án công trình trọng điểm quốc gia;
+ Dự án có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử- văn hoá, di sản tự nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng;
+ Dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng
có hệ sinh thái được bảo vệ;
+ Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề;
+ Dự án xây dựng mới đô thị, khu dân cư tập trung;
+ Dự án khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn;
+ Dự án có tiềm ẩn nguy cơ lớn gây tác động xấu đối với môi trường;
- Đối tượng phải có bản Cam kết bảo vệ môi trường (CKBVMT) bao gồm: các cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô gia đình có tạo ra chất thải và các đối tượng không thuộc nhóm phải tiến hành ĐMC và ĐTM
1.2.2 Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC)
a Khái niệm về ĐMC ở Việt Nam
Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) là việc phân tích và dự báo các tác động tiềm tàng của các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm đảm bảo phát triển bền vững (Luật BVMT 2005, Chương I, Điều 3, Khoản 19)
Trang 13ĐMC là công cụ (quá trình) hỗ trợ và tạo thuận lợi cho việc ra quyết định, bao gồm những hành động ở cấp độ chiến lược của quá trình ra quyết định, và hướng trọng tâm vào một số vấn
đề liên quan phục vụ cho việc ra quyết định
ĐMC cũng có thể đưa ra những gợi ý đối với công tác ĐTM cho các dự án trong tương lai
và cải thiện chất lượng của công tác này
Vị trí và công nghệ Các phương hướng phát triển (mục tiêu và
kịch bản) và hoạt động đa chiều để đạt được chúng
Các tác động Các tác động cụ thể đến tình
trạng môi trường địa phương–
so sánh với chất lượng môi trường địa phương
Các xu hướng dài hạn (thường liên quan đến các mục tiêu về môi trường/phát triển bền vững) – so sánh với các mục tiêu về môi trường/phát triển bền vững
Các tác động cụ thể thường chỉ được đánh giá nếu trong Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch có các đề xuất dự án cụ thể.
Việc đánh giá Định lượng hơn Định tính hơn (các phán xét của chuyên gia)
Công chúng quan
tâm
Công chúng và các nhóm có tổ chức bị tác động
Chủ yếu là các “công chúng” có tổ chức – các nhóm có sự quan tâm, nhóm chuyên gia
c Vai trò của ĐMC
*Tại sao ĐMC quan trọng?
Trang 14Các nhà ra quyết định phải xem xét nhiều hơn đến các tác động tích lũy và lâu dài của các
*ĐMC có thể làm được gì?
• Đưa ra được một viễn cảnh xem xét liên ngành
• Đẩy mạnh được cách tiếp cận mang tính chiến lược và tổng hợp
• Thảo luận về các các phương án thay thế khác nhau trong khi sự lựa chọn vẫn còn để mở
• Hỗ trợ cho quá trình ra quyết định chiến lược
• Gắn kết được các vấn đề môi trường và các nguyên tắc của tính bền vững vào quá trình xây dựng chính sách và Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• ĐMC trợ giúp cho quá trình xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch và cho các cơ quan có trách nhiệm ra quyết định trong việc xem xét:
• Các xu hướng chủ yếu về môi trường hoặc tính bền vững, các tiềm năng và cơ hội
• Các vấn đề về môi trường hoặc tính bền vững và các mục tiêu liên quan đến Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Các tác động quan trọng về môi trường (có thể cả về kinh tế và xã hội) của các lựa chọn được đề xuất và việc thực hiện các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Ủng hộ và phản đối sự lựa chọn các phương án thay thế khác nhau
• Các biện pháp nhằm tránh hoặc giảm thiểu các tác động tiêu cực và tăng cường các tác động tích cực
• Các ý kiến về các vấn đề trên từ các cơ quan chức năng liên quan và từ công chúng
*Lợi ích của ĐMC:
• Tiết kiệm được thời gian và tiền của cho quá trình ra quyết định chiến lược
• Làm gia tăng sự ủng hộ của công chúng đối với các nhà hoạch định Chiến lược, Quy hoạch,
Kế hoạch và những người ra quyết định
• Nâng cao được chất lượng của việc ra quyết định chiến lược
• ĐMC làm cho tiết kiệm được tiền của
• Do nó là một công cụ để sớm loại bỏ được các dự án phát triển không khả thi mà sau
đó có thể sẽ bị bác bỏ do các nguyên nhân về môi trường (mà trong quá trình lập Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch đòi hỏi nhiều nguồn lực, nhất là thời gian và tiền của, để xây dựng chúng)
• Do nó trợ giúp cho chính phủ tiết kiệm được các chi phí liên quan đến việc giải quyết
các vấn đề về môi trường và sức khỏe ở quy mô rộng lớn có thể được tạo ra bởi các
quyết định chiến lược mơ hồ về mặt môi trường
• ĐMC làm cho tiết kiệm được thời gian
Trang 15• Do nó là một công cụ để sớm giải quyết được các xung đột Nó làm giảm được các rủi ro xảy ra xung đột giữa các bên liên quan về môi trường và giảm được sự chậm trễ trong việc thực hiện các quyết định chiến lược
• Do nó hướng được trọng tâm (và có thể làm đơn giản hóa) cho công tác ĐTM đối với các dự án trong giai đọan thực hiện quyết định chiến lược – điều này giúp tiết kiện được thời gian cũng như tiền của
• ĐMC nâng cao được sự tin cậy của công chúng đối với quá trình xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch và quá trình ra quyết định
• Do nó tạo ra được những cơ hội để công chúng (có thể cả những người có trình độ chuyên môn cao) đóng góp ý kiến cho quá trình xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Nếu được thực hiện tốt, ĐMC có thể giúp huy động được sự hỗ trợ của các bên liên quan chủ chốt trong việc thực hiện các quyết định chiến lược
• ĐMC nâng cao được chất lượng của việc ra quyết định chiến lược
• Do nó làm tăng cường được sự gắn kết giữa phát triển kinh tế và quá trình xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch có tính đếm đến vấn đề môi trường
• Do nó tạo ra khả năng để chính phủ đạt được những mục tiêu về môi trường đã được chính thức phê duyệt
• Do nó trợ giúp để chuyển đổi từng bước trong phát triển kinh tế theo hướng phát triển bền vững
*Chi phí của ĐMC:
• Ở châu Âu, ĐMC có thể bằng 5-10% tổng chi phí xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Chi phí này được coi là chi phí rất nhỏ so với lợi ích về tài chính mà ĐMC mang lại
d Tổng quan về luật pháp, quy định và hướng dẫn thực hiện ĐMC ở Việt Nam
Cơ sở pháp lý vững mạnh cho ĐMC đối với các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch (Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch) (không áp dụng cho các chính sách)
Giao trách nhiệm ĐMC cho các “chủ” xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
Ngoài các tác động về môi trường, ĐMC ở Việt Nam có thể bao gồm cả các tác động về xã hội và kinh tế, tùy thuộc vào sự lựa chọn cách tiếp cận ĐMC cụ thể
Có chương trình rộng lớn về thử nghiệm ĐMC (hơn 20 ĐMC thử nghiệm đã và đang tiến hành)
*Cơ sở pháp lý cho ĐMC
• Luật Bảo vệ môi trường (Luật BVMT) được Quốc hội thông qua 29/11/2005)
• Nghị định Số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật BVMT
• Nghị định Số: 29/2011/NĐ-CP ngày 18/ 04/ 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
• Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08/9/2006 của Bộ TNMT về ĐMC, ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường
Trang 16• Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ TNMT quy định chi tiết một
số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP
• Hướng dẫn kỹ thuật chung về ĐMC của Bộ TNMT
*Luật Bảo vệ Môi trường (Luật BVMT)
• Xác định những đối tượng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch phải tiến hành ĐMC
• Giao nhiệm vụ thực hiện ĐMC cho các cơ quan có trách nhiệm về xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Xác định các vấn đề chính cần giải quyết trong ĐMC – những vấn đề lớn này chủ yếu là các vấn đề về môi trường, ngoài ra còn có cả những vấn đề về xã hội và kinh tế
• Nhấn mạnh đến sự tham gia của nhiều cơ quan hữu quan cụ thể trong quá trình thẩm định ĐMC
Điều 15, Luật BVMT: Các quy định về thực hiện ĐMC
• Các cơ quan được giao nhiệm vụ lập dự án Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch có trách nhiệm lập báo cáo ĐMC
• Báo cáo ĐMC là một nội dung của dự án và phải được lập đồng thời với quá trình lập dự
án Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
Điều 16, Luật BVMT: Nội dung báo cáo ĐMC
• Khát quát về mục tiêu, quy mô, đặc điểm của dự án có liên quan đến môi trường
• Mô tả tổng quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường có liên quan đến
dự án
• Dự báo các tác động tiêu cực đến môi trường có thể xảy ra trong khi thực hiện dự án
• Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá
• Đề ra phương hướng và giải pháp tổng thể giải quyết các vấn đề môi trường trong quá trình thực hiện dự án
Điều 17, Luật BVMT: Thẩm định báo cáo ĐMC
• Báo cáo ĐMC được thẩm định thông qua một hội đồng thẩm định
• Kết quả thẩm định báo cáo ĐMC là căn cứ cho việc phê duyệt Chiến lược, Quy hoạch,
Kế hoạch
• Bộ TNMT – tổ chức hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC của các Chiến lược, Quy hoạch,
Kế hoạch do Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng CP phê duyệt
• Các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ - hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC của các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch do mình phê duyệt
• UBND- hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC của các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch thuộc quyền phê duyệt của mình hoặc của hội đồng nhân dân cùng cấp
*Nghị định số 80/2006/NĐ-CP (Nghị định của Chính phủ ban hành ngày 09/8/2006 về việc
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BVMT)
• Cụ thể hóa vai trò, trách nhiệm và thời hạn đối với việc thẩm định báo cáo ĐMC
• Thời gian cho việc thẩm định báo cáo ĐMC:
• 45 ngày đối với các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch do Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng CP phê duyệt
Trang 17• 30 ngày đối với các Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch khác
*Nghị định Số: 29/2011/NĐ-CP ngày 18/ 04/ 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá
môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường:
Xác định đối tượng thực hiện ĐMC và các hình thức thực hiện ĐMC
1 Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch năm (05) năm trở lên quy định tại phần A Phụ lục I Nghị định này thực hiện đánh giá môi trường chiến lược chi tiết dưới hình thức lồng ghép trong báo cáo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
2 Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch năm (05) năm trở lên quy định tại phần B Phụ lục I Nghị định này thực hiện đánh giá môi trường chiến lược chi tiết dưới hình thức báo cáo riêng
3 Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch năm (05) năm trở lên của các ngành, lĩnh vực cấp quốc gia không thuộc danh mục Phụ lục I Nghị định này thực hiện đánh giá môi trường chiến lược rút gọn dưới hình thức lồng ghép trong báo cáo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
4 Kế hoạch năm (05) năm được xây dựng phù hợp với quy hoạch của ngành, lĩnh vực đã được thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược không bắt buộc thực hiện đánh giá môi trường chiến lược
5 Khuyến khích thực hiện đánh giá môi trường chiến lược đối với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch không quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này
Thời điểm thực hiện và yêu cầu về việc sử dụng kết quả ĐMC
1 Đánh giá môi trường chiến lược phải được thực hiện đồng thời với quá trình lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
2 Kết quả đánh giá môi trường chiến lược phải được tích hợp vào văn bản chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
Nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược
Nội dung chính của báo cáo ĐMC chi tiết dưới hình thức báo cáo riêng bao gồm:
• Mô tả tóm tắt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Quá trình tổ chức thực hiện đánh giá môi trường chiến lược; mô tả phạm vi nghiên cứu của đánh giá môi trường chiến lược và các vấn đề môi trường chính liên quan đến chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Mô tả diễn biến trong quá khứ và dự báo xu hướng của các vấn đề môi trường chính trong trường hợp không thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Đánh giá sự phù hợp của các quan điểm, mục tiêu của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch với các quan điểm, mục tiêu về bảo vệ môi trường; đánh giá, so sánh các phương án phát triển của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Đánh giá tác động đến các vấn đề môi trường chính trong trường hợp thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Tham vấn các bên liên quan trong quá trình thực hiện đánh giá môi trường chiến lược;
• Đề xuất điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường
• Chỉ dẫn nguồn cung cấp số liệu, dữ liệu và phương pháp đánh giá;
• Kết luận và kiến nghị
Trang 18Nội dung chính báo cáo đánh giá môi trường chiến lược chi tiết lồng ghép trong báo cáo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch bao gồm:
• Quá trình tổ chức thực hiện đánh giá môi trường chiến lược; mô tả phạm vi nghiên cứu của đánh giá môi trường chiến lược và các vấn đề môi trường chính liên quan đến chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Đánh giá sự phù hợp của các quan điểm, mục tiêu của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch với các quan điểm, mục tiêu về bảo vệ môi trường; đánh giá; so sánh các phương án phát triển của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Đánh giá tác động đến các vấn đề môi trường chính trong trường hợp thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Tham vấn các bên liên quan trong quá trình thực hiện đánh giá môi trường chiến lược;
• Đề xuất điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường;
• Kết luận và kiến nghị
Nội dung chính của báo cáo đánh giá môi trường chiến lược rút gọn bao gồm:
• Quá trình tổ chức thực hiện đánh giá môi trường chiến lược, phạm vi nghiên cứu của đánh giá môi trường chiến lược và các vấn đề môi trường chính liên quan đến chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Đánh giá tác động đến các vấn đề môi trường chính trong trường hợp thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch;
• Đề xuất điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác động xấu đến môi trường;
• Kết luận và kiến nghị
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể yêu cầu về nội dung báo cáo đánh giá môi trường chiến lược chi tiết và báo cáo đánh giá môi trường chiến lược rút gọn; xây dựng, ban hành các hướng dẫn kỹ thuật đánh giá môi trường chiến lược chuyên ngành
Nghị định Số: 29/2011/NĐ-CP còn hướng dẫn chi tiết về yêu cầu thủ tục Hồ sơ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, quy trình Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, Thời hạn thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, Trách nhiệm của chủ dự án sau khi báo cáo đánh giá môi trường chiến lược được thẩm định, Báo cáo kết quả thẩm định báo cáo đánh giá môi trường chiến lược, và Trách nhiệm của cơ quan thẩm định, phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
* Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT (Thông tư của Bộ TNMT ngày 08/9/2006 về hướng dẫn
thực hiện ĐMC, ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường)
• Chi tiết hóa các thủ tục ĐMC
• Chi tiết hóa nội dung của báo cáo ĐMC (yêu cầu chủ yếu về đánh giá các tác động môi trường, nhưng ở mức độ nhất định có cả các tác động về xã hội và kinh tế nữa)
• Hướng dẫn kỹ thuật chung về ĐMC của Bộ TNMT
• Do Bộ TNMT xây dựng – tổng hợp các bài học từ các ĐMC thử nghiệm ở Việt Nam và các kinh nghiệm của Châu Âu
Trang 19• Xác định các bước đánh giá chính và mối liên kết giữa chúng với quá trình xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Đưa ra các đề xuất về việc huy động sự tham gia của công chúng và gợi ý thực hành
• Trình bày một cách tổng quát về những phương pháp cơ bản để thực hiện ĐMC ở Việt Nam
e Những người tham gia chính trong qúa trình ĐMC
*Các bên tham gia trực tiếp trong quá trình ĐMC
• Các cơ quan được giao nhiệm vụ xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành ĐMC
• Các cấp chính quyền có trách nhiệm phê duyệt Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Các thành viên của hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC
• Các tổ chức có mối quan tâm đến việc góp ý cho ĐMC (các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức phi chính phủ)
• Các bên liên quan khác (công chúng, giới kinh doanh)
*Các bên tham gia trực tiếp trong quá trình ĐMC – Yêu cầu pháp lý
• Thông tư 08/2006/TT-BTNMT, Phần 1- Mục II
Cơ quan được giao nhiệm vụ lập Dự án Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch phải thành lập một nhóm công tác bao gồm các chuyên gia môi trường, các nhà khoa học liên quan để thực hiện ĐMC và lập báo cáo ĐMC
• Luật Bảo vệ Môi trường, Điều17
Khoản 2: Thành phần của hội đồng thẩm định báo cáo ĐMC bao gồm đại diện của UBND, các cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường và các chuyên môn liên quan khác, các chuyên gia có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung và tính chất của dự án; và các đại diện của các tổ chức và cá nhân khác do cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng thẩm định quyết định
f Các nguyên tắc hướng dẫn áp dụng ĐMC
• Phải được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền về Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Phải được áp dụng càng sớm càng tốt trong quá trình ra quyết định
• Cần hướng trọng tâm vào những vấn đề cốt lõi
• Tập trung sự đánh giá vào các phương án hợp lý
• Tạo ra được những cơ hội thích hợp cho sự tham gia của các bên hữu quan và của công chúng
• Được tiến hành với những phương pháp và kỹ thuật phân tích có hiệu quả về mặt chi phí
Trang 20*Về cơ bản ĐMC phải làm được những gì?
• Huy động được sự tham gia của các bên liên quan chủ yếu
• Cung cấp được các thông tin đầu vào thật sớm và “thân thiện vớI người sử dụng” phục
vụ cho việc soạn thảo Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch (ví dụ như các phương án lựa chọn, các biện pháp giảm thiểu tác động )
• Đưa ra được một cách nhìn tổng quan mang tính sâu rộng nhưng có thể chưa đủ chi tiết
về các vấn đề về môi trường, kinh tế và xã hội (các rủi ro, các cơ hội) của các đề xuất phát triển
• Phân tích kỹ lưỡng được các tác động tích cực và tiêu cực về môi trường (ví dụ như các
xu hướng biến đổi lâu dài, các tác động tích lũy…)
*Bốn lý do mà ĐMC có thể làm tăng thêm giá trị cho việc ra quyết định chiến lược
• Nó lồng ghép được các vấn đề về môi trường và tính bền vững và được xem như là nhân
tố chủ chốt để ra quyết định
• Nó tạo ra cơ hội để thảo luận về các phương án lựa chọn khi chúng còn đang được để ngỏ
• Nó thúc đẩy được sự hợp tác về thể chế và giải quyết được các mâu thuẫn về chính sách giữa các ngành
• Nó biến các vấn đề khó khăn thành những cơ hội và thúc đẩy được giải pháp các bên cùng có lợi
• Việc xác định những hạn chế và cơ hội về môi trường
• Những gợi ý để tối ưu hóa các định hướng phát triển của Chiến lược, Quy hoạch,
Kế hoạch (ví dụ định hướng từ việc quản lý dựa theo việc đáp ứng nhu cầu sang quản lý dựa theo nhu cầu);
• Những gợi ý để tốI ưu hóa các hành động được đề xuất (bản chất, trình tự, quy mô/địa điểm, v.v…);
• Những gợi ý để tối ưu hóa việc tổ chức thực hiện
• Kết quả thứ cấp của quá trình ĐMC là một báo cáo ĐMC, trong đó:
• Đảm bảo rằng các nhà ra quyết định và các bên hữu quan có thể thẩm định được chất lượng của một báo cáo ĐMC đích thực
• Phải chứa đựng các thông tin yêu cầu về mặt pháp lý
• Được sử dụng để thẩm định Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch
• Vai trò của ĐMC trong qúa trình đánh giá tính bền vững
Trang 21• Coi ĐMC như là một trong những công cụ phân tích và qúa trình chủ yếu để đạt được kết quả của sự phát triển bền vững bằng cách:
• Những yêu cầu ưu tiên để thực hiện tốt công tác ĐMC
• Bối cảnh chính sách (chính sách về tính bền vững, các mục tiêu và chiến lược)
• Hệ thống ra quyết định có trách nhiệm
• Các quá trình ra quyết định thích ứng
• Lồng ghép và điều phối tốt với các quá trình xây dựng Chiến lược, Quy hoạch, Kế hoạch và ra quyết định
• Cách tiếp cận đơn giản, có tính tương tác và linh hoạt
• Cách tiếp cận tổng hợp về quy mô và mốI tương tác chéo giữa các nhân tố liên quan
• Khả năng tiếp cận với thông tin (ví dụ với báo cáo hiện trạng môi trường)
• Hướng dẫn để thực hành tốt
• Sự trình diễn về các lợi ích – ví dụ về các thực hành tốt và xấu
• Quá trình có sự tham gia, bao gồm các cơ quan khác nhau, các nhóm công chúng
có những ưu tiên và sở thích riêng
• Các thông tin đầu vào cho quyết định: là các kết quả ĐMC kịp thời, thích hợp và
có sức thuyết phục
• Chuyển biến về thái độ, thủ tục mới trong việc ra quyết định
1.2.3 Đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
a Đối tượng cần đánh giá tác động môi trường
Đối tượng của ĐTM đã ít nhiều được đề cập đến ở những phần trên Đối tượng chính thường gặp và có số lượng nhiều nhất là các dự án phát triển cụ thể Mỗi quốc gia, căn cứ vào điều kiện
cụ thể, loại dự án, quy mô dự án và khả năng gây tác động mà có quy định mức độ đánh giá đối với mỗi dự án cụ thể Theo Luật BVMT Việt Nam, ban hành 2005, trong điều 18, mục 2 của chương III quy định các đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Đó là các dự
án công trình quan trọng quốc gia; dự án có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ; dự án xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh
tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề…
Đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định chi tiết tại Phụ lục II Nghị định Số: 29/2011/NĐ-CP của chính phủ; bao gồm 146 loại hình dự án phải lập báo cáo ĐTM:
b Đối tượng bị tác động
Theo đối tượng tác động có thể xét một số loại chính sau:
Trang 22- Môi trường và sinh thái: tác động lên môi trường không khí, nước, hệ sinh thái, đa dạng sinh học, danh thắng, cảnh quan tự nhiên và nhân tạo, di tích lịch sử văn hoá, phát triển và quản
lý giao thông, xói mòn và suy thoái đất, thoát nước, không gian, phát sinh và quản lý chất thải, khí hậu
- Tài nguyên thiên nhiên: tác động lên đất nông nghiệp, hệ động thực vật, tài nguyên rừng, cung cấp nước (kể cả nước ngầm), tài nguyên khoáng sản và thài nguyên biển, tài nguyên năng lượng, vật liệu xây dựng, đất ngập nước, rừng ngập mặn, san hô, rừng mưa, rừng cây bụi,
- Môi trường xã hội: tác động lên các mô hình tái định cư, sử dụng đất, nhà ở, đời sống xã hội, phúc lợi, phương tiện giải trí, trang bị và dịch vụ công cộng, vấn đề an toàn, cộng đồng bản địa, nhóm thiểu số, thế hệ trẻ, nạn thất nghiệp, người cao tuổi, tàn tật, phụ nữ và các khía cạnh khác của cộng đồng chịu tác động, sức khỏe,…
- Kinh tế: tác động đến cơ hội có việc làm, khả năng tiếp cận các phương tiện, dịch vụ và việc làm, hạ tầng cơ sở đô thị, khả năng lựa chọn và giá thành hàng hoá, dịch vụ hợp lý, mặt bằng giá địa phương, chi phí hạ tầng cơ sở và khoản đóng góp, thu nhập thực tế, giá đất và hiệu ứng luỹ tiến có thể
c Tổ chức và quản lý công tác ĐTM
Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân tham gia vào quá trình ĐTM
ĐTM là công cụ trong quản lý môi trường, nó có liên hệ hai chiều với các công cụ khác, cũng có nghĩa là việc tổ chức và quản lý công tác này phải có sự kết hợp, thống nhất với các cơ quan liên quan Có thể tách các cơ quan này thành 4 nhóm có chức năng và sự tham gia khác nhau vào quá trình ĐTM
Cơ quan ban hành luật về bảo vệ môi trường và ĐTM
Quốc hội ban hành các luật cơ bản như Luật BVMT, Luật khoáng sản, Luật đất đai, Các
cơ quan này không những ban hành Luật, chủ trương, chính sách mà còn theo dõi việc thực hiện trong thực tế để có thể điều chỉnh cho phù hợp
Cơ quan quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Chính phủ, các Bộ, các ngành, chính quyền địa phương có trách nhiệm quản lý toàn bộ tài nguyên thiên nhiên Đối với ĐTM có chức năng như sau:
- Cụ thể hóa và đưa ra các văn bản hướng dẫn việc tiến hành các điều luật liên quan đến ĐTM
- Duyệt, thẩm định các báo cáo ĐTM
- Kiểm tra và giám sát những cam kết trong ĐTM của dự án đưa ra
Cơ quan thực thi ĐTM
Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam đã quy định trách nhiệm thực thi ĐTM:
- Chủ dự án đã quy định trong điều về đối tượng phải lập báo cáo ĐTM có trách nhiệm thực thi ĐTM và trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
- Chủ dự án tự mình hoặc thuê tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM và chịu trách nhiệm
về các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo ĐTM
- Tổ chức dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM phải có đủ điều kiện về cán bộ, chuyên môn, cơ
sở vật chất – kỹ thuật cần thiết
Tại sao lại chọn chủ dự án là cơ quan phải thực thi ĐTM?
Trang 23- Chủ dự án là người am hiểu về các hoạt động dự án nhất (công nghệ, nguyên nhiên liệu, sản phẩm đầu ra), và khả năng tác động của dự án tới môi trường
- Chủ dự án sẽ là người thực thi các biện pháp giảm thiểu, xử lý các ảnh hưởng gây ra đối với môi trường nên các giải pháp mà họ đề xuất sẽ có tính khả thi cao
- Chủ dự án có thể tối thiểu hóa được chi phí cho ĐTM khi ghép các hoạt động đánh giá cùng với các hoạt động sản xuất của họ
- Tính khách quan của công tác ĐTM vẫn đảm bảo nếu có cơ chế nhận xét, thẩm định thích hợp
- Kinh phí cho công tác ĐTM được lấy từ chủ dự án, không phải từ nguồn ngân sách nên chủ dự án tiến hành ĐTM sẽ tiết kiệm hơn
Cơ quan thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
- Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án do Quốc hội, chính phủ, thủ tướng chính phủ quyết định, phê duyệt, dự án liên ngành, liên tỉnh… bao gồm 11 loại hình dự án được xác định chi tiết trong Phụ lục III, Nghị định số 29/2011/NĐ-CP
- Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án thuộc quyền quyết định, phê duyệt của mình trừ dự án liên ngành, liên tỉnh
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức hội đồng thẩm định hoặc tuyển chọn tổ chức dịch vụ thẩm định báo cáo ĐTM đối với dự án trên địa bàn quản lý thuộc thẩm quyền quyết định, phê duyệt của mình và của hội đồng nhân dân cùng cấp
- Thành phần hội đồng thẩm định đối với dự án lớn (dự án liên ngành, liên tỉnh, dự án do Quốc hội, chính phủ, thủ tướng chính phủ, bộ phê duyệt), bao gồm: đại diện cơ quan phê duyệt
dự án; cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường của cơ quan phê duyệt dự án; cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh nơi thực hiện dự án; các chuyên gia có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp với nội dung của dự án; đại diện của tổ chức, cá nhân khác do cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng thẩm định quyết định
- Thành phần hội đồng thẩm định đối với dự án trên địa bàn của tỉnh và do tỉnh phê duyệt, bao gồm: đại diện ủy ban nhân dân cấp tỉnh; cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường và các sở; các chuyên gia có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn phù hợp với nội dung dự án; đại diện
tổ chức và cá nhân khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập hội đồng thẩm định quyết định
- Cơ quan thành lập hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM có trách nhiệm xem xét và phê duyệt báo cáo ĐTM sau khi đã được thẩm định
Cơ quan tham gia hỗ trợ và nhận xét
Trách nhiệm thực hiện ĐTM thuộc về chủ dự án Song vẫn cần sự hỗ trợ, tư vấn, nhận xét, đánh giá của cộng đồng và các cơ quan khác Kiến thức sử dụng trong ĐTM rất rộng, vì vậy cần
có sự tham gia của các Viện nghiên cứu, các trường đại học và của các chuyên gia
Các chuyên gia môi trường có vai trò, trách nhiệm sau:
Có thể giúp chủ dự án thực hiện ĐTM
• Nghiên cứu môi trường
• Đề xuất, thiết kế các biện pháp giảm thiểu, lập kế hoạch quản lý và giám sát môi trường
Trang 24• Ngoài ra các chuyên gia môi trường còn có thể là thành viên hội đồng thẩm định ĐTM
Các tổ chức quốc tế có vai trò sau:
• Trợ giúp về mặt kỹ thuật ĐTM cho các nước
• Cung cấp chuyên gia ĐTM
• Cung cấp tài liệu kỹ thuật, các phương pháp, chuẩn cứ để đánh giá
• Trao đổi và chuyền đạt kinh nghiệm về ĐTM
Các trường đại học, các Viện, trung tâm nghiên cứu có vai trò sau:
• Đào tạo nhân lực cho công tác ĐTM
• Cung cấp chuyên gia thực hiện ĐTM
• Có thể là thành viên hội đồng thẩm định
Vai trò của cộng đồng và cá nhân
Cộng đồng ở nơi đặt dự án là những người trực tiếp chịu tác động của dự án, vì vậy họ có quyền được biết và được tham gia vào quá trình ĐTM Vấn đề là phải tạo cơ chế như thế nào để
sự đóng góp của cộng đồng mang lại hiệu quả cao
Cộng đồng có vai trò sau:
• Tham gia vào suốt quá trình ĐTM;
• Những ý kiến đóng góp của cộng đồng là cơ sở để chủ dự án hạn chế các tác động;
• Cộng đồng còn là nơi giám sát các tác động của dự án;
• Sự tham gia của cộng đồng càng sớm thì hiệu quả công tác ĐTM càng cao
d Kết quả đánh giá tác động môi trường
• Chính phủ cũng biết sự liên quan của các tác động có hại do dự án mang lại đối với dự
án khác đang được khuyến khích đề xuất
• Cơ quan điều chỉnh cũng biết được phạm vi của các tác động môi trường và chúng có được chấp nhận không
• Cơ quan lập kế hoạch vùng có thể biết tác động sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các dự án sau đó cũng như đến sử dụng lãnh thổ
• Cộng đồng địa phương hoặc cơ quan đại diện của họ biết được khả năng ảnh hưởng của các tác động lên chất lượng sống của họ
• Các chính trị gia có thông tin về ai phải chịu tác động, phương thức tác động và các vấn
đề có thể liên quan
*Những vấn đề thường gặp trong việc thực hiện ĐTM
Theo khảo sát, một số vấn đề sau thường gặp trong thực hiện ĐTM:
Trang 25- ĐTM thường bị né tránh:
Nhìn chung ĐTM là một công việc được pháp luật quy định, nhưng nhiều khi tiếng nói của
cơ quan môi trường kém giá trị dẫn đến việc nhiều dự án có tác động đáng kể vẫn không thực hiện ĐTM
- ĐTM còn thiếu hòa nhập với quy hoạch:
Điều này thường xảy ra đối với ĐTM ở cấp chương trình, chính sách bởi vì ở cấp này rất khó so sánh với các dự án thay thế Ngay cả ở cấp dự án, đôi khi ĐTM được tiến hành trước khi
có quy hoạch Vì vậy việc quy hoạch, kế hoạch môi trường mất hết ý nghĩa đối với dự án
- ĐTM còn hạn chế đối với cấp chương trình, chính sách:
Nhìn chung ĐTM mới được áp dụng rộng rãi trong các dự án cụ thể Liệu các chương trình, chính sách có gây tác động môi trường hay không và có cần ĐTM hay không Cho đến nay, cách thức thực hiện ĐTM cho các loại hình : chương trình, chính sách, quy hoạch vẫn đang được hoàn chỉnh Hy vọng trong tương lai gần sẽ có những tài liệu hướng dẫn ĐTM cho các loại dự án này
- Các tác động tích lũy thường chưa được xem xét kỹ trong ĐTM
Người ta thường phân biệt các tác động tích lũy thành:
+ Các tác động gây nên bởi nhiều hoạt động cộng lại, thường là của các hoạt động tương lai;
+ Các tác động tích lũy theo thời gian
Như vậy, nếu chỉ có ĐTM của các dự án cụ thể thì khó tính đến các kiểu tác động loại này ĐTM chiến lược phần nào xem xét, đánh giá được các tác động loại này nhưng lại chưa được áp dụng rộng rãi
Ngay trong ĐTM các dự án cụ thể cũng cần phải tính đến các tác động loại này, nghĩa là phải tính đến cả dự án đồng thời hoạt động trong khu vực cũng như những dự án đã hoạt động trước đó
- Thiếu sự tham gia của cộng đồng
Lợi ích do sự tham gia của cộng đồng đã được chỉ ra ở các phần trên Song nhiều khi sự tham gia này lại không được phát huy tác dụng, không đạt được mục đích Nguyên nhân dẫn đến những điều kể trên có thể là do:
+ Chưa đánh giá đúng khả năng đóng góp của cộng đồng nên không tạo điều kiện để cộng đồng tham gia;
+ Chưa có cơ chế để cộng đồng tham gia có hiệu quả;
+ Trình độ hiểu biết và ý thức tham gia của cộng đồng chưa cao
Cả ba nguyên nhân trên cần được tháo gỡ, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, cộng đồng rất ít được tham gia vào các công tác xã hội
- Các biện pháp giảm nhẹ các tác động có hại thường không được thực thi
Trong kết luận của ĐTM thường có phần kiến nghị các biện pháp giảm thiểu các tác động
có hại, nghĩa là biện pháp mà chủ dự án sẽ phải thực hiện cùng với hoạt động dự án của mình Thế nhưng nhiều dự án vẫn không thực hiện các biện pháp này, sở dĩ có hiện tượng trên có thể là do:
+ Thiếu cơ chế kiểm tra của các cơ quan quản lý môi trường;
+ Thiếu kinh phí;
Trang 26+ Chủ dự án thiếu ý thức, nhiều khi tìm cách che mắt cơ quan kiểm tra hoặc tìm kẻ hở của pháp luật để né tránh
Yêu cầu đối với ĐTM
Công tác ĐTM nói chung và báo cáo đánh giá tác động môi trường nói riêng phải đạt được những yêu cầu sau đây:
• Phải thực sự là công cụ giúp cho việc lựa chọn quyết định Thực chất của ĐTM là cung cấp thêm tư liệu đã được cân nhắc, phân tích một cách khoa học về những lợi ích và tổn thất có thể về tài nguyên môi trường để cơ quan có trách nhiệm ra quyết định; có điều kiện lựa chọn phương án hành động phát triển một cách hợp lý, chính xác hơn;
• Phải đề xuất được phương án phòng tránh, giảm bớt các tác động tiêu cực, tăng cường các mặt có lợi mà vẫn đảm bảo các mục tiêu và yêu cầu của phát triển Có thể nói rằng, không
có hoạt động phát triển nào có thể đáp ứng những yêu cầu cấp bách trước mắt của con người mà không làm tổn hại ít hoặc nhiều đến tài nguyên môi trường ĐTM phải làm rõ điều đó, tuy nhiên, không phải để ngăn cản sự phát triển của kinh tế – xã hội, mà là để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các hoạt động đó Vì vậy, ĐTM có trách nhiệm nghiên cứu, góp phần đề xuất biện pháp bảo vệ, thậm chí cải thiện được tình hình tài nguyên môi trường Nếu phương án đã đề xuất không thể chấp nhận được vì gây tổn hại quá lớn đến tài nguyên môi trường thì phải đề xuất phương hướng thay thế phương án;
• Phải là công cụ có hiệu lực để khắc phục những hậu quả tiêu cực của các hoạt động đã được hoàn thành hoặc đang tiến hành Trong thực tế, nhất là tại các nước đang phát triển, nhiều hoạt động phát triển đã được hoàn thành hoặc đang tiến hành, nhưng lúc đề xuất chưa có ĐTM Hiện tại, những hoạt động đó đang có những tác động tiêu cực đến tài nguyên môi trường Đối với những hoạt động như vậy cần thực hiện ĐTM, trên cơ sở đó
đề xuất các biện pháp khắc phục hoặc hạn chế các tác động tiêu cực đó;
• ĐTM phải là một hoạt động khoa học mang tính liên ngành, phải huy động nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật thuộc các ngành liên quan tham gia công tác ĐTM, hình thành những tập thể khoa học có nhiều kiến thức, kinh nghiệm và phương pháp luận cần thiết, phù hợp với nội dung và yêu cầu của ĐTM trong từng trường hợp cụ thể;
• Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải rõ ràng, dễ hiểu Khoa học môi trường rất phức tạp, nội dung khoa học xem xét trong ĐTM rất phong phú Tuy nhiên, phải rõ ràng,
dễ hiểu, dùng ngôn ngữ, thuật ngữ phổ thông Cách diễn đạt và trình bày phải cụ thể, thiết thực, có sức thuyết phục, giúp cho người quyết định nhìn thấy vấn đề một cách rõ ràng, khách quan, và từ đó quyết định đúng đắn, kịp thời;
• Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải chặt chẽ về pháp lý Báo cáo đánh giá tác động môi trường không những là cơ sở khoa học, mà còn là cơ sở pháp lý giúp cho việc quyết định những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội, liên quan đến đời sống
và quyền lợi vật chất, tinh thần của nhân dân trong một quốc gia hoặc một địa phương;
• Hợp lý trong chi tiêu cho ĐTM ĐTM là một việc làm tốn kém, đòi hỏi nhiều thời gian Kinh nghiệm ở những nước đang phát triển cho thấy: việc hoàn thành một báo cáo đánh giá tác động môi trường ở cấp quốc gia đòi hỏi thời gian từ 6 – 10 tháng, chi phí từ hàng chục ngàn đến hàng triệu dollar cho việc thực hiện một báo cáo đánh giá tác động môi trường,
• Đặc biệt, cần chú ý tránh việc tiến hành ĐTM lúc đã có thể xác định rằng hoạt động phát triển không có tác động tiêu cực đáng kể đến môi trường Cũng cần tránh việc trùng lặp
Trang 27trong thu thập số liệu, đo đạc, khảo sát, phục vụ ĐTM của nhiều hoạt động phát triển cùng xảy ra trên một khu vực Phải tận dụng các kết quả nghiên cứu, hoặc kết quả ĐTM có tại chỗ, hoặc tại các nơi tương tự
e Quan hệ của ĐTM với các công cụ quản lý môi trường
Nhà nước thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững bằng các công cụ quản lý môi trường Các công cụ có chức năng, khả năng cũng như phạm vi áp dụng khác nhau, nhưng có chung mục đích là phát triển bền vững, chất lượng môi trường được duy trì và nâng cao
*Chính sách, chiến lược
Chính sách bảo vệ môi trường, phát triển bền vững là công cụ để chỉ đạo toàn bộ hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển bền vững trên một phạm vi rộng lớn, trong khoảng thời gian dài Chính sách phải nêu lên mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và các định hướng lớn
để thực hiện mục tiêu Chính sách phải hợp lý, dựa trên cơ sở vững chắc về khoa học và thực tiễn
Chiến lược cụ thể hóa chính sách ở mức độ nhất định Chiến lược xem xét mối quan hệ giữa các mục tiêu do chính sách xác định và nguồn lực có thể có để thực hiện các mục tiêu này Trên
cở sở này lựa chọn các mục tiêu khả thi, xác định các phương hướng, biện pháp lớn để thực thi Chiến lược vừa phải có tính hợp lý, vừa phải có tính khả thi Chiến lược quốc gia bảo vệ thiên nhiên và môi trường của nước ta đề xuất năm 1986 là một ví dụ về chiến lược bảo vệ môi trường Hiện nay trên thế giới, không những có chính sách, chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, mà còn có chính sách, chiến lược bảo vệ môi trường cho toàn cầu, hoặc cho khu vực do các tổ chức quốc tế hoặc khu vực soạn thảo và thực hiện
Công cụ chính sách, chiến lược có mối quan hệ hai chiều với ĐTM Một mặt, ĐTM các dự
án cụ thể phải thực hiện trong khuôn khổ các chính sách, chiến lược; mặt khác, các chính sách, chiến lược lại là đối tượng của ĐTM chiến lược
Những luật, quy định, chế định nêu trên có mối quan hệ rất khăng khít với ĐTM Luật quy định công tác ĐTM giúp công tác này có cơ sở để thực hiện Chương III, Luật bảo vệ Môi trường 2005 quy định rất rõ việc ĐTM đối với dự án đang và sẽ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam
Các luật đất đai, luật bảo vệ rừng, luật khoáng sản, … cung cấp những cơ sở pháp lý cho việc ĐTM đối với các dự án liên quan đến lĩnh vực sử dụng các tài nguyên này
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 08 năm 2006 của Chính phủ Việt Nam và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 2 năm 2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP; đã cụ thể hóa và quy định chi tiết việc thi hành Luật bảo vệ Môi trường, trong đó có ĐTM Trong nghị định có nhiều phụ lục hướng dẫn về nội dung ĐTM, phân
Trang 28cấp, thẩm định báo cáo Nghị định số 29/2011/NĐ-CP điều chỉnh một số quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.
Một văn bản hết sức quan trọng có ở tất cả các quốc gia và một số tổ chức thế giới, đó là tiêu chuẩn môi trường Tiêu chuẩn môi trường rất đa dạng, bao gồm nhiều yếu tố, đại lượng đặc trưng cho chất lượng môi trường Danh mục các tiêu chuẩn là một trong những căn cứ quan trọng để xác định mức độ đáng kể của tác động
* Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam quy định tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định, dùng làm căn cứ để quản lý môi trường Như vậy, các dự án không được gây tác động đến môi trường vượt quá tiêu chuẩn quy định Ví dụ, dự án thải khí độc hại, nhưng nồng độ của chúng ở các khu dân cư không được vượt quá tiêu chuẩn cho phép Nước thải, khi đổ vào các thủy vực cũng phải có các chỉ tiêu nằm trong giới hạn cho phép Tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam đã được ban hành, nhưng chưa thật ổn định, tuy nhiên, nó vẫn là căn
cứ quan trọng để đánh giá tác động của các dự án đến môi trường
Như vậy, công cụ luật pháp giúp công tác ĐTM trở thành một công việc bắt buộc, đồng thời
nó cung cấp cơ sở đề tiến hành công tác này thuận lợi hơn Do đó, khi tiến hành ĐTM, nhất thiết phải thu thập và nghiên cứu tất cả các văn bản luật, cũng như các quy định, nghị định liên quan Đôi khi, công việc này khá vất vả, vì số lượng các văn bản này khá lớn, lại hay thay đổi, đặc biệt
là ở các nước đang phát triển
*Kế hoạch hóa
Với nền kinh tế phát triển, kế hoạch hóa là công cụ không thể thiếu được Ngay cả việc bảo
vệ môi trường trên quy mô lớn cũng cần phải được quy hoạch nhằm đảm bảo khả năng thực tế cho việc thực thi Quy hoạch môi trường có mối quan hệ mật thiết với các quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch phát triển lãnh thổ, quy hoạch sử dụng tài nguyên Trong các quy hoạch tổng thể, tài nguyên môi trường được xem xét một cách khái quát, dài hạn, còn trong các kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, chúng được đề cập chi tiết hơn, đồng bộ và cân đối hơn giữa mục tiêu
và nguồn lực Ở các nước phát triển, các kế hoạch được lập và thực thi rất hiệu quả Song, ở các nước đang phát triển, công tác này còn hạn chế do thiếu kinh nghiệm và nguồn lực về kinh tế, kỹ thuật
ĐTM các dự án cụ thể phải bám sát công tác kế hoạch hóa, trên cơ sở đó mà có các đánh giá phù hợp Chẳng hạn, việc đánh giá một tác động ở vùng được quy hoạch để cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt, phải khác vùng không quy hoạch
Ngược lại, các quy hoạch lãnh thổ lại là đối tượng của ĐTM, nghĩa là phải xem xét sự phù hợp của nó đối với việc bảo vệ môi trường Nếu bước quy hoạch đúng, thì các dự án thực thi sẽ không gây tác động đáng kể đến chất lượng tài nguyên và môi trường sống, khi đó, nó sẽ mang lại lợi ích cho con người Ngược lại, quy hoạch bất hợp lý có thể mang lại tổn thất về tài nguyên
và môi trường, cần đến chi phí để khắc phục
Như vậy, tương ứng với chính sách, chiến lược phát triển kinh tế xã hội, cần có chính sách, chiến lược bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững Hai loại chính sách, chiến lược này thống nhất, hỗ trợ nhau để đảm bảo các mục tiêu phát triển chung Những người lập chính sách
hỗ trợ phát triển sẽ phải góp phần điều chỉnh chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế hơn
Hệ thống pháp luật về môi trường cũng phải đưa ra trên cơ sở hiểu biết về các điều kiện môi trường và phương hướng phát triển kinh tế Nếu luật pháp không phù hợp có thể gây cản trở phát triển kinh tế, hoặc gây tổn thất cho thiên nhiên và môi trường
Trang 29Ở mức quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, các yếu
tố môi trường, tài nguyên phải được xem xét kỹ, vì đây là những đối tượng có thể gây tác động trực tiếp đến môi trường
Cấp dự án cụ thể là cấp được ĐTM đề cập đến nhiều nhất và trực tiếp nhất Với loại dự án này, ĐTM phân loại, đánh giá mức độ tác động, lập báo cáo gửi các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định, và chính tài liệu này sẽ là một trong những cơ sở giúp cho việc lựa chọn đi đến quyết định cuối cùng
*Thông tin dữ liệu
Bảo vệ môi trường là công việc đòi hỏi cơ sở khoa học liên ngành, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Chỉ tính riêng khoa học tự nhiên, ta đã thấy mối quan hệ của công tác này với các ngành sinh vật học, thủy văn học, khí tượng học, lâm nghiệp, hải dương học,… Nghĩa là khi
xử lý một vấn đề môi trường, ta cần tổng hợp kiến thức của nhiều ngành Mỗi ngành khoa học lại cần một hệ thống thông tin, dữ liệu riêng, chẳng hạn nghiên cứu khí hậu học, ta phải có số liệu
đo đạc của rất nhiều trạm với nhiều yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, gió, mưa, áp suất khí quyển, …
Do vậy, số lượng các yếu tố cũng như độ dài các dãy số liệu cần cho công tác nghiên cứu bảo vệ môi trường rất lớn Tất nhiên, chúng ta có thể tổ chức đo trực tiếp các yếu tố đặc trưng cho chất lượng môi trường mà chưa có trong các phép đo của các ngành này
Ở các nước phát triển đã hình thành mạng lưới đo đạc các yếu tố môi trường, được gọi là hệ thống monitoring Hệ thống này bao gồm nhiều trạm đo đạc, thu thập các yếu tố như nồng độ các chất ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất, tiếng ồn, … Tùy theo mục đích, quy mô nghiên cứu mà người ta bố trí vị trí đo, soạn thảo quy trình đo và tần suất đo thích hợp, đảm bảo
số liệu thu được có thể trả lời được các câu hỏi, vấn đề đặt ra Nhìn chung, việc thiết lập hệ thống monitoring khá tốn kém với chi phí máy móc, thiết bị duy trì trạm, … Chính vì vậy, ở các nước đang phát triển, hệ thống này còn rất hạn chế, đòi hỏi phải đầu tư thêm Ở Việt Nam, hệ thống monitoring mới được hình thành, nên còn thiếu thốn cả về máy móc, thiết bị lẫn quy trình, quy phạm và nhân lực
Ngoài số liệu đo đạc ở mặt đất, chúng ta còn có thể sử dụng các số liệu quan trắc từ vệ tinh,
số liệu viễn thám Với kỹ thuật khai thác hiện đại, các số liệu viễn thám trở thành cơ sở tin cậy cho các luận cứ khoa học nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng
Công cụ thông tin dữ liệu có tính chất quyết định đến sự đúng đắn và độ chính xác của các nhận định về hiện trạng tài nguyên, dự báo diễn biến các yếu tố môi trường, cũng như tác động môi trường của dự án đã, đang và sẽ hoạt động Số liệu sẽ giúp chúng ta đánh giá hiện trạng môi trường, làm nền cho đánh giá tác động của các dự án sẽ tác động đến môi trường khu vực Số liệu đo đạc khi dự án đã hoạt động sẽ giúp điều chỉnh hoạt động đúng hướng hơn, hiệu quả hơn Đây là công cụ phục vụ nhiều lĩnh vực khác nhau và không thể thiếu trong ĐTM
*Kế toán môi trường
Đây là công cụ mới được áp dụng trong quản lý môi trường Kế toán môi trường là sự phân tích, tính toán nhằm xác định một cách định lượng với độ chính xác nhất định về sự gia tăng hoặc suy thoái môi trường, dự trữ tài nguyên thiên nhiên trong một khoảng thời gian nào đó do các hoạt động phát triển mang lại
Kế toán môi trường có khác hơn với thông tin dữ liệu ở chỗ, nếu công cụ thông tin cho biết hiện trạng chất lượng môi trường thông qua số liệu đo đạc đã được chỉnh lý, thì kế toán môi trường còn xác định giá trị tài nguyên môi trường qua đơn vị tiền tệ Như vậy, với sự thay đổi giá trị tài nguyên, môi trường được tính bằng tiền theo thời gian sẽ giúp ta xác định được lợi ích, mất mát do hoạt động phát triển mang lại Việc xác định giá trị các tài nguyên bằng tiền nhiều khi rất
Trang 30khó khăn, vì nhiều loại tài nguyên môi trường rất khó định giá Một số loại tài nguyên, như gỗ, khoáng sản, đất, … có thể định giá qua thị trường, song chất lượng không khí, chất lượng nước,
đa dạng sinh học, … lại không thể, hoặc rất khó định giá qua thị trường Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn có thể dùng một số phương pháp khác để ước tính giá trị tài nguyên môi trường bằng tiền Một số nước đã đưa ra các phương pháp kế toán cụ thể đối với một số loại tài nguyên trên
cơ sở các dữ liệu quan trắc tài nguyên môi trường Tất nhiên, các con số đánh giá này chỉ là ước tính, không thể phản ánh hết giá trị của tài nguyên thiên nhiên, nhưng nếu sử dụng đồng nhất cách đánh giá sẽ cho phép chúng ta so sánh xu thế thay đổi của tài nguyên môi trường theo thời gian
Trong ĐTM, việc kế toán môi trường giúp chúng ta sử dụng các chỉ tiêu đánh giá kinh tế mở rộng cho các tác động Phương pháp phân tích chi phí lợi ích mở rộng hiện đang là phương pháp dùng để so sánh hiệu quả kinh tế môi trường của các dự án khác nhau, hoặc các phương án khác nhau trong cùng dự án Các chỉ tiêu đánh giá, như giá trị hiện tại ròng, hệ số hoàn vốn nội tại, hay tỷ số lợi ích chi phí được áp dụng để đánh giá dự án rất có hiệu quả
*Quản lý tai biến môi trường
Luật bảo vệ môi trường Việt Nam đã đưa ra khái niệm về sự cố môi trường: “Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động hoặc sự biến đổi thất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng” Các nguyên nhân có thể dẫn đến tai biến, rủi ro môi trường cũng được đề cập trong luật
Hai đặc trưng cơ bản của tai biến cần chú ý là:
• Xảy ra bất thường, với tần suất thấp;
• Hậu quả nặng nề
Trong lịch sử loài người đã chứng kiến rất nhiều tai biến, như núi lửa, động đất, cháy rừng (tai biến thiên nhiên), hoặc nổ nhà máy điện nguyên tử, vỡ đập nước, tràn dầu, … (tai biến nhân tạo) Hàng năm, tổn thất về người và của do các tai biến gây ra rất lớn Do vậy, việc quản lý tai biến môi trường là rất cần thiết, và khi làm tốt công tác này sẽ tránh được những sự cố đáng tiếc Trong quá trình phát triển, con người đã tiến hành nhiều hoạt động sản xuất, trong đó có nhiều hoạt động chứa đựng tiềm năng gây tai biến lớn Muốn làm giảm tiềm năng, cũng như thiệt hại khi tai biến xảy ra, công tác quản lý tai biến môi trường phải làm tốt những hoạt động sau:
• Xác định các loại tai biến;
• Xác định các đặc trưng tai biến;
• Đánh giá xác suất xảy ra tai biến;
• Đánh giá thiệt hại do tai biến gây ra
Trong ĐTM, đánh giá tai biến được đề cập như một phần quan trọng Báo cáo ĐTM cũng phải nêu được 4 hoạt động trên, ngoài ra còn phải đề cập các biện pháp khắc phục Ví dụ: khi xây đập thủy điện, người ta phải nghĩ ngay đến khả năng vỡ đập do động đất kích thích, do rò rỉ trong địa hình Kaster, do phá hoại hoặc do bảo dưỡng không tốt, … Để giảm bớt tác hại của tai biến phải đưa ra các biện pháp như xây đập đủ chắc, có biện pháp theo dõi, đo đạc động đất, kiểm soát liên tục trên phạm vi đập, có biện pháp thông báo, trợ giúp khắc phục hậu quả
*Giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức của nhân dân
Các kiến thức về môi trường của nhân dân có thể thu thập được thông qua đào tạo ở các cấp học, hoặc tự đào tạo Hiện nay, các kiến thức về môi trường và trách nhiệm bảo vệ môi trường
Trang 31đang được đưa vào chương trình giảng dạy ở tất cả các cấp học Ở các cấp học phổ thông, những kiến thức cơ bản và dễ hiểu về môi trường và bảo vệ môi trường được trình bày nhằm định hướng và từng bước nâng cao ý thức cho học sinh
Trong công tác bảo vệ môi trường cần nhiều cán bộ có trình độ kiến thức cao hơn, am hiểu nhiều mặt về phát triển kinh tế – xã hội và môi trường Đội ngũ cán bộ này sẽ được đào tạo ở các trường đại học chuyên nghiệp Hiện nay, nhiều trường đại học đã đào tạo và cấp bằng cử nhân, cao học, tiến sĩ về khoa học môi trường, kỹ thuật môi trường
Khoa học môi trường là khoa học liên ngành và mới ra đời Vì vậy, không thể ngay một lúc
có được đội ngũ khoa học lớn mạnh, được đào tạo chuyên về môi trường mà phải đào tạo tiếp từ các nguồn khác, mở thêm các khóa học ngắn hạn hơn về môi trường cho các cán bộ ở cơ quan quản lý môi trường Cách làm này đang được các tổ chức quốc tế quan tâm, đặc biệt cho các nước đang phát triển Ở Việt Nam, nhiều khóa học đã được mở ra ở nhiều địa phương với sự tài trợ của nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia Riêng các khóa huấn luyện về ĐTM, do các viện, trường mở ra hàng năm đã đào tạo, nâng cao kiến thức cho hàng trăm cán bộ
Việc nâng cao kiến thức cho đông đảo nhân dân sẽ giúp họ đóng góp có hiệu quả hơn vào công tác ĐTM Những ý kiến của nhân dân sẽ xác đáng hơn, có cơ sở khoa học hơn, giúp cho những người thực hiện ĐTM có thể điều chỉnh những sai sót mắc phải trong quá trình thực thi Tuyên truyền, giáo dục môi trường trên các phương tiện phát thanh, truyền hình, sách báo hoặc các nhóm tự nguyện cũng rất quan trọng Hiện nay, trên các phương tiện này, thời lượng phát thanh, truyền hình cũng như số lượng trang viết liên quan tới môi trường nói chung và ĐTM nói riêng không ngừng tăng lên, góp phần nâng cao ý thức của công chúng đối với công tác này
*Nghiên cứu và triển khai khoa học, công nghệ
Kiến thức về phát triển khoa học, công nghệ rất cần thiết cho công tác ĐTM Nắm vững kiến thức về các công nghệ này sẽ có khả năng phân tích các tác động của hoạt động sản xuất đến môi trường
Một trong những nội dung cơ bản của ĐTM là đề xuất các giải pháp phòng tránh, khắc phục,
xử lý các tác động tiêu cực Giải pháp công nghệ sẽ là một trong các giải pháp chính có thể đảm nhận công việc này Công nghệ xử lý chất thải được nghiên cứu và áp dụng cho phép loại bỏ một
số loại chất độc có trong chất thải trước khi thải ra môi trường Người thực hiện ĐTM phải chỉ rõ những công nghệ nào là thích hợp với việc xử lý chất thải của dự án gây ra
1.2.4 Cam kết bảo vệ môi trường (CKBVMT)
CKBVMT theo Luật BVMT 2005 là công cụ pháp lý về quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường thay thế cho công cụ Đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường (ĐKĐTCMT) quy định tại Thông tư số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày 29/4/1998 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường về hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư
CKBVMT là ĐTM ở dạng đơn giản
a Đối tượng
Luật BVMT 2005 quy định: dự án cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình;
Dự án không thuộc Điều 14 và Điều 18
Nghị định số 29/2011/NĐ-CP quy định chi tiết đối tượng phải lập, đăng ký bản cam kết bảo
vệ môi trường bao gồm:
Trang 32• Dự án đầu tư có tính chất, quy mô, công suất không thuộc danh mục hoặc dưới mức quy định của danh mục tại Phụ lục II Nghị định này
• Các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu
tư nhưng có phát sinh chất thải sản xuất
b Nội dung bản CKBVMT
Căn cứ Điều 25 của Luật BVMT 2005, Nghị định số 29/2011/NĐ-CP nội dung được quy định như sau:
Nội dung bản cam kết bảo vệ môi trường đối với các dự án đầu tư bao gồm:
• Giới thiệu tóm tắt về dự án, gồm: Tên và địa chỉ của chủ dự án; tên và địa điểm thực hiện dự án; quy mô, công suất, công nghệ sản xuất; lượng, chủng loại nguyên liệu, nhiên liệu tiêu thụ trong quá trình thực hiện dự án Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của các thông tin, số liệu kê khai;
• Các loại chất thải phát sinh: Tải lượng tối đa, nồng độ tối đa của từng loại chất thải, nếu có;
• Cam kết thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
Nội dung bản cam kết bảo vệ môi trường đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ không thuộc đối tượng phải lập dự án đầu tư bao gồm:
• Giới thiệu tóm tắt về phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gồm: Tên và địa chỉ của chủ cơ sở; địa điểm thực hiện; quy mô sản xuất hoặc loại hình kinh doanh, dịch vụ; lượng, chủng loại nguyên liệu, nhiên liệu tiêu thụ trong quá trình hoạt động Chủ cơ sở phải chịu trách nhiệm
về tính chính xác, đầy đủ của các thông tin, số liệu kê khai;
• Các loại chất thải phát sinh: Tải lượng tối đa, nồng độ tối đa của từng loại chất thải, nếu có;
• Cam kết thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
c Đăng ký bản CKBVMT
Hồ sơ đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường bao gồm:
• Bản cam kết bảo vệ môi trường;
• Dự án đầu tư (báo cáo nghiên cứu khả thi) hoặc phương án sản xuất, kinh doanh
Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định mẫu của bản cam kết bảo vệ môi trường
Theo Điều 26 của Luật BVMT 2005, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, Nghị định số 29/2011/NĐ-CP và Điều 46 trong Thông tư 26/2011/TT-BTNMT:
• Chủ dự án đăng ký tại UBND cấp huyện (hoặc cấp xã được uỷ quyền, hoặc Ban Quản lý khu kinh tế thẩm định được uỷ quyền);
• Trường hợp dự án nằm trên địa bàn của từ 02 đơn vị cấp huyện trở lên:
+ Chủ dự án đầu tư đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi môi trường chịu tác động tiêu cực lớn nhất từ dự án; trường hợp dự án tác động tiêu cực như nhau đến môi trường của một số địa phương thì chủ dự án được lựa chọn một trong số các địa phương đó để đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường
Trang 33+ Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi chủ dự án đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp huyện liên quan trước khi xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường và thông báo với các địa phương này việc xác nhận của mình
- Chủ dự án trên vùng biển không xác định được trách nhiệm quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi đăng ký xử lý, thải bỏ chất thải
+ Trường hợp dự án trên vùng biển không xác định được trách nhiệm quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện và không có chất thải thì không phải đăng ký bản cam kết bảo
vệ môi trường
- Hồ sơ xin đăng ký:
+ 01 văn bản đề nghị theo mẫu tại Phụ lục 5.2 và 5.3 của Thông tư 26/2011;
+ 03 bản CKBVMT (trường hợp dự án nằm trong 01 huyện và đăng ký ở cấp huyện; 04 bản (trường hợp đăng ký ở cấp xã); trường hợp dự án nằm trên địa bàn từ 02 huyện trở lên thì số lượng bổ sung thêm theo số huyện tăng lên);
+ 01 bản dự thảo báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo giải trình về đầu tư
- Chủ dự án chỉ được triển khai hoạt động sau khi đã hoàn thành thủ tục đăng ký bản CKBVMT
g Trách nhiệm thực hiện, kiểm tra việc thực hiện bản CKBVMT
Điều 27 của Luật BVMT 2005
Tổ chức, cá nhân cam kết bảo vệ môi trường có trách nhiệm thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường
Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản cam kết bảo vệ môi trường
h Trình tự, thủ tục đăng ký, xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường
Trang 34Tiếp nhận và chuyển giao hồ sơ
• Tiếp nhận hồ sơ
Bộ phận Văn thư của UBND cấp huyện (hoặc cấp xã được uỷ quyền) tiếp nhận hồ sơ do chủ
dự án gửi tới, vào sổ Công văn đến; hồ sơ tiếp nhận bao gồm:
• 01 văn bản của chủ dự án đề nghị xác nhận bản CKBVMT;
• Tối thiểu 03 bản CKBVMT;
• 01 bản báo cáo giải trình về đầu tư (hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi) của dự án
• Chuyển giao hồ sơ
Văn thư chuyển giao ngay toàn bộ hồ sơ cho cơ quan (bộ phận) chuyên môn về môi trường được UBND cấp huyện (cấp xã được uỷ quyền) xác định
Sơ bộ kiểm tra và xử lý hồ sơ
Sau khi đã tiếp nhận được hồ sơ từ Văn thư, cơ quan (bộ phận) chuyên môn về môi trờng của UBND cấp huyện (cấp xã được uỷ quyền) tiến hành ngay việc kiểm tra và xử lý sơ bộ về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ theo các yêu cầu sau đây:
• Kiểm tra về chủng loại, hình thức và số lượng của hồ sơ:
• 01 văn bản của chủ dự án đề nghị xác nhận bản CKBVMT theo mẫu quy định tại Phụ lục 24 của Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08/9/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Thông tư 08/2006/TT-BTNMT);
• Các bản CKBVMT với số lượng tương ứng với các trường hợp sau: 03 bản (dự án thuộc địa bàn của 01 huyện và đăng ký ở cấp huyện); 04 bản CKBVMT (dự án thuộc địa bàn 01 huyện và đăng ký ở cấp xã); 02 + N bản CKBVMT (N là số lượng các huyện thuộc địa bàn dự án) được trình bày theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.2 và Phụ lục 5.3 của Thông tư 26/2011/TT-BTNMT (chủ yếu lưu ý đến chương, mục);
• 01 bản giải trình về đầu tư (hoặc báo cáo nghiên cứu khả thi) của dự án
• Kiểm tra về sự phù hợp của đối tượng CKBVMT:
Là dự án không thuộc Danh mục tại Phụ lục I của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP
• Kiểm tra về sự đầy đủ, thống nhất của các văn bản trong hồ sơ:
• Tên của dự án;
• Tên cơ quan, doanh nghiệp chủ dự án;
• Địa chỉ liên hệ của cơ quan, doanh nghiệp chủ dự án;
• Phương tiện liên lạc với cơ quan, doanh nghiệp chủ dự án;
• Họ tên, chức danh, chữ ký của thủ trưởng kèm theo dấu của cơ quan, doanh nghiệp chủ dự án
• Tất cả các thông tin trên phải được thể hiện một cách thống nhất trong cả 03 loại văn bản: Văn bản đề nghị xác nhận bản CKBVMT; Bản CKBVMT (phía ngoài của trang bìa, trang phụ bìa và phía trong của báo cáo); Bản giải trình về đầu tư (hay bản nghiên cứu khả thi) của dự án
• Họ tên, chức danh, chữ ký của thủ trưởng kèm theo dấu của cơ quan tư vấn tại trang bìa và trang phụ bìa của bản CKBVMT (trường hợp có thuê tư vấn)
Trang 35Xử lý hồ sơ sau khi đã sơ bộ kiểm tra (Có 02 trường hợp sẽ xảy ra)
• Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ: Trả lại toàn bộ hồ sơ cho chủ dự án kèm theo văn bản của UBND cấp huyện (cấp xã được uỷ quyền) nói rõ lý do và yêu cầu cụ thể về việc hoàn chỉnh lại hồ sơ
• Trường hợp hồ sơ hợp lệ: Tiến hành việc xem xét nội dung bản CKBVMT của dự án
Tổ chức việc xem xét nội dung bản CKBVMT
• Địa điểm thực hiện dự án
Vị trí địa lý (toạ độ, ranh giới) của địa điểm dự án kèm theo sơ đồ chỉ rõ các đối tượng tự nhiên (sông ngòi, ao hồ, đường giao thông…), các đối tượng kinh tế, xã hội (khu dân cư, đô thị;
cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; công trinh văn hoá, tôn giáo, di tích lịch sử…) và các đối tượng khác xung quanh khu vực dự án
Nguồn tiếp nhận khí thải, tiếng ồn, nước thải của dự án (đối chiếu với các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành tương ứng với địa điểm của dự án
• Quy mô, công nghệ của dự án
• Quy mô về không gian;
• Quy mô về công suất sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
• Công nghệ để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
• Danh mục các thiết bị, máy móc kèm theo tình trạng của chúng (nếu có);
• Nhu cầu nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng
• Nhu cầu nguyên liệu, nhiên liệu tính theo đơn vị thời gian (ngày, tháng, năm);
• Phương thức cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu;
• Nhu cầu và nguồn cung cấp điện, nước…
• Các tác động môi trường
* Chất thải (rắn, lỏng, khí; chất thải khác):
• Nguồn phát sinh;
• Tổng lượng phát sinh của từng loại trên một đơn vị thời gian;
• Thành phần chất thải kèm theo nồng độ/hàm lượng; đối chiếu với các quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành
• Biến đổi vi khí hậu;
• Suy thoái các thành phần môi trường đất, nước, không khí …
• Biến đổi đa dạng sinh học,v v…
• Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực
Trang 36Nguyên tắc: bất kể tác động tiêu cực nào cũng phải kèm theo biện pháp giản thiểu (nếu không thể có biện pháp nào thì chủ dự án phải có lý giải rõ)
* Biện pháp đối với chất thải
Mỗi loại chất thải phát sinh phải có biện pháp xử lý tương ứng để đạt yêu cầu theo tiêu chuẩn quy định tương ứng với điều kiện và địa điểm có nguồn tiếp nhận chất thải đó
* Biện pháp giảm thiểu các tác động khác:
Ứng phó với sự xói mòn, trượt, sụt, lún, lở đất; xói lở bờ sông, bờ biển; bồi lắng lòng sông, hồ; thay đổi mực nước mặt, nước ngầm; xâm nhập mặn, phèn; biến đối vi khí hậu, suy thoái các thành phần môi trường (đất, nước, không khí…); biến đổi đa dạng sinh học v.v…
Lưu ý: Trong trường hợp không thể có biện pháp khả thi để xử lý đạt yêu cầu quy định, trên
cơ sở lý giải và kiến nghị của chủ dự án, người xử lý phải đề xuất hướng giải quyết
• Cam kết thực hiện các nghĩa vụ để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường,… trong trường hợp không có biện pháp ứng phó hoặc có biện pháp nhưng không hiệu quả
Tiến hành việc xác nhận bản CKBVMT
• Thời hạn giải quyết
Trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan xác nhận phải hoàn tất việc cấp Giấy xác nhận
• Cách thức tiến hành
• Cơ quan, bộ phận chuyên môn về môi trường dự thảo Giấy xác nhận theo mẫu quy định tại Phụ lục 5.6 của Thông tư 26/2011/TT-BTNMT trình Chủ tịch UBND cấp huyện (cấp xã được uỷ quyền) xem xét và ký
• Sau khi Giấy xác nhận đã được ký, cơ quan có trách nhiệm tiến hành một xác nhận khác ở mặt sau trang phụ bìa của bản CKBVMT theo mẫu tại Phụ lục của Thông tư 26/2011/TT-BTNMT
• Gửi hồ sơ xác nhận bản CKBVMT
• Trường hợp dự án nằm trong địa bàn của 01 huyện: UBND cấp huyện có trách nhiệm gửi chủ dự án 01 bản CKBVMT đã có xác nhận ở mặt sau trang phụ bìa kèm theo Giấy xác nhận
• Trường hợp dự án nằm trên địa bàn từ 02 huyện trở lên: UBND cấp huyện nơi xác nhận có trách nhiệm gửi chủ dự án, các UBND cấp huyện thuộc địa bàn dự án: Mỗi nơi 01 bản CKBVMT đã có xác nhận ở mặt sau trang phụ bìa kèm theo Giấy xác nhận
Trang 37• Trường hợp đăng ký ở cấp xã: UBND cấp xã gửi chủ dự án, UBND cấp huyện: Mỗi nơi 01 bản CKBVMT đã có xác nhận ở mặt sau trang phụ bìa kèm theo Giấy xác nhận
*Uỷ quyền xác nhận bản CKBVMT
• Điều kiện uỷ quyền: UBND cấp huyện chỉ uỷ quyền khi có đủ 02 điều kiện sau đây:
• UBND cấp xã có đủ năng lực thực hiện;
• Dự án chỉ nằm trên địa bàn của 01 huyện
Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện bản CKBVMT
Theo Điều 27 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, UBND cấp huyện (cấp xã được uỷ quyền) có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các nội dung đã ghi trong bản CKBVMT
• Đối tượng kiểm tra, thanh tra
• Chủ dự án;
• Các cơ quan, đơn vị, cá nhân do chủ dự án thuê thực hiện các nội dung liên quan đến việc bảo vệ môi trường của dự án
• Nội dung kiểm tra, thanh tra
Chủ yếu là những nội dung liên quan đến công tác bảo vệ môi trường, như:
• Việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong giai đoạn thi công xây dựng các công trình của dự án;
• Việc xây dựng và vận hành thử nghiệm các công trình, biện pháp xử lý về môi trường, như: công trình xử lý chất thải; công trình, biện pháp ứng phó với các tác động tiêu cực của dự án;
• Việc bảo vệ môi trường trong giai đoạn dự án đi vào hoạt động trong thực tế
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
• Nội dung tóm tắt các cơ sở pháp lý liên quan đến việc thực hiện ĐTM hiện nay (Tên văn
bản, Tổ chức ban hành, thời hạn hiệu lực, phạm vi áp dụng, đối tượng, tổng hợp khái quát các điều khoản quy định )
• Phân biệt các cấp độ Đánh giá môi trường cơ bản hiện nay (Cơ sở pháp lý, Định nghĩa,
mục đích, đối tượng áp dụng, quy mô, tóm tắt tiến trình thực hiện )
Trang 38CHƯƠNG 2 TRÌNH TỰ THỰC HIỆN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ
CAM KẾT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
2.1 QUY TRÌNH CHUNG
2.1.1 Quy trình ĐTM và cam kết bảo vệ môi trường (CKBVMT) [8]
Trên cơ sở các quy định luật pháp về ĐTM của Việt Nam, có thể khái quát hoá quy trình ĐTĐ với 6 bước chính sau:
Bước thứ nhất: Lược duyệt hay còn gọi là sàng lọc dự án, do cơ quan quản lý môi trường
thực hiện Các dự án phát triển chia làm 2 loại: loại 1, các dự án cần tiến hành đánh giá tác động môi trường (bao gồm ĐTM và ĐMC); loại 2, các dự án không cần đánh giá tác động môi trường
Bước thứ hai: Được gọi là bước ĐTM sơ bộ, đối với các dự án loại 2, không cần tiến hành
ĐTM, chủ đầu tiến hành lập bản cam kết bảo vệ môi trường trình cơ quan quản lý môi trường xét duyệt và thông qua Quy trình đánh giá tác động môi trường cho loại dự án này kết thúc tại đây Đối với các dự án loại 1, cần phải tiến hành đánh giá tác động môi trường, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường sơ bộ, sau đó chuyển sang bước ba
Bước thứ ba: Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường chi tiết
Bước thứ tư: Tham vấn cộng đồng
Bước thứ năm: Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
Bước thứ sáu: Quản lí và giám sát
Quy trình đánh giá tác động môi trường hiện tại của nước ta về cơ bản phù hợp với thông
lệ về ĐTM của khu vực và trên thế giới (bảng 2.1, bảng 2.2) Quy trình thực hiện ĐTM tùy thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế (bảng 2.3) Tại Việt Nam, quy trình này được tiến hành theo các bước cụ thể (bảng 2.4)
Hình 2.1 Quy trình ĐTM của Việt Nam