ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI TRONG CHƯƠNG TỪ TRƯỜNG VÀ CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ, VẬT LÝ 11 CCGD
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Hoàn cảnh thực tế:
Trong thời đại ngày nay, thời đại phát triển như vũ bão của vật lý học và kỹ thuật, sản xuất đòi hỏi nhiều hơn so với xã hội trước phải có tốc độ phản ứng nhanh, óc quan sát sắc bén, trí tuệ linh hoạt khi tiến hành phân tích và tổng hợp Những phẩm chất đó, tư duy con người không tự nhiên có, mà đạt được nhờ sự rèn luyện lâu dài trên cơ sở những hành động tự lực của học sinh Tư duy phát triển linh hoạt sáng tạo của con người, kỹ năng tự lực trau dồi tri thức mới và nắm vững phương pháp khai thác tri thức là kết quả của việc giáo dục tư duy Do đó, trước mắt khoa học giáo dục nói chung và các ngành phương pháp dạy học bộ môn nói riêng đặt ra nhiệm vụ phát triển toàn diện tư duy của học sinh Việc phát triển tư duy trong quá trình giảng dạy vật lý có tác dụng trước hết là giúp học sinh thu nhận bài giảng một cách sâu sắc, không máy móc, biết cách vận dụng kiến thức vào thực hành, từ đó kiến thức mà học sinh thu nhận trở nên sinh động và vững chắc Hơn nữa còn có một tác dụng lớn là tạo ra một kỹ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho học sinh
Trong khoa phương pháp giảng dạy vật lý hiện nay đang đặt ra vấn đề hoàn thiện hơn nữa các phương pháp và các hình thức tổ chức dạy học, tìm các phương pháp và biện pháp dạy học mới nâng cao được một cách rõ rệt hiệu quả của quá trình sư phạm Thế nhưng việc giảng dạy vật lý có thể đảm bảo sự phát triển tư duy của học sinh như thế nào?
Trong khoa học vật lý cả thí nghiệm khoa học và lý thuyết đều đóng vai trò quan trọng như nhau Thực nghiệm và lý thuyết đều phải được thể hiện một cách đầy đủ trong giáo trình ở nhà trường Tuy nhiên, vật lý học là một môn khoa học thực nghiệm nên việc giảng dạy bằng miệng môn vật lý phải nhường chỗ cho việc nghiên cứu thực nghiệm, nó cho phép giải quyết được vấn đề tính trực quan và tính vừa sức của tài liệu học Thực nghiệm là một phương tiện để nhâïn thức đầy đủ và sâu sắc hơn các hiện tượng vật lý Nó cũng cần thiết để giới thiệu với học sinh sự tiến bộ kỹ thuật, để rèn luyện cho học sinh kỹ năng và kỹ xảo sử dụng các dụng cụ, công cụ đo,… Nó không những là một phương tiện hình thành tri thức, kỹ năng và kỹ xảo mà còn là một con đường phát triển tư duy cao độ cho học sinh Ảnh hưởng phát triển của mỗi thí nghiệm trước hết là ở chỗ thí nghiệm làm sáng tỏ logic chặt chẽ của những mối liên hệ nhân quả trong các hiện tượng tự nhiên K.Đ Usinxki đã
Trang 2một số thí nghiệm vật lý và hóa học phát triển ở người học sinh phép suy luận ba đoạn đúng đắn và óc quan sát tinh tường nhiều hơn hàng trăm bài tập viết về các phạm trù logic" Là một giáo viên vật lý tương lai, tôi mong muốn góp phần công sức nhỏ bé của mình để nâng cao chất lượng giảng dạy ở trường phổ thông Do đó, tôi đã chọn đề tài "Aùp dụng phương pháp thực nghiệm vào giảng dạy một số bài trong chương Từ Trường và Cảm Ứng Điện Từ, Vật Lý 11 CCGD"
1.2 Yêu cầu và nhiệm vụ đạt được của đề tài:
Vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức học sinh bao giờ cũng là trung tâm chú ý của các giáo viên tiên tiến Tuy nhiên những nhiệm vụ mới đặt ra trong nhà trường đòi hỏi không những phải xem xét lại và hoàn thiện các phương pháp quen thuộc tích cực hóa học sinh, mà còn phải tìm tòi những cách mới, những con đường mới phát triển tính tự lực, sáng tạo và tư duy của học sinh, phù hợp một cách đầy đủ nhất với yêu cầu hiện nay_ tức là yêu cầu liên hệ việc dạy học với cuộc sống, với lao động, với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa cộng sản
Phải tổ chức quá trình học tâïp sao cho học sinh thu nhận kiến thức trong các giờ học chủ yếu là trong quá trình làm việc tự lực tích cực Việc cố gắng đảm bảo sự làm việc tích cực của học sinh toàn lớp trong suốt giờ học Phân tích quá trình hoạt động nhận thức để tìm ra các thao tác tư duy và những suy luận logic thường sử dụng trong học tập vật lý Đề ra các biện pháp tác động nhằm rèn luyện cho học sinh kỹ năng hoạt động nhận thức, phương pháp làm việc và suy nghĩ
Trong quá trình dạy học, cần làm cho học sinh hiểu được phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu vật lý và từng bước hướng dẫn học sinh vận dụng phương pháp thực nghiệm của vật lý học trong khi nghiên cứu các kiến thức trong chương trình VLPT Do đó, yêu cầu và nhiệm vụ đạt được của đề tài gồm các vấn đề sau:
- Phương pháp thực nghiệm trong khoa học Vật Lý
- Phương pháp thực nghiệm trong dạy học Vật Lý
- Phân tích và soạn giáo án sáu bài chương Từ Trường và Cảm Ứng Điện Từ VL11 CCGD theo tinh thần áp dụng phương pháp thực nghiệm
- Chế tạo một số đồ dùng dạy học
1.3 Thực trạng vấn đề nghiên cứu của đề tài:
1.3.1 Tình hình dạy và học TN vật lý ở trường phổ thông:
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm nhưng chưa được giảng dạy đúng như tên gọi của nó, đa số giáo viên từ nhiều năm nay vẫn dạy theo "phương pháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại" là chủ yếu Đây là cách dạy nhồi nhét, dạy chay Kết quả là học sinh chưa thể tự lực thu nhâïn kiến thức theo hướng tích cực
Trang 3Các điều kiện giáo dục còn thiếu, lớp học đông, chật, phương tiện giảng dạy không đủ, SGK chưa phù hợp, nội dung kiến thức quá nhiều đối với học sinh phổ thông
Hiện nay, phần lớn ở các trường phổ thông chưa chú trọng nhiều đến việc dạy có thí nghiệm vì sợ mất nhiều thời gian và một số giáo viên ngại khó Do đó,
đa số học sinh rất sợ học môn này, xem kiến thức môn này rất trừu tượng, khó hiểu, không thực tế
1.3.2 Cơ sở vật chất:
Đây là một mặt thuận lợi của đề tài, tài liệu tham khảo khá đầy đủ, có nhiều tài liệu nghiên cứu mới, phòng thì nghiêm phổ thông với nhiều dụng cụ khá hiện đại, đầy đủ
2 NHỮNG GIẢ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Có thể nghiên cứu và áp dụng PPTN trong dạy học vật lý nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS
Có thể nghiên cứu soạn giáo án một số bài có thí nghiệm trong chương trình vật lý phổ thông theo tinh thần áp dụng phương pháp thực nghiệm
Có thể tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường phổ thông trong đợt thực tập
sư phạm
Có thể chế tạo một số đồ dùng dạy học
3 CÁC BƯỚC NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Với thời gian là một năm học (từ tháng 7 năm 2002 đến tháng 5 năm 2003), đề tài được thực hiện theo các bước sau:
? Bước 1: (từ tháng 7 năm 2002 đến tháng 12 năm 2002), sưu tầm tài
liệu, nghiên cứu lý thuyết về lý luận dạy học, các phương pháp dạy học, phân tích chương trình vật lý phổ thông,…
? Bước 2: (từ tháng 12 năm 2002 đến tháng 2 năm 2002), rèn luyện kỹ năng thực hành thí nghiệm và soạn giảng một số bài có thí nghiệm trong SGK VL
11 CCGD
? Bước 3: (từ tháng 2 năm 2003 đến tháng4 năm 2003), thực nghiệm sư
phạm ở trường phổ thông
? Bước 4: (từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2003), viết báo cáo
? Bước 5: (từ tháng 5 năm 2003), báo cáo luận văn
4 KHÁI NIỆM CẦN GIẢI THÍCH RÕ:
Trang 4Giáo án: là tài liệu được giáo viên thiết kế để vạch kế hoạch cho một bài
lên lớp Giáo án cần phải chứa đựng nội dung bài học, những ý đồ của giáo viên chỉ đạo dạy học xảy ra trong một tiết
Phương pháp thực nghiệm (PPTN): là một phương pháp nhận thức khoa học
được thực hiện khi nhà nghiên cứu tìm tòi xây dựng phương án và tiến hành thí nghiệm (TN), nhằm dựa trên kết quả của TN để xác lập giả thuyết hoặc kiểm tra một giả thuyết nào đó
Phương pháp thực nghiệm trong dạy học Vật Lý: là việc vận dụng PPTN
của quá trình sáng tạo khoa học vào quá trình dạy học Vật Lý Cụ thể, giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh theo các bước tương tự như các giai đoạn của PPTN trong quá trình sáng tạo khoa học, để phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức, làm cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc, vững chắc, đồng thời qua đó góp phần phát huy năng lực nhận thức sáng tạo của học sinh
Trang 5PHẦN II : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
Nền giáo dục của nước ta là giáo dục toàn diện, nhằm làm cho học sinh phát triển đầy đủ về từng mặt và cân đối giữa các mặt Trong nhà trường việc giảng dạy cũng phải nhằm mục đích làm cho học sinh được rèn luyện và phát triển một cách toàn diện, theo chức năng của môn học Bất cứ môn học nào nói chung cũng không thể chỉ cung cấp kiến thức có sẵn mà phải làm cho trí lực, thể lực của học sinh ngày càng phát triển, làm cho họ lớn lên về nhiều mặt, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho cuộc sống và xã hội
Đồng chí Lê Duẩn đã nói "Thầy giáo phải dạy cho học sinh nắm được kiến thức khoa học phổ thông, đó là yêu cầu của chương trình giáo dục, nhưng đó không phải là tất cả nội dung giảng dạy, mà yêu cầu cơ bản nhất, quan trọng nhất, bao trùm toàn bộ chương trình giảng dạy là đào tạo con người toàn diện”
Dạy học là quá trình bao gồm hai mặt hoạt động thống nhất với nhau: Truyền thụ kiến thức và lĩnh hội kiến thức Điều đó có nghĩa là giảng dạy phải gắn liền với học tập, giảng dạy phải phù hợp với đối tượng và thúc đẩy cho đối tượng phát triển Vì thế phấn đấu để hình thành cho học sinh kiến thức vật lý vững chắc luôn luôn là một công việc phức tạp, đòi hỏi người giáo viên phải có những suy nghĩ học hỏi công phu Hiện nay, có rất nhiều phương pháp được áp dụng trong nhà trường phổ thông Ở đây, ta chỉ nghiên cứu sâu về phương pháp thực nghiệm
Một trong những điều quan trọng của phương hướng cải cách chương trình vật lý phổ thông là “Chương trình phải bao gồm những kiến thức về các phương pháp vật lý cơ bản” Ngoài việc cung cấp kiến thức, việc xây dựng và phát triển các năng lực tư duy cho học sinh (HS) là một yêu cầu có tính nguyên tắc Muốn vậy, làm cho làm cho HS không những nắm vững được kiến thức mà còn hiểu rõ con đường dẫn đến kiến thức, hiểu rõ các phương pháp nhận thưc khoa học
í Đối với môn vật lýù, PPTN là một trong những phương pháp nhận thức cơ bản quan trọng Vì vậy, trong chương trình cải cách vật lý phổ thông coi trọng việc áp dụng PPTN của khoa học vật lý trong quá trình dạy học
í Trong quá trình dạy học, cần làm cho HS hiểu được PPTN trong nghiên cứu vật lý và từng bước hướng dẫn HS tập vận dụng PPTN của vật lý học (VLH) trong nghiên cứu các kiến thức theo chương trình và SGK
Để có thể vận dụng được PPTN của VLH trong quá trình dạy học ta cần làm rõ hai vấn đề sau:
Thứ nhất là: PPTN trong quá trình sáng tạo khoa học vật lý, với tư cách là một
phương pháp nhận thức của khoa học vật lý là gì? Nó bao gồm những yếu tố cơ bản gì?
Trang 6Thứ hai là: PPTN trong dạy học vật lý, với tư cách là một phương pháp dạy học
(là sự vận dụng PPTN của khoa học vật lý vào dạy học vật lý nhằm rèn luyện cho
HS phương pháp nhận thức của VLH), được thực hiện theo các bước dạy học như thế nào khi hình thành một kiến thức cụ thể cho HS?
1 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO KHOA HỌC VẬT LÝ:
í Phương pháp thực nghiệm là một phương pháp nhận thức khoa học, được thực hiện khi nhà nghiên cứu tìm tòi, xây dựng phương án thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm nhằm thu được những thông tin cần thiết cho việc xác lập hoặc kiểm tra một giả thuyết nào đó
í Có thể xây dựng chu trình sáng tạo khoa học theo Razumôpxki theo các giai đoạn sau:
Từ sự khái quát hóa những sự kiện đi đến xây dựng mô hình trừu tượng của hiện tượng (đề xuất giả thuyết)
Từ mô hình dẫn ra các hệ quả của lý thuyết
Từ hệ quả lý thuyết dẫn đến kiểm tra bằng thực nghiệm
Nếu sự kiện thực nghiệm phù hợp với hệ quả dự đoán thì giả thuyết trở thành chân lý khoa học, một định luật, một thuyết vật lý và kết thúc một chu trình
í Những hệ quả như thế ngày một nhiều, mở rộng phạm vi ứng dụng của một kết luận đã thu được Cho đến khi xuất hiện những sự kiện mới không phù hợp với thực nghiệm thì điều đó dẫn tới phải xem xét lại lý thuyết cũ, chỉnh lý hoặc phải thay đổi và như thế phải bắt đầu một chu trình mới, thiết kế những máy móc mới để kiểm tra, bằng cách đó làm kiến thức khoa học ngày càng phong phú thêm Chu trình này được biểu diễn bằng hình sau, nó không khép kín mà mở rộng dần
Chu trình sáng tạo khoa học Razumôpxki
Trang 7í Để có thể khái quát hóa các sự kiện thực tế và xây dựng các giả thuyết khoa học về hiện tượng nghiên cứu, nhà khoa học phải tổ chức và tiến hành TN để khảo sát hiện tượng trong những điều kiện xác định và dựa trên những kết quả của TN đó để thu được những tài liệu thực tế làm cơ sở xuất phát cho sự hoàn thành giả thuyết
Để kiểm tra sự đúng đắn của các kết luận lý thuyết thu được nhờ sự suy luận lôgic từ mô hình giả thuyết (và cũng là để kiểm tra sự đúng đắn của chính bản thân giả thuyết) lại phải tiến hành TN để có thể đối chiếu lại kết quả của TN với những kết luận lý thuyết đã có PPTN dựa trên sự tổ chức, tiến hành và xem xét kết quả của TN như thế gọi là PPTN
Vậy PPTN là một phương pháp nhận thức khoa học được thực hiện khi nhà nghiên cứu tìm tòi xây dựng phương án và tiến hành TN, nhằm dựa trên kết quả của TN để xác lập giả thuyết hoặc kiểm tra giả thuyết nào đó
Cần lưu ý rằng PPTN nói ở đây là nói về phương pháp nhận thức trong quá trình sáng tạo khoa học, chứ không phải là chỉ đơn thuần cách thức tiến hành một
TN đã có sẵn Quá trình nhận thức này đòi hỏi tư duy sáng tạo
Khi áp dụng PPTN nhà nghiên cứu phải tìm tòi thiết kế phương án TN Trong việc đề xuất phương án TN để có thể kiểm tra được giả thuyết đã nêu ra được giả thuyết đã nêu ra hoặc cho phép thu được những thông tin cần thiết cho việc xác lập giả thuyết, tư duy sáng tạo có vai trò quan trọng
í Những yếu tố cơ bản của PPTN bao gồm:
- Vấn đề cần giải đáp hoặc giả thuyết cần kiểm tra
- Xây dựng (thiết kế) phương án TN cho phép thu được lượng thông tin cần thiết cho sự xác lập giả thuyết hoặc kiểm tra giả thuyết
- Tiến hành TN và thu nhận kết quả (quan sát, đo đạc,…)
- Phân tích kết quả và kết luận
2 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ :
Ở đây ta muốn đề cập đến một phương pháp dạy học Trong đó phương pháp thực nghiệm của quá trình sáng tạo khoa học được vận dụng vào quá trình dạy học vật lý Thực chất của phương pháp dạy học này là ở chỗ:
- Giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh theo các bước tương tự như các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm trong quá trình sáng tạo khoa học, để phát huy tính tự giác tích cực, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc, vững chắc Đồng thời qua đó góp phần phát triển năng lực nhận thức sáng tạo của học sinh
- Tất nhiên là khi áp dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý, giáo viên vẫn sử dụng thí nghiệm (dưới dạng thí nghiệm biểu diễn của giáo viên hoặc thí
Trang 8pháp thực nghiệm Nhưng cũng cần lưu ý rằng, điều này không có nghĩa là hễ cứ có sử dụng thí nghiệm trong dạy học thì đã áp dụng phương pháp thực nghiệm Bởi vì trong dạy học vật lý, thí nghiệm được sử dụng có khi chỉ như một phương tiện trực quan đơn thuần, chứ không phải là nó được thiết lập và thực hiện trong tiến trình nghiên cứu theo đòi hỏi của việc xác lập hoặc kiểm tra một giả thuyết nào đó Việc sử dụng thí nghiệm trong trường hợp như thế thì không phải là theo hình thức áp dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm của vật lý học
- Tiến trình dạy học theo tinh thần áp dụng phương pháp thực nghiệm diễn ra
theo các bước chính sau:
í Bước 1 : Làm xuất hiện vấn đề
Có thể dựa vào kinh nghiệm thực tế đời sống của học sinh (qua quan sát tự nhiên, lao động sản xuất, ) hoặc xuất phát từ những kiến thức đã học, hoặc có thể sử dụng thí nghiệm mở đầu làm cơ sở để giáo viên có thể nêu vấn đề cần nghiên cứu và tạo điều kiện cho học sinh có thể đưa ra phỏng đoán
í Bước 2 : Hướng dẫn học sinh đề xuất phỏng đoán, giả thuyết và đàm thoại để
chọn lọc những giả thuyết phù hợp và loại bỏ những giả thuyết không có căn cứ
Ở đây cần phân biệt giả thuyết với phỏng đoán vu vơ không có căn cứ và phân biệt giả thuyết với một kết luận đã suy ra một cách logic từ một điều chân thật đã biết Kết luận này không phải là giả thuyết, trong trường hợp này cũng không còn vấn đề để đòi hỏi phải đưa ra giả thuyết nữa
Dấu hiệu đặc trưng của giả thuyết ở chỗ tính xác thực của nó là có thể chưa phải là chắc chắn, nhưng giả thuyết không phải là một điều phỏng đoán vu vơ, phỏng đoán vô căn cứ Khác nhau là ở chỗ giả thuyết đưa ra phải có khả năng giải thích, dự đoán hiện tượng Từ điều được coi là giả thuyết người ta có thể giải thích hiện tượng đã biết và dự đoán hiện tượng có thể xảy ra
í Bước 3: Thảo luận (đàm thoại gợi mở)
Nhằm xây dựng phương án thí nghiệm để có thể thu được thông tin cần thiết cho việc kiểm tra giả thuyết
Giáo viên nêu câu hỏi, gợi ý tạo điều kiện để học sinh tham gia đề xuất phương án thí nghiệm kết hợp với giới thiệu dụng cụ, bố trí thí nghiệm và vạch kế hoạch tiến hành thí nghiệm, có thể sử dụng thí nghiệm biểu diễn của giáo viên hoặc thí nghiệm học sinh làm từng nội dung và điều kiện cụ thể
í Bước 4: Tiến hành thí nghiệm :
Giáo viên biểu diễn thí nghiệm hoặc hướng dẫn học sinh tiến hành, hướng dẫn học sinh quan sát ghi nhận kết quả thí nghiệm
Ghi số liệu kết quả lên bảng
Trang 9Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận xét phân tích kết quả thu được và rút ra kết luận tương ứng với kiến thức cần hình thành
Như vậy, phương pháp thực nghiệm vật lý hiểu theo nghĩa rộng là một trong những phương pháp dạy học vật lý Nó có tác dụng đối với việc phát triển năng lực nhận thức của học sinh Trong đó phương pháp thực nghiệm vật lý có vai trò to lớn Giúp học sinh lĩnh hội sâu sắc và hoàn chỉnh các kiến thức vật lý đã học
Giáo viên có thể sử dụng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau để rèn luyện kỹ năng suy lý, quy nạp và diễn dịch, tư duy phân tích, so sánh tổng hợp, phát triển khả năng quan sát, kỹ năng thực hành thí nghiệm, thói quen hoạt đông tự lực giáo dục tư tưởng cho học sinh Mặt khác giúp các em làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, các dụng cụ thiết bị và kỷ thuật trong cuộc sống
3 DẠY HỌC NHÓM:
3.1 Khái niệm về “học nhóm”:
í “Học nhóm” là một phương pháp học tập mà theo đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và hợp tác nhau trong học tập, HS trao đổi ý tưởng và kiến thức với các thành viên trong nhóm Những HS có khả năng giúp đỡ những HS yếu hơn, các thành viên của nhóm tham gia tích cực và hợp tác với nhau để lĩnh hội kiến thức và kỹ năng mới Trong không khí học tập, người học không chỉ có trách nhiệm với mình mà còn có trách nhiệm học tập với các bạn khác
í Về tổ chức, lớp học theo hình thức “học nhóm” được chia thành các nhóm nhỏ Các thành viên làm việc vì thành tích chung của nhóm, chấp nhận và tin tưởng lẫn nhau, quan tâm đến sự đóng góp và hành vi của các thành viên trong nhóm như của chính mình
í Vai trò của “học nhóm”
“Học nhóm” là một hình thức tổ chức học tập có lợi Tất cả HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và hợp tác với nhau tạo nên một mô hình học tập cởi mở Các thành viên của nhóm được tự do hỏi nhau về vấn đề mình còn chưa hiểu, với việc thảo luận cùng các thành viên khác của nhóm và lớp, nhiệm vụ học tập được giải quyết dể dàng hơn Những HS nhanh hiểu có thể giúp HS chậm hiểu không bị tục hậu so với nhóm Vì vậy, “học nhóm” là vấn đề góp phần giải quyết về kỷ luật lớp học, nâng cao thành tích học tập của nhóm Do có thời gian làm việc độc lập, tự giải quyết các vấn đề và tự do lựa chọn cách học của riêng mình nên HS trong nhóm sáng tạo hơn “Học nhóm” còn chuẩn bị cho HS cách sống trong thế giới hiện thực - thế giới của sự hợp tác
í Tổ chức và tiến hành “học nhóm”: lớp học theo phương pháp “học nhóm” đòi hỏi sự hợp tác từ nhiều phía: học sinh, giáo viên, Ban Giám Hiệu, Hội PHHS,…
Trang 10thành phần, trình độ, dân tộc và giới tính Trưởng nhóm động viên mọi thành viên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Các thành viên của nhóm có thể phê phán những
tư tưởng khác nhau nhưng không thể phê phán những tư tương của riêng tác giả Những câu hỏi của các thành viên đưa ra làm cho các vấn đề trở nên dể hiểu, giúp cho các thành viên của nhóm thấy được sự khác nhau của các tư tưởng được đưa ra Học sinh phải tôn trọng và lắng nghe ý kiến của tất cả các thành viên trong nhóm
Giáo viên cần đưa ra các quy tắc:
- Hướng dẫn cho HS hiểu các quy tắc và hướng dẫn cho HS làm việc nhằm đem đến cho HS cơ hội lĩnh hội tài liệu học tập Giáo viên còn cần quyết định thời gian làm việc của nhóm Theo A.T.Francisco, các thành viên của nhóm có thể làm việc với nhau trong thời gian ít nhất là một học kỳ Trên lớp, GV có thể áp dụng 70% thời gian để vận dụng kỹ thuật “học nhóm” Trong nhà trường, các giáo viên có thể làm việc như một nhóm để giới thiệu phương pháp “học nhóm” Điều đó góp phần tạo nên việc tuyên truyền và thực hiện phương pháp học mới này ở trường phổ thông
- Học sinh học theo phương pháp “học nhóm” thường phải độc lập làm việc
HS phải tự tìm đọc thêm sách và phải làm những bài tập của riêng mình Vì vậy,
HS rất cần sự ủng hộ của Ban Giám Hiệu và sự hợp tác của cha mẹ trong việc lên kế hoạch và thực hiện phương pháp học tập này
í Hệ thống các biện pháp học tập nhóm (do Kagan đưa ra)
- Để thực hiện có hiệu quả hình thức “học nhóm” ở các giai đoạn khác nhau Thực nghiệm cho thấy, trong các biện pháp đã được nêu không có biện pháp duy nhất nào đem đến hiệu quả cao nhất cho việc lĩnh hội tất cả các môn học
- “Học nhóm” là một trong những hình thức dạy học khơi gợi và tích cực hóa sức mạnh của HS, biến HS từ đối tượng của giáo dục thành chủ đề của giáo dục Từ đó, các em sẽ tự chịu trách nhiệm về sự phát triển của bản thân Thế giới rộng mở trước mắt các em, vì các em không chỉ quan tâm đến vấn đề giải thích thể giới này
ra sau mà còn biết cách hòa nhập cùng thế giới
3.2 Cách bố trí lớp học để học sinh thảo luận nhóm:
í Chính vì muốn HS có điều kiện thể hiện hết tính cách trong học tập nên lớp học có một sơ đồ nhất định Có thể bố trí chổ ngồi theo cụm ba học sinh hoặc bốn
HS để thảo luận khi có vấn đề GV giao cho
í Nếu giờ học được chuẩn bị theo kiểu thầy trò đối thoại trực tiếp thì có thể bố trí chỗ ngồi theo hình chữ U, chữ O, hình vuông (H1) hoặc thành các dãy song song vuông góc với mặt bảng (H2)
Trang 11í Các vai trong nhóm và nhiệm vụ của mỗi vai:
của nhóm, đôn đốc công việc và bảo đảm mọi người đều có cơ hội học hỏi
lại cho nhóm Giữ lại mọi ghi chép cho nhóm và cũng có thể chuẩn bị tài liệu trình bày trước lớp
quy định Đồng thời chú ý nhắc nhở mọi người giữ sạch sẽ nơi nhóm làm việc, giữ trật tự và nếu phải dời đổi bàn ghế để làm việc, giám sát viên có nhiệm vụ nhắc nhở mọi người trả bàn ghế lại chỗ cũ sau khi hoàn thành công việc
Chú ý, sự phân vai khác với sự phân chia công việc của nhóm Thường thường nhóm trưởng có thể đảm nhận vai trò phân chia công việc cho từng thành viên của nhóm
T
T
Trang 12PHẦN III: NỘI DUNG
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SOẠN GIẢNG MỘT SỐ
BÀI TRONG CHƯƠNG TỪ TRƯỜNG VÀ CẢM ỨNG TỪ
1 CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG”:
1.1 Sơ đồ cấu trúc chương :
Khái niệm từ trường
Khái niệm cảm ứng từ
Đường cảm ứng từ
Lực từ tác dụng lên một đoạn
dây dẫn mang dòng điện
TC từ trường
Từ trường trong các dạng mạch
khác nhau
Lực từ tác dụng lên khung dây
mang dòng điện
Lực Lorenxơ Ứng dụng
QT bàn tay trái
QT bàn tay trái
Trang 13* Nhận xét:
• Nội dung chương này gồm hai nhóm kiến thức từ trường và lực từ:
Nhóm thứ nhất gồm các vấn đề: khái niệm từ trường, đại lượng đăäc trưng cho từ trường về mặt tác dụng lực từ, mô tả từ trường bằng phương pháp hình học, từ trường của dòng điện trong các mạch khác nhau
Nhóm thứ hai gồm các vấn đề: lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn mang dòng điện, lực từ tác dụng lên một khung dây mang dòng điện, lực từ tác dụng lên hạt mang điện chuyển động (Lực Lorenxơ), ứng dụng của lực từ
Trong SGK chỉ xét một đặc tính của lực từ Thực ra thì ngoài lực từ từ trường còn năng lượng Nhưng năng lượng là một vấn đề khó (về mặt sư phạm) vì vậy SGK chỉ nói lướt qua trong một trường hợp cụ thể ở chương VIII
Trong chương này còn có một số quy tắc cần nhớ thuộc lòng Trong số đó có những quy tắc có tên gọi gần giống nhau nhưng nội dung lại khác nhau Ta cần chú
ý những quy tắc đó để tránh cho HS hiểu lầm có thể mắc phải
• Phương án SGK:
Nội dung của phương án này gồm các bước sau đây:
a/ Bước thứ nhất nhằm đi đến kết luận rằng trong thiên nhiên ngoài điện trường còn có một loại trường khác gọi là từ trường
Để đi đến kết luận đó đầu tiên SGK đi đến một số thí nghiệm về những tương tác không cùng loại với tương tác điện (và dĩ nhiên cũng không cùng loại với tương tác hấp dẫn) Gọi những tương tác đó là những tương tác từ Từ đó, đưa ra kết luận đã nói trên
b/ Sau khi đã đưa ra khái niệm từ trường SGK đưa ra khái niệm đường cảm ứng từ của từ trường
Đây là một khó khăn của phương án này Đúng ra thì khái niệm đường cảm ứng từ chỉ có thể đưa ra sau khi đã có khái niệm vectơ cảm ứng từ, nhưng việc khảo sát lực từ có liên quan chặt chẽ với đường cảm ứng từ Vì vậy SGK buộc phải đưa
ra khái niệm đường cảm ứng từ trước
Dùng các nam châm thử đặt trong từ trường để rút ra nhận xét có thể vẽ được các đường cong sao cho một nam châm thử nằm cân bằng bất kỳ tại điểm nào trên đường cong cũng tiếp tuyến với đường đó
Ngoài ra, đường cong có chiều xác định (căn cứ vào sự định hướng nam châm thử) Đường cong đó gọi là đường cảm ứng từ
c/ Như đã nói trên, đêû khảo sát lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn mang dòng điện ta phải đặt đoạn dây dẫn trong từ trường đều Nhưng cho đến đây vấn chưa thể đưa ra định nghĩa từ trường đều vì HS chưa có khái niệm vectơ cảm ứng từ
Trang 14khái niệm từ trường đều – các đường cảm ứng từ của từ trường đều là các đường thẳng song song cách đều nhau
d/ Ba bước trình bày trên đưa ra khái niệm đường cảm ứng từ và từ trường có mục đích chuẩn bị nội dụng của bước thứ tư là tiến hành thí nghiệm để rút ra kết luận về phương và chiều của lực từ tác dụng lên một đoạn dây dẫn mang dòng điện
SGK dùng khung dây mang dòng điện treo vào một đầu đòn cân và đặt một cạnh vào trong từ trường đều của nam châm chữ U
Các kết luận về phương và chiều của lực từ rút ra từ các thí nghiệm chỉ áp dụng cho trường hợp riêng là từ trường đều
e/ Sau khi khảo sát phương và chiều của lực từ, hợp lý hơn cả là tiếp sau đó là khảo sát độ lớn của lực từ Nhưng vì HS vẫn chưa có khái niệm cảm ứng từ nên đến đây phải tạm dừng việc khảo sát lực từ để chuyển sang định nghĩa cảm ứng từ của từ trường
Phương pháp đưa ra khái niệm cảm ứng từ ở đây là phương pháp thường được sử dụng trong SGK Ở đây ta vẫn dùng thí nghiệm như đã nói ở bước bốn nhưng bây giờ chuyển sang khảo sát định lượng
f/ Bước 5 trên đây chỉ mới đưa ra khái niệm về độ lớn của vectơ cảm ứng từ
vì vậy nội dung tiếp theo là hoàn chỉnh định nghĩa vectơ cảm ứng từ Đồng thời sau khi có định nghĩa vectơ cảm ứng từ ta trở lại chính xác hóa những điều mà trước đây ta chưa thể giải thích rõ
g/ Khảo sát mômen lực từ tác dụng lên khung dây mang dòng điện đặt trong từ trường đều Xuất phát từ lực từ ta có thể tính toán để rút ra kết luận
h/ Khảo sát lực Lorenxơ cũng có thể xuất phát từ tác dụng lên đoạn dây dẫn mang dòng điện và rút ra kết quả Các thí nghiệm chỉ đóng vai trò minh họa và nghiệm lại các kết quả đó
Phương án này có thể có những ưu điểm lớn sau:
-Thí nghiệm lực từ dùng trong phương án này là thí nghiệm có tính chất kinh điển So với thí nghiệm khác về lực từ thì thí nghiệm này dể thực hiện hơn cả
- Việc hình thành khái niệm cảm ứng từ là xuất phát từ thí nghiệm về lực từ Cách hình thành một khái niệm vật lý bằng cách đó cũng là truyền thống của SGK
ở trường trung học
Điều khó khăn của phương án này là không thể trình bày ngay một lần khái niệm đường cảm ứng từ và khảo sát lực từ phải trình bày đang xen nhau
Trang 151.2 Giáo án một số bài trong chương:
A TÓM TẮT NỘI DUNG
• Tương tác giữa hai NC là tương tác từ
• Thí nghiệm Ơcxtet tương tác giữa NC và dòng điện Nam châm (từ), dòng điện (điện) có liên quan
• Suy luận, dòng điện và dòng điện có thể tương tác với nhau không? Thí nghiệm chứng tỏ dòng điện và dòng điện tương tác với nhau
• Các tương tác trên gọi là tương tác từ Lực tương tác từ giữa chúng gọi là lực từ
• Tương tác từ là tương tác giữa các hạt mang điện chuyển động và không có liên quan gì đến điện trường của các điện tích
• Từ đó người ta đã đưa ra khái niệm từ trường – là dạng vật chất tồn tại xung quanh hạt mang điện chuyển động và tác dụng lực lên hạt mang điện khác chuyển động trong đó
Trang 16B SƠ ĐỒ CẤU TRÚC NỘI DUNG
Xung quanh điện tích đứng
yên có điện trường Vậy xung
quanh điện tích chuyển động
có tồn tại môi trường gì?
Tương tác từ
Khái niệm từ trường
Bài tập vận dung
Nam châm – Nam châm Nam châm – Dòng điện Dòng điện – Dòng điện
Các tương tác này gọi là tương tác từ, lực tác dụng trong trường hợp này là lực từ
Xung quanh dòng điện tồn tại môi trường vật chất gọi là từ trường
TC: Tác dụng lực từ lên hạt
mang điện chuyển động khác trong nó
Nguồn gôùc: gây ra từ trường
của dòng điện là các hạt mang điện chuyển động
ĐN: Từ trường là dạng vật
chất tồn tại xung quanh hạt mang điện chuyển động và tác dụng lực từ lên hạt mang điện khác chuyển động trong nó
Trang 17Ta có thể áp dụng PPTN vào thí nghiệm tương tác giữa hai dây dẫn song song mang dòng điện
*Bước 1: Làm xuất hiện vấn đề
Từ hai TN, NC tác dụng NC và dòng điện tác dụng lên NC Như vậy dòng điện tương nam châm Ta có thể đưa ra vấn đề hai dòng điện đặt gần nhau chúng có tương tác nhau không?
*Bước 2: Đề xuất giả thuyết
Khi NC đặt gần dòng điện thì dòng điện tác dụng lên NC Khi thay NC còn lại bởi dòng điện thì hai dòng điện này có thể tương tác với nhau
*Bước 3: Thảo luận đưa ra phương án thí nghiệm
Để khảo sát sự tương tác giữa hai dòng điện thì dụng cụ ta cần những gì và tiến hành thí nghiệm như thế nào? Ta có thể cho HS thảo luận nhóm đưa ra dụng cụ và phương án tiến hành thí nghiệm
Tiến hành thí nghiệm theo hai trường hợp: hai dòng điện ngược chiều; hai dòng điện cùng chiều
*Bước 4: THTN
GV THTN cho HS quan sát và nhận xét: hai dòng điện ngược chiều: đẩy nhau; hai dòng điện cùng chiều: hút nhau
*Bước 5: GV hướng dẫn HS giải thích tại sao hai dòng điện có thể tương tác
được với nhau Từ đó hình thành nên khái niệm mới cho HS
C SOẠN GIẢNG
I Mục đích bài dạy
Nghiên cứu các thí nghiệm về tương tác từ để xây dựng tương tác từ Từ đó truyền thụ khái niệm từ trường Thông qua bài này ta giới thiệu cho học sinh một dạng vật chất mới – đó là từ trường
II Phương pháp và phương tiện dạy học
- Phương pháp thực nghiệm, đàm thoại, diễn giảng, học nhóm
- Các đồ dùng dạy học: một nam châm thẳng, một kim nam châm, hai dây dẫn thẳng mang dòng điện
- Chuẩn bị : đọc SGK VL 11, SGV
III Nội dung và tiến trình lên lớp
* Chuẩn bị
- Kiểm tra (không)
-VB: Xung quanh điện tích đứng yên có điện trường Còn nếu điện tích chuyển động thì có tồn tại môi trường xung quanh nó không ? Ta sang bài “Từ trường” (3 phút)
Trang 18yên thì xảy ra tương tác điện
Nếu 2 điện tích này chuyển
động chúng ta có tương tác nhau
không? Ta đi vào phần 1
1/ Tương tác từ :
a/ Tương tác giữa hai nam châm:
Ta đã biết hai nam châm
tương tác với nhau Vậy chúng
tương tác với nhau như thế nào?
Các em hãy quan sát ?
Tương tác giữa hai nam
châm với nhau gọi là tương tác
từ
(Mở rộng : giải thích kim nam
châm định hướng bắc nam)
Còn khi ta đặt kim nam
châm gần một dòng điện thì
hiện tượng gì xảy ra ? Các em
hãy quan sát cô làm thí nghiệm
Nếu cô đặt kim nam châm
gần một dây dẫn Khi chưa có
dòng điện chạy qua dây dẫn,
kim nam châm đứng yên Khi
cho dòng điện chạy qua dây
dẫn, các em hãy quan sát?
b/ Tác dụng của dòng điện lên
nam châm:
Thí nghiệm này được nhà
bác học người Đan Mạch tên là
Ơcxtet phát hiện ra Thí nghiệm
Cùng cực : đẩy nhau
Khác cực : hút nhau
Kim nam châm bị lệch, chứng tỏ dòng điện tác dụng lên nam châm
-Khác cực : hút nhau
Tương tác giữa hai nam châm gọi là tương tác từ
?
?
Trang 192
5
3
này chứng tỏ chẳng những nam
châm tác dụng lên nam châm
mà dòng điện cũng có khả năng
tác dụng lên nam châm
Qua thí nghiệm trên hãy so
sánh tác dụng của nam châm và
dòng điện ?
Như vậy, ta có thể thay
nam châm còn lại bởi dòng điện
hay không? Xét tương tác giữa
hai dòng điện
c/ Tương tác giữa hai dòng điện
Để khảo sát tương tác giữa
hai dây dẫn,dụng cụ ta gồm
những gì?
Ta tiến hành thí nghiệm
như thế nào đây?
Bây giờ, cô có 2 dây dẫn
song song và một nguồn điện
một chiều Ta mắc như thế nào
để dòng điện trong 2 hai dây
dẫn là ngược chiều nhau ?
Khi chưa có dòng điện
chạy qua, hai dây ở vị trí song
song nhau
Dòng điện sẽ có chiều
như thế nào theo hình vẽ trên ?
Các em có nhận xét gì về
chiều của dòng điện trong hai
dây dẫn ?
Các em hãy quan sát khi
Dòng điện có vai trò như một nam châm
Hai dây dẫn song song, nguồn điện
D TH1: cho hai dòng điện trong hai dây dẫn ngược chiều
TH2: cho hai dòng điện trong hai dây dẫn cùng chiều
D Học sinh lên bảng vẽ mạch
B→A→C→D
Ngược chiều nhau
Hai dây dẫn
b/ Tác dụng của dòng điện lên nam châm:
- Thí nghiệm Ơcxtet : +Dòng điện tác dụng lên nam châm
+Nam châm (từ) và dòng điện (điện) có mối quan hệ
c/ Tương tác giữa hai dòng điện :
*MĐ: Khảo sát tương tác giữa hai dây dẫn
*DC: Hai dây dẫn, nguồn
*PA: -TH1: Hai dòng điện ngược chiều
-TH2: Hai dòng điện cùng chiều
Trang 203
2
3
có dòng điện chạy qua hai dây
dẫn như thế nào ?
Ta có thể mắc mạch như
thế nào để cho dòng điện trong
hai dây dẫn là cùng chiều ?
Quan sát thí nghiệm ?
Qua thí nghiệm này ta thấy
không phải dòng điện tác dụng
lên nam châm mà còn có thể
tác dụng lên dòng điện khác
Tương tác giữa chúng gọi là
tương tác gì? Ta sang phần d/
d/ Khái niệm tương tác từ :
Trước kia người ta nghĩ rằng
hiện tượng điện và từ độc lập
nhau, có bản chất khác hẳn
nhau Sau thí nghiệm Ơcxtet
người ta đã thay đổi quan niệm
VLH cho rằng, các tương
tác trên là tương tác trên là có
cùng bản chất Vì vậy các tương
tác nói trên gọi chung là tương
tác từ Và lực tương tác giữa
chúng gọi là lực từ
Tương tác từ cũng là tương
tác giữa hai hạt mang điện Vậy
tương tác từ có gì khác với tương
Hai dây dẫn mang dòng điện cùng chiều hút nhau
*KL: Hai dây dẫn mang dòng điện đặt gần nhau chúng tương tác nhau
d/ Khái niệm tương tác tư:ø
Tác dụng giữa :
Trang 213 e/ Tương tác điện và tương tác
từ
Hãy nhắc lại tương tác điện
xảy ra khi nào ?
Ta đã biết các điện tích đặt
gần nhau luôn xảy ra tương tác
điện Trong trường này, tương
tác từ có xảy ra không ?
Bỏ dây nối AC để dây AB
có dòng điện chạy qua, còn dây
CD chỉ có điện tích đứng yên
Quan sát thí nghiệm ?
Vậy tương tác từ xảy ra khi
nào ?
Như vậy, tương tác từ và
tương tác điện khác nhau chỗ
nào?
Tương tác điện xảy ra giữa hai hạt mang điện đứng yên gần nhau
Hai dây không tương tác nhau
Tương tác từ xảy ra giữa hai hạt mang điện chuyển động
Tương tác điện xảy ra giữa hai hạt mang điện đứng yên gần nhau
Tương tác từ xảy ra giữa hai
NC D NC
DĐ D NC
DĐ D DĐ Cùng bản chất : tương tác từ
Lực tương tác : lực từ
e/ Tương tác điện và tương tác từ:
Tương tác điện xảy ra giữa hai hạt mang điện đứng yên gần nhau Tương tác từ xảy ra giữa hai hạt mang điện chuyển động và không liên quan gì đến điện trường của các điện tích
Trang 222
2
3
Tương tác điện và tương tác
từ khác nhau Mà tương tác điện
thông qua môi trường vật chất là
điện trường Vậy tương tác từ có
thông qua môi trường nào
không?
2/ Khái niệm từ trường :
Khi nghiên cứu tương tác từ
giữa hai dòng điện thì người ta
thấy 2 dòng điện này tác dụng
được với nhau thông một môi
trường vật chất gọi là từ trường
Từ trường ta không thể nhìn
thấy được, để phát hiện nó
thông qua tính chất cơ bản là tác
dụng lực từ lên điện tích khác
chuyển động đặt trong nó
Vậy xung quanh dòng điện
có một môi trường là từ trường
Em hãy giải thích tương tác
giữa hai dòng điện?
Hãy định nghĩa từ trường ?
Từ trường do đâu sinh ra ?
Điện tích đứng yên là nguồn
gốc của điện trường tĩnh
hạt mang điện chuyển động
Dòng điện thứ hai đặt trong từ trường của dòng điện thứ nhất và nó chịu tác dụng lực từ của từ trường này Và ngược lại
Từ trường là
…
Do các hạt mang điện chuyển động
2/ Khái niệm từ trường :
-Xung quanh dòng điện tồn tại môi trường vật chất : từ trường
-Khái niệm : từ trường là dạng vật chất tồn tại xung quanh hạt mang điện chuyển động và tác dụng lực từ lên hạt mang điện khác chuyển động trong đó
-Tính chất : gây ra tác dụng lực lên các hạt mang điện chuyển động khác trong nó
- Nguồn gốc : + Điện tích đứng yên là nguồn gốc của điện trường tĩnh
+ Điện tích chuyển động vừa là nguồn gốc của điện trường vừa là nguồn gốc của từ trường
?
?
?
Trang 23Điện tích chuyển động vừa
là nguồn gốc của điện trường
vừa là nguồn gốc của từ trường
*Cũng cố (6 phút)
1/ Từ trường là gì? Tính chất của nó ?
2/ Trả lời các câu hỏi SGK 1,2,3,4,5
—————––––
§47 ĐƯỜNG CẢM ỨNG TỪ
A TÓM TẮT NỘI DUNG
Ÿ Từ trường là dạng vật chất không nhìn thấy được Để nghiên cứu từ trường người ta dùng NC thử – nghiên cứu tác dụng của từ trường lên nó
Ÿ Người ta làm thí nghiệm quan sát sự định hướng của NC thử - kết quả : tại một điểm bất kỳ gần NC thẳng kim NC định hướng như nhau ; tại nhiều điểm khác nhau gần NC thẳng, kim NC định hướng khác nhau
Ÿ Đường cảm ứng từ là đường cong mà tiếp tuyến với nó ở mỗi điểm trùng với trục NC thử đặt tại đó
Ÿ Hình ảnh các mạt sắt sắp xếp lại thành các đường cong xác định gọi là từ phổ của từ trường đang xét
Ÿ Đưa ra khái niệm từ trường đều : đường cảm ứng từ là những đường thẳng song song cách đều tồn tại khoảng giữa hai cực NC chữ U
Ÿ Từ thí nghiệm rắc mạt sắt lên tấm bìa cứng, ta suy ra các đường cong mạt sắt gọi là từ phổ của từ trường đang xét
Trang 24B SƠ ĐỒ CẤU TRÚC NỘI DUNG
Từ trường là dạng vật chất tồn tại không
nhìn thấy Dùng NC thử để nghiên cứu từ
*PA:- Lần lượt đặt các NCT tại một
điểm bất kỳ
- Đặt một NCT tại nhiều điểm kkhác nnhau
- Đặt NCT tai những điểm rất gần nhau
*THTN: - Tại một điểm, định hướng
TN rắc mạt sắt
Các đường cong mạt sắt gọi là từ phổ
của từ trường đang xét
Từ trường đều
Trang 25Ta có thể áp dụng PPTN vào thí nghiệm khảo sát tác dụng của từ trường lên NCT
*Bước 1: Làm xuất hiện vấn đề
Khi nam châm đặt trong từ trường (TN2) chịu tác dụng lực có hướng xác định Làm thế nào để nhận biết được từ trường ?
*Bước 2: Đề xuất giả thuyết
Để mô tả từ trường trực quan ta dựa vào tính chất của nó Ta sẽ nghiên cứu tác dụng của từ trường lên NCT đặt trong nó bằng cách quan sát sự định hướng của NCT
*Bước 3: Thảo luận đưa ra phương án TN
GV gợi ý HS đưa ra phương án thí nghiệm Có thể tiến hành theo ba TH sau:
- TH1: Lần lượt đặt các NCT tại một điểm bất kỳ
- TH2: Đặt NCT tại những điểm khác nhau
- TH3: Đặt NCT tại những điểm gần nhau
*Bước 4: THTN
GV THTN cho HS quan sát và nhận xét từng TH:
- TH1: Các NCT định hướng giống nhau
- TH2: NCT định hướng khác nhau
- TH3: NCT định hướng gần giống nhau
*Bước 5: Nhận xét
Nối các điểm khác nhau tạo thành đường cong, đường cong ấy có chiều xác định
C SOẠN GIẢNG
I Mục đích bài dạy:
Học sinh hiểu được định nghĩa tạm thời về đường cảm ứng từ, từ phổ, từ
trường đều
II Phương pháp và phương tiện dạy học:
- Phương pháp thực nghiệm, đàm thoại, diễn giảng, học nhóm
- Các đồ dùng dạy học: một nam châm thẳng, một nam hình móng ngựa, nam châm thử, mạc sắt
- Chuẩn bị : đọc SGK VL 11, SGV
III Nội dung và tiến trình lên lớp:
- Kiểm tra (5 phút)
1/ Từ trường là gì ? Nêu tính chất cơ bản của từ trường ?
2/ Cho ví dụ về tương tác từ ?
Trang 26thể nhận biết được nó ta dựa vào tính chất của nó là tác dụng lực từ lên nam châm Đây là phương pháp mô tả từ trường bằng sự định hướng của nam châm thử trong nó Ta sang bài mới “Đường cảm ứng từ” (2 phút)
1/ Tác dụng của từ trường lên
nam châm thử Đường cảm ứng
từ
Đây là hình dạng một nam
châm thử (NCT) em nào hãy
định nghĩa NCT là gì?
Ví dụ như kim nam châm
trong la bàn,…
Để nghiên cứu tác dụng của
từ trường lên NCT ta dùng TN
Vậy mục đích TN là gì?
Với mục đích như vậy, dụng
cụ ta cần những gì?
Với dụng cụ như vậy, ta tiến
hành TN như thế nào?
Nam châm thử là một kim nam châm nhỏ và ngắn có thể quay tự do xung quanh một đường thẳng đứng
Khảo sát tác dụng của từ trường lên NCT
Một NC thẳng, các NCT
Đặt NCT xung quanh
NC thẳng và quan sát sự định hướng của NCT
§ 47 ĐƯỜNG CẢM ỨNG TỪ
1/ Tác dụng của từ trường lên nam châm thử Đường cảm ứng từ
a/ Khái niệm:
Nam châm thử (NCT) là một kim nam châm nhỏ và ngắn có thể quay tự
do xung quanh một đường thẳng đứng b/ Thí nghiệm :
*MĐ: Khảo sát tác dụng của từ trường lên NCT
*DC: một NC thẳng, các NC thử
*PA: Tiến hành thí nghiệm theo 3 TH: -TH1: Lần lượt đặt NCT tại một điểm bất kỳ
-TH2: Đặt một NCT tại nhiều điểm khác nhau
-TH3: Đặt NCT tại những điểm gần nhau
Trang 273
3
2
3
Đầu tiên, cô đặt NCT ở gần
đầu thanh nam châm Các em
quan sát và cho nhận xét ?
Nếu cô thay một kim nam
châm khác và đặt tại vị trí đã
được đặt trước Các em có nhận
xét gì ?
Làm thí nghiệm với vị trí
khác ứng với các nam châm
khác? Các em có nhận xét gì ?
Với kim nam châm này cô
sẽ đặt tại các vị trí khác nhau,
các em hãy quan sát và cho nhận
xét về sự định hướng của NCT?
Đặt KNC tại những điểm
gần nhau, KNC định hướng như
thế nào?
Ta có hình vẽ đánh dấu vị trí
kim nam châm như sau :
Qua nhận xét trên các em có
thể rút ra kết luận gì ?
Kim nam châm và thanh nam châm tạo thành một đường thẳng Vẫn định hướng như trước
Tại một điểm bất kỳ các kim nam châm đều định hướng như nhau
Tại các vị trí khác nhau, kim nam châm định hướng khác nhau
Định hướng gần giống nhau
Tại một điểm, các NCT định
hướng giống nhau -TH2: NCT định hướng khác nhau -TH3: NCT định hướng gần giống nhau
*Nhận xét
Nối các điểm khác nhau tạo thành đường cong, đường cong ấy có chiều xác định
Trang 283
2
Đặt kim nam châm tại vị trí
khác nhau và đánh dấu các vị trí
đó như hình trên Nối các vị trí
đó ta được hình dạng gì ?
Các em hãy vẽ trục của kim
nam châm và xem nó như thế
nào so với đường cong ?
Như vậy, ta thấy rằng trong
từ trường có thể vẽ được những
đường cong sao cho tại bất kỳ
điểm nào trên đường cong, trục
của kim nam châm nằm cân
bằng cũng tiếp tuyến với đường
cong ấy
Ngoài ra, sự định hướng của
các kim nam châm tại nhiều
điểm khác nhau trên cùng một
đường cong như thế nào ?
Theo hình trên, nếu di
chuyển theo chiều NABCS trên
đường cong đó bao giờ ta cũng đi
từ cực nam sang cực bắc của nam
châm thử và ta qui ước là chiều
hướng như nhau
Tại các vị trí khác nhau, NCT định hướng khác nhau
Tại những điểm gần nhau, NCT định hướng gần giống nhau
Tạo thành một đường cong
Trục kim nam châm tiếp tuyến với đường cong ấy
Theo một chiều xác định
c/ Định nghĩa : -Đường cảm ứng từ là đường cong mà tiếp tuyến với nó ở mỗi điểm trùng với trục của nam châm thử đặt tại đó
-Đối với từ trường của nam châm các đường cảm ứng từ bao giờ cũng đi ra từ cực bắc và đi vào từ cực nam của nam châm đó
- Tại bất kỳ điểm nào trong từ trường ta cũng có thể vẽ một và chỉ một đường cảm ứng từ qua điểm đó
?
?
?
Trang 294
3
của đường cong Ta gọi đường
cong vẽ được như trên là đường
cảm ứng từ (tại sao sẽ được nói
rõ ở bài sau)
Vậy đường cảm ứng từ là gì?
(cách vẽ, chiều, đặc điểm)
Đối với từ trường của nam
châm các đường cảm ứng từ bao
giờ cũng đi ra từ cực bắc và đi
vào cực nam của nam châm đó
Và tại bất kỳ điểm nào trong từ
trường ta cũng có thể vẽ một và
chỉ một đường cảm ứng từ qua
điểm đó
Một nam châm có thể có vô
số đường cảm ứng từ Hình ảnh
đó được gọi là gì? Ta sang phần
2
2/ Từ phổ
Ta sẽ tiến hành thí nghiệm
với nam châm và mạt sắt Khi
mạt sắt đặt trong từ trường nó có
tác dụng như một nam châm thử
Thí nghiệm : Rắc mạt sắt lên
một tấm bìa cứng và đặt tấm bìa
trên một nam châm – gõ nhẹ
Các em quan sát ?
Hình ảnh các mạc sắt tự sắp
xếp lại thành các đường cong
xác định gọi là từ phổ của từ
trường đang xét
Các đường cong mạt sắt gọi
là gì ?
Dựa vào từ phổ ta có thể biết
Đường cảm ứng từ là đường cong mà tiếp tuyến với nó ở mỗi điểm trùng với trục của nam châm thử đặt tại đó
Các mạt sắt sắp xếp lại thành các đoạn đường cong xác định
Các đường cảm ứng từ
2/ Từ phổ
*TN : Rắc mạt sắt lên tấm bìa cứng và đặt tấm bìa lên một nam châm – gõ nhẹ tấm bìa : các mạt sắt sắp xếp lại thành một đường cong
*KQ : -Hình ảnh mạt sắt tự sắp xếp lại thành các đường cong xác định gọi là từ phổ của từ trường đang xét
-Dựa vào từ phổ ta có thể biết gần đúng về dạng và sự phân bố các đường cảm ứng từ của từ trường
-Từ trường đều :
?
?
?
Trang 30gần đúng về dạng và sự phân bố,
về dạng các đường cảm ứng từ
của từ trường
Người ta định nghĩa thêm từ
trường đều là những đường thẳng
song song cách đều nhau Quan
sát từ phổ của nam châm hình
móng ngựa và kết luận xem có
phải là từ trường đều không?
Trong khoảng giữa hai cực nam châm các đường cảm ứng từ song song cách đều nên là từ trường đều
đường cảm từ là những đường thẳng song song cách đều tồn tại khoảng giữa hai cực nam châm chữ
U
*Cũng cố (4 phút)
1/ Thế nào là đường cảm ứng từ ?
2/ Trả lời các câu hỏi SGK 1,2,3,4,5
?
Trang 31§48 LỰC TỪ TÁC DỤNG LÊN DÂY DẪN MANG DÒNG
ĐIỆN
A TÓM TẮT NỘI DUNG :
Ÿ Khi dây dẫn mang dòng điện đặt trong từ trường thì nó chịu tác dụng của lực từ
Ÿ Lực từ có phương vuông góc với mặt phẳng chứa đoạn dây dẫn và đường cảm ứng từ
Ÿ Chiều của lực từ tuân theo quy tắc bàn tay trái
B SƠ ĐỒ CẤU TRÚC NỘI DUNG :
Ta đã biết, dòng điện đặt
trong từ trường chịu tác dụng của
lực từ Lực này có phương, chiều
như thế nào?
Quy tắc bàn tay trái
Thí nghiệm
Làm bài tập SGK
*MĐ: Khảo sát phương, chiều
của lực từ
*DC: Hệ thốngNC, khung dây,
cân đòn, nguồn điện
*THTN: Cho dòng điện chạy
qua dây dẫn đặt trong từ trường thì nó chịu tác dụng của lực từ
*NX: - Phương lực từ vuông góc
mặt phẳng (I,Bρ
)
- Chiều lực từ, chiều dòng điện, chiều đường cảm ứng từ có liên quan nhau
*PA: Thay đổi chiều I
Thay đổi chiều đường cảm ứng từ
Trang 32Ta có thể áp dụng PPTN vào thí nghiệm khảo sát chiều của lực từ
*Bước 1: Làm xuất hiện vấn đề
Khi cho dòng điện chạy qua dây dẫn đặt trong từ trường thì nó chịu tác dụng của lực từ Khi đổi chiều dòng điện thì chiều lực từ thay đổi Vậy chiều lực từ tuân theo quy tắc nào?
*Bước 2: Đề xuất giả thuyết
GV gợi ý HS đưa ra giả thuyết chiều lực từ có thể phụ thuộc vào chiều dòng điện hoặc chiều của đường cảm ứng từ
*Bước3: Thảo luận đưa ra phương án TN
GV gợi ý HS đưa ra dụng cụ thí nghiệm và có thể THTN theo hai trường hợp:
- TH1: Giữ nguyên chiều đường cảm ứng từ, thay đổi chiều dòng điện
- TH2: Giữ nguyên chiều dòng điện, thay đổi chiều đường cảm ứng từ
*Bước 4: THTN
GV THTN theo từng trường hợp, HS quan sát và nhận xét Trong hai TH chiều lực từ đều thay đổi so với trước
*Bươc 5: Nhận xét
HS rút ra kết luận: chiều lực từ, chiều dòng điện và chiều đường cảm ứng từ có liên quan nhau
C Soạn giảng
I Mục đích bài dạy
Học sinh biết cách xác định phương và chiều của lực từ tác dụng lên đoạn dây dẫn mang dòng điện
II Phương pháp và phương tiện dạy học
-Phương pháp thực nghiệm, đàm thoại, diễn giảng
- Các đồ dùng dạy học: Hệ thống nam châm chữ U, khung dây, nguồn, cân đòn
- Chuẩn bị : đọc SGK VL 11, SGV
III Nội dung và tiến trình lên lớp
- Kiểm tra : Hãy nhắc lại từ trường đều là gì? (2 phút)
-VB: Ta đã biết dòng điện đặt trong từ trường thì có lực từ tác dụng lên nó bây giờ ta khảo sát vấn đề này một cách chi tiết hơn Ta sang bài mới (3 phút)
Trang 33§48 LỰC TỪ TÁC DỤNG LÊN
DÂY DẪN MANG DÒNG ĐIỆN
Lực từ là một đại lượng vectơ vậy
nó có phương và chiều như thế
nào ?
1/ Phương và chiều của lực từ tác
dụng lên dây dẫn mang dòng
điện:
a/ Thí nghiệm :
Để khảo sát phương và chiều
của lực từ thì dụng cụ gồm những
gì ? (dựa vào hình 48.1a)
Treo khung dây ABCD vào
một đầu đòn cân, cạnh AB của
khung dây nằm trong khoảng
không gian giữa hai cực một nam
châm móng ngựa Trên đĩa ở đầu
kia của đòn cân ta đặt các quả
cân cho cân cân thăng bằng
Khi chưa cho dòng điện chạy
qua khung dây thì cân nằêm thăøng
bằng
Bây giờ cô cho dòng điện
chạy qua khung thì cân sẽ như thế
nào ?
Tại sao lại bị mất thăng bằng?
Lực từ tác dụng lên khung
ABCD là tổng hợp các lực từ tác
dụng lên các cạnh của khung Vì
Dụng cụ : -Khung dây -Hệ thống nam châm chữ U →Từ trường đều
-Cân đòn -Nguồn điện
Cân bị mất thăng bằng
Do khung có dòng điện chạy qua đặt trong từ trường sẽ chịu tác dụng của lực từ
§48 LỰC TỪ TÁC DỤNG LÊN DÂY
DÒNG ĐIỆN
1/ Phương và chiều của lực từ tác dụng lên dây dẫn mang dòng điện:
a/ Thí nghiệm: Hình 48.1a
* MĐ : Xác định phương, chiều lực từ
* Dụng cụ :
- Khung dây
- Hệ thống nam châm chữ U
→Từ trường đều
- Cân đòn
- Nguồn điện
* THTN Khi đặt dây dẫn có dòng điện chạy qua trong một từ trường, dây dẫn sẽ chịu tác dụng của lực từ
?
?
?
Trang 342
3
2
từ trường của nam châm chữ U chỉ
tập trung khoảng giữa hai cực
Bên ngoài từ trường rất yếu, do
vậy chỉ có lực từ tác dụng lên
cạnh AB là đáng kể nên ta coi
việc xét lực từ tác dụng lên khung
ABCD thực chất là việc xét lực từ
tác dụng lên cạnh AB của khung
Ta làm thí nghiệm để chứng
tỏ điều đó Rút ngắn dây treo, để
cạnh AB nằm ngoài khoảng
không gian giữa hai cực
Khi đó độ lệch cân đòn như
thế nào so với lần trước ?
Như vậy ta có thể coi đây là
thí nghiệm về lực từ tác dụng lên
đoạn dây AB Bây giờ ta sẽ xét
phương của lực từ
b/ Phương của lực từ:
Ta tiến hành thí nghiệm đặt
cạnh AB trong khoảng giữa hai
cực của nam châm
Ta có hình vẽ mô phỏng
Các em hãy xác định mặt
phẳng chứa dây dẫn và đường
cảm ứng từ của nam châm ?
làm cho cân bị mất thăng bằng
Khi đó độ lệch của đòn cân giảm
đi rõ rệt
b/ Phương của lực từ:
-Phương của lực từ vuông góc với mặt phẳng chứa đoạn dây và đường cảm ứng từ
Trang 35Cho dòng điện chạy qua
khung dây Các em hãy quan sát
phương dịch chuyển của khung và
nhận xét phương của lực từ ? (làm
thí nghiệm)
Ta có nhận xét gì về phương
của lực từ, mặt phẳng chứa dây
dẫn và đường cảm ứng từ ?
Bây giờ nếu cô quay hệ thống
nam châm lại theo hình
Các em hãy xác định mặt
phẳng chứa dây dẫn và đường
cảm ứng từ của nam châm ?
Cho dòng điện chạy qua, hãy
xác định phương của lực từ ?
Trong trường hợp này ta có
nhận xét gì ?
Qua hai TH trên ta có thể rút
ra được kết luận tổng quát về
phương của lực từ ?
Mặt phẳng chứa dây dẫn và đường cảm ứng từ là mặt phẳng nằm ngang
Phương của lực từ theo đường thẳng đứng
Mặt phẳng chứa dây dẫn và đường cảm ứng từ là mặt phẳng nằm ngang và phương của lực từ thẳng đứng nên chúng vuông góc nhau
Là mặt phẳng thẳng đứng
Có phương nằm ngang
Phương của lực từ cũng vuông góc với mặt phẳng chứa dây dẫn và đường cảm ứng từ
Trang 362
3
2
Còn chiều của lực từ tuân
theo qui tắc nào?
c/ Chiều của lực từ :
Để khảo sát chiều lực từ ta có
thể tiến hành thí nghiệm như thế
nào ?
Các em hãy quan sát chiều
của lực từ khi cô cho dòng điện
chạy qua AB?
Cô giữ nguyên chiều dòng
điện và thay đổi chiều đường cảm
ứng từ bằng cách đổi cực nam
châm Chiều lực từ như thế nào ?
Còn nếâu cô giữ nguyên đường
cảm ứng từ so với lúc đầu và đổi
chiều dòng điện Quan sát chiều
của lực từ ?
Như vậy, chiều của lực từ tác
dụng lên một đoạn của dây dẫn
có liên quan với chiều dòng điện
trong đoạn dây dẫn đó và chiều
đường cảm ứng từ của từ trường
gây ra lực từ
Ta qui ước nếu đường cảm
ứng từ đi vào ⊕, đi ra ¤
Ta xét cụ thể khi dòng điện đi
từ A đến B, đường cảm ứng từ từ
bắc sang nam (từ trong ra ngoài)
Phương của lực từ là phương vuông góc với mặt phẳng chứa dây dẫn và đường cảm ứng từ
Thay đổi chiều dòng điện
Thay đổi chiều đường cảm ứng từ
Hướng …
Chiều lực từ thay đổi
Cũng thay đổi
so với trước
c/ Chiều của lực từ Chiều của lực từ tuân theo qui tắc bàn tay trái
* QTBTT : đặt bàn tay trái duỗi thẳng để cho các đường cảm ứng từ xuyên vào lòng bàn tay, chiều từ cổ tưy đến ngón tay trùng với chiều dòng điện Khi đó ngón cái choãi ra 900 sẽ chỉ chiều lực từ tác dụng lên đoạn dây dẫn
* Lực từ Fϖ
do từ trường đều tác dụng lên đoạn dây thẳng có dòng điện I: +Điểm đặt: trung điểm đoạn dây +Phương: vuông góc với mặt phẳng chứa dây dẫn và đường cảm ứng từ
+Chiều: xác định bằng quy tắc bàn tay trái