1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO hộ NÔNG dân NGHÈO KHU bảo tồn THIÊN NHIÊN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

134 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập là một trong những mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế -xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta xác định nhằm cải thiện đời sống vật chất v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

TRẦN HỮU TÙNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN NGHÈO KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NA

HANG, TỈNH TUYÊN QUANG

Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế

Mã số đề tài: 2016AQLKT-TQ242

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGÔ THU GIANG

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung của Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập và nghiêm túc của riêng tôi Các số liệu, báo cáo và thông tin trong

đề tài là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Đồng thời, kết quả nghiên cứu từ công trình này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Hữu Tùng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã hết sức giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành chương trình học tập của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Ngô Thu Giang đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các Thầy Cô đang giảng dạy tại Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tận tình giảng dạy trong suốt thời gian khoá học

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của Thầy/Cô và các anh chị học viên

Tôi xin trân trọng cảm ơn./

Tác giả luận văn

Trần Hữu Tùng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ ix

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT xv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU NHẬP VÀ ĐÓI NGHÈO 10

1.1 Về đói nghèo và chuẩn đói nghèo 10

1.1.1 Quan niệm về đói nghèo trên thế giới 10

1.1.2 Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam 12

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo 12

1.1.3.1 Các tiêu chí đánh giá đói nghèo trên thế giới 12

1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Việt Nam 13

1.1.4 Nguyên nhân và cá yếu tố ảnh hưởng của đói nghèo 14

1.1.4.1 Nguyên nhân của đói nghèo 14

1.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo 15

1.2 Thu nhập hộ nông dân 22

1.2.1 Khái niệm cơ bản 22

1.2.1.1 Khái niệm Hộ nông dân 22

1.2.1.2 Khái niệm về thu nhập 24

1.2.2 Đo lường thu nhập của hộ gia đình 26

1.2.3 Những chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân 27

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân 28

1.24.1 Các yếu tố nguồn lực sản xuất của hộ 28

1.2.4.2 Yếu tố về trình độ sản xuất, trình độ văn hóa, tay nghề lao động, tập quán canh tác, văn hóa: 29

Trang 6

1.2.5 Các hướng nâng cao thu nhập 30

1.2.5.1 Nâng cao thu nhập bền vững 30

1.2.5.2 Các hướng nâng cao thu nhập 30

1.3 Tình hình đói nghèo trên thế giới và việt nam, bài học kinh nghiệm về tăng thu nhập, giảm đói nghèo 31

1.3.1 Tình hình đói nghèo trên thế giới 31

1.3.2 Tình hình đói nghèo ở Việt Nam 32

1.3.3 Kinh nghiệm về nâng cao thu nhập cho hộ nghèo trên thế giới và một số tỉnh của Việt Nam 35

1.3.3.1 Nâng cao thu nhập cho hộ nghèo ở một số nước trên thế giới 35

1.3.3.2 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập của một số tỉnh phía Bắc 36

1.3.3.3 Một số bài học rút ra cho địa bàn nghiên cứu 38

Kết luận Chương 1 39

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG THU NHẬP HỘ NÔNG DÂN NGHÈO KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NA HANG TỈNH TUYÊN QUANG 40

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế- xã hội khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang 40

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 40

2.1.1.1 Vị trí địa lý 40

2.1.1.2 Địa hình, đất đai 40

2.1.1.3 Điều kiện thời tiết, khí hậu, thuỷ văn 41

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 42

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43

2.1.2.1 Tình hình dân sinh - xã hội 43

2.1.2.2 Thực trạng các ngành kinh tế chủ yếu mang lại thu nhập cho hộ nông dân 48

2.1.3 Hộ nông dân nghèo khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Tuyên Quang 51 2.2 Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang- Tuyên Quang 52

Trang 7

2.2.1 Một số đặc điểm cơ bản về hộ nông dân đã điều tra tại khu Bảo tồn

thiên nhiên Na Hang 52

2.2.1.1 Đặc điểm của chủ hộ 52

2.2.1.2 Điều kiện sản xuất của các hộ điều tra 53

2.2.1.3 Thực trạng sản xuất của các hộ điều tra 54

2.2.2 Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Tuyên Quang 59

2.2.2.1 Nguồn hình thành thu nhập 59

2.2.2.2 Chi và cơ cấu các khoản chi của hộ Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang tỉnh Tuyên Quang năm 2016 73

2.2.2.3 Tiết kiệm của nhóm hộ thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang tỉnh Tuyên Quang năm 2016 83

2.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ của hộ nông dân nghèo Khu BTTN Na Hang 85

2.2.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng bên ngoài 85

2.2.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng bên trong 89

2.3 Kết luận một số vấn đề đặt ra qua nghiên cứu thực trạng thu nhập hộ nông dân nghèo tại khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang- tỉnh Tuyên Quang 93

2.3.1 Những kết quả đạt được 93

2.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của tồn tại hạn chế 94

2.3.2.1 Những tồn tại, hạn chế 94

2.3.2.2 Nguyên nhân của hạn chế 95

Kết luận Chương 2 96

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN NGHÈO KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN NA HANG, TUYÊN QUANG 97

3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển 97

3.1.1 Quan điểm phát triển 97

Trang 8

3.1.2 Định hướng nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân nghèo trong khu

BTTN Na Hang 98

3.1.3 Mục tiêu phát triển chủ yếu 99

3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát 99

3.1.2.2 Mục tiêu cụ thể 100

3.2 Giải pháp nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang 101

3.2.1 Nhóm giải pháp cho yếu tố ảnh hưởng bên ngoài 101

3.2.1.1 Khắc phục đặc điểm, điều kiện tự điều kiện tự nhiên khó khăn của khu BTTN Na Hang: 101

3.2.1.2 Đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền, vận động các hộ nông dân tích sản xuất, kinh doanh để thoát nghèo 102

3.2.1.3 Đẩy mạnh việc cho hộ nông dân vay vốn để sản xuất, kinh doanh 102 3.2.1.4 Tăng cường đầu tư cho giáo dục 103

3.2.2 Nhóm giải pháp cho yếu tố ảnh hưởng bên trong 104

3.2.2.1 Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo cơ sở và cán bộ làm công tác khuyến nông trong quản lý kinh tế, xóa đói, giảm nghèo 104

3.2.2.2 Hoàn thiện chính sách hỗ trợ hộ nông dân nghèo nâng cao thu nhập 105

3.2.2.3 Tổ chức đào tạo, tập huấn khoa học kỹ thuật cho người dân 105

3.2.2.4 Thay đổi phương thức sản xuất: 106

3.2.2.5 Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn 106

3.2.2.6 Tạo thêm công ăn việc làm bằng việc đi làm xa 109

3.3 Những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 110

3.4 Kiến nghị 110

3.4.1 Đối với Ủy ban nhân dân huyện Na Hang 110

3.4.2 Đối vối Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang 111

KẾT LUẬN 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Chuẩn đói nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn 13

Bảng 1.2: Diện tích đất sử dụng theo dân tộc 16

Bảng 1.3: Chi tiêu công ở nông thôn và giảm nghèo 17

Bảng 1.4: Tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo (BCPTVN, 2014) 18

Bảng 1.5: Trình độ học vấn của người nghèo ở Việt Nam 19

Bảng 1.6: Nhân khẩu trong gia đình nhiều và số lao động có việc làm thấp 21

Bảng 1.7: Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam chia theo các khu vực, giai đoạn 2006 -2010 33

Bảng 2.1: Thành phần dân tộc sinh sống trong khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang tỉnh Tuyên Quang 43

Bảng 2.2: Mật độ và dân số các xã thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang 45

Bảng 2.3: Lao động và phân bố lao động của các xã thuộc khu BTTN Na Hang 45

Bảng 2.4: Các loại đất đai trong khu vực khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang 48

Bảng 2.5 Cơ cấu nghèo phân theo tiêu chí 51

Bảng 2.6: Thông tin cơ bản về chủ hộ điều tra 52

Bảng 2.7: Đặc điểm về điều kiện sản xuất của các hộ điều tra năm 2016 53

Bảng 2.8: Tình hình sản xuất theo cơ cấu hộ thuộc các dân tộc trên địa bàn nghiên cứu 55

Bảng 2.9: Thực trạng chăn nuôi tại các hộ nông dân khu BTTN Na Hang 56

Bảng 2.9.1: Số liệu theo xã điều tra 56

Bảng 2.9.2: Theo điều kiện kinh tế hộ 57

Bảng 2.9.3: Theo ngành nghề sản xuất 57

Bảng 2.9.4: Theo dân tộc 58

Bảng 2.10 Thực trạng tổng thu của hộ điều tra năm 2016 (tính bình quân 1 hộ) 62

Bảng 2.11 Thu và cơ cấu khoản thu từ nông nghiệp của các nhóm hộ 64

Bảng 2.12 Tầm quan trọng của các cây trồng đối với người dân nông thôn khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Tuyên Quang 2016 65

Bảng 2.13 Tầm quan trọng của các loại vật nuôi đối với hộ nông thôn ở khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang năm 2016 66

Trang 10

Bảng 2.14: Thu và cơ cấu các khoản thu từ sản xuất lâm nghiệp các nhóm hộ điều tra năm 2016 (tính bình quân 1 hộ) 67 Bảng 2.15 Tầm quan trọng của các loại cây trồng trong sản xuất lâm nghiệp 69 Bảng 2.16 Tầm quan trọng của các hoạt động phi nông nghiệp ở khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Tuyên Quang 2016 71 Bảng 2.17 Tầm quan trọng của các nguồn thu nhập đối với hộ nông dân khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - Tuyên Quang 72 Bảng 2.18 Thực trạng chi phí SXKD của hộ điều tra năm 2016 (tính bình quân

1 hộ) 74 Bảng 2.19 Chi phí sản xuất nông nghiệp bình quân 1 hộ Khu BTTN Na Hang

2016 76 Bảng 2.20 Thực trạng chi tiêu của hộ điều tra năm 2016 (tính bình quân 1 hộ điều tra) 82 Bảng 2.21 Thực trạng tiết kiệm của hộ nông dân nghèo Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang năm 2016 (tính bình quân 1 hộ) 83

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Tình trạng hộ gia đình và sở hữu đất 86

Hình 2.2 Vốn vay và tình trạng hộ gia đình 86

Hình 2.3 Tình trạng hộ gia đình và có đường ô tô 87

Hình 2.4 Tỷ lệ nghèo và thành phần dân tộc 88

Hình 2.5 Làm nông và thành phần dân tộc của chủ hộ 88

Hình 2.6 Trình độ học vấn và giới tính c ủa c hủ hộ 89

Hình 2.7: Làm nông và tình trạng của hộ gia đình 90

Hình 2.8 Tỷ lệ người phụ thuộc và tình trạng hộ 90

Hình 2.9 Số con và tình trạng của hộ gia đình 91

Hình 2.10 Đi làm xa và tình trạng c ủa hộ g ia đình 92

Trang 12

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đói nghèo là một phạm trù lịch sử có tính tương đối ở từng thời kỳ và ở mọi quốc gia Hiện nay, trên thế giới tỷ lệ người đang sống trong cảnh đói nghèo còn rất cao, kể cả các nước có thu nhập cao nhất thế giới vẫn có một tỷ lệ dân số sống trong tình trạng nghèo nàn cả về vật chất và tinh thần Tỷ lệ người nghèo ở mỗi nước cũng khác nhau, đối với nước giàu thì tỷ lệ đói nghèo nhỏ hơn các nước kém phát triển song khoảng cách giàu nghèo lại lớn hơn rất nhiều

Xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập là một trong những mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế -xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta xác định nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư; đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết

Theo số liệu thống kê của 4 cuộc điều tra mức sống dân cư (điều tra hộ VLSS

1993, VLSS 1998, VLSS 2002 và VLSS 2014) đã cho thấy Việt Nam đã đạt được

thành tích đáng ghi nhận trong việc nâng cao thu nhập cho hộ trong thời kỳ 1993-

2014 Nếu như năm 1993, tỷ lệ nghèo tính theo chi tiêu là 58,1%, đến năm 2014 chỉ còn khoảng 8,4%, một sự cắt giảm 49,7 điểm phần trăm trong vòng 21 năm Tỷ lệ nghèo năm 2014 chỉ bằng 1/7 của năm 1993 là thành tựu nổi bật nếu đem so sánh với mục tiêu thiên niên kỷ đầu tiên của Liên hiệp quốc là giảm một nửa tỷ lệ người cực nghèo, trong một khoảng thời gian dài hơn từ năm 1990 đến năm 2016

Mặc dù thu nhập được nâng lên, nhưng người dân nông thôn vẫn chiếm đa số trong cộng đồng người nghèo tại Việt Nam Sự chênh lệch về tỷ lệ nghèo giữa thành thị và nông thôn lớn và kéo dài trong suốt 4 cuộc khảo sát; mặc dù tỷ lệ nghèo nông thôn đã giảm nhanh chóng kể từ năm 1998 Đến năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a bình quân khoảng 45%, trong khi tỷ lệ hộ nghèo nông thôn còn 10,8% (giảm từ mức tỷ lệ cao 66% năm 1993), tương đương với 14,2 triệu người dân trong tổng số 60 triệu dân nông thôn vẫn sống trong cảnh nghèo khó với mức sống thấp Điều này tương phản với tỷ lệ dân nghèo thành thị giảm từ mức

Trang 14

25% năm 1993 xuống chỉ còn khoảng 3% năm 2014, do vậy nâng cao thu nhập cho

hộ nghèo chủ yếu là ở khu vực nông thôn

Khu Bảo tồn thiên nhiên Na Hang (BTTN) nằm ở phía Đông Nam huyện Na Hang cách Thành phố Tuyên Quang 110 km về phía Đông bắc, có tọa độ địa lý: Từ

22014' - 22035' vĩ độ Bắc; Từ 104017' - 105035' kinh độ Đông

Khu BTTN Na Hang nằm trên địa bàn 04 xã, gồm: Xã Thanh Tương, Sơn Phú, Khau Tinh và xã Côn Lôn, có tổng diện tích đất lâm nghiệp 33.222,59 ha, trong đó diện tích khu rừng đặc dụng là 21.238,7 với hàng nghìn loài thực vật, động vật quý hiếm Cũng chính vì sự phong phú của đa dạng sinh học dẫn đến yêu cầu bảo tồn rất cao, điều này làm cho thu nhập của các hộ nông dân sống trong khu bảo tồn vốn chỉ quen sống dựa vào các nguồn thu từ rừng bị giảm đi rất nhiều Trong những năm qua, bằng sự nỗ lực của bản thân các hộ gia đình, kết hợp với các chương trình hỗ trợ nhằm nâng cao thu nhập của Nhà nước, thu nhập của hộ nông dân khu BTTN Na Hang đã có những cải thiện đáng kể

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng Đặc biệt là đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn

thấp (Thu nhập bình quân toàn vùng đạt 6,2 triệu đồng/người/năm), tỉ lệ hộ nghèo cao (Tỷ lệ hộ nghèo bình quân trong xã thuộc khu bảo tồn là 31,70%), nhất là vùng

đồng bào dân tộc, khu vực sống có điều kiện khó khăn, điều này đã phát sinh nhiều vấn đề xã hội và môi trường bức xúc Trước những cơ hội và thách thức trong quá trình phát triển, để có thể thực hiện thành công mục tiêu thiên niên kỷ về vấn đề tăng thu nhập, giảm tỷ lệ đói nghèo, đặc biệt là tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho hộ nông dân ở khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang cần phải có những giải pháp mang tính toàn diện và đột phá Chính vì lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề

tài: Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:

Thực trạng đói nghèo đang diễn ra rất phổ biến và gay gắt ở tất cả mọi nơi trên thế giới, không chỉ ở những nước có nền kinh tế chậm phát triển, đang phát triển mà ngay cả ở những nước phát triển, do vậy, đói nghèo và nâng cao thu nhập cho người dân không chỉ vấn đề của mỗi quốc gia mà là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm Ở Việt Nam xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho

Trang 15

hộ nông dân là một chủ trương lớn, là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Do đó vấn đề xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm nhằm tìm ra các giải pháp tốt nhất để xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân Vì vậy, vấn đề này được rất nhiều các tổ chức, các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách và các học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Trong nhiều công trình nghiên cứu, luận văn và bài viết đã đề cập đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân, đáng chú ý là:

- Ellis (1993), Kinh tế gia đình nông dân và phát triển nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội

- Ngân hàng Thế giới, “Đói nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam”, năm 2004

- Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình, Trần Văn Đức, Quyền Đình Hà (1997), Giáo trình kinh tế nông nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội

- Lê Trọng Cúc, Chu Hữu Quý (2002), Phát triển bền vững miền núi Việt Nam - 10 năm nhìn lại và những vấn đề đặt ra, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội

VNRP (2010), Cơ sở lý thuyết và thực tiễn phát triển nông thôn bền vững, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội

- Hà Ngọc Vũ (2013), “Dân sinh gắn với sinh thái”, Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 31 tháng 5

- Trần Đức (1998), Kinh tế trang trại vùng đồi núi, Nhà xuất bản Thống kê

Trang 16

- Tác phẩm của Vũ Ngọc Kỳ, Trần Đức, Vũ Sửu về “ Kinh tế trang trại gia đình ở miền núi tỉnh Yên Bái”, đã đi sâu nghiên cứu mô hinh kinh tế trang trại của tỉnh Yên Bái

- Các Báo cáo của diễn đàn miền núi Ford (2004), BCPTVN (2012)

Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được những thành tựu, hạn chế và những nhân tố tác động, nguyên nhân hạn chế của quá trình thực hiện xóa đói, giảm nghèo, đồng thời cũng so sánh và làm rõ được sự giống và khác nhau của nghèo đói trước đổi mới và trong đổi mới từ đó tìm ra các giải pháp để xóa đói, giảm nghèo trong từng giai đoạn khác nhau Tuy nhiên do đặc thù của vùng nghiên cứu là Khu BTTN

Na Hang, nơi mà yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt các hệ sinh thái động thực vật rừng được đặt lên hàng đầu Do vậy đi đối với việc thực hiện các biện pháp xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân thì nhất thiết phải cùng thực hiện các biện pháp để bảo tồn đa dạng sinh học cho khu bảo tồn, hay nói cách khác việc phát triển kinh tế phải gắn liền với bảo vệ, bảo tồn tính đang dạng sinh học trong khu vực; vấn đề này chưa được đề cập sâu trong các nghiên cứu trước đây

Xuất phát từ thực tiễn đó, cùng với những kiến thức thu được của thầy cô trong suốt khóa học và thực tiễn công tác tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang,

tôi chọn đề tài Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục tiêu chung

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang tỉnh Tuyên Quang

Trang 17

4 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thu nhập và hoạt động nâng cao thu nhập cho hộ nông dân nghèo khu BTTN

Na Hang, tỉnh Tuyên Quang; các biện pháp đã triển khai để nâng cao thu nhập cho

hộ nông dân nghèo khu BTTN Na Hang của UBND huyện Na Hang

4.2 Nội dung nghiên cứu

Xây dựng cơ sở lý luận về thu nhập của hộ nông dân nghèo và các hoạt động nâng cao thu nhập của hộ nông dân nghèo

Đánh giá thực trạng thu nhập và các hoạt động tạo ra thu nhập của hộ nông dân nghèo tại khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Phân tích, đánh giá thu nhập, các nguồn lực và cách thức sử

dụng các nguồn lực hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, giai đoạn

2014 - 2016

- Về không gian: Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang - tỉnh Tuyên Quang

- Về thời gian: Thời gian nghiên cứu là giai đoạn 2014 - 2016

5 Phương pháp nghiên cứu Đề tài

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi 1: Thu nhập của hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na

Hang được hình thành từ những nguồn nào?

Trang 18

Câu hỏi 2: Nguồn thu nhập của hộ có đảm bảo mức sống của hộ?

Câu hỏi 3: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của hộ nông

dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang?

Câu hỏi 4: Để nâng cao thu nhập, cần phải có những giải pháp nào?

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp tiếp cận

Để nghiên cứu, đề tài sử dụng 3 cách tiếp cận, đó là tiếp cận từ dưới lên, tiếp cận hệ thống và tiếp cận vùng miền, cụ thể:

Tiếp cận từ dưới lên: Cách tiếp cận từ dưới lên với sự tham gia của hộ nông

dân, cán bộ chủ chốt và các cấp chính quyền tại địa bàn nghiên cứu

Tiếp cận hệ thống: Cách tiếp cận này dựa trên những phân tích, đánh giá các

chỉ tiêu về thu nhập, cũng như mối quan hệ biện chứng giữa thu nhập với các yếu tố khác Cách tiếp cận này sẽ đảm bảo tính toàn diện và hệ thống trong phân tích đánh giá vấn đề nghiên cứu

Tiếp cận vùng miền: Để nghiên cứu khu vực BTTN Na Hang, Tuyên Quang,

đề tài sẽ sử dụng cách tiếp cận vùng miền Đây là cách thức tiến hành nghiên cứu

mà trong đó chọn ra những cộng đồng xã hội có những nét tương đồng hay khác biệt để làm đối tượng khảo cứu theo mục đích đã định Trong vùng miền đó có một

số cộng đồng được chia ra nghiên cứu nhằm phát hiện ra các quy luật và tính quy luật về sự vận động và phát triển của vùng miền đó Kết quả nghiên cứu của cách tiếp cận này là những vấn đề có tính khái quát, đảm bảo độ tin cậy và mang tính đại diện cho vùng

5.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Khu BTTN Na Hang nằm ở phía Đông Nam huyện Na Hang cách thành phố Tuyên Quang 110 km về phía Đông bắc, có tọa độ địa lý: Từ 22014' - 22035' vĩ độ Bắc và Từ 104017' - 105035' kinh độ Đông

Phạm vi Khu BTTN Na Hang nằm trên địa bàn 04 xã, gồm: Xã Thanh Tương, Sơn Phú, Khau Tinh, Côn Lôn Trong khu BTTN Na Hang hiện có dân số

cư trú trên địa bàn là 9.488 người người Toàn khu vực có 8 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 3 dân tộc chiếm tỷ lệ chính gồm: Tày, Dao, Kinh

Người Tày: 3.704 người, chiếm 39,04%;

Người Dao: 3.152 người, chiếm 33,22%;

Trang 19

Người Kinh: 1.549 người, chiếm 16,33%;

Người Hmông: 1.060 người chiếm 11,17%

Các dân tộc khác (Cao Lan, Nùng) 23 người, chiếm 0,24%

Để đảm bảo tính đại diện cho các vùng trong nghiên cứu, đầu tiên, chúng tôi xác định quy mô mẫu cần phải chọn, chúng tôi chọn quy mô mẫu là 240 mẫu, gồm có: xã Côn Lôn: 60 mẫu; xã Sơn Phú: 60 mẫu, xã Khau Tinh 60 mẫu và xã Thanh Tương: 60 mẫu Cụ thể cách chọn mẫu hệ thống như sau:

Đầu tiên, lập danh sách các hộ trong 04 xã đã chọn, với số hộ: xã Côn Lôn là

476 hộ, Sơn Phú là 643 hộ và Thanh Tương là 781 hộ, Khau Tinh là 297 hộ, cỡ mẫu mỗi xã là 60, vậy ta tính được khoảng cách k của xã Côn Lôn là 8, Sơn Phú là 11 và Thanh Tương là 13, Khau Tinh là 5

Chọn điểm xuất phát: chọn một hộ ngẫu nhiên trong danh sách các hộ dân trong xã làm hộ thứ nhất, hộ tiếp theo sẽ là hộ thứ nhất cộng thêm k Quá trình lần lượt như vậy cho đến khi hoàn tất danh sách các hộ trong từng xã Số liệu về thu nhập của hộ được thu thập bằng bảng hỏi bán cấu trúc, thông tin về thu nhập của

240 hộ sẽ là cơ sở quan trọng để có thể phân tích, đánh giá cũng như xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân nghèo khu BTTN Na Hang

Trong nghiên cứu của luận văn, tác giả căn cứ theo tiêu chí xác định hộ nghèo, cận nghèo theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, theo đó, khi thu nhập bình quân của mỗi người trong hộ ở nông thôn nếu bằng và nhỏ hơn 700.000 đồng/tháng thì hộ xem như diện nghèo

5.2.3 Phương pháp phân tích:

Để đánh giá tình hình cơ bản về thu nhập hộ nghèo khu BTTN Na Hang, đề

tài sẽ sử dụng bộ số liệu trong Niên giám Thống kê tỉnh Tuyên Quang và số liệu

điều tra thu nhập hộ nông dân tỉnh Tuyên Quang từ năm 2012- 2016, Phương pháp

phân tích sẽ được sử dụng trong từng nội dung này

Trang 20

5.2.5 Phương pháp đồ thị:

Đồ thị là phương pháp chuyển hóa thông tin từ dạng số sang dạng đồ thị Trong đề tài, sử dụng đồ thị nhằm biểu thị một cách rõ nét một số chỉ tiêu nghiên cứu Đồ thị sẽ giúp cho người đọc dễ dàng tiếp cận và phân tích thông tin

5.2.6 Phương pháp tổng hợp, khái quát hoá:

Phương pháp tổng hợp, khái quát trên cơ sở các số liệu thu thập, điều tra được từ đó đưa ra đánh giá và những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nghèo khu BTTN Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

5.2.7 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia:

Qua phương pháp này giúp cho luận văn có được các thông tin chính xác, mang tính hệ thống Kết quả này sẽ giúp tác giả đưa ra được các ý kiến đóng góp sát với thực tiễn

5.2.8 Phương pháp dự báo:

Trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập được, đưa ra một số

dự báo về sự việc sẽ xảy ra trong tương lai Khi tiến hành dự báo sẽ căn cứ vào việc thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hướng vận động của các hiện tượng trong tương lai Tuy nhiên dự báo cũng có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tương lai và để dự báo định tính được chính xác hơn, người

ta cố loại trừ những tính chủ quan của người dự báo

6 Ý nghĩa khoa học và đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về thu nhập và nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân nghèo Luận văn đưa ra định hướng

và đề xuất những giải pháp nhằm giúp các hộ nông dân phát triển sản xuất, tăng thêm thu nhập và xoá đói giảm nghèo thông qua phân tích, xác định các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, do vậy các giải pháp sẽ sát với thực tế và phù hợp với điều kiện của nhóm hộ

Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho việc nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho các hộ nông dân trong khu BTTN Na Hang

và có thể được vận dụng cho những địa phương có điều kiện tương tự

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Kết cấu luận văn gồm 3 chương:

Trang 21

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu nhập và nâng cao thu nhập

Chương 2: Thực trạng thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên

Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân nghèo khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

Trang 22

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU

NHẬP VÀ ĐÓI NGHÈO

1.1 Về đói nghèo và chuẩn đói nghèo

Đói nghèo là một khái niệm mang tính tương đối, phụ thuộc vào điều kiện lịch

sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của từng quốc gia, vùng miền và khu vực trên thế giới Hiện nay, khi đánh giá về đói nghèo người ta không chỉ quan tâm đến vấn đề nghèo lương thực mà khía cạnh nghèo phi lương thực như các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, sự bình đẳng trong việc tiếp cận các thành tựu phát triển xă hội và tăng trưởng kinh tế…cũng được xem xét Theo đó,khi đưa ra chuẩn nghèo hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới bên cạnh việc sử dụng phương pháp tính toán nhu cầu chi tiêu còn xem xét cả yếu tố tài sản như nhà ở, đất đai, công cụ sản xuất Cách tiếp cận mới này cho phép nhìn nhận sâu sắc hơn mối quan hệ nhân quả giữa các tiêu chí xác định nghèo, từ đó có thể đề ra chiến lược giảm nghèo toàn diện hơn trên cơ sở đầu

tư vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, mạng lưới an sinh xã hội cho những người không

có khả năng tham gia vào tăng trưởng Dưới đây là một số quan niệm về đói nghèo

được đưa ra trong ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam

1.1.1 Quan niệm về đói nghèo trên thế giới

Thứ nhất, định nghĩa về đói nghèo được đưa ra tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á- Thái Bình Dương, tại Băng Cốc, Thái Lan do ESCAP tổ chức vào

tháng 3 năm 1993: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục tập quán ấy được xã hội thừa nhận

Thứ hai, định nghĩa về đói nghèo được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh thế

giới về phát triển xã hội ở Copenhaghen Đan Mạch năm 1995: Người nghèo là tất

cả những ai có thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại

Thứ ba, theo Ngân hàng Thế giới: Đói nghèo là sự thiếu hụt không thể chấp nhận được trong phúc lợi xã hội của con người, bao gồm cả khía cạnh sinh lý học

Trang 23

và xã hội học Thiếu hụt về sinh lý học là không đáp ứng nhu cầu vật chất và sinh học như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục và nhà ở Thiếu hụt về mặt xã hội liên quan đến khái niệm bình đẳng, rủi ro và được tự chủ, tôn trọng trong xã hội Đói nghèo

cũng có thể được định nghĩa phân thành đói nghèo tuyệt đối và đói nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối là những người nghèo sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các điều kiện thiếu thốn tồi tệ Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp thông tin không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc

về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó Khái niệm nghèo tương đói này được xác định trong một số xã hội được coi là thịnh vượng Hiện nay, có những quan niệm mới về đói nghèo đó là không chỉ dựa vào thu nhập hay chi tiêu mà còn quan tâm đến khía cạnh cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng Chẳng hạn như định nghĩa về đói nghèo mới đây của

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): Đói nghèo là những người không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu; có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

Cũng theo những thay đổi về mặt nhận thức khi đánh giá đói nghèo, hiện nay chỉ số nghèo khổ đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) đã được sử dụng rộng rãi Chỉ số phát triển đa chiều phản ánh tất cả các phạm vi tác động đến đói nghèo bao gồm một loạt các yếu tố quyết định hay tình trạng túng thiếu ở cấp độ gia đình từ giáo dục, y tế, tài sản và dịch vụ như nước sạch, vệ sinh và năng lượng… khi đánh giá đói nghèo Điều đó cho thấy chỉ số này sẽ phản ánh tình trạng nghèo khổ một cách sâu sắc đa chiều hơn chứ không đơn thuần chỉ dựa vào thu nhập Nếu theo cách tính toán của chỉ số MPI hiện nay thế giới vẫn còn khoảng 1,7

tỷ người chiếm 21% dân số thế giới sống trong nghèo khổ Trong đó 1/2 người nghèo sống ở Nam Á (51% tương đương với 844 triệu người) và 1/4 người nghèo sống ở châu Mỹ (28% - tương đương 458 triệu người)…

Bên cạnh đó, quan niệm nghèo bền vững cũng là một vấn đề được quan tâm đặc biệt trong công cuộc giảm nghèo hiện nay Tỷ lệ tái nghèo, tỷ lệ những hộ cận nghèo còn khá cao, những giải pháp giảm nghèo nhìn chung vẫn mang tính ngắn

Trang 24

hạn…Vì thế quan niệm giảm nghèo bền vững nhằm hướng đến mục tiêu và những giải pháp giảm nghèo mang tính bền vững, duy trì kết quả lâu dài

1.1.2 Quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam

Nhìn chung, quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam khá tương đồng với những định nghĩa về đói nghèo được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế giới Việt Nam

đã thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 Tương tự định nghĩa đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện Thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định

Như vậy, đói nghèo ở Việt Nam không chỉ được nhìn nhận ở phương diện thiếu thốn những nhu cầu vật chất tối thiểu như ăn mặc, giáo dục, y tế mà ở cả phương diện thiếu những cơ hội tạo thu nhập, dễ bị tổn thương, ít có khả năng tham gia vào việc ra các quyết định liên quan đến bản thân

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo

1.1.3.1 Các tiêu chí đánh giá đói nghèo trên thế giới

Thứ nhất: Là tiêu chí phát triển con người (HDI) của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) Tiêu chí này dựa vào một số chỉ tiêu cơ bản như tuổi thọ dân cư, tình trạng biết chữ của người lớn, thu nhập bình quân trên đầu người trong năm để đánh giá mức sống của người dân

Thứ hai: Là tiêu chí đánh giá nghèo theo đường nghèo: Theo đó Ngân hàng thế giới phân chia đường đói nghèo theo hai mức: đường đói nghèo lương thực thực phẩm và đường đói nghèo chung Đường nghèo về lương thực thực phẩm được xác định dựa trên lượng calo tối thiểu cho một người trên một ngày Mức calo tối thiểu được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và một số tổ chức khác xác định rộng rãi hiện nay là 2100kalo/người/ngày Tuy nhiên, khi áp dụng thực tế mỗi nước sẽ có những mức điều chỉnh phù hợp

Chẳng hạn mức kalo tối thiểu của 1 người/ngày ở Trung Quốc là 2150kalo/ngày/người, ở Thái Lan là 1978 kalo/người/ngày và Việt Nam là 2100 kalo/người/ngày…

Trang 25

Thứ ba: Là tiêu chí đánh giá nghèo theo mức chi tiêu tối thiểu cho các nhu cầu cơ bản của con người Trong Chương trình phát triển Liên hiệp quốc năm 1997, Ngân hàng thế giới đã đưa ra mức chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương của địa phương so với đôla thế giới để thỏa mãn nhu cầu sống tổng quát cho nghèo khổ tuyệt đối là 1 USD; và mức 2 USD/người/ngày trở xuống là nghèo cho các nước châu Mỹ la tinh và Carribean; 4USD /người/ngày trở xuống cho những nước Đông Âu và 14-40USD/người/ngày cho các nước công nghiệp phát triển

Từ năm 2005, chuẩn nghèo mới mà Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc

tế (IMF) áp dụng đối với các nước đang phát triển là 1,25 USD/người/ngày cho chi tiêu nhu cầu cơ bản tính theo sức mua tương đương (PPPs) thay cho đường chuẩn nghèo trước đó vẫn dùng là mức 1USD/người/ngày theo mức giá năm 1993

Thứ tư: Là tiêu chí đánh giá nghèo theo thu nhập bình quân đầu người Tại Đại hội lần thứ II của Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn nghèo chung cho thế giới là mức thu nhập bình quân dưới 370USD/người/năm Bên cạnh đó khi sử dụng chỉ tiêu này các quốc gia thường xác định thu nhập bình quân của hộ gia đình so sánh với thu nhập bình quân đầu người của quốc gia Người có thu nhập bình quân đầu người ít hơn 1/2 hoặc 1/3 thu nhập bình quân của quốc gia được coi là nghèo Trên thực tế nhiều quốc gia thường áp dụng kết hợp 1 hay nhiều chỉ tiêu để đánh giá đói nghèo nhằm mang lại kết quả chính xác và khách quan hơn

1.1.3.2 Tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Việt Nam

Thời gian qua, chuẩn nghèo của Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể nhằm phù hợp hơn với tình hình phát triển của Việt Nam và hướng đến tiếp cận gần hơn chuẩn nghèo của thế giới Dưới đây là chuẩn nghèo Việt Nam thay đổi cụ thể qua từng giai đoạn:

Bảng 1.1 Chuẩn đói nghèo của Việt Nam qua các giai đoạn

1993 - 1996 < 8kg gạo <13kg gạo <20kg gạo <20kg gạo <20kg gạo

1997 - 2000 < 13kg gạo <13kg gạo <15kg gạo <20kg gạo <25kg gạo

Trang 26

2005 - 2010 < 200.000 đ <200.000 đ <260.000 đ

(Nguồn : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội )

Căn cứ Quyết định số 59/2016/QĐ-TTg ngày 19/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-

2020 thì chuẩn nghèo và cận nghèo giai đoạn 2016-2020: Hộ nghèo khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống, có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

1.1.4 Nguyên nhân và cá yếu tố ảnh hưởng của đói nghèo

1.1.4.1 Nguyên nhân của đói nghèo

Hiện rất khó để có thể chỉ ra được tất cả những nguyên nhân của nghèo và cũng khó để phân biệt trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến nghèo, đâu là nguyên nhân còn đâu là kết quả Tuy nhiên nhìn chung, nghèo ở Việt Nam cũng có những nét riêng biệt được tạo nên từ nhiều nguyên nhân tổng hợp có nguồn gốc từ những khác biệt về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế-xã hội và điều kiện lịch sử Theo báo cáo của diễn đàn miền núi Ford (2004), các yếu tố có thể tác động mạnh đến tình trạng đói nghèo tại các địa phương miền núi, vùng biên giới bao gồm: sống ở khu vực nông thôn, người dân tộc, quy mô hộ gia đình, tỉ lệ phụ thuộc, tình trạng giáo dục, khả năng tiếp cận đường ô tô, giao thông chở khách, tiếp cận được chương trình khuyến nông và hộ sinh sống gần trung tâm chợ xã hoặc liên xã Theo chương trình Phân tích hiện trạng đói nghèo vùng KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC (2003) do AusAID tài trợ, tình trạng đói nghèo có thể từ những nguyên nhân sau: mất đất đai hay không có đất để canh tác, tình trạng thiếu việc

Trang 27

làm, những yếu tố có liên quan tới thành phần dân tộc, chất lượng nguồn nhân lực,

cơ hội tiếp cận thị trường, hạ tầng ở nông thôn

Theo PPA (2008) ở tỉnh Tuyên Quang thì nguyên nhân gây ra đói nghèo có thể là do: không có đất; không có vốn, không có nhà, không có việc làm ổn định, bệnh nhiều, đông con, con không được đi học

Riêng tại khu BTTN Na Hang, theo tài liệu điều tra của chúng tôi ngoài nguyên nhân chung của tỉnh Tuyên Quang như đã nêu trên, còn có một nguyên nhân khác cực kỳ quan trọng đó là do yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt đa dạng sinh học của khu bảo tồn, dẫn tới người dân gần như không thể cải thiện thu nhập từ rừng qua các hoạt động thông thường như săn bắn, khai thác lâm sản

Theo Đinh Phi Hổ - Chiv Vann Dy (2008) các yếu tố có thể ảnh hưởng đến đói nghèo bao gồm: Nghề nghiệp, tình trạng việc làm, trình độ học vấn, giới tính của chủ hộ, quy mô hộ và số người sống phụ thuộc, quy mô diện tích đất của hộ gia đình, những hạn chế của người dân tộc thiểu số và khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng Theo Trương Quang Vũ (2007), thì những yếu tố tác động đến đói nghèo tại khu vực ven biển đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2003 – 2004 bao gồm: Giới tính của chủ hộ, lao động không có hoạt động tạo thu nhập, số năm đi học của những người trưởng thành, loại việc làm của chủ hộ, có đường ô tô đến thôn và đất canh tác

Theo Lilongwe và Zomba (2001), Tình trạng đói nghèo ở Malawi là do: tuổi người đứng đầu gia đình, tỉ lệ người phụ thuộc, quy mô hộ gia đình, tình trạng giáo dục của chủ hộ, việc làm nông nghiệp của chủ hộ, khả năng tiếp cận với các nguồn lực và điều kiện địa lý mà hộ đang sinh sống

1.1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo

a Những yếu tố ảnh hưởng bên ngoài

* Về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý không thuận lợi, ở những nơi xa xôi,

hẻo lánh, địa hình phức tạp, không có đường giao thông Đây cũng chính là một nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ nghèo đói cao Do điều kiện vị trí địa lý không thuận lợi, họ dễ rơi vào thế cô lập, tách biệt với bên ngoài, khó tiếp cận các nguồn lực của phát triển làm cho cuộc sống của họ lạc hậu…

* Vấn đề đất sản xuất: Các nguồn lực cơ bản và cần thiết cho sản xuất nông

nghiệp là đất đai và vốn Người nghèo thiếu các nguồn lực đó nên nghèo lại hoàn

Trang 28

nghèo Diện tích và chất lượng đất đóng vai trò quyết định đến mức sống của những

hộ sống bằng nông nghiệp Không có đất hoặc thiếu đất canh tác sẽ khiến cho hộ nông dân rơi vào hoàn cảnh sản xuất không đủ lương thực và thu nhập thấp

Bảng 1.2: Diện tích đất sử dụng theo dân tộc

Diện tích đất sử dụng

Vùng sinh sống Tây bắc Tây Nguyên

88 2.457

98 4.995

75 5.436

99 11.855

48 7.745

90 11.399 Đất trồng cây

lâu năm Có đất (%) Diện tích (m2)

33 2.471

25 3.617

30 3.561

20 3.582

66 12.193

38 10.782 Đất rừng Có đất (%)

Diện tích (m2)

17 13.487

50 17.645

-

-

22 22.199

Không có vốn thì không thể hoạt động sản xuất kinh doanh gì cả Thiếu vốn

đầu tư dẫn đến năng xuất thấp, kéo theo thu nhập thấp, tiết kiệm thấp, đầu tư thấp, thu nhập lại tiếp tục thấp Như vậy hộ gia đình sẽ rơi vào vòng lẩn quẩn của sự đói nghèo Các nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy người nghèo hay gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn tín dụng, trong khi đó những nguồn tín dụng phi chính thức chỉ mang giải pháp tình thế chứ ít có khả năng giúp hộ gia đình thoát nghèo Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do người nghèo thiếu hiểu biết, không

có tài sản thế chấp, không biết cách làm ăn dẫn đến không có khả năng trả được nợ

* Vấn đề môi trường kinh tế và cơ sở hạ tầng:

Môi trường kinh tế không thuận lợi, cơ sở hạ tầng yếu kém ảnh hưởng đáng

kể đến thu nhập Hệ thống giao thông kém phát triển, việc cung cấp điện, hệ thống tưới tiêu cho nông nghiệp còn thiếu Theo BCPTVN (2012), đầu tư vào giao thông được coi là một công cụ quan trọng để giảm chênh lệch về mức sống giữa những vùng thành thị và nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng núi nơi mà

Trang 29

phần lớn việc chuyên chở và đi lại của người dân đều bằng đường bộ Nên đường giao thông nông thôn được xem là một đóng góp đáng kể vào hoạt động kinh tế ở địa phương

Theo Trương Thanh Vũ (2007), có đường ô tô tới xã là một trong những yếu

tố quan trọng quyết định mức chi tiêu bình quân của hộ gia đình và tác giả cũng cho thấy ở những nơi không có họp chợ thường xuyên thì thu nhập theo giờ lao động của hộ thấp đáng kể Đường giao thông thuận lợi từ nhà đến chợ để bà con có thể trực tiếp trao đổi hàng hóa, không phải qua thương lái trung gian, cũng góp phần tăng thu nhập cho bà con vùng huyện biên giới này

Bảng 1.3: Chi tiêu công ở nông thôn và giảm nghèo

Số người thoát nghèo

trên mỗi tỷ đồng đầu tư

Nghiên cứu nông nghiệp Tưới tiêu Đường xá Giáo dục

Miền núi phía Bắc

311,6 278,8 686,7 302,2 362,1 73,1 248,6

54,6 34,8 69,5 54,4 66,3 16,5 54,1

(Nguồn: BCPTVN 2012)

Như vậy, theo ước tính của báo cáo trên, khi chi đầu tư một tỷ đồng vào đường nông thôn sẽ có tác động giảm nghèo nhiều nhất là 270,6 người, sau đó nếu đầu tư một tỷ đồng vào giáo dục thì sẽ có 46,8 người thoát nghèo và cuối cùng là đầu tư một tỷ đồng vào thủy lợi sẽ có 10,6 người thoát nghèo

* Những hạn chế của người dân tộc thiểu số:

Theo Chương trình phân tích hiện trạng đói nghèo tại 7 tỉnh miền núi phía Bắc thì nguyên nhân tỷ lệ nghèo người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan cao hơn người Kinh và Hoa là do: Đa số người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan cư trú tại vùng sâu, vùng xa, nơi mà đất trồng trọt có chất lượng thấp và thường xuyên bị hạn hán, mặt khác do cơ sở hạ tầng và kênh mương thủy lợi yếu kém nên họ ít có điều kiện phát

Trang 30

triển kinh tế gia đình và trao đổi hàng hóa với những địa phương khác Trong canh tác, họ ít ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật sản xuất mới

Người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan thường quần cư theo dòng họ, do vậy người Tày, Dao, H’Mông, Cao Lan ít khi rời xa quê cũ

Bảng 1.4: Tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo (BCPTVN, 2014)

86,4

37,4 9,2 45,5 31,1

75,5

28,9 6,6 35,6 23,1

69,3

19,5 3,6 25,0 13,5

60,7

16,0 3,9 20,4 10,3

52,0

15,0 2,5 18,6 10,6

41,8

10,9 1,9 13,6 6,5

41,5

7,4 0,8 9,7 3,5

34,2

6,7 1,2 8,7 3,2

34,7

9,5 1,7 11,8 7,1

24,2

6,9 1,3 8,7 4,7

22,8

4,7 0,7 6,1 2,6

19,2

3,8 0,7 4,9 2,0

15,4

(Nguồn : Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội )

* Trình độ học vấn và giới tính của chủ hộ:

Ở các nước đang phát triển, nơi mà những thành kiến về vai trò của người phụ

nữ còn tương đối khắt khe thì giới tính của chủ hộ cũng có khả năng ảnh hưởng đến

sự đói nghèo của hộ Những hộ có chủ hộ là nữ giới có nhiều khả năng rơi vào cảnh nghèo hơn so với chủ hộ là nam giới Phụ nữ ở đây đóng một vai trò quan trọng trong việc lao động và cả trong việc quản lý tài chính của gia đình nhưng họ thường phải đối mặt với việc bị phân biệt đối xử Người phụ nữ ở nông thôn phải gánh vác công việc đồng áng, ngoài ra họ còn phải tham gia làm thuê hay buôn bán trong những lúc nông nhàn, chuyện cái ăn, cái mặc cho gia đình đã chiếm hết thời gian,

họ ít có điều kiện giao lưu ra bên ngoài xã hội hay mở mang tri thức Mặc dù đã có

Trang 31

nhiều thay đổi để thực hiện khẩu hiệu “nam nữ bình đẳng” nhưng ở nông thôn, trong gia đình, thường là người đàn ông sẽ quyết định mọi việc

Theo các nghiên cứu trước đây, trình độ học vấn có tương quan nghịch với tỷ

lệ đói nghèo Người nghèo không có đủ tiền để trang trải chi phí học tập cho nên thường bỏ học rất sớm hay thậm chí là không đi học Trình độ học vấn thấp sẽ là rào cản để người nghèo tìm kiếm một việc làm có thu nhập ổn định hoặc ứng dụng khoa học và kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, trình độ học vấn của chủ

hộ còn có ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng hay cho con cái đi học

BCPTVN (2014) đã xem xét chi phí cơ hội của việc đưa trẻ đến trường Đối với các hộ nghèo, sức lao động của trẻ có giá trị hơn nhiều so với việc để chúng tới trường Lợi ích dài hạn của giáo dục không thể bù đắp được những tổn thất về thu nhập trong ngắn hạn Cũng theo báo cáo này, nhóm nghèo nhất chi bình quân khoảng 130.000 đồng cho giáo dục tiểu học (chiếm 1,9% trong chi tiêu của hộ) và khoảng 225.000 đồng cho giáo dục trung học cơ sở (chiếm 2,9% trong chi tiêu của hộ) cho con cái của họ trong một năm

Bảng 1.5: Trình độ học vấn của người nghèo ở Việt Nam

Trình độ học vấn cao

nhất

Tỷ lệ nghèo (%)

Tỷ lệ tính trong tổng số người nghèo (%)

Tỷ lệ tính trong tổng dân số ( %)

Không được đi học

(Nguồn: Trương Thanh Vũ (2012) Các nhân tố tác động đến đói nghèo ở vùng ven

biển đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2010-2012)

b Những yếu tố ảnh hưởng bên trong

* Việc tổ chức thực hiện các giải pháp để nâng cao thu cho hộ nông dân nghèo của chính quyền các cấp

Trang 32

Việc ban hành các chính sách để xóa đói, giảm nghèo có ý nghĩa quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến công cuộc xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân Trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp đã ban hành nhiều chính sách để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân (Chính sách về y tế, về giáo dục, về tín dụng, về phát triển kinh tế…) Từ đó đã góp phần đưa kinh tế không ngừng phát triển, đời sống của nhân dân được nâng lên một bước, chuẩn nghèo và tỷ lệ hộ nghèo đã có nhiều chuyển biến rất tích cực

Chính sách được ban hành kịp thời và phù hợp là chưa đủ, cần phải tổ chức thực hiện chính sách một cách nghiêm túc và hiệu quả, điều đó đòi hỏi phải đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở, nhất là cán bộ làm công tác xóa đói, giảm nghèo, khuyến nông, khuyến lâm phải là người có năng lực, trình độ, có phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, gắn bó với người dân để tổ chức thực hiện có hiệu quả các giải pháp xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân

* Vấn đề làm nông nghiệp của hộ gia đình:

Theo Niên giám Thống kê của tỉnh Tuyên Quang (2016) hiện có 13,5% số dân sống tại khu vực thành thị và 86,49% dân số trong tỉnh sống tại vùng nông thôn và

vùng núi

Một đặc điểm của nghề nông là nông dân phải thường xuyên chịu áp lực về thiên tai, dịch bệnh, sản phẩm hàng hóa nhiều nhưng chất lượng kém Sức cạnh tranh của hàng hóa nông nghiệp yếu, trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn thấp Giá cả đầu vào và đầu ra không ổn định, cụ thể: nông dân mua nguyên liệu, vật tư, phân bón, cây, con giống … để sản xuất nhưng khi bán thì người mua lại quyết định giá cả mà nông dân phải chấp nhận

Theo Lê Thanh Sơn (2009) có hơn 77% số hộ nghèo làm việc trong các ngành như nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, 9% làm việc trong ngành công nghiệp

và 13% làm việc trong ngành dịch vụ Trong các hộ nông dân, những hộ nghèo thường là những hộ thiếu hoặc không có đất, do vậy, cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập từ làm thuê Trình độ học vấn thấp khiến họ ít có cơ hội tìm kiếm việc làm ngoài công việc trong nông nghiệp vốn không ổn định và thu nhập thấp Vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế để nhằm giải quyết việc làm cho khu vực

Trang 33

nông thôn còn nhiều hạn chế, các ngành chế biến nông sản và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển

* Quy mô của hộ gia đình:

Trẻ con nhiều và số người sống phụ thuộc cao, vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của đói nghèo Theo Võ Tất Thắng (2004) tỷ lệ sinh trong các hộ nghèo còn cao, số con bình quân trên một phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với mức 2,1 con của nhóm giàu nhất Hơn nữa, công việc của các hộ nghèo là lao động phổ thông hay chăn thả súc vật, cho nên nhiều con có nghĩa là có nhiều sức lao động Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình (2002) cho thấy 13,5% trẻ em ở

độ tuổi từ 13 đến 16 làm việc trên đồng ruộng của gia đình nhưng tỷ lệ này ở trẻ em người dân tộc là 33,5%

Tỷ lệ phụ thuộc cao nghĩa là có nhiều người ăn theo nhưng có ít người lao động để tạo thu nhập Điều này khiến các thành viên tham gia lao động phải chịu gánh nặng về tiền bạc chi tiêu trong nhà Trong trường hợp thu nhập không bù được mức chi tiêu, các hộ gia đình dễ rơi vào vòng nghèo túng Do đó người ta cho rằng

tỷ lệ phụ thuộc trong một hộ tỷ lệ thuận với khả năng và mức độ nghèo

Bảng 1.6: Nhân khẩu trong gia đình nhiều và số lao động có việc làm thấp

Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên ổn định

ở tuổi lao động

(Nguồn: Hiện trạng đói nghèo 7 tỉnh miền núi phía bắc (2012) do AusAID tài trợ)

Bảng trên cho thấy nhân khẩu trung bình của hộ nghèo là khá cao 5,2 người/hộ Trong điều kiện phần lớn là làm thuê mướn, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên chỉ 22,75% nên các hộ nghèo rất khó khăn trong việc mưu sinh

* Hộ có người đi làm xa: (trong tỉnh, ngoài tỉnh, nước ngoài):

Theo BCPTVN (2012) tìm kiếm công ăn việc làm ở ngoài tỉnh là cách giúp cho hộ gia đình tạo thêm thu nhập Các hình thức tìm kiếm việc làm đó có thể bao gồm: làm theo mùa vụ, đi làm thuê trong nông nghiệp ở vùng núi, làm theo mùa vụ trong nông nghiệp ở vùng xa Theo Chương trình phân tích hiện trạng đói nghèo tại KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC (2003) do AusAID tài trợ, tỷ lệ lao

Trang 34

động thất nghiệp của tỉnh Tuyên Quang là 9,2% trên tổng số lực lượng lao động Do vậy, tìm việc làm ở nơi xa cũng là một giải pháp mà người dân lựa chọn để san sẻ gánh nặng kinh tế gia đình cùng người thân

1.2 Thu nhập hộ nông dân

1.2.1 Khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm Hộ nông dân

a Khái niệm

Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ bản trong nông nghiệp, ra đời rất sớm trong

lịch sử và tồn tại qua nhiều phương thức sản xuất, nhiều chế độ xã hội

Hộ nông dân là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực

(đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động…) được góp thành vốn chung,

cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình Như vậy kinh tế hộ nông dân là một loại hình kinh tế đặc biệt, nó có thể thích ứng và tồn tại trong mọi phương thức sản xuất xã hội, sự khác biệt với các hình thức tổ chức sản xuất khác đó là sử dụng sức lao động gia đình là chính, chính đặc điểm này khiến cho kinh tế hộ nông dân tồn tại ngay khi khủng hoảng kinh tế, các nhà tư sản và các doanh nghiệp có thể bị phá sản trong khi đó kinh tế hộ nông dân vẫn tồn tại

Tóm lại, kinh tế hộ nông dân có thể được khái quát trên các nội dung sau: Hộ gia đình nông dân là đơn vị xã hội có chung một cơ sở kinh tế; các nguồn lực đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động được góp thành vốn chung, có chung một ngân quỹ; cùng sống chung dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của thành viên trong gia đình và quyết định thuộc quyền của chủ hộ

b Những đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân

* Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế phổ biến của nông thôn vùng núi Việt Nam với hướng sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp Hình thức tổ chức kinh tế này có những đặc trưng sau:

- Kinh tế hộ nông dân có lịch sử ra đời và phát triển lâu dài, có nhiều biến đổi trong tổ chức và quản lý, có nhiều hình thức đa dạng, nhưng chủ yếu được tổ chức ở quy mô gia đình, các hình thức của kinh tế hộ bao gồm:

Trang 35

Trang trại gia đình nông, lâm nghiệp: Chủ yếu sử dụng lao động gia đình, ngành nghề sản xuất chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp, được quản lý bởi chủ hộ Liên doanh: các hộ nông dân liên kết với trang trại hoặc đơn vị kinh doanh khác thành một đơn vị thống nhất với tư cách pháp nhân thuộc hộ gia đình Theo

đó, hộ nông dân trong vùng là những vệ tinh cung cấp nguyên liệu cho các công ty Đây là những hình thức liên kết tốt trong sản xuất, tận dụng nguồn đất đai, nhân lực của hộ nông dân trong vùng

Công ty cổ phần: Hình thức tổ chức sản xuất này nhằm tiến hành sản xuất, chế biến, tiêu thụ với quy mô lớn

Hình thức uỷ thác: chủ hộ có ruộng, có rừng, họ uỷ thác cho anh em, bà con tiếp tục duy trì thay họ để sản xuất

Các hộ nông, lâm nghiệp tự nguyện hợp tác với nhau trong sản xuất dịch vụ để sản xuất kinh doanh: Các công ty Nông, Lâm nghiệp trực tiếp lo phần dịch vụ lâu

dài (Giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật canh tác) và bao tiêu sản

phẩm

Hộ nông dân nông, lâm nghiệp sản xuất độc lập tự chủ: Các hộ này sử dụng sức lao động gia đình tiến hành sản xuất nhằm duy trì cuộc sống của hộ Ở vùng núi nước ta loại này hiện nay là phổ biến

* Kinh tế hộ nông dân miền núi phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành, nông lâm kết hợp tạo thành hệ thống bền vững

Để trách rủi ro trong sản xuất nông lâm nghiệp, phòng những thời gian mất mùa, thiên tai hộ nông, lâm nghiệp phải phát triển theo hướng tổng hợp nhiều ngành như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp Trong từng ngành, hộ tiến hành trồng nhiều loại cây trồng, nuôi nhiều con gia súc khác nhau với mục đích tự sản tự tiêu, song một mặt phòng khi giáp hạt, thời tiết khó khăn gây mất mùa loại này thì còn có loại khác thay thế Trong hệ thống nông nghiệp của hộ, ngoài ngành trồng trọt và chăn nuôi gia súc ở miền núi hộ còn có tiềm năng đất rừng được gắn bó với nhau tạo thành mô hình kinh tế bền vững

* Hộ nông dân là một đơn vị độc lập tự chủ nhưng đồng thời là một đơn vị xã hội với những đặc trưng riêng của nó

- Về quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất: Ruộng đất là tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của hộ nông lâm nghiệp Hộ nông dân được sử dụng lâu dài ruộng, đất và

Trang 36

chỉ như vậy hộ mới phát huy được quyền tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp, cùng với các quyền cho thuê sử dụng Do có nhiều tư liệu vừa phục vụ sản xuất vừa phục vụ đời sống nên hộ không thể tiến hành tính khấu hao một cách rõ ràng như các doanh nghiệp sản xuất khác

- Quan hệ quản lý: Do làm chủ về tư liệu sản xuất nên hộ hoàn toàn có khả năng làm chủ về quản lý, quyền này thuộc về thế hệ bố mẹ trong gia đình

- Quan hệ phân phối: Hộ nông dân sẽ tự mình định đoạt những sản phẩm do gia đình làm ra sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước Hộ dùng một phần thu nhập của mình để trang trải chi phí sản xuất, còn một phần hộ dùng để tiêu dùng đảm bảo đời sống cho gia đình, và phần còn lại đề tích luỹ

* Hộ nông dân không những là một đơn vị kinh tế mà còn là một đơn vị xã hội: Tính chất này là đặc trưng trong kinh tế hộ, bố mẹ có trách nhiệm với con cái đến lúc con cái trưởng thành, con cái có trách nhiệm với bố mẹ đến lúc tuổi già, đau

ốm Quan hệ hàng xóm láng giềng, làng bản thông qua các thể chế, già làng, trưởng bản Có thể nói hộ nông, lâm nghiệp bị chi phối rất lớn bởi quan hệ này

* Phát triển kinh tế hộ nông dân miền núi theo hình thái nông, lâm nghiệp phù hợp với yêu cầu phòng hộ, bảo vệ môi trường từng vùng sinh thái Bởi vậy việc phát triển kinh tế hộ theo hình thái nông lâm nghiệp là yêu cầu khách quan và tất yếu trong việc bảo vệ môi trường sinh thái của vùng và của cả nước

1.2.1.2 Khái niệm về thu nhập

a Các khái niệm cơ bản:

Khi nghiên cứu thu nhập của hộ nông dân chúng ta thường đề cập đến các khái niệm sau:

- Tổng thu của hộ là toàn bộ giá trị nhận được từ các nguồn thu bằng tiền của

hộ dân chủ yếu là từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, rừng, làm thuê, ngành nghề thủ công, dịch vụ, nguồn thu từ ngân sách và các nguồn thu khác trong một khoảng thời gian thường tính là 1 năm

Các khoản thu đó có thể bao gồm có thu hiện vật và thu bằng tiền, thu từ sản

xuất kinh doanh và thu ngoài sản xuất kinh doanh (Thu trong sản xuất kinh doanh

là thu từ sản xuất, làm thuê, lương, Thu từ ngoài sản xuất kinh doanh là các nguồn từ nước ngoài gửi về, từ anh em họ hàng, từ các hợp đồng kinh tế)

Trang 37

- Tổng chi của hộ là toàn bộ chi phí bằng tiền mà hộ bỏ ra bao gồm chi cho

sản xuất và chi cho tiêu dùng

Chi sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài)

Chi tiêu dùng là các khoản chi ngoài sản xuất phục vụ cho đời sống hàng ngày của hộ

- Thu nhập thực tế (thực thu của hộ): bằng tổng thu trừ đi các chi phí cho sản xuất của hộ

- Tiết kiệm của hộ bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản xuất

và chi tiêu dùng của hộ

Thu nhập thực tế mới phản ánh đúng và có liên quan đến đời sống của người

dân Nếu hộ dân thực hiện được hạch toán kinh tế hộ thì cần thiết tính được thực thu hay thu nhập thực tế từ sản xuất kinh doanh bằng cách:

Tổng thu - chi phí khả biến = Tổng thu nhập ròng

Tổng thu nhập ròng - tổng chi phí bất biến = Thu nhập thực tế

Thu nhập thực tế - trả lãi tiền vay = Thực kiếm

Thực kiếm + Thu từ các hoạt động khác = Thực thu của hộ

(Theo Đỗ Kim Chung (1997) [1])

b Đặc điểm thu nhập của hộ gia đình

Thu nhập của hộ nông dân miền núi luôn có một đặc trưng cơ bản là gắn liền với đất và rừng Cùng với sự phát triển của xã hội, sự thay đổi về quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất, Thu nhập của các hộ nông dân miền núi đã có những biến đổi và ngày càng có chiều hướng đa dạng hơn Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canh tác nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng, các hộ dân tộc còn có các nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làm thuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh thái và thu từ dịch vụ môi trường rừng và thu từ chuyển nhượng chứng chỉ các bon

Đặc điểm thu nhập của các hộ gia đình bao gồm các khoản thu nhập sau:

* Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ trồng trọt (thu từ cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai, sắn thu trồng cây ăn quả như vải nhẵn, hồng xiêm, bưởi, mít; thu từ trồng cây công nghiệp như chè, cà phê, sắn); thu từ chăn nuôi (trâu bò, lợn, gà, dê, )

Trang 38

* Thu nhập từ lâm nghiệp: bao gồm thu từ khai thác lâm sản và lâm sản ngoài

gỗ (gỗ, củi, tre nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng ), thu từ khai thác lâm

sản, thu từ săn bắt động vật và chim thú rừng; thu từ các hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng, thu từ dịch vụ môi trường rừng và chuyển nhượng chứng chỉ các bon

* Thu nhập từ thuỷ sản bao gồm nuôi cá, ếch, ba ba, rắn

* Thu nhập phi nông nghiệp bao gồm:

Thu nhập từ ngành nghề thủ công truyền thống bao gồm sản phẩm mây tre đan, chế biến dược liệu, dệt vải

Thu nhập từ dịch vụ du lịch sinh thái bao gồm thu từ bán hàng, phục vụ ăn ở, phục vụ tham quan văn hoá truyến thống bản làng, hướng dẫn du lịch

Thu nhập phi nông nghiệp còn lại bao gồm cắt tóc, làm thuê, thợ nề, thợ mộc, chạy xe ôm

Thu nhập khác bao gồm lương hưu, trợ cấp

1.2.2 Đo lường thu nhập của hộ gia đình

Kinh tế hộ nông dân mới được các nhà khoa học ở Việt Nam nghiên cứu nhiều vào những năm 1980 trở lại đây Qua kết quả các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi thấy có 2 cách tính chỉ tiêu đánh giá thu nhập

hộ nông dân

* Cách tính thứ nhất: Do kinh tế hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, vì

vậy những chỉ tiêu dùng để đánh giá thu nhập của hộ có thể sử dụng trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) Với cách tính này các chỉ tiêu dùng để đánh giá kinh tế

Thu nhập hỗn hợp (MI): Là một phần của giá trị tăng thêm sau khi trừ đi thuế

và khấu hao tài sản cố định

Trang 39

Trên cơ sở đó sẽ xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, đánh giá kinh tế hộ nông dân

* Cách tính thứ hai: Cơ sở khoa học của quan điểm này dựa trên lý thuyết

kinh tế hộ nông dân của Trayanốp (1925), của Đỗ Kim Chung [1], Kim Thị Dung [12], Các chỉ tiêu đó là:

Tổng thu: Là toàn bộ sản phẩm thu được của hộ tính theo giá thị trường ở thời điểm điều tra (kể cả bán và tiêu dùng)

Chi phí: Do không phải bất cứ yếu tố đầu vào của hộ đều được trao đổi trên thị trường nên chi phí là bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất

ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài)

Thu nhập thực bằng tổng thu trừ đi chi phí sản xuất, do kinh tế hộ nông dân sử dụng yếu tố nguồn lực của hộ, nên không thể tính tất cả mọi khoản chi phí theo giá thị trường, hộ nông dân sản xuất chủ yếu bằng sức lao động của gia đình, không đi thuê hoặc ít sử dụng lao động làm thuê, vì thế thu nhập của hộ là chỉ tiêu cơ bản dùng để tiến hành phân tích kinh tế hộ nông dân

1.2.3 Những chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân

Qua kết quả các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi thấy có nhiều cách tính chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân

Với đặc thù kinh tế hộ vùng nghiên cứu là vùng cao, lại là ở một khu bảo tồn thiên nhiên, sản xuất mang nặng tính tự cung tự cấp Vì thế để phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng nghiên cứu chúng tôi thống nhất sử dụng cách tính dựa trên lý thuyết kinh tế hộ nông dân của Trayanốp (1925), của Đỗ Kim Chung [1], Kim Thị Dung [12]

Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế hộ nông dân: Nhiều tác giả đã cho rằng hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được với chi phi bỏ ra (đã được lượng hoá) Kết quả đó là tổng thu, thu nhập và thu nhập ròng của hộ và của từng ngành Chi phí bỏ ra của hộ đó là giá trị các nguồn lực được sử dụng như đất đai, lao động, tiền vốn đầu tư Các chỉ tiêu đánh giá có thể tính bằng số tương đối,

số tuyệt đối hoặc so sánh phần tăng thêm giữa chi phí bỏ ra với phần tăng thêm của kết quả thu được của hộ Trên cơ sở đó chúng tôi lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá thu nhập hộ nông dân được cụ thể hoá trong phần phương pháp nghiên cứu

Trang 40

Tính thu nhập từ bảng số liệu điều tra là tổng của các doanh thu ròng từ các hoạt động khác nhau: trồng trọt, sản phẩm phụ của ngành nông nghiệp, chăn nuôi, tiền lương, trợ cấp và thu nhập khác Doanh thu từ các cây trồng được tính trực tiếp

từ bảng câu hỏi Giá trị tiêu dùng của sản phẩm do gia đình tự sản xuất được tính bằng cách nhân lượng tiêu thụ báo cáo với giá bán trung bình theo vùng của hàng hóa trong câu hỏi điều tra Chi phí sản xuất trồng trọt, bao gồm: gống, phân bón, thuốc trừ sâu, chi phí thuê đất, thuê lao động, lưu kho và tiếp thị

Trong trồng trọt do không tách được một số chi phí (thuê lao động, thuê thiết

bị, lưu kho) nên chúng tôi phân bổ cho nhóm loại cây trồng chứ không thể phân bổ

cho từng loại cây

Doanh thu từ chăn nuôi bao gồm doanh thu từ việc bán gia súc và lượng tiêu dùng thịt gia súc trong gia đình trừ đi chi phí mua giống, cộng với tiền bán và lượng tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi của gia đình như sữa, trứng Lượng tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi được tính từ phần chi tiêu của bảng câu hỏi

Doanh thu ròng từ các hoạt động phi nông nghiệp của hộ có thể tính theo 2 cách Doanh thu từ hoạt động phi nông nghiệp trừ đi chi phí được tính riêng cho từng hoạt động phi nông nghiệp như thuê lao động, thuê máy móc thiết bị, thuê nhà xưởng, kho, bến bãi… tất cả đều có trong bảng câu hỏi điều tra

Thu nhập từ tiền lương là tổng thu nhập tiền lương cả năm và tiền thưởng Tiền trợ cấp bao gồm trợ cấp tư nhân (quà tặng, tiền của thân nhân gửi về) và trợ cấp cuả nhà nước trong 12 tháng qua Các thu nhập khác là tiền lương hưu, trúng

xổ số và tiền cho thuê đất đai nhà cửa, tài sản Doanh thu từ bán nhà cửa, phương tiện, đồ trang sức không được tính vào thu nhập trong báo cáo này

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân

1.24.1 Các yếu tố nguồn lực sản xuất của hộ

Hộ nông dân muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp thì vấn đề có tính quyết định trước tiên là các yếu tố sản xuất bao gồm đất đai, lao động, cơ sở vật chất như tư liệu sản xuất và tiền vốn; các yếu tố này quyết định kết quả sản xuất kinh doanh của từng hộ

- Đất đai là yếu tố sản xuất không thể thay thế trong hoạt động sản xuất nông

lâm nghiệp Nếu quỹ đất nhiều, chất đất tốt, cơ cấu đất đai phong phú thì càng có điều kiện sản xuất thuận lợi cho hộ nông dân lựa chọn phương thức canh tác phù

Ngày đăng: 23/02/2021, 09:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w