1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án Tiến sĩ Kế toán: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán báo cáo tài chính do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện tại Việt Nam

12 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 290,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời kết hợp với quá trình phỏng vấn, thảo luận, trao đổi với các chuyên gia quản lý, các KTV thuộc các loại hình doanh nghiệp kiểm toán, luận án rút ra được những “khoảng trống” nghiên cứu chưa được giải quyết, từ đó hình thành nên mục tiêu nghiên cứu tổng quát là khám phá và xác định và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến thời gian kiểm toán báo cáo tài chính do KTĐL thực hiện tại Việt Nam, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm giúp các hãng kiểm toán quản lý hiệu quả cuộc kiểm toán trong bài toán cân bằng chi phí và đạt được mục tiêu kiểm toán một cách hợp lý nhất, đồng thời gia tăng chất lượng kiểm toán cho các công ty kiểm toán đang hoạt động tại Việt Nam.

Trang 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1“Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Đối với các DNKT và kiểm toán viên (KTV), quy định về thời hạn nộp BCTC và báo

cáo kiểm toán dẫn đến áp lực thời gian tương đối lớn và có thể dẫn đến những ảnh hưởng

đối với chất lượng kiểm toán (Lambert và cộng sự, 2017) Nhiều DNKT phải cố gắng thiết

lập những cách thức để giảm áp lực về mặt thời gian gây ra khó khăn cho cuộc kiểm toán để

làm sao vẫn đảm bảo được chất lượng kiểm toán Trong bối cảnh chất lượng kiểm toán và

uy tín có thể chưa được coi là vấn đề đặt ra hàng đầu đối với các DNKT thì việc nghiên cứu

thời gian kiểm toán BCTC do các DNKT thực hiện tại Việt Nam là rất cần thiết bởi thời

gian kiểm toán là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh đến chất lượng kiểm toán

Kiểm soát thời gian kiểm toán BCTC nhằm đảm bảo chất lượng kiểm toán BCTC là mối

quan tâm lớn của các DNKT, cơ quan chức năng, nhà nước cũng như bản thân chính đơn vị

được kiểm toán và những người sử dụng kết quả kiểm toán BCTC Tuy nhiên, hiện nay có

rất ít sự hiểu biết và nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC để

có thể kiểm soát được vấn đề này Việc sắp xếp, lên kế hoạch và áp KTV kiểm toán theo số

giờ đã định có thể ảnh hưởng đến khối lượng, nội dung và phạm vi công việc mà KTV thực

hiện, do đó ảnh hưởng đến khả năng KTV có tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán, hay

bảo đảm chất lượng kiểm toán hay không?

Một số ít những nghiên cứu về thời gian kiểm toán trên thế giới đã chỉ ra tầm quan

trọng của chủ đề này Bởi vì chi phí lớn nhất để thực hiện một cuộc kiểm toán chính là thời

gian làm việc của các thành viên nhóm kiểm toán, tính chính xác của việc sắp xếp quỹ thời

gian kiểm toán là nhân tố quan trọng trong việc kiểm soát chi phí kiểm toán Đặc biệt trong

thị trường kiểm toán càng ngày càng cạnh tranh hơn, các công ty kiểm toán thường đưa ra

mức phí kiểm toán ở mức thấp có thể Theo các chuyên gia của các hiệp hội nghề nghiệp,

kiểm soát và lập kế hoạch về thời gian kiểm toán là rất cấp thiết và là một trong những yếu

tố giúp các công ty xây dựng được mức giá phí hợp lý và đảm bảo chất lượng hợp đồng

kiểm toán Tuy nhiên, việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán hiện

nay hầu như rất ít và chưa được nghiên cứu tại Việt Nam Nếu như tìm ra được các các nhân

tố tác động đến thời gian kiểm toán và mức độ ảnh hưởng thì đề tài không chỉ đóng góp vào

cơ sở lý luận mà còn giúp các DNKT trong việc nâng cao hiệu quả của các hợp đồng kiểm

toán, từ đó nâng cao được chất lượng kiểm toán và vị trí của các DN

1.2 Tổng quan nghiên cứu về các“nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC

1.2.1 “ Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến ” thời gian

kiểm toán BCTC tại Việt Nam

1.2.2 “ Tổng quan các công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng ” đến thời gian kiểm toán BCTC trên thế giới

1.2.3 Khoảng trống nghiên cứu 1.2.4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu để làm rõ và xác minh các nhân tố và mức độ ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC do các công ty kiểm toán độc lập thực hiện tại Việt Nam

1.2.5 Câu hỏi nghiên cứu

1 Thời gian kiểm toán được xác định như thế nào?

2 Những nhân tố nào tác động tới thời gian kiểm toán trong kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập tại Việt Nam?

3 Mức độ tác động của các nhân tố đến thời gian kiểm toán?

4 Những hàm ý gì rút ra từ kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán?

1.2.6 “ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: từ mục tiêu nghiên cứu trên, đối“tượng nghiên cứu của luận án này là các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập thực hiện”tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán tại Việt Nam, các KTV thuộc các hãng kiểm toán độc lập đang hành nghề tại Việt Nam chủ yếu từ các cấp bậc KTV cao cấp đến phó tổng giám đốc kiểm toán (TVBGĐ), các chuyên gia chuyên sâu về lĩnh vực kiểm toán, kế toán từ các trường đại học, các hiệp hội nghề nghiệp,

Nghiên cứu được thực hiện tập trung vào việc khám phá các nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán BCTC, đo lường tác động của các nhân tố đến thời gian kiểm toán Thời gian nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2015 cho đến tháng 03 năm 2019

Địa bàn nghiên cứu được khảo sát và thực hiện tại các doanh nghiệp và các KTV tại các khu vực tập trung nhiều DNKT với quy mô lớn và hoạt động phong phú như tại Hà Nội

và Thành phố Hồ Chí Minh

1.2.7 Phương pháp nghiên cứu

Đầu tiên Luận án thực hiện nghiên cứu định tính để khám phá các nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán trong bối cảnh tại Việt Nam và do KTĐL thực hiện Tiếp đó, sau khi đã hình thành được mô hình nghiên cứu phù hợp, Luận án thực hiện kiểm định các nhân

tố tác động đó thông qua điều tra, khảo sát những nhân sự kiểm toán phù hợp và các chuyên gia trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán

1.2.8 Đóng góp mới của đề tài

Trang 2

Đề tài khai thác khoảng trống nghiên cứu về thời gian kiểm toán tại“VN cho đến thời

điểm thực hiện, đồng thời kế thừa những nghiên cứu liên quan trên thế giới, Luận án xác

định các nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán do KTĐL thực hiện tại Việt Nam và xác

định mức độ tác động của các nhân tố đó trong bối cảnh của Việt Nam Luận án phát hiện ra

7 nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán bao gồm: các nhân tố thuộc về khách hàng và

môi trường kiểm toán liên quan như tính phức tạp trong quy mô, cấu trúc hoạt động của

khách hàng; tính phức tạp trong việc lập BCTC của khách hàng; kiểm soát nội bộ (KSNB)

của khách hàng; rủi ro kiện tụng ảnh hưởng đến DNKT và KTV; các nhân tố thuộc về công

ty kiểm toán và cá nhân KTV như: tính chuyên chuyên nghiệp của DNKT; kinh nghiệm của

KTV và năng lực nhân sự của DNKT Trong quá trình kiểm định mô hình, luận án đã cố

gắng tìm ra nhân tố có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định tăng giảm thời gian kiểm toán

của KTV

1.2.9 Kết cấu của luận án

Để truyền tải được các nội dung và ý nghĩa của đề tài, Luận án được thiết kế thành 5

chương:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác động tới thời gian kiểm toán BCTC do

kiểm toán độc lập thực hiện

Chương 3: Quy trình và Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Phân tích thực trạng và kết quả thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng

đến thời gian kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập thực hiện tại Việt Nam

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

CHƯƠNG 2

“CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI THỜI GIAN KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP THỰC HIỆN 2.1 Một số lý thuyết đương đại được sử dụng làm nền tảng cho luận án

2.1.1 Lý thuyết người đại diện (Agency theory) 2.1.2“Lý thuyết quản trị dựa trên nguồn lực”

2.1.3 Lý thuyết doanh nghiệp từ góc nhìn tri thức

Hình 2.3: Khung lý thuyết của luận án

Nguồn: NCS tự tổng hợp

2.2 Những vấn đề lý luận chung về thời gian kiểm toán

Việc xác định thời gian kiểm toán có thể đo lường bằng số giờ thực hiện kiểm toán, thời gian kiểm toán theo kế hoạch và thời gian kiểm toán thực tế, thời gian kiểm toán cũng

có thể xác định theo số ngày tính từ ngày kết thúc kỳ kế toán lập báo cáo tài chính đến ngày phát hành báo cáo, ngày này so sánh với thời hạn nộp báo cáo tài chính có thể xác định được độ trễ của cuộc kiểm toán Việc xác định thời gian kiểm toán được quy định rõ ràng trong các bộ chỉ số chất lượng kiểm toán của một số quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Singapore, trong đó có các hướng dẫn chi tiết việc xác định số giờ kiểm toán như thế nào, như một tiêu chí để những người quan tâm làm cơ sở định lượng để đánh giá chất lượng mỗi cuộc kiểm toán

Các công trình nghiên cứu đã xem xét các yếu tố tác động đến chất lượng kiểm toán, bao gồm: khối lượng, phạm vi các thủ tục kiểm toán, số giờ thực hiện kiểm toán, tỷ lệ các sai sót phát hiện,…Các nghiên cứu cũng cho thấy có một số nhân tố đầu vào, đầu ra và trong quá trình kiểm toán, khi xem xét tổng thể có thể chỉ ra khả năng và cam kết của DN kiểm toán, nhóm kiểm toán trong việc cung cấp dịch vụ kiểm toán có chất lượng cao Các

Các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán

Thời gian kiểm toán BCTC

Những khuyến nghị nhằm:

- Quản lý hiệu quả thời gian kiểm toán

- Nâng cao chất lượng kiểm toán

Lý thuyết người đại diện

Lý thuyết DN từ góc nhìn tri thức

Trang 3

yếu tố này bao gồm hệ thống và quá trình kiểm soát chất lượng, các đặc điểm của nhóm

kiểm toán, kết quả các cuộc kiểm tra, kiểm toán nội bộ và bên ngoài…Tuy nhiên,”để đánh

giá tổng thể thì cần thiết phải có sự tập hợp các yếu tố này lại và thiết kế, đánh giá được trên

cơ sở đo lường và so sánh, từ đó một số quốc gia đã xây dựng được Bộ chỉ số chất lượng

kiểm toán (AQIs).”

Khuôn khổ về Chất lượng Kiểm toán (IAASB - IFAC)

IAASB đã đưa ra một số những nhân tố thuộc về đầu vào, kết quả đầu ra và các nhân

tố thuộc về quy trình kiểm toán Từ đó tổng hợp thành các yếu tố chính tác động đến chất

lượng kiểm toán và thuộc tính của các yếu tố này Trong đó, thời gian kiểm toán nằm trong

nhóm các yếu tố chính thuộc yếu tố đầu vào có tác động đến chất lượng kiểm toán Chi tiết

hơn, ở cấp độ hợp đồng dịch vụ, thuộc tính mô tả cho yếu tố đầu vào thuộc về thời gian

kiểm toán được xác định bao gồm:“Thành viên BGĐ phụ trách hợp đồng tham gia tích cực

vào việc đánh giá rủi ro, lập kế hoạch, giám sát công việc của cuộc kiểm toán; Thành viên

BGĐ và nhân viên có đủ thời gian để thực hiện công việc một cách hiệu quả Đối với cấp độ

hãng kiểm toán, thuộc tính mô tả cho yếu tố đầu”vào thuộc về thời gian kiểm toán được xác

định bao gồm:“Thành viên BGĐ và nhân viên có đủ thời gian để giải quyết các vấn đề khó

phát sinh

Trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn phát sinh, giám đốc phụ trách kiểm toán

và các kiểm toán viên cao cấp thường phải làm việc với các cuộc kiểm toán có thời gian

biểu phát hành báo cáo tương tự nhau Vì vậy dẫn đến khoảng thời gian quá tải tập trung

vào các hoạt động Bên cạnh đó, họ cũng thường phải thực hiện một số dịch vụ phi kiểm

toán cho khách hàng hoặc trong chính hãng kiểm toán Điều quan trọng là các công ty kiểm

toán phải dự đoán một cách tốt nhất có thể và quản lý các vấn đề về xung đột thời gian khi

phân bổ trách nhiệm cho các nhân viên Ban giám đốc công ty kiểm toán cần chủ động theo

dõi mức độ công việc để giảm thiểu rủi ro rằng một gánh nặng công việc không thể chấp

nhận được đặt lên từng giám đốc phụ trách kiểm toán hoặc nhân viên kiểm toán

Việc phân bổ nguồn lực đảm bảo chất lượng kiểm toán bao gồm việc thu thập thông

tin về: kỹ năng và kinh nghiệm; các cam kết về thời gian dự kiến và thời gian của hợp đồng

cung cấp dịch vụ để tạo điều kiện tuân thủ các yêu cầu về đạo đức

Bộ chỉ số Chất lượng kiểm toán AQIs của Ủy ban Giám giát các DN kiểm toán Hoa Kỳ - PCAOB

Các vấn đề nêu trong Bộ chỉ số AQIs - PCAOB bao gồm: (i) bản chất của các chỉ số

tiềm năng, (ii) tính hữu dụng của các chỉ số cụ thể, (iii) các đề xuất cho các chỉ số khác, (iv)

người sử dụng tiềm năng của các chỉ số, và (v) một cách tiếp cận để thực hiện Bộ chỉ số AQIs

PCAOB-AQIs mô tả và đưa ra những bình luận về 28 chỉ số tiềm năng, đề xuất các

chỉ số khác 28 chỉ số này thuộc vào ba nhóm: nhóm đầu tiên thuộc về “chuyên gia kiểm

toán”, nhóm thứ hai thuộc về “Quy trình kiểm toán” và nhóm thứ ba thuộc về “Các kết quả

kiểm toán” Trong nhóm “Chuyên gia kiểm toán”, PCAOB-AQIs đã đưa ra hai chỉ số đánh

giá ở đây là “Số giờ kiểm toán và Khu vực rủi ro” và “Sự phân bổ số giờ kiểm toán cho các

giai đoạn của cuộc kiểm toán”.” Chỉ số về “Số giờ kiểm toán và Khu vực rủi ro” đo lường thời gian được sử dụng bởi các thành viên của cuộc kiểm toán ở tất cả các cấp độ vào các khu vực chứa đựng rủi ro được phát hiện trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán Chỉ số “Sự phân bổ số giờ kiểm toán cho các giai đoạn của cuộc kiểm toán”: chỉ số này đo lường những nỗ lực và sự sắp xếp nhân sự dành cho các giai đoạn của cuộc kiểm toán Hướng dẫn từ PCAOB đưa ra cách tính toán như bảng dưới đây:

Bảng 2.2: Hướng dẫn tính chỉ số “sự phân bổ số giờ kiểm toán cho các giai đoạn của cuộc kiểm toán”

Tổng số giờ tính phí của năm hiện tại (được lập kế hoạch) và năm trước (thực tế) cho từng giai đoạn kiểm toán liên quan (nghĩa là lập kế hoạch, soát xét hàng quý, kiểm toán

sơ bộ, kiểm toán chính thức cho đến ngày phát hành báo cáo và công việc sau khi hoàn thành) cho các phó tổng giám đốc kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán, nhân viên kiểm toán, nhân sự về kỹ thuật, chuyên gia và người soát xét chất lượng kiểm toán

Tỷ lệ phần trăm giờ kiểm toán của công ty dành cho việc lập kế hoạch, soát xét theo quý, kiểm toán sơ bộ, kiểm toán chính thức cho đến ngày phát hành báo cáo và công việc sau khi hoàn thành cho các phó tổng giám đốc kiểm toán, chủ nhiệm kiểm toán, nhân viên kiểm toán, nhân sự về kỹ thuật, chuyên gia và người soát xét chất lượng kiểm toán

(Nguồn: tổng hợp từ PCAOB-AQIs, 2015)

Bộ chỉ số AQIs của Cơ quan Quản lý KT và DN Singapore (ACRA)

Trong hướng dẫn cho các hãng kiểm toán về các chỉ số chất lượng kiểm toán (Guidence to Audit firms on ACRA’s Audit Quality Indicators disclosure framework) do

Cơ quan Quản lý KT và DN Singapore (ACRA – Accounting and Corporate Regulatory Authority) đã đưa ra 08 chỉ số, bao gồm: Số giờ kiểm toán được thực hiện bởi các thành viên kiểm toán cao cấp (senior); kinh nghiệm kiểm toán và sự chuyên môn hóa theo lĩnh vực; Hoạt động đào tạo; Kết quả của các cuộc kiểm tra; Tuân thủ yêu cầu về tính độc lập; Kiểm soát chất lượng; Sự giám sát nhân viên; Tỷ lệ nhân viên kiểm toán nghỉ việc Đối với tổng số giờ kiểm toán, trong bản hướng dẫn đưa ra bao gồm:

- Số giờ kiểm toán cho cuộc kiểm toán các đơn vị thuộc tập đoàn (công ty con, liên doanh, liên kết) phát sinh tính cho các hãng kiểm toán của Singapore và các hãng thành viên trong cùng mạng lưới

- Số giờ kiểm toán phát sinh bởi các chuyên gia (bao gồm cả trong và ngoài hãng kiểm toán) trong các lĩnh vực như tư vấn kỹ thuật, công nghệ thông tin, thuế hoặc định giá

- Số giờ kiểm toán phát sinh bởi các nhân viên chuyên nghiệp từ các văn phòng thuê ngoài hoặc các hãng thành viên ở nước ngoài đến công ty ở Singapore làm việc

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận án, thời gian kiểm toán được xác định là

số giờ kiểm toán thực tế cho mỗi khách hàng được tiến hành bởi các thành viên tham gia

Trang 4

hợp đồng kiểm toán Số giờ ở đây bao gồm cả số giờ kiểm toán sơ bộ (interim) và số giờ

kiểm toán chính thức (final)

Trong quá trình nghiên cứu, thực tế về số giờ kiểm toán là một yếu tố nhạy cảm

thuộc về nội bộ của DNKT và Việt Nam chưa có các quy định về công bố thông tin về thời

gian kiểm toán cho từng khách hàng Vì vậy, để đánh giá và đo lường về thời gian kiểm

toán, khi tiến hành điều tra khảo sát Luận án đã xác định cụ thể, rõ ràng cho các đối tượng

khảo sát về việc xác định những đối tượng nào tính vào thời gian kiểm toán để thống nhất

về mặt khái niệm.“Tổng hợp nội dung từ bộ chỉ số AQIs của các quốc gia, tổ chức được đề

cập ở trên cho thấy các bộ AQIs đều đưa ra hướng dẫn, các tiêu chí đánh giá về thời gian

kiểm toán như: sự phân bổ số giờ kiểm toán cho các giai đoạn của cuộc kiểm toán; việc

phân bổ thời gian vào các khu vực có chứa đựng rủi ro được phát hiện trong quá trình lập kế

hoạch kiểm toán; thành viên BGĐ phụ trách hợp đồng tham gia tích cực vào việc đánh giá

rủi ro, lập kế hoạch, giám sát công việc của cuộc kiểm toán; thành viên BGĐ và nhân viên

chuyên nghiệp có đủ thời gian để thực hiện công việc một cách hiệu quả; thành viên BGĐ

và nhân viên có đủ thời gian để giải quyết các vấn đề khó phát sinh;”hoặc những áp lực từ

về phí kiểm toán bị hạn chế bởi BLĐ để giảm số lượng các thủ tục kiểm toán, và đây cũng

là những gợi ý để luận án khảo sát về các tiêu chí đánh giá thời gian kiểm toán khi tiến hành

điều tra khảo sát

2.3 Cơ sở xác định“các nhân tố ảnh hưởng đến”thời gian kiểm toán BCTC do kiểm

toán độc lập thực hiện

2.3.1 Mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc về khách hàng và môi trường kiểm toán với

thời gian kiểm toán BCTC

a Đặc điểm về cấu trúc hoạt động và quy mô của khách hàng

b Đặc điểm về quy trình lập BCTC của khách hàng

c Kiểm soát nội bộ của khách hàng

d Rủi ro kiện tụng có ảnh hưởng đến DN kiểm toán và KTV

2.3.2 Cơ sở xác định mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc về doanh nghiệp kiểm toán và

KTV với thời gian kiểm toán

a Tính chuyên nghiệp của DNKT và KTV

b Kinh nghiệm của KTV

c Năng lực nhân sự kiểm toán của DNKT

2.3.3 Các nhân tố khác có ảnh hưởng tới thời gian kiểm toán

Ngoài các nhân tố ở bên trên có thể có những ảnh hưởng rõ rệt nhất đến thời gian kiểm toán,

thì còn có thể có nhiều nhân tố khác ảnh hưởng như giá phí kiểm toán, giới tính của KTV,

2.4 Xác lập khung nghiên cứu, các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

2.4.1 Nhân tố mục tiêu (Biến phụ thuộc)

2.4.2 Nhân tố tác động (Biến độc lập)

Luận án đưa ra các giả thuyết sau đây:

chiều tới Thời gian kiểm toán (AT) H2: Tính phức tạp của quy trình lập BCTC của khách hàng (FSCPL) có ảnh hưởng cùng chiều tới Thời gian kiểm toán (AT)

H3: Rủi ro kiểm soát (CR) có ảnh hưởng cùng chiều tới Thời gian kiểm toán (AT) H4: Rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV (LR) có ảnh hưởng cùng chiều tới Thời gian kiểm toán (AT)

H5: Kinh nghiệm của DNKT và KTV (EXP) có ảnh hưởng ngược chiều tới Thời gian kiểm toán (AT)

H6: Tính chuyên nghiệp của DNKT và KTV (PRO) có ảnh hưởng ngược chiều tới Thời gian kiểm toán (AT)

H7: Năng lực nhân sự kiểm toán của DNKT (AC) có ảnh hưởng ngược chiều tới Thời gian kiểm toán (AT)

2.4.3 Biến kiểm soát 2.4.4 Mô hình nghiên cứu

Hình 2.4 : Mô hình nghiên cứu đề xuất

CR

Thời gian kiểm toán (AT)

LR

EXP

PRO

AC

FSCPL

Những hàm ý đối với chất lượng kiểm toán

Biến quan sát: giới tính,

giá phí kiểm toán,…

OPEC

Chú thích:

- AT: Thời gian kiểm toán - FSCPL: Tính phức tạp trong quy trình lập BCTC

- OPEC: Đặc điểm, quy mô hoạt động của khách hàng - CR: Rủi ro kiểm soát

- LR: Rủi ro kiện tụng liên quan đến DNKT/KTV - EXP: Kinh nghiệm của DNKT/KTV

- PRO: Tính chuyên nghiệp của DNKT/KTV - AC: Năng lực nhân sự kiểm toán của DNKT

Trang 5

CHƯƠNG 3:

QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình và phương pháp nghiên cứu

3.1.1 Quy trình nghiên cứu

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu dự kiến

(Nguồn: tổng hợp)

3.1.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2 Thiết kế nghiên cứu định tính

3.3 Thiết kế nghiên cứu định lượng

3.3.1 Mô hình nghiên cứu

Thông qua phân tích và tổng hợp các nhân tố tác động, Luận án đã thiết kế mô hình

nghiên cứu đề xuất như sau:

Nghiên cứu định tính

Xây dựng mô hình nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu định lượng

Tổng quan các công trình

nghiên cứu

Thu thập

và xử lý

dữ liệu

Kết luận và hàm ý từ nghiên cứu

Tìm ra các nhân

tố tác động đến thời gian kiểm toán và xu hướng tác động

Phân tích

& diễn giải

dữ liệu

Khoảng trống nghiên cứu

AT = β 0 + β 1 * OPEC + β 2 * FSCPL + β 3* CR + β 4* LR + β 5* EXP + β 6* PRO + β 7* AC + µ i

Biến phụ thuộc – Số giờ kiểm toán (AT): Thời gian kiểm toán được xác định bao gồm

tổng số giờ tính phí của các thành viên chuyên nghiệp tham gia cuộc kiểm toán ở các giải đoạn của cuộc kiểm toán, bao gồm: Số giờ thực hiện bởi các TVBGĐ (partner) phụ trách hợp đồng kiểm toán và TVBGĐ soát xét hợp đồng kiểm toán; Số giờ thực hiện bởi các chủ nhiệm kiểm toán (CNKT-manager); Số giờ thực hiện bởi các nhân viên chuyên nghiệp (senior, assisstant); Số giờ tham khảo chuyên gia;

Biến độc lập – Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC do kiểm toán độc

lập thực hiện bao gồm: đặc điểm về cấu trúc hoạt động, quy mô của khách hàng; Đặc điểm

về quy trình lập BCTC của khách hang; Rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV; Kiểm soát nội bộ của khách hang; Tính chuyên nghiệp của DNKT, KTV; Kinh nghiệm của DNKT, KTV; Năng lực nhân sự kiểm toán của DNKT

Biến kiểm soát: trong thực tế sẽ còn phát sinh nhiều nhân tố tác động hơn nữa, ngoài

các biến phụ thuộc ở trên đã đề cập, Luận án đã tính đến một số biến kiểm soát, bao gồm: giới tính, giá phí kiểm toán,

3.3.2 Nguồn dữ liệu của Luận án

Nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận án khi thực hiện nghiên cứu định lượng là các thông tin thu trực tiếp qua email, các phương tiện truyền thông từ các phiếu khảo sát đã được làm sạch và loại bỏ những phiếu không đầy đủ hoặc không đáp ứng được yêu cầu của nghiên cứu

3.3.3 Đối tượng và quy mô mẫu khảo sát

Đối tượng khảo sát được xác định trong nghiên cứu định lượng của luận án chủ yếu

là các KTV từ vị trí trưởng nhóm kiểm toán (senior) trở lên, chủ nhiệm kiểm toán (CNKT)

và phó tổng giám đốc phụ trách cuộc kiểm toán – thành viên Ban giám đốc (TVBGĐ), các phó tổng giám đốc phụ trách chất lượng kiểm toán tại các hãng kiểm toán và các chuyên gia thuộc các hiệp hội nghề nghiệp của Việt Nam và quốc tế, các giảng viên giảng dạy kế toán, đặc biệt nghiên cứu về kiểm toán tại các trường đại học Do đặc thù của nghề nghiệp kiểm toán, loại hình DNKT có vai trò tác động nhiều đến việc tổ chức, sắp xếp cuộc kiểm toán, vì vậy NCS đã khảo sát thành 3 đối tượng chủ yếu là các hãng kiểm toán quốc tế thuộc 4 hãng kiểm toán lớn nhất thế giới và Việt Nam, nhóm thứ 2 là các doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận kiểm toán các công ty niêm yết theo quy định của Ủy ban chứng khoán, và các DNKT địa phương với quy mô nhỏ hơn (hoàn toàn của Việt Nam, được thành lập và hoạt động chỉ ở Việt Nam) để tăng tính đồng nhất cho các nhóm đối tượng

Sau thời gian khoảng 4 tháng (từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 1 năm 2020) kể từ khi gửi bảng câu hỏi khảo sát đến các KTV Trong quá trình khảo sát, bên cạnh các quan sát thu thập qua khảo sát trực tiếp, luận án chủ yếu sử dụng công cụ khảo sát google forms thông qua thư điện tử, số phản hồi thu về là 258 phiếu Chất lượng phiếu phản hồi thu về rất

Trang 6

tích cực, trong đó có 250 phiếu hợp lệ và chỉ có 08 phiếu loại trừ, điều này do có sự lựa

chọn đối tượng phù hợp với tổng thể nghiên cứu ngay từ khi gửi phiếu khảo sát Với số

phiếu quan sát thu về là 250, đối chiếu vào hướng dẫn về kinh nghiệm của các nghiên cứu

trước đây, với thang đo có 36 biến quan sát, số lượng quan sát 250 có thể chấp nhận được

với thủ tục phân tích nhân tố khám phá (với phân tích nhân tố khám phá EFA, theo nghiên

cứu của Hair, Anderson, Tatham và Black (1998) tham khảo về kích thước mẫu dự kiến tối

thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát Trong nghiên cứu này, có 36 biến quan sát, cỡ mẫu

cần đạt tương ứng là 36*5 = 180 phần tử)

3.3.4 Quy trình và phương pháp phân tích dữ liệu định lượng

a Thiết kế phiếu câu hỏi

b Chọn mẫu khảo sát

c Thu thập dữ liệu khảo sát

d Xử lý dữ liệu thô

e Kiểm định chất lượng thang đo

g Phân tích nhân tố khám phá

h Kiểm định mô hình hồi quy

CHƯƠNG 4:

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN

TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỜI GIAN KIỂM TOÁN BCTC DO KTĐL THỰC

HIỆN TẠI VIỆT NAM 4.1 Thực trạng về hoạt động, chất lượng KTĐL tại Việt Nam 4.2 Kết quả nghiên cứu định tính khám phá các nhân tố tác động tới thời gian kiểm toán BCTC do các DNKT thực hiện tại Việt Nam

4.2.1 Phương pháp thực hiện và đối tượng tham gia khảo sát 4.2.2 Quy trình thực hiện

4.2.1.1 Đề cương câu hỏi khảo sát chuyên gia

Các câu hỏi cụ thể được thiết kế như sau:

(1) Anh/chị có thể mô tả tóm tắt công việc của anh chị hiện nay: hiện nay anh/chị đang làm trong lĩnh vực nào, những khách hàng nào anh/chị hay phụ trách (nếu là KTV)? Với đối tượng KTV:

(2) Anh/chị cho biết số lượng khách hàng của anh chị đang kiểm toán có gặp những

áp lực lớn về thời gian không?

(3) Theo anh/chị những vấn đề nào mà một công ty kiểm toán cần quan tâm khi cung cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng?

(4) Tại doanh nghiệp anh/chị, thời gian kiểm toán được xác định khi nào và xác định như thế nào? Công ty anh/chị có các hướng dẫn chi tiết về xác định thời gian kiểm toán hay không?

(5) Theo anh/chị, những nhân tố nào tác động đến thời gian kiểm toán? Trong những nhân tố đó, anh/chị thấy nhân tố nào có tác động mạnh nhất đến thời gian kiểm toán và hướng tác động của chúng như thế nào?

(6) Anh/chị có đưa ra những kiến nghị/đề xuất gì để giúp DNKT/KTV kiểm soát, quản

lý được thời gian kiểm toán tốt hơn không?

4.2.2.2 Thực hiện khảo sát

4.2.3 Kết quả nghiên cứu định tính

Các khái niệm được hình thành qua việc tổng hợp kết quả các nghiên cứu trước đây

và ý kiến thảo luận qua quá trình khảo sát đều có sự thống nhất Có 7 nhân tố tác động đến thời gian kiểm toán chia thành 2 nhóm Nhóm thứ nhất thuộc về khách hàng kiểm toán, bao gồm: đặc điểm, quy mô hoạt động của khách hàng; đặc điểm quy trình lập BCTC của khách hàng; kiểm soát nội bộ của khách hàng và rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV Nhóm tiếp theo thuộc về DNKT và KTV, nhóm này bao gồm các nhân tố: kinh nghiêm, tính chuyên nghiệp và năng lực nhân sự của DNKT/KTV, chi tiết như bảng dưới đây:

Trang 7

hưởng của các nhân tố trên đến thời gian kiểm toán thông qua phân tích thực nghiệm bằng

nghiên cứu định lượng

4.3 Phân tích kết quả thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán

BCTC do KTĐL thực hiện tại Việt Nam

4.3.1 Đặc điểm mẫu

4.3.2 Phân tích thống kê mô tả mẫu

4.3.3 Đánh giá độ tin cậy của thang đo

Với phạm vi của luận án, mẫu nghiên cứu có kích thước là 250 đơn vị, Luận án giữ

lại các thang đo có hệ số Cronbach’s alpha >= 0,6; hệ số Cronbach’s alpha If Item Deleted

nhỏ hơn hệ số Cronbach’s alpha của biến tổng và có hệ số tương quan biến tổng >=0,3 Tất

cả thang đo thành phần tương ứng với các biến thuộc mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh

hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC do KTĐL thực hiện tại Việt Nam đều đạt yêu cầu về

độ tin cậy do có hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6, đồng thời hệ số tương quan biến tổng

của các biến quan sát trong từng thang đo thành phần đều lớn hơn 0,3.”

Như vậy kết quả đánh giá giá trị thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha cho

thấy các biến quan sát đã được xác định trước đây trong mô hình đều được giữ lại

4.3.4 Xây dựng ma trận tương quan

Ma trận trên cho biết tương quan giữa biến phụ thuộc Thời gian kiểm toán (AT) với

từng biến độc lập Mức độ tương quan giữa biến EXP (Kinh nghiệm của DNKT và KTV) và

biến phụ thuộc AT (Thời gian kiểm toán) là mạnh nhất và có ảnh hưởng ngược chiều với

biến phụ thuộc AT Kết quả phân tích tương quan cho thấy giữa biến phụ thuộc và các biến

độc lập có mối liên hệ ở giá trị sig<0.05 (có ý nghĩa thống kê)

4.3.5 Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

4.3.5.1 Phân tích nhân tố khám phá liên quan đến các nhân tố tác động đến thời gian kiểm

toán BCTC do các DNKT thực hiện tại Việt Nam

Kiểm định KMO và Kiểm định Barlett

Kiểm định phương sai cộng dồn (phương sai trích - % cumulative variance)

Kết quả mô hình EFA

Kết quả cho thấy các nhân tố: Kiểm soát nội bộ của khách hàng; Tính chuyên nghiệp

của DNKT và KTV; Đặc điểm hoạt động, quy mô của khách hàng; Đặc điểm của quy trình

lập BCTC của khách hàng; Rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV; Năng lực nhân sự

kiểm toán; Kinh nghiệm kiểm toán đề có quan sát cùng tải về một yếu tố độc lập và hệ số tải

(Factor loading) lớn hơn 0,3 có giá trị thỏa mãn yêu cầu Như vậy, các thang đo được xây

dựng cho biến độc lập trong mô hình đảm bảo yêu cầu và tiếp tục được sử dụng trong

nghiên cứu

4.3.5.2 Phân tích nhân tố khám phá liên quan đến thời gian kiểm toán BCTC do các DNKT

thực hiện tại Việt Nam

4.3.6 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (MLR)

Căn cứ vào các nhân tố được khám phá trong các bước đã nêu ở trên, mô hình hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC do các DNKT độc lập thực hiện tại Việt Nam được đưa ra như sau:

AT i = β 0 + β 1 * OPEC i + β 2 * FSCPL i + β 3* CR i + β 4* LR i + β 5* EXP i + β 6* PRO i + β 7* AC i + µ i

Trong đó:

o 0: hằng số hồi quy

o 1, 2, …, 7: các trọng số hồi quy

o µ i : sai số tại quan sát thứ i

Kết quả trong Bảng 4.17 cũng cho thấy R2 điều chỉnh (Adjusted R Square) = 0.707 (kiểm định F, sig ≤ 0,05) cho thấy 70,7% thay đổi của AT được giải thích bởi các biến độc lập và đảm bảo có ý nghĩa với mức tin cậy trên 99% Và không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập do các hệ số phóng đại phương sai (VIF) tương ứng với các biến độc lập trong phương trình hồi quy tuyến tính đa biến đều lớn 1 và nhỏ hơn 2 như trong Bảng 4.19 Kết quả phân tích và kiểm định ở Bảng 4.19 dưới đây cho thấy không có giả định nào của phân tích hồi quy đa biến bị vi phạm Điều này có nghĩa là độ tin cậy của kết quả phân tích của phương trình hồi quy tuyến tính về các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC do các DNKT độc lập thực hiện tại Việt Nam có thể được đảm bảo Căn cứ vào mức

ý nghĩa (Sig.) tương ứng các biến độc lập trong bảng kết quả hồi quy cho thấy các biến độc lập có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy 99% (OPEC, FSCPL, CR, LR, EXP, PRO) và 95% (AC) với biến phụ thuộc (AT)

Theo kết quả phân tích, các giả thuyết nghiên cứu và mức độ ảnh hưởng của các biến độc lập đối với biến phụ thuộc được kết luận như bảng dưới đây:

Bảng 4.24: Mức độ tác động của các biến độc lập

Biến độc lập

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

Tỷ lệ ảnh hưởng (%)

Thứ tự ảnh hưởng

Các nhân tố có tác động cùng chiều

Tính phức tạp của cấu trúc hoạt động, quy mô khách

Tính phức tạp của quy trình lập báo cáo tài chính của

Rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV 150 22,4 2

Trang 8

Biến độc lập

Hệ số hồi quy chuẩn hóa

Tỷ lệ ảnh hưởng (%)

Thứ tự ảnh hưởng

Các nhân tố có tác động ngược chiều

Nguồn: NCS tự tổng hợp từ kết quả nghiên cứu

Các kết quả trên cho thấy mức độ tác động theo thứ tự mạnh nhất tới thấp nhất Các nhân tố

tác động cùng chiều tới thời gian kiểm toán, cụ thể: tính phức tạp của cấu trúc hoạt động,

quy mô khách hàng; tính phức tạp của quy trình lập BCTC của khách hàng; rủi ro kiểm soát

và rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV Trong đó, tính phức tạp của quy trình lập

BCTC của khách hàng có tác động mạnh nhất đến thời gian kiểm toán Các nhân tố có tác

động ngược chiều tới thời gian kiểm toán bao gồm: kinh nghiệm của DNKT, KTV; Tính

chuyên nghiệp của DNKT,KTV và Năng lực nhân sự kiểm toán của DNKT Trong đó,

chiếm ưu thế và tác động mạnh nhất chính là kinh nghiệm của DNKT và KTV

CHƯƠNG 5 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ 5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.1.1 Đánh giá mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến thời gian kiểm toán BCTC do kiểm toán độc lập thực hiện tại Việt Nam

Từ mô hình nghiên cứu ban đầu, có 7 nhân tố được đưa vào mô hình nghiên cứu, đó

là “Đặc điểm cấu trúc hoạt động, quy mô khách hàng”, “Đặc điểm của quy trình lập BCTC của khách hàng”, “Rủi ro kiểm soát”, “Rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV”, “Kinh nghiệm của DNKT và KTV”, “Tính chuyên nghiệp của DNKT và KTV”, “Năng lực nhân

sự kiểm toán của DNKT” 7 biến này được cụ thể hóa thành 28 thang đo

Sau khi phân tích độ tin cậy, không có biến nào bị loại khỏi mô hình Và sau khi phân tích hồi quy thì 7 nhân tố này giải thích cho sự biến động của thời gian kiểm toán trong

đó các biến có tác động cùng chiều bao gồm: Đặc điểm cấu trúc hoạt động, quy mô khách hàng; Đặc điểm của quy trình lập BCTC của khách hàng; Rủi ro kiểm soát; rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV Cụ thể như sau: đặc điểm của cấu trúc hoạt động, quy mô khách hàng và quy trình lập BCTC của khách hàng càng phức tạp thì thời gian kiểm toán sẽ phải càng tăng thêm; Rủi ro kiểm soát và rủi ro pháp lý liên quan đến DNKT và KTV càng lớn thì thời gian kiểm toán càng nhiều; Kinh nghiệm, tính chuyên nghiệp của DNKT và KTV thì thời gian kiểm toán càng giảm; năng lực nhân sự kiểm toán của DNKT càng lớn thì thời gian kiểm toán càng giảm Trong đó tính phức tạp của quy trình lập BCTC của khách hàng và kinh nghiệm của DNKT và KTV có ảnh hưởng lớn nhất đến thời gian kiểm toán Kết quả ở trên cũng được hỗ trợ thêm độ vững chắc trong kết luận bởi trong quá trình khảo sát, NCS có điều tra thêm một số thông tin cũng tương đối “thú vị” như sau:

Số lượng khách hàng của các KTV trong một “mùa kiểm toán”

Qua khảo sát số lượng khách hàng trong “mùa kiểm toán” gần nhất mà các KTV tham gia trả lời có tình hình khách hàng cho thấy:

Càng ở các vị trí chuyên môn cao hơn thì số khách hàng càng nhiều hơn, dẫn đến việc phân bổ số giờ kiểm toán của các cấp cao hơn cho mỗi hợp đồng kiểm toán sẽ giảm đi

do áp lực về số lượng khách hàng

Trong nhóm KTV đang làm việc tại Big4, với khoảng thời gian trong một “mùa kiểm toán” tính từ khi kết thúc năm tài chính đến thời điểm ký báo cáo tài chính (khoảng 90 ngày) có thể phân tích được số giờ kiểm toán dành cho mỗi khách hàng sẽ giảm dần từ senior trở lên đến partner

Trang 9

Về số giờ làm thêm trong một tuần của KTV vào “mùa kiểm toán” cao điểm: số liệu

này được thể hiện theo cấp bậc chuyên môn như sau:

Một đặc điểm thường gặp trong lĩnh vực kiểm toán, hầu hết số giờ làm thêm không

được tính trong giá phí kiểm toán báo cho khách hàng Một trong những nguyên nhân rất

lớn ở đây đó là tất cả các công ty kiểm toán Big4 đều được trang bị các công nghệ kiểm

toán hiện đại như phần mềm kiểm toán, máy móc hiện đại (các máy tính cấu hình cao, địa

điểm làm việc tốt và luôn có sự nâng cấp hàng năm về công nghệ, cơ sở máy móc,…) và

các KTV nhận được sự hỗ trợ rất lớn và chuyên nghiệp từ đội ngũ chuyên gia, tư vấn và đội

ngũ hỗ trợ các vấn đề về hậu cần,…Như đã phân tích ở chương 4, tất cả 4 hãng kiểm toán

Big4 đều đã sử dụng phần mềm kiểm toán và các công cụ hỗ trợ trong quản lý hợp đồng

kiểm toán Các công cụ quản lý này ứng dụng công nghệ hiện đại và sử dụng, quản trị dữ

liệu trực tuyến Các công cụ này cũng quản lý các thành viên trong nhóm kiểm toán về thời

hạn phải nộp các giấy tờ làm việc,…căn cứ vào thống kê trên hệ thống sẽ đánh giá được

năng lực quản lý thời gian của nhân viên kiểm toán và làm căn cứ để đánh giá kết quả và

hiệu suất làm việc của từng cá nhân Vì vậy các thành viên chuyên nghiệp trong nhóm kiểm

toán sẽ luôn phải đối mặt với việc làm sao quản lý thời gian kiểm toán một cách hiệu quả

nhất

Đối với các DNKT được UBCK chấp thuận kiểm toán các đơn vị có lợi ích công

chúng, các đơn vị này cũng phải thỏa mãn các điều kiện về chất lượng nhân sự, cơ sở vật

chất, số lượng kiểm toán viên hành nghề, chất lượng kiểm toán, đội ngũ hỗ trợ,…và cũng có

rất nhiều công ty là thành viên chính thức hoặc liên kết hay mạng lưới với các hãng kiểm

toán quốc tế Vì vậy, đội ngũ KTV nhận được sự hỗ trợ về công nghệ, hậu cần cũng tốt hơn

các hãng kiểm toán trong nước còn lại Việc các KTV tại các công ty kiểm toán địa phương

phải làm thêm quá nhiều giờ như vậy cũng không phản ánh tốt hiệu quả làm việc, và dẫn

đến năng suất làm việc của KTV sẽ giảm đi nhiều do áp lực về mặt thời gian quá lớn

Qua khảo sát, và phỏng vấn sâu cho thấy một vấn đề đặt ra, đối với các hãng kiểm

toán nhỏ, thì việc kiểm toán vẫn chủ yếu dựa trên việc kiểm tra chi tiết mà khâu lập kế

hoạch còn hạn chế, ít chú trọng đến việc kiểm toán tiếp cận theo việc đánh giá rủi ro của

cuộc kiểm toán và kiểm tra kiểm soát nội bộ của khách hàng Điều này hoàn toàn ngược lại

với các công ty thuộc nhóm Big4, các KTV của Big4 sẽ tập trung nhiều vào khâu lập kế

hoạch kiểm toán và đánh giá rủi ro sai phạm trọng yếu và tiếp cận khoanh vùng rủi ro để có

thể phát hiện ra được các khu vực có khả năng xảy ra sại phạm nhiều nhất Cách thức tiếp

cận này sẽ giảm thời gian kiểm toán để thực hiện các thủ tục chi tiết đi rất nhiều mà nâng

cao hiệu suất làm việc của các KTV Thực tế này cũng phù hợp với một số nghiên cứu của

các học giả nước ngoài về sự khác biệt trong cách thức tiếp cận kiểm toán như đã phân tích

ở chương 2

5.1.2 Đánh giá thực trạng về việc xác định số giờ kiểm toán và liên hệ với thực trạng chất lượng kiểm toán tại Việt Nam

Vấn đề thứ nhất, như đã phân tích Chương 4, việc xác định và quản lý thời gian kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán tại Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự được chú trọng như tầm quan trọng vốn có của nó Vẫn tồn tại sự chênh lệch rõ ràng giữa nhóm các công ty kiểm toán Big4 và các DNKT của Việt Nam (local firm) Thực tế các công ty kiểm toán Big4 có quy trình kiểm toán được triển khai và giám sát thực hiện theo đúng quy định của hãng toàn cầu, vì vậy họ phải tuân thủ quy định chặt chẽ của hãng để thực hiện và duy trì chất lượng kiểm toán ở mức độ cao nhằm duy trì và bảo vệ uy tín nghề nghiệp của hãng

Do đó, đối với các công ty này việc xác định và dự toán về số giờ kiểm toán được thực hiện nghiêm túc và có các công cụ công nghệ hỗ trợ để theo dõi, quản lý việc thực hiện kiểm toán một cách dễ dàng Phương diện ngược lại, đối với các DNKT thuần túy của Việt Nam,

do luôn phải đối mặt trong một thị trường kiểm toán với nhiều thách thức về mặt cạnh tranh nên việc tìm kiếm được khách hàng đối với họ là tương đối khó khăn Và để duy trì các hoạt động của DN thì việc kiếm tìm được khách hàng là mục tiêu lớn nhất của họ, và rất nhiều hãng đó là mục tiêu lớn hơn cả mục tiêu duy trì chất lượng kiểm toán Do đó, rất nhiều DNKT chỉ cần nhận khách hàng, đưa ra mức phí nếu họ cảm thấy phù hợp chứ gần như không tính toán liệu khách hàng đó cần số giờ làm việc là bao nhiêu Đồng thời, việc quản

lý thời gian kiểm toán trong các doanh nghiệp này cũng hoàn toàn lỏng lẻo

Vấn đề thứ hai, việc quản lý, kiểm soát về thời gian kiểm toán hiện nay của Hiệp hội nghề nghiệp đối với các hãng gần như chưa được thực hiện hoặc chưa đủ điều kiện để giúp Hội có thể làm được Đối với nhiều quốc gia phát triển như Mỹ, Singapore, Canada…, số giờ kiểm toán thực hiện cho mỗi khách hàng là một nhân tố định lượng nằm trong Bộ Chỉ số chất lượng kiểm toán góp phần giúp cho Hiệp hội có thể đánh giá được chất lượng kiểm toán của từng hợp đồng và giúp cho bản thân chính khách hàng (ví dụ Ủy ban kiểm toán – Audit committee - của khách hàng) có được những thông tin rõ ràng, minh bạch hơn khi so sánh, đánh giá và lựa chọn hãng kiểm toán bởi những chỉ số khách quan hơn

Vấn đề thứ ba, trong quá trình tìm hiểu và xây dựng cơ sở lý thuyết cho Luận án cho thấy nhiều nghiên cứu nước ngoài cũng phát hiện ra một thực tế là có sự khác biệt khá lớn trong quy trình, cách thức tiếp cận kiểm toán của nhiều hãng kiểm toán Big4 và ngoài Big4 Vấn đề thứ tư, đối với các hãng kiểm toán lớn thì năng lực nhân sự rất tốt, việc tuyển dụng nhân sự chất lượng cao thực tế là bài toán cạnh tranh của các hãng kiểm toán Big4 và các hãng lớn (khoảng top 10 DNKT lớn), và hầu hết những lao động có khả năng có kiến

Trang 10

thức chuyên môn ở tốp đầu sẽ làm việc cho các hãng này Còn đối với các hãng kiểm toán ở

mức độ trung bình của Việt Nam thì vấn đề tuyển dụng nhân sự và duy trì đội ngũ nhân viên

ổn định là một bài toán khó, điều này dẫn đến thực trạng tồn tại là việc đảm bảo chất lượng

đội ngũ nhân sự mới tuyển dụng cho các DNKT địa phương còn nhiều khó khăn Liên quan

đến vấn đề này cũng có sự phân hóa rõ lớn đối với các hãng lớn quốc tế và hãng địa phương

đó là mức thu nhập giữa hai đối tượng DNKT ở đây cũng chênh lệch rất lớn Bên cạnh đó,

các hãng kiểm toán quốc tế nhận được sự hỗ trợ rất mạnh về mặt công nghệ, đội ngũ chuyên

gia, cơ sở hạ tầng và đội ngũ hành chính nhân sự, vì vậy số giờ kiểm toán của họ được sử

dụng rất hiệu quả và được kiểm soát tốt

5.2 Định hướng phát triển các doanh nghiệp kiểm toán độc lập tại Việt Nam

5.3 Khuyến nghị

5.3.1 Đối với cơ quan nhà nước

5.3.2 Đối với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam VACPA

a Nâng cao vai trò, vị thế của Hiệp hội nghề nghiệp VACPA

b Nhu cầu cần thiết triển khai xây dựng Bộ Chỉ số Chất lượng kiểm toán

c Thiết kế, triển khai các bộ công cụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam

5.3.3 Đối với các doanh nghiệp kiểm toán và KTV

Các công ty kiểm toán cần nỗ lực không ngừng trong việc nâng cao uy tín, nhiềm tin

của mình trong nghề Việc xây dựng thương hiệu, uy tín là rất khó, nhưng để duy trì và giữ

gìn còn khó hơn, bởi vậy trong từng cấp bậc nhân viên, KTV trong các công ty kiểm toán

cần phải luôn luôn tuân thủ hàng đầu chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, luôn có những hành

vi cư xử phù hợp với nghề nghiệp và luôn luôn cập nhật kiến thức, chuyên môn và kỹ năng,

công nghệ để bắt kịp với xu hướng phát triển của thời đại

Công ty kiểm toán và những người lãnh đạo cần xây dựng một tầm nhìn, sứ mệnh,

chiến lược phát triển và những mục tiêu cho hãng phát triển lâu dài, bền vững trên thị

trường

Để nâng cao uy tín nghề nghiệp, không có biện pháp gì tốt hơn chính là ngày càng

đảm bảo và cải thiện chất lượng kiểm toán ở mức độ tốt nhất Để làm được điều này, thì

việc xác định số giờ kiểm toán cho mỗi cuộc kiểm toán cần phải thực hiện nghiêm túc ngay

từ trước khi ký hợp đồng Trong đó, KTV cần lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, KTV cần phải quan tâm rất lớn đến mục đích của cuộc kiểm toán là gì, tìm

hiểu đặc điểm cấu trúc hoạt động và phạm vi hoạt động của khách hàng là phức tạp hay đơn

giản

Thứ hai, KTV cần xem xét đặc điểm quá trình lập BCTC của khách hàng, các khoản mục hình thành nên BCTC của khách hàng là gì,…tiêu chuẩn để lập BCTC là gì (chuẩn mực kế toán Việt Nam hay Chuẩn mực lập BCTC quốc tế,…) Quy trình này càng đơn giản thì thời gian kiểm toán càng giảm

Thứ ba, trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, KTV cần hết sức chú trọng xem xét đánh giá KSNB của khách hàng để xác định rủi ro kiểm soát là cao hay thấp từ đó dự toán

và thực hiện thời gian các thủ tục kiểm toán cho phù hợp

Tiếp theo, ngay trước khi đồng ý kiểm toán, KTV cần phải đánh giá rất kỹ những nguy cơ có thể dẫn đến đơn vị bị kiện tụng liên quan đến khách hàng

Bên cạnh những yếu tố làm cho thời gian kiểm toán tăng lên, DNKT cũng cần cân nhắc nhiều yếu tố có thể rút ngắn thời gian kiểm toán để đảm bảo hiệu quả kinh tế của cuộc kiểm toán mà vẫn giữ được chất lượng kiểm toán như tuyển dụng nhân sự một cách nghiên túc, có những hình thức khen thưởng, trả lương cho nhân viên phù hợp để tăng động lực làm việc cho nhân viên, thường xuyên có những hoạt động đào tạo, cập nhật kiến thức chuyên môn cho nhân viên, KTV của đơn vị

Về mặt tổ chức, DNKT nên cấu trúc tổ chức hoạt động thành các bộ phận riêng theo lĩnh vực chuyên môn, ngành nghề của khách hàng cũng có thể tiết kiệm được thời gian phải tìm hiểu lại ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của khách hàng

Một nội dung quan trọng nữa, công ty kiểm toán cần xây dựng quy trình kiểm toán

và giám sát việc thực hiện quy trình đó chặt chẽ hơn nữa

Cần phải có những biện pháp để phối hợp chặt chẽ giữa công ty kiểm toán và khách hàng kiểm toán; lựa chọn chiến lược/phương pháp kiểm toán phù hợp; áp dụng phần mềm kiểm toán trong công việc sẽ giảm nhiều thời gian kiểm toán, tránh mất thời gian nhàn rỗi; xây dựng các mẫu giấy tờ làm việc có thể sử dụng chung cho nhiều hợp đồng kiểm toán để tránh mất thời gian về mặt trình bày và xử lý dữ liệu KTV cần thường xuyên trao đổi với khách hàng để giải quyết nhanh các vướng mắc trong quá trình kiểm toán và tìm đúng nhân

sự chính ở đơn vị được kiểm toán để được giải đáp các vướng mắc một cách nhanh nhất Với kết quả của luận án đưa ra, trong quá trình kiểm toán, yếu tố về kinh nghiệm, tính chuyên nghiệp của DNKT có ảnh hưởng lớn đến thời gian kiểm toán và chất lượng kiểm toán Tuy nhiên, một đặc thù của ngành kiểm toán đó là sự “nhảy việc” diễn ra rất nhiều và là đặc thù của các công ty kiểm toán không chỉ ở các công ty kiểm toán nhỏ mà cả các công ty kiểm toán Big4 Vì vậy, các DNKT cần phải có những chiến lược, những chính sách gắn kết người lao động làm việc lâu dài để xây dựng chất lượng dịch vụ và danh tiếng cho các công ty

Ngày đăng: 23/02/2021, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm