Việc ứng dụng công nghệ thông tin được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Lạng Sơn đã có những tiến bộ vượt bậc, đóng góp quan trọng trong cải cách hành chính, trong lãnh đạo, chỉ đạo đi
Trang 1NGUYỄN TRỌNG HÙNG
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2018
Trang 3tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn” do tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn của thầy giáo TS Đặng Vũ Tùng Các số liệu và trích dẫn được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và đáng tin cậy
Để hoàn thành khóa luận này, tôi chỉ sử dụng những tài liệu được ghi trong danh mục tài liệu tham khảo và không sao chép hay sử dụng bất kỳ tài liệu nào khác Nếu phát hiện có sự sao chép tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 29 tháng 01 năm 2018
Học viên thực hiện
Nguyễn Trọng Hùng
Trang 4DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Tổng quan về công nghệ thông tin 4
1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin 4
1.1.2 Đặc điểm của công nghệ thông tin 5
1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin 7
1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước 11
1.2.1 Khái niệm về ứng dụng công nghệ thông tin 11
1.2.2 Hệ thống công nghệ thông tin trong một tổ chức 11
1.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước 13
1.2.4 Các yếu tổ ảnh hưởng đấn ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước 14
1.2.5 Kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước tại Việt Nam 19
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TỈNH LẠNG SƠN 27
2.1 Giới thiệu về Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn 27
2.1.1 Vị trí, chức năng 27
2.1.2 Cơ cấu, tổ chức 27
2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn 28
2.2 Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn 29
2.2.1 Các chính sách hiện hành 29
2.2.2 Cơ sở hạ tầng 32
2.2.3 Nhân lực hoạt động về CNTT 37
2.2.4 Các ứng dụng CNTT đã triển khai 44
2.2.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng 50
2.2.6 Khảo sát công tác ứng dụng CNTT tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn 52
2.3 Đánh giá kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 55
2.3.1 Kết quả đạt được 55
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 58
2.3.3 Nguyên nhân 62
Trang 53.1.1 Chất lượng, hiệu quả trong hoạt động của Sở TT& TT 66
3.1.2 Hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch… 67
3.2 Giải pháp về công tác quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin 67
3.2.1 Căn cứ để đề ra giải pháp về công tác quản lý việc ứng dụng CNTT 67
3.2.2 Tổ chức triển khai hướng dẫn, tuyên truyền các quy định của nhà nước về công nghệ thông tin 67
3.2.3 Xây dựng cơ chế, chính sách để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin 68
3.3 Giải pháp về nâng cấp hạ tầng CNTT 69
3.3.1 Căn cứ để thực hiện giải pháp về hạ tầng CNTT 69
3.3.2 Tổ chức thực hiện 70
3.3.3 Lộ trình thực hiện 73
3.4 Giải pháp triển khai phần mềm ứng dụng 75
3.4.1 Căn cứ để thực hiện giải pháp triển khai phần mềm ứng dụng 75
3.4.2 Tổ chức thực hiện 75
3.4.3 Lộ trình thực hiện 77
3.5 Giải pháp nâng cao năng lực của nhân lực hoạt động về CNTT 78
3.5.1 Căn cứ để thực hiện giải pháp nâng cao năng lực của nhân lực hoạt động về CNTT 79
3.5.2 Tổ chức thực hiện 79
3.5.3 Lộ trình thực hiện 80
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSDL Cơ sở dữ liệu
Sở TN- MT Sở Tài nguyên - Môi trường
Sở TT& TT Sở Thông tin và Truyền thông TTHC Thủ tục hành chính
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
Trang
Hình 1.1 Cấu trúc tổng thể chính quyền điện tử tỉnh Lạng Sơn 12
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng thiết bị tin học tại Sở TT & TT năm 2016 32
Hình 2.1 Biểu đồ tổng hợp thiết bị tin học tại Sở TT & TT năm 2016 33
Bảng 2.2 Về hạ tầng kĩ thuật tại tỉnh Lạng Sơn 34
Hình 2.2 Tổng số máy trạm tỉnh Lạng Sơn năm 2017 34
Bảng 2.3 Bảng thống kê về cơ sở hạ tầng kĩ thuật của tỉnh Lạng Sơn qua các năm 35
Bảng 2.4 Số máy tính tại các cơ quan, đơn vị tỉnh Lạng Sơn 35
Bảng 2.5 Số lượng đơn vị kết nối mạng LAN, WAN và Internet băng rộng tại tỉnh Lạng Sơn 36
Bảng 2.6 Phân loại cán bộ công chức Sở TT&TT tỉnh Lạng Sơn năm 2017 38
Bảng 2.7 Phân loại nhân lực CNTT tại Sở TT&TT 38
Hình 2.3 Trình độ cán bộ công chức Sở TT& TT tỉnh Lạng Sơn năm 2017 39
Hình 2.4 Khảo sát trình độ tin học nguồn nhân lực tại các huyện, thành phố trong tỉnh Lạng Sơn giai đoạn năm 2012 – 2016 40
Bảng 2.8 Cơ cấu NNL CNTT chuyên trách của tỉnh Lạng Sơn năm 2016 40
Bảng 2.9 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ chuyên trách về CNTT (văn bằng trong lĩnh vực CNTT) tại qua các năm từ 2014- 2016 40
Bảng 2.10 Bảng thống kê về tổ chức đào tạo nâng cao trình độ tin học (CNTT) cho cán bộ trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2014 - 2016 42
Bảng 2.11 Các khóa đào tạo CNTT mà Sở TT & TT tổ chức năm 2017 42
Bảng 2.12.Thống kê điều động luân chuyển cán bộ Tin học 43
Bảng 2.13 Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đã cung cấp 47
Bảng 2.14 Thống kê văn bản liên thông trên mạng điều hành tác nghiệp 47
Hình 3.1 Mạng LAN cho các cơ quan cấp tỉnh 70
Hình 3.2 Mạng LAN cho các cơ quan cấp huyện/ thành phố 71
Hình 3.3 Mạng LAN cho các cơ quan cấp xã/ phường 71
Hình 3.4 Mạng LAN không dây 72
Hình 3.5 Mô hình cổng điện tử 73
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực, góp phần tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và làm thay đổi cơ bản cách quản lý, học tập, làm việc của con người Việc ứng dụng công nghệ thông tin được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Lạng Sơn đã có những tiến bộ vượt bậc, đóng góp quan trọng trong cải cách hành chính, trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành hoạt động của các cấp, các ngành và doanh nghiệp; Bước đầu đã có những kết quả đáng ghi nhận
Từ khi thành lập đến nay, với chức năng, nhiệm vụ của mình Sở Thông tin và Truyền thông Lạng Sơn đã thực hiện công tác Quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông, trong đó có lĩnh vực CNTT bằng việc tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoạch, quy hoạch, quy chế thực hiện triển khai một số dự án về CNTT, ban hành các văn bản hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện ứng dựng CNTT Tuy nhiên công tác quản lý nhà nước về phát triển và ứng dụng Công nghệ thông tin là một lĩnh vực mới, cùng với đó là tốc độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành cũng cần phải thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển Xuất phát từ thực tế đó em xin chọn đề
tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn” nhằm nghiên cứu vấn đề để hiểu thêm và nắm rõ bản chất của lĩnh vực
công nghệ thông tin và đánh giá lại được thực trạng ứng dụng CNTT trong công việc tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn Qua cơ sở phân tích sẽ nhận thấy những mặt tích cực và hạn chế nhờ việc ứng dụng CNTT tại Sở Đồng thời, xem xét định hướng phát triển của cơ quan để có thể đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng ứng dụng CNTT trong công việc tầm nhìn đến năm 2020
2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Ứng dựng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông nói riêng là những công trình, đề tài được một số tác giả nghiên cứu cả về lý thuyết và thực tiễn Các công trình, đề tài nghiên cứu đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời đưa ra những kiến nghị khoa học về các định hướng và giải pháp đối với vấn đề này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Trang 91 Đặng Hữu (2001), Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2 Chính phủ (2010), Đề án sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về công
nghệ thông tin và truyền thông
3 Nguyễn Trung Thành (2015), Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ của Trường Đại
học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Vũ Tuấn Linh (2013), Quản lý nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bắc Ninh, Luận văn Thạc sĩ
của Học viện Hành chính
5 Nguyễn Trị Trần Thìn (2016), Một số giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Kho bạc Nhà nước Thái Bình, Luận
văn Thạc sĩ của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông là rất quan trọng, nhưng theo sự hiểu biết của tác giả thì tại Lạng Sơn chưa có đề tài nào tập trung vào vấn đề này, trên thực tế chỉ có những kế hoạch, những đề xuất riêng lẻ Trong luận văn này, ngoài việc kế thừa có chọn lọc một số ý tưởng trong các công trình nghiên cứu liên quan, những đề xuất đã có, luận văn bổ sung thêm về lý luận, những kiến nghị mới, phù hợp với tình hình thực tiễn và xu hướng phát triển tại địa phương
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng, cần tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn Các mục tiêu cụ thể gồm:
Mục tiêu 1: Để hệ thống hóa, hình dung đặc điểm, chức năng của ngành CNTT Mục tiêu 2: Để nắm bắt một cách cụ thể ứng dụng CNTT cho từng công việc tại Sở
thông tin và truyền thông
Mục tiêu 3: Để tìm hiểu hạn chế và thành tựu đạt được nhờ việc ứng dụng CNTT
trong giai đoạn 2011 - 2016
Mục tiêu 4: Nghiên cứu, vận dụng các quy định của Đảng và Nhà nước trong lĩnh
vực ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin
Mục tiêu 5: Đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả
công việc tại Sở TT&TT thông qua việc ứng dụng CNTT trong công tác cải cách hành chính để phục vụ người dân và doanh nghiệp, nâng cao chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin trong Sở Thông tin và Truyền thông so với các sở, ngành khác trong địa bàn toàn tỉnh và chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin của tỉnh Lạng Sơn so với
Trang 10các tỉnh thành phố trong cả nước Đồng thời, xây dựng chiến lược tầm nhìn đến năm 2020
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong các
công việc thực hiện tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn
- Phạm vi thời gian: Thực trạng từ năm 2011 đến năm 2016, tầm nhìn đến năm
2020
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập thông tin, số liệu: Các thông tin, số liệu sử dụng trong luận văn là các thông tin, số liệu thứ cấp Những thông tin, số liệu được thu thập từ các công trình nghiên cứu liên quan, từ các văn bản quản lý liên quan, từ các báo cáo của các sở, ban, ngành và số liệu khảo sát về ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Phương pháp thống kê mô tả: Để phân tích, đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn, luận văn sử dụng phương pháp thống kê, mô tả để hình thành nên những bảng số liệu về những nội dung nghiên cứu liên quan
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được thực hiện với cách tiếp cận hệ thống
dữ liệu thứ cấp bằng các tài liệu tham khảo, số liệu thông tin thực tế thu thập tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn Luận văn sẽ phân tích thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn và có các
cơ sở để so sánh Để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng công việc tại Sở TT&TT thông qua việc ứng dụng CNTT Đồng thời, xây dựng chiến lược tầm nhìn đến năm 2020
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài các trang bìa, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục các sơ đồ - biểu
đồ - hình vẽ, danh mục các từ viết tắt, các phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn chia làm 03 chương như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống các
cơ quan hành chính nhà nước
Chương 2 Phân tích công tác ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và
Truyền thông tỉnh Lạng Sơn
Chương 3 Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin tại
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN
HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan về công nghệ thông tin
1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin (CNTT) được hình thành từ khoa học máy tính, đây là
một khái niệm khá rộng, nó bao hàm nhiều khái niệm khác nhau ở bên trong (phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình…) CNTT ra đời với tư cách là một ngành khoa học ứng dụng hiện đại, phát triển qua nhiều thời kỳ với các quá trình từ khoa học máy tính đến Tin học và CNTT Theo nghĩa rộng và tổng quát nhất CNTT là việc sử dụng công nghệ hiện đại vào việc tạo
ra, lưu trữ, truyền dẫn thông tin, xử lý, khai thác thông tin
CNTT gồm tất cả các nhóm ngành công nghệ (sử dụng hệ thống máy tính, phần mềm, và mạng lưới Internet) được sử dụng cho việc xử lý và phân phối dữ liệu, lưu trữ, thu thập, trao đổi và sử dụng thông tin dưới tất cả các hình thức dữ liệu
Trong đó, thông tin có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, xuất phát từ nhiều
nguồn khác nhau Người ta có thể định lượng tin tức bằng cách đo độ bất định của hành vi, trạng thái Xác suất xuất hiện một tin càng thấp thì độ bất ngờ càng lớn do
đó lượng tin càng cao
Chất lượng của thông tin thường được đánh giá dựa trên các phương diện chủ
yếu sau: Tính cần thiết, Tính chính xác, Độ tin cậy, Tính thời sự Khi tiếp nhận được
thông tin, con người thường phải xử lý nó để tạo ra những thông tin mới, có ích hơn, từ đó có những phản ứng nhất định Trong lĩnh vực quản lý, các thông tin mới
là các quyết định quản lý
Trong lĩnh vực CNTT, thông tin được hiểu là những tín hiệu, ký hiệu mang lại hiểu biết, nhận thức của con người Trong máy tính thông tin được mã hóa theo những cách thức thống nhất để máy tính có thể đọc và xử lý được Sau khi xử lý, thông tin được giải mã trở thành các tín hiệu mà con người có thể nhận thức được Thông tin số là thông tin được tạo lập bằng phương pháp dùng tín hiệu số
- Hệ thống thông tin (Information System - IS) là một tập hợp các yếu tố có liên quan với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin để
Trang 12hỗ trợ việc ra quyết định, phân tích tình hình, lập kế hoạch, điều phối và kiểm soát các hoạt động trong một tổ chức, doanh nghiệp
- Trang thông tin điện tử (Website) là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin
- Vi rút máy tính là chương trình máy tính có khả năng lây lan, gây ra hoạt động không bình thường cho thiết bị số hoặc sao chép, sửa đổi, xóa bỏ thông tin lưu trữ trong thiết bị số
- Phát triển công nghệ thông tin là hoạt động nghiên cứu - phát triển liên quan đến quá trình sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số; phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; phát triển công nghiệp công nghệ thông tin và phát triển dịch vụ công nghệ thông tin
Ở Việt Nam, CNTT được thể chế hóa từ Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về "Phát triển CNTT ở Việt Nam trong những năm 90", và luật hóa thành văn bản Luật vào năm 2006 Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ chính trị về
“Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH”, là cơ sở cho sự ra đời của Luật Công nghệ thông tin, được Quốc Hội thông qua ngày 29/6/2006 theo Nghị quyết số 67/2006/QH11- cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT của đất nước
Theo Luật Công nghệ thông tin thì “Công nghệ thông tin là tập hợp các
phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” Trong phạm vi
nghiên cứu của luận văn, CNTT được hiểu theo khái niệm CNTT của Luật Công nghệ thông tin năm 2006
1.1.2 Đặc điểm của công nghệ thông tin
1.1.2.1 Ngành công nghệ mũi nhọn
CNTT là ngành được xây dựng dựa trên thành quả của nhiều ngành công nghệ khác và những lý thuyết khoa học hiện đại Có hàm lượng tri thức cao là một trong những đặc điểm của ngành công nghệ mũi nhọn Do đó, CNTT đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, ứng dụng cần phải thực hiện từng bước phù hợp với lợi thế riêng Phát triển CNTT không chỉ là động lực cho riêng các doanh nghiệp trong ngành, mà còn là lực đẩy cho toàn nền kinh tế, giúp các lĩnh vực, ngành nghề khác trong xã hội hiện đại hóa, phát triển mạnh Chính vì vậy, mà CNTT và truyền thông
đã trở thành một công cụ, một nền tảng cho phương thức lao động mới của toàn bộ
xã hội, thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực, khía cạnh của đời sống
1.1.2.2 Ngành có tốc độ phát triển cao
Trang 13CNTT bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1970 Tuy nhiên, đến thập niên 1990 ngành CNTT mới thật sự phát triển và phát triển tốc độ rất cao Những tiến bộ về công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin diễn tiến liên tục, có thể tính từng giây Thế giới ghi nhận từ thập niên 1990 đến nay, tốc độ phát triển trung bình hàng năm của ngành duy trì từ 8%-10% và cao gấp 1,5 lần sự phát triển kinh tế của thế giới (Research Report of Shanghai Research Center, 2004) Tại Diễn đàn Cấp cao Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam 2013, Thủ tướng Chính phủ
Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Hơn 10 năm qua, CNTT đã trở thành ngành
kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, đóng góp trực tiếp gần 7% GDP, và là một lợi thế phát triển đặc biệt của Việt Nam”
1.1.2.3 Vòng đời sản phẩm ngắn
Bắt nguồn từ sự phát triển với tốc độ cao, sản phẩm CNTT thường có vòng đời rất ngắn Theo Hiệp hội Nghiên cứu Máy tính của Mỹ (Computing Research Association – CRA, 1999), vòng đời của sản phẩm CNTT thường chỉ có 2 năm và tối đa là 4 năm thì các sản phẩm CNTT đã bị xem là lạc hậu Vì vậy, đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, khi đầu tư hay định hướng các giải pháp công nghệ cần lưu ý đến đặc điểm này của CNTT để tránh lãng phí, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư
1.1.2.4 Tính tích hợp cao
Ngày nay, CNTT đã thâm nhập và tích hợp vào sâu trong các ngành khác như
cơ khí, sản xuất ô tô, năng lượng, giao thông, dệt, luyện kim, điện tử… làm cho các ngành này nhanh chóng phát triển Mạng viễn thông, mạng truyền hình và mạng máy tính đã dần tích hợp vào nhau, chia sẽ thông tin, tài nguyên của nhau và giúp cho các nước trên thế giới xích lại gần nhau hơn
Với khả năng số hóa thông tin, xử lý và tái tạo thông tin, CNTT trở thành một công
cụ, một nền tảng cho phương tiện lao động mới được sử dụng cho các ngành công nghệ khác CNTT có thể tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của các lĩnh vực: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ …, cũng có thể tham gia vào quá trình quản lý, điều hành Bên cạnh đó CNTT cũng tạo ra nhiều ngành kinh tế mới, làm thay đổi sâu sắc các ngành công nghiệp hiện tại và tăng khả năng cạnh tranh của các ngành
1.1.2.5 Chi phí nghiên cứu và phát triển ngành cao
CNTT là ngành công nghệ cao, có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành và hiện đại hóa nhiều ngành sản xuất, dịch vụ;
Trang 14cấu trúc của ngành có nhiều tầng lớp, lớp trên được xây dựng dựa trên các lớp dưới… nên mỗi thay đổi, cải tiến công nghệ đều kéo theo nhiều sự thay đổi trên các lĩnh vực Mặc dù là ngành thường xuyên phát minh và cải tiến nhưng chi phí cho việc nghiên cứu và phát triển của ngành lại rất cao
1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin
CNTT và truyền thông đã và đang làm thay đổi thế giới Những rào cản được
gỡ bỏ cùng với những tiến bộ vượt bậc của cách mạng số đang làm cho thế giới
"phẳng ra" và không còn nhiều trở ngại về địa lý như trước Trong một thời gian tương đối ngắn CNTT và truyền thông đã tạo ra những biến đổi về văn hóa - xã hội sâu sắc ở mọi ngõ ngách của trái đất nơi chúng ta đang sống, đem lại cho con người những cơ hội để có một cuộc sống thuận tiện hơn và thách thức cũng lớn hơn Điều này mở ra cho các quốc gia những phương thức sản xuất kinh doanh, những vị thế chính trị và kinh tế hoàn toàn mới CNTT và truyền thông ảnh hưởng tới hầu hết mọi ngành còn lại, không chỉ giúp giải quyết lượng thông tin khổng lồ một cách nhanh chóng, tạo ra nhiều loại hình công việc mới mà còn tạo một bước ngoặt mới cho sự phát triển của xã hội, kéo theo sự phát triển của nền văn minh nhân loại
Vai trò của CNTT trên thế giới ngày càng có ảnh hưởng sâu rộng, nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; trong những thập niên gần đây với sự phát triển của CNTT đã làm cho thế giới thay đổi từng ngày Trong phần này luận văn chỉ đề cập đến vai trò của CNTT với một số vấn đề có liên quan như sau:
CNTT đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội Nó chính là nhân tố giúp kết nối và trao đổi giữa các thành phần của xã hội toàn cầu Sự phát triển của CNTT, trước hết đã làm thay đổi phương thức tổ chức hoạt động kinh tế, sau đó tác động đến hoạt động của các khu vực khác trong nền kinh tế như: khu vực chế tạo, chế biến và dịch vụ, quản lý nhà nước CNTT không chỉ thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, mà còn kéo theo sự biến đổi trong phương thức sáng tạo của cải, trong lối sống và tư duy của con người Sự kết hợp giữa CNTT, công nghệ viễn thông và công nghệ Internet đã trở thành công cụ đắc dụng phục vụ phát triển kinh tế, xã hội Môi trường trao đổi thông tin đa truyền thông đa phương tiện
do sự kết hợp đó đã xóa bỏ các rào cản về mặt vật lý, địa lý; biến đổi cách thức giao tiếp đến cách sử dụng thông tin, biến đổi bản chất thương mại, bản chất của công việc và thay đổi cách thức chăm sóc y tế và giáo dục
CNTT là động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia Không phải ngẫu nhiên ngày nay không nước phát triển giàu có nào lại nghèo về thông tin và cũng không có nước nào giàu về thông tin mà nghèo và kém phát triển cả
Trang 15 CNTT nhanh chóng thay đổi thế giới một cách mạnh mẽ, sự chuyển đổi này có vị thế trong lịch sử như một cuộc cách mạng kinh tế - xã hội và có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người
- Con người đã biến Internet thành một công cụ hữu dụng Hàng tỉ người trên thế giới có thể truy cập Internet cùng một lúc, thực hiện giao dịch mua bán, gặp gỡ, trao đổi với bạn bè khắp thế giới và cập nhật thông tin bất kì thời gian nào Mạng xã hội trở nên phổ biến hơn và ngày càng được giới trẻ quan tâm
- Đối với y tế, việc ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và CNTT
đã trở thành một hình thức phổ biến có tác dụng hỗ trợ kịp thời và thiết thực trong việc chữa bệnh cho nhân dân Ví dụ, hiện nay, đã dùng công nghệ siêu âm 3D (ba chiều), hoặc các bác sĩ có thể hội chẩn từ xa (thậm chí từ nhiều nước khác nhau trên thế giới) Sử dụng CNTT để hỗ trợ về mặt kỹ thuật và phương pháp điều trị cho những vùng xa trung tâm y tế đã mang lại giá trị to lớn về mặt tinh thần cũng như vật chất cho nhân dân
- Trong lĩnh vực Giáo dục-đào tạo, việc ứng dụng CNTT đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp, các bậc học, mở rộng thêm nhiều loại hình đào tạo như đào tạo từ xa, phối hợp liên kết giữa các trường, các Quốc gia với nhau đang nhằm đưa chất lượng giáo dục của nước ta ngang bằng với các nước trong khu vực và trên thế giới
- Thương mại điện tử xuất hiện, khách hàng có thể tiếp xúc và tìm hiểu mọi thông tin về công ty dễ dàng ở bất cứ nơi nào, lúc nào Công ty sẽ nhận được phản hồi của khách hàng nhanh chóng về chiến lược tiếp thị hoặc danh mục hàng hoá của các doanh nghiệp để từ đó có những thay đổi về chiến lược kinh doanh cho phù hợp với thị hiếu của thị trường
- An ninh quốc phòng cũng có những thay đổi cơ bản, công nghệ thông tin
đã tạo ra những thế hệ vũ khí, phương tiện chiến tranh "thông minh", từ
đó xuất hiện hình thái chiến tranh, phương thức tác chiến mới, làm thay đổi sâu sắc học thuyết quân sự của nhiều quốc gia
CNTT còn là cơ sở cho quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế Với mạng Internet và các dịch vụ do CNTT tạo ra, các công ty có thể hợp tác sản xuất, trao đổi mua bán, quảng bá và mở rộng thị trường ra khắp thế giới, con người có thể tìm
kiếm việc làm bên ngoài lãnh thổ một cách dễ dàng Sáng tạo ra những giá trị mới
và các việc làm mới, cuộc cách mạng CNTT sẽ mang lại những thị trường mới và những nghề nghiệp mới với những đột phá công nghệ có tính thách thức đối với toàn thế giới
Trang 16Với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin hiện nay, CNTT đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn đối với nhiều quốc gia trên thế giới Quốc gia nào,
dân tộc nào nhanh chóng nắm bắt và làm chủ được công nghệ thông tin thì sẽ khai
thác được nhiều hơn, nhanh hơn lợi thế của mình Và cũng chính từ đây nảy sinh
một thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển như nước ta, đó là làm thế nào để phát huy được thế mạnh của CNTT, thúc đẩy sự phát triển của xã hội mà không mất đi văn hoá truyền thống quý báu của dân tộc
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) ở nước ta hiện nay, tất yếu phải khai thác được những tiềm năng thế mạnh của CNTT, thúc đẩy những ứng dụng và phát triển CNTT, coi đó là một điều kiện cần thiết để đạt được những mục tiêu của giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước
1.1.3.1 Vai trò của công nghệ thông tin đối với hoạt động của cơ quan nhà nước
CNTT với bốn thành phần: ứng dụng CNTT, cơ sở hạ tầng CNTT, nguồn nhân lực và công nghiệp CNTT sẽ giúp cho Chính phủ cải tiến mối tác động qua lại giữa
ba chủ thể: chính phủ, người dân và doanh nghiệp
Đối với cơ quan nhà nước, CNTT giúp cho việc tự động hóa hoặc Tin học hóa các quy trình, thủ tục, giấy tờ hiện hành, từ đó sẽ đơn giản hóa các thủ tục hành chính, làm tăng tính hiệu quả của các dịch vụ công Việc phổ biến thông tin rộng rãi qua Internet và các phương tiện truyền thông mở ra cơ hội cho người dân chủ động tham gia góp ý vào các vấn đề điều hành và hoạch định chính sách, cũng như quá trình ra quyết định của cơ quan nhà nước
Tính minh bạch của thông tin cũng góp phần chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy cơ quan nhà nước và là tiêu chí cần thiết trong việc gây dựng sự tin cậy từ phía người dân với cơ quan nhà nước, nâng cao sự tin cậy của thông tin trong quản lý điều hành CNTT là công cụ, phương tiện để cơ quan nhà nước nâng cao vai trò, hiệu quả và chất lượng quản lý của mình bằng cách cải tiến việc tiếp cận và cung cấp các dịch vụ công nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho người dân, tăng cường năng lực quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch trong các cơ quan nhà nước nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế, xã hội
1.1.3.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhà nước
CNTT với công nghệ tìm kiếm và cách thức trao đổi dữ liệu trên Internet theo
mô hình dòng công việc cùng với các dịch vụ hành chính công thiết thực được ứng dụng rộng rãi vào quy trình hành chính đã mang lại một vận hội to lớn, nâng cao hiệu quả nền hành chính nhà nước
CNTT là thách thức lớn đối với cơ quan hành chính do cơ quan hành chính là
tổ chức có nhiều thay đổi về chính sách, quy định, nhiều ràng buộc về ngân sách và
Trang 17yêu cầu về dân chủ trong quá trình ra quyết định Kỹ năng sử dụng máy tính và mạng của đội ngũ công chức còn yếu kém, hạ tầng cơ sở kỹ thuật còn nhiều hạn chế, việc đổi mới hệ thống thông tin hành chính luôn chậm chạp, sự thiếu hụt ngân sách đầu tư cho ứng dụng CNTT không theo kịp sự phát triển như vũ bão và tốc độ thay đổi hàng ngày, hàng giờ của CNTT
CNTT tuy không phải là tay lái nhưng lại có vai trò to lớn làm thay đổi lề lối, phương thức hoạt động của chính quyền Một số dịch vụ hành chính công trên mạng bước đầu có hiệu quả, nhanh chóng và tiết kiệm tiền bạc Chia sẻ thông tin trên mạng cho phép tất cả các tổ chức nhà nước, doanh nghiệp và tư nhân giảm đáng kể sức lực, thời gian, đem lại nhiều lợi ích cho những người cùng tham gia
Các nhiệm vụ hành chính công đòi hỏi ngày càng tăng năng lực đáp ứng của chính quyền trước các nhu cầu của công chúng Do đó môi trường CNTT hành chính nhà nước vừa là vận hội cũng vừa là thách thức, đòi hỏi phải có sự ưu tiên, quan tâm hỗ
trợ và khuyến khích phát triển
1.1.3.3 Vai trò của CNTT trong hoạt động tác nghiệp, chuyên môn
Các hoạt động tác nghiệp, chuyên môn ngày nay thường liên kết nhiều đơn vị; mối quan hệ đa dạng, phức tạp, khoảng cách giữa các đơn vị, đối tác không chỉ bó hẹp trong mỗi quốc gia mà còn vươn ra toàn thế giới Thông tin tác nghiệp cần được lưu trữ ngày càng lớn, thời gian lâu hơn; dữ liệu cần phải đảm bảo an toàn, đáp ứng yêu cầu truy xuất nhanh chóng, chính xác vì vậy chỉ có thể ứng dụng CNTT mới đáp ứng được các yêu cầu trên
1.1.3.4 Vai trò của công nghệ thông tin trong quản lý điều hành
CNTT có thể hỗ trợ công tác quản lý điều hành, nâng cao hiệu quả hoạt động của nó, đồng thời hoạt động quản lý điều hành cũng tác động lớn đến sự phát triển
và ứng dụng CNTT Việc nhận thức của người lãnh đạo về vai trò của CNTT trong quản lý điều hành sẽ quyết định mức độ áp dụng CNTT trong hoạt động của tổ chức, và từ đó tác động đến sự phát triển và ứng dụng CNTT
Ngày nay với xu thế biến động nhanh chóng, khó lường của kinh tế thế giới, đòi hỏi cán bộ lãnh đạo các cấp phải nhanh chóng nắm bắt các thông tin chính xác, tính tổng hợp cao để điều hành hoạt động của mỗi đơn vị, tổ chức hay quốc gia một cách linh hoạt Lượng thông tin cần phải thu thập và xử lý là rất lớn, đa dạng và phức tạp; thời gian xử lý đòi hỏi phải nhanh chóng, chính xác do đó để quản lý điều hành tốt không thể không có sự trợ giúp của phần mềm, các thiết bị điện tử và các phương tiện truyền thông Trong giai đoạn cạnh tranh hiện nay, việc nắm bắt được nhiều thông tin, xử lý kịp thời và chính xác sẽ là chìa khoá cho sự thành công của mỗi cá nhân, tổ chức hay mỗi một quốc gia Xu thế hội nhập, mở rộng quan hệ kinh tế quốc
Trang 18tế cũng đòi hỏi mỗi quốc gia phải đáp ứng được các yêu cầu hiện đại hóa để phù hợp với thế giới hiện đại
1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước
1.2.1 Khái niệm về ứng dụng công nghệ thông tin
CNTT ra đời đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm thay đổi cơ bản cách quản lý, học tập và làm việc của con người Ứng dụng CNTT được nhiều người biết đến là quá trình sử dụng những kết quả của CNTT, thông qua các phương tiện CNTT, để hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức hoạt động xử lý thông tin, hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và cuối cùng, ở mức cao nhất là hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và cá nhân tự động trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới quy cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng những thay đổi đang diễn ra
Khái niệm ứng dụng CNTT đã trở nên rất quen thuộc trong đời sống xã hội và
được luật hóa trong Luật Công nghệ thông tin năm 2006: “Ứng dụng công nghệ
thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh
tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này”
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, ứng dụng CNTT được hiểu là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm hỗ trợ cho các cá nhân, tổ chức hoạt động xử lý thông tin; hỗ trợ các khâu công việc cần thiết và ở mức cao nhất là mức
hỗ trợ cho các tổ chức hoạt động và cá nhân tự động trao đổi, khai thác thông tin trong môi trường CNTT; cải tiến, đổi mới quy cách làm việc, đạt hiệu quả công việc cao hơn, đáp ứng những thay đổi đang diễn ra
1.2.2 Hệ thống công nghệ thông tin trong một tổ chức
Công nghệ thông tin là ngành quản lý công nghệ và mở ra nhiều lĩnh vực
khác nhau như phần mềm máy tính, hệ thống thông tin, phần cứng máy tính, ngôn ngữ lập trình nhưng lại không giới hạn một số thứ như các quy trình và cấu trúc dữ liệu Bất cứ thứ gì mà biểu diễn dữ liệu, thông tin hay tri thức trong các định dạng nhìn thấy được, thông qua bất kỳ cơ chế phân phối đa phương tiện nào thì đều được xem là phần con của lĩnh vực công nghệ thông tin Công nghệ thông tin cung cấp cho các doanh nghiệp bốn nhóm dịch vụ lõi để giúp thực thi các chiến lược kinh doanh đó là: quá trình tự động kinh doanh, cung cấp thông tin, kết nối với khách hàng và các công cụ sản xuất
Trang 19Các chuyên gia IT tham gia xây dựng nhiều các chức năng khác nhau từ phạm
vi cài đặt phần mềm ứng dụng đến thiết kế mạng máy tính phức tạp và cơ sở dữ liệu thông tin Một vài công việc mà các chuyên gia thực hiện có thể bao gồm quản
lý dữ liệu, mạng, kỹ thuật phần cứng máy tính, thiết kế phần mềm và thiết kế cơ sở
dữ liệu cũng như quản lý, quản trị toàn bộ hệ thống Công nghệ thông tin bắt đầu lan rộng hơn nữa so với máy tính cá nhân và công nghệ mạng thông thường, và có nhiều tích hợp các công nghệ khác như sử dụng điện thoại di động, ti vi, xe máy và nhiều nữa, và làm tăng trưởng nhu cầu nghề nghiệp cho các công việc đó
Xét cụ thể cấu trúc tổng thể chính quyền điện tử tỉnh Lạng Sơn, cấu trúc tổng thể của bộ máy chính quyền đóng vai trò trung tâm cả theo nghĩa xã hội lẫn theo nghĩa công nghệ Mô hình cấu trúc tổng thể chính quyền điện tử cho tỉnh Lạng Sơn được đề xuất như hình 1.1 bên dưới Mô hình cấu trúc chính quyền điện tử tỉnh Lạng Sơn bao gồm 03 tầng chính:
Hình 1.1 Cấu trúc tổng thể chính quyền điện tử tỉnh Lạng Sơn
bị CNTT, hệ thống thư điện tử… là nền tảng kỹ thuật để triển khai ứng dụng CNTT
nghiệp, xử lý văn bản trong nội bộ từng cơ quan, kết nối liên thông liên văn phòng qua mạng
điện tử cung cấp các dịch vụ công theo cơ chế một cửa và cuối cùng là giao diện tương tác với người dân thông qua Cổng thông tin điện tử
Trang 20Xuyên suốt các tầng này, không thể thiếu được vấn đề:
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật, Cơ sở dữ liệu và ứng dụng nghiệp vụ: Xây dựng các
cơ sở dữ liệu toàn tỉnh thống nhất với CSDL quốc gia để cung cấp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cơ quan, đơn vị, các ứng dụng CNTT
- Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin: An ninh mạng, an ninh thông tin để bảo
vệ cho toàn bộ hệ thống hoạt động ổn định, an toàn, hiệu quả là vấn đề quan trọng không thể bỏ qua trong quá trình xây dựng các tầng của khung cấu trúc chính quyền điện tử tỉnh Lạng Sơn
1.2.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước
1.2.3.1 Ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước
Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân; hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch
Ứng dụng CNTT trong nội bộ các cơ quan nhà nước chưa được đồng đều, một
số cơ quan đơn vị ứng dụng Chương trình văn phòng điện tử, nhưng chưa khai thác
và phát huy hết các chức năng của phần mềm
Nguyên nhân quan trọng và có tính chất quyết định đó là thiếu sự quan tâm, vào cuộc của lãnh đạo cơ quan; việc ban hành quy chế, quy định sử dụng phần mềm chưa kịp thời, quy trình xử lý chưa đúng và thống nhất, nên tốn thời gian, khó kiểm soát tiến độ xử lý công việc Mặt khác trình độ ứng dụng của một số cán bộ, chuyên viên còn hạn chế, không có cán bộ chuyên trách về CNTT
Bảo đảm sự điều hành tác nghiệp nhanh chóng, thông suốt, đồng bộ (xử lý thông tin đầu vào, đầu ra ); cải tiến quy trình công việc, thủ tục, chuẩn hóa nghiệp
vụ theo tiêu chuẩn ISO để ứng dụng CNTT vào quy trình nghiệp vụ trong các cơ quan nhà nước Ví như, lộ trình thực hiện việc ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước tại tỉnh Lạng Sơn như sau:
Năm 2016: Triển khai Phần mềm Chính phủ điện tử (egov) đến các xã, phường,
thị trấn bảo đảm kết nối liên thông 4 cấp và nâng cấp hệ thống thư điện tử công
vụ
Năm 2016 – 2017: Trang bị chữ ký số theo lộ trình triển khai chữ ký số cho tổ
chức và cá nhân
Năm 2016 – 2020: Duy trì, nâng cấp hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến
Đồng thời tích hợp dịch vụ công trực tuyến và một cửa liên thông
1.2.3.2 Ứng dụng CNTT phục vụ người dân, doanh nghiệp
Trang 21Một số ứng dụng như phần mềm “Một cửa”, dịch vụ hành chính công mức độ
3 đã được triển khai, tuy nhiên chưa đáp ứng yêu cầu do số lượng đơn vị triển khai còn ít, hơn nữa việc khai thác, sử dụng gặp nhiều khó khăn nên chưa phục vụ được nhu cầu của người dân, doanh nghiệp Việc triển khai dịch vụ công mức độ 3, 4 còn gặp nhiều khó khăn do chưa triển khai được hệ thống xác thực điện tử để xác nhận tính chính xác của hồ sơ điện tử và khó khăn trong việc thực hiện thanh toán qua mạng đối với người dân, doanh nghiệp
Đối với tỉnh Lạng Sơn, lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020, cụ thể như sau:
Cung cấp các dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 3, 4 theo Quyết định TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ; Công văn số 2779/VPCP-KGVX ngày 22/4/2016 của Văn phòng Chính phủ; Quyết định số 846/QĐ-TTg ngày 09/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ
1819/QĐ- Cổng thông tin điện tử của tỉnh và các Trang thông tin điện tử thành viên cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết phục vụ người dân và doanh nghiệp, đảm bảo thực hiện cơ chế tương tác 2 chiều
Xây dựng các cơ sở dữ liệu, hệ thống ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính, quản lý giáo dục, giảng dạy trong các cấp học, hệ thống thông tin hỗ trợ khám và điều trị trong các bệnh viện
1.2.3.3 Ứng dụng CNTT đảm bảo an toàn, an ninh mạng
- Xây dựng Quy hoạch phát triển Công nghệ thông tin của địa phương; các chính sách, giải pháp đảm bảo an toàn thông tin theo quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn của Trung ương
- Thành lập đội ứng cứu, xử lý sự cố mạng, máy tính của tỉnh, phối hợp với Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) để hỗ trợ ứng cứu khẩn cấp sự cố trong phạm vi và trách nhiệm của địa phương
- Đầu tư các trang thiết bị, phần mềm tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo mật hệ thống cơ sở dữ liệu cho các đơn vị tham gia mạng chuyên dùng của địa phương
- Đảm bảo 100% máy tính trong các cơ quan quản lý nhà nước được cài phần mềm chống virus và phần mềm độc hại
- Rà soát và áp dụng quy trình nghiệp vụ, quy trình sao lưu, dự phòng dữ liệu, đảm bảo an toàn dữ liệu theo Quy chế đảm bảo an toàn, an ninh thông tin của tỉnh và các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành
1.2.4 Các yếu tổ ảnh hưởng đấn ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước
Trang 22Quá trình ứng dụng CNTT có hiệu quả hay không, tốc độ phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố; chúng ta có thể nói đến một số yếu tố cơ bản sau:
1.2.4.1 Yếu tố khách quan
Môi trường tự nhiên
Phần lớn các thiết bị trong ngành CNTT đều là các thiết bị điện tử; chúng rất
dễ bị tác động của môi trường địa lý, khí hậu Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng lớn đến hoạt động của thiết bị phải nói đến như là nhiệt độ, độ ẩm, sấm sét…các yếu tố về địa lý có ảnh hưởng nhiều như vùng bị nhiễm xạ, vùng ven biển, vùng có nhiều cát bụi, gần nơi có nhiều thiết bị, phương tiện giao thông hoạt động như gần đường quốc lộ… Nước ta là một nước ven biển, có đường bờ biển dài, khí hậu hai miền cũng khác nhau; trên thực tế nhiều nơi đã không coi trọng những yếu tố ảnh hưởng của môi trường nên đã thường xuyên gặp tình trạng thiết bị hỏng, chi phí sửa chữa cao; do đó luôn phải tính toán đến các điều kiện môi trường trong ứng dụng CNTT
Vị trí địa lý, sự phân bổ địa hình đa dạng giữa các vùng miền làm ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng, bố trí điều kiện triển khai ứng dụng CNTT, tạo nên những điểm khác biệt riêng cho mỗi dự án CNTT tại mỗi địa phương
Môi trường xã hội
Yếu tố văn hóa, truyền thống, mật độ phân bổ dân cư, sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc ứng dụng CNTT Những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập khác nhau Những yếu tố đó sẽ dẫn đến các nhu cầu sử dụng dịch vụ, hàng hóa khác nhau; tác động trực tiếp đến thái độ người lao động trong việc tiếp thu và phát triển các thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là CNTT
Dễ dàng nhận thấy CNTT được phát triển và ứng dụng rộng rãi tại các thành phố lớn nơi tập trung dân số đông và điều kiện kinh tế phát triển Còn tại vùng sâu, vùng
xa, biên giới và hải đảo việc ứng dụng CNTT còn nhiều hạn chế
Môi trường kinh tế
Ngày nay, không một nền kinh tế nào đứng độc lập mà có thể phát triển được Tất cả đều hoà nhập, phụ thuộc lẫn nhau Các thông tin, các giao dịch được thực hiện xuyên quốc gia Nhờ có Internet, thị trường mở rộng không biên giới Do vậy, mọi tính toán kế hoạch phát triển không thể nào bó hẹp trong phạm vi một đơn vị, một tỉnh, một quốc gia Mặt khác, dựa vào tính mở của thị trường, các cơ quan, doanh nghiệp có thể lựa chọn được nhiều đối tác, thị trường, công nghệ, các giải pháp thuận lợi theo đặc điểm của mỗi đơn vị Do có tính cạnh tranh cao, giá cả các sản phẩm và dịch vụ sẽ được giảm có lợi cho người tiêu dùng Sự tiến bộ vượt
Trang 23bậc của kinh tế - xã hội dẫn đến sự phát triển như vũ bão của CNTT Xu hướng toàn cầu hóa là cơ hội đưa CNTT thành công nghệ quan trọng phổ biến nhất, lan toả mạnh nhất và hứa hẹn nhất, giúp các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu Nền kinh tế quyết định đến các chính sách chi tiêu của chính phủ Các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đều chịu chung ảnh hưởng từ nền kinh tế của quốc gia Để phát triển ứng dụng CNTT, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng đắn trong vấn đề chi tiêu, vì đây là lĩnh vực phải chi phí khá cao cho các sản phẩm mang đặc tính chứa đựng hàm lượng chất xám cao, hao mòn
vô hình lớn; chúng ta phải sẵn sàng đầu tư những khoản kinh phí lớn nhưng bên cạnh đó phải tính toán kỹ lưỡng, tránh lãng phí, không hiệu quả, phải coi đầu tư cho ứng dụng CNTT là đầu tư cho phát triển
Môi trường khoa học và công nghệ
Tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong những năm gần đây đưa CNTT trở thành ngành tăng trưởng cao, được ứng dụng trên rất nhiều lĩnh vực
Có thể nói CNTT đổi mới hàng ngày, hàng giờ, hàng giây Vòng đời của các sản phẩm CNTT càng ngày càng được rút ngắn Chính điều này là nhân tố tác động tích cực đến sự phát triển của ứng dụng CNTT, làm ứng dụng CNTT trở nên phổ biến, thuận tiện và là công cụ để nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp và cả các cơ quan nhà nước
Các phát minh khoa học ngày càng gia tăng, hàng loạt các công nghệ mới được
ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt Nếu như cách đây 30 năm, máy vi tính chỉ là một công cụ dùng để tính toán thì ngày nay nó đã có
đủ chức năng thay thế một con người làm việc hoàn toàn độc lập Truyền thông về Khoa học - Công nghệ diễn ra sôi động Đặc biệt trong lĩnh vực CNTT, công nghệ truyền thông hiện đại đã giúp nối liền các khoảng cách về địa lý, phương tiện truyền tải Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ mới cũng đặt ra nhiều thách thức đáng kể Tăng mức độ tự động hóa sẽ thay thế dần lực lượng lao động không có kỹ năng Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu là các yếu tố tác động trực tiếp luôn phải cân nhắc khi ứng dụng CNTT Nếu trước đây các hãng sản xuất phải mất rất nhiều thời gian để tăng tốc độ bộ vi xử lý lên gấp đôi thì hiện nay tốc
độ này chỉ mất khoảng 2 đến 4 năm Một bộ máy tính hay chiếc điện thoại thông minh mới tinh chỉ sau nửa năm đã trở nên lạc hậu với công nghệ và các phần mềm ứng dụng
Công nghệ phát triển sẽ đem đến cơ hội thực sự cho các cơ quan, doanh nghiệp nếu có thể nắm bắt được nó, đồng thời cũng là mối đe dọa cho những cơ
Trang 24quan, doanh nghiệp không có kỹ năng và không thể điều chỉnh được
Môi trường chính trị pháp luật
Các chủ trương, chính sách phát triển và ứng dụng CNTT của Đảng và nhà nước là điều kiện tiên quyết để CNTT được ứng dụng ở Việt Nam Môi trường chính trị ổn định và các chính sách này sẽ tạo môi trường để CNTT được ứng dụng
và định hướng phát triển ngành CNTT của quốc gia, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển CNTT, tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNTT Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới có các chính sách khó đoán trước và xã hội biến động thường xuyên gây ảnh hưởng đến các trung tâm CNTT thì Việt Nam cung cấp tính nhất quán và độ tin cậy Các chính sách về quy hoạch các khu công nghệ tập trung, giảm thuế, hỗ trợ cho các công ty hoạt động trong ngành công nghệ…cũng bao gồm các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng như công viên phần mềm mới và việc thúc đẩy kết nối CNTT Tuy nhiên, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ cao nhất Việc này làm giảm động lực sáng tạo của các doanh nghiệp và làm cho thị trường CNTT tại Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài
Môi trường ngành
Đối thủ tiềm ẩn: Rào cản gia nhập ngành khá cao đối với phân khúc Phần
cứng và tương đối thấp đối với phân khúc phần mềm và nội dung số Hiện tại, CNTT vẫn đang là một ngành khá hấp dẫn về tốc độ tăng trưởng và tỷ suất sinh lợi,
do đó áp lực cạnh tranh từ các đối thủ tiềm ẩn tương đối cao
Sản phẩm thay thế: Cho đến thời điểm hiện tại, các sản phẩm thuộc lĩnh vực
CNTT như phần cứng, phần mềm, nội dung số là các sản phẩm thiết yếu đối với nhiều ngành kinh tế xã hội, và chưa có các sản phẩm thay thế Do đó áp lực cạnh tranh từ các sản phẩm thay thế là thấp Tuy nhiên, ngành công nghiệp phần mềm đang phải chịu sự cạnh tranh không lành mạnh từ các phần mềm không có bản quyền
Nội bộ ngành: Trong nội bộ ngành đối với lĩnh vực CNTT, áp lực cạnh tranh
là cao, thể hiện ở việc giá cả các sản phẩm CNTT đã liên tục giảm trong suốt thời gian qua Ở Việt Nam, mặc dù hiện tại FPT đang là công ty dẫn đầu về thị phần CNTT nhưng khả năng chi phối các công ty còn lại của FPT tương đối thấp Nhìn chung CNTT là ngành phân tán, với tốc độ tăng trưởng cao và số lượng các công ty trong ngành tương đối nhiều
Khách hàng: Khách hàng ngày càng yêu cầu giao hàng đúng hạn với chất
lượng cao Điều đó đòi hỏi tích hợp tự động hóa sản xuất linh hoạt, với tự động hóa quản trị; và trong quá trình này Internet đóng vai trò then chốt Hệ thống mạng đang
Trang 25vượt qua các giới hạn của một tổ chức, hướng tới tối ưu hóa trên toàn ngành, chuỗi cung cấp hay lĩnh vực Khách hàng sẽ ngày càng trở thành tâm điểm của các hoạt động CNTT cho phép sản xuất, đáp ứng khách hàng hiệu quả hơn nhiều lần Vì mục đích này, các nhân viên trong các tổ chức đã ứng dụng CNTT được huấn luyện đầy đủ hơn, các kiểu lao động mới độc lập hơn cũng xuất hiện Tuy vậy, trong môi trường ngành, áp lực cạnh tranh từ các khách hàng cá nhân đối với các sản phẩm CNTT là tương đối thấp Về phía các khách hàng tổ chức, các khách hàng này có thể đàm phán với các công ty CNTT về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giá cả và các tiện ích đi kèm Tuy nhiên, chi phí cho cả một tổ chức khi chuyển đổi hệ thống thông tin sau khi đã áp dụng lại khá cao
Nguồn nhân lực luôn là một nhu cầu cấp thiết của ngành CNTT và luôn là một trong những yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy sự tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững cho ngành CNTT Nhiều chương trình, dự án chưa quan tâm nhiều đến điều kiện này mà dẫn đến đổ vỡ, lãng phí hoặc hiệu quả khai thác rất thấp Ứng dụng CNTT luôn đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao, độ chính xác cao, do đó vấn đề đào tạo, khả năng nhận thức của con người cần được coi trọng; cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, gắn quyền lợi và trách nhiệm rõ ràng cho mỗi cá nhân Chất lượng công tác giáo dục của Việt Nam còn nhiều hạn chế Dù có nhiều trường đào tạo về CNTT nhưng tỷ lệ sinh viên ra trường đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan, doanh nghiệp lại không cao Trên thực tế có những thiết bị tin học phải chi phí khá cao song do trình độ người sử dụng chưa đáp ứng yêu cầu nên thường là nguyên nhân làm cho thiết bị mau hỏng Có thể thấy nguồn nhân lực CNTT là điều kiện đặc biệt cần thiết trong bối cảnh ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm đảm bảo hiệu quả đầu
tư lâu dài khi ứng dụng CNTT
Trang thiết bị CNTT gồm các thiết bị phần cứng (máy tính, máy in, lưu điện…), các thiết bị hạ tầng mạng, truyền thông (Hub, Switch, Router, Fire Wall…), các thiết bị số khác Đây là yếu tố mang đặc tính kỹ thuật, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của ứng dụng CNTT, do đó luôn phải quan tâm đến yếu tố chất lượng, sự đồng bộ của các thiết bị, các chính sách bảo hành, sửa chữa; lựa chọn các
mô hình kỹ thuật phù hợp với các vấn đề cần giải quyết Ngày nay trình độ kỹ thuật ngày càng nâng cao, các tính năng của sản phẩm luôn mở rộng, đòi hỏi người sử dụng phải luôn cập nhật, nắm bắt kịp thời; bên cạnh đó luôn phải dự tính trước được
xu thế phát triển để đầu tư tránh lạc hậu hoặc sử dụng không hết các tính năng của
Trang 26sản phẩm
Phần mềm ứng dụng là trung gian, giúp chuyển hóa các quy trình để dễ dàng thực hiện trên máy tính; đồng thời cũng tạo ra môi trường giao tiếp giữa người sử dụng và hệ thống thông tin Phần mềm thân thiện, dễ sử dụng, đảm bảo tính khoa học, đáp ứng chính xác và đầy đủ các yêu cầu của ứng dụng là một trong những tiêu chí luôn được quan tâm hàng đầu Ở Việt Nam thì yếu tố thân thiện, dễ sử dụng càng phải được quan tâm hơn bao giờ hết Phần mềm có thể hay, nhưng khó sử dụng thì người sử dụng dễ bỏ cuộc và để kéo họ quay trở lại sẽ khó hơn rất nhiều, rất dễ bị định kiến xấu
Chất lượng phần mềm quyết định không nhỏ đến hiệu quả của ứng dụng CNTT Khi xây dựng các phần mềm ứng dụng cần phải chú trọng đến sự phù hợp với trình độ người sử dụng, với hạ tầng trang thiết bị, hạ tầng truyền thông và các bài toán nghiệp vụ Mô hình ứng dụng phải tính đến sự phát triển nhanh mạnh và thay đổi không ngừng của ngành CNTT để khi đi vào triển khai, sản phẩm ứng dụng phù hợp với bài toán và vòng đời sử dụng được kéo dài, không bị lạc hậu; bên cạnh đó còn phải tính đến yếu tố phù hợp và xu hướng phát triển của các phần mềm
hệ thống, phần mềm quản trị CSDL
d) Chính sách liên quan đến công nghệ thông tin
Các chính sách ATTT, các quy định về khai thác sử dụng các CTUD, các quy định về chữ ký số, chứng thư số điện tử, các quy định về quy trình phát triển, triển khai, hỗ trợ, vận hành các hệ thống CNTT, các quy định về quản lý – sử dụng thiết
bị CNTT… là các tác nhân hỗ trợ quá trình ứng dụng CNTT Đặc biệt các chính sách ATTT luôn phải được đặt lên hàng đầu bởi mức độ an ninh thông tin ngày càng đòi hỏi cao hơn, các thủ đoạn trộm cắp thông tin ngày càng tinh vi, biến đổi khó lường, đe dọa đến sự an toàn của hoạt động hệ thống thông tin
Ban hành các chính sách giúp cho hoạt động ứng dụng CNTT an toàn, định hướng phát triển ứng dụng CNTT và làm cho hoạt động ứng dụng CNTT trở lên chặt chẽ, quy củ Các thể chế về hoạt động, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng, quản lý và vận hành hệ thống thông tin cần được xây dựng riêng cho mỗi ngành, mỗi đơn vị để phù hợp với đặc điểm của ngành, đơn vị Các quy chế, quy định là cơ
sở để đưa hoạt động ứng dụng CNTT từng bước chuẩn hóa, công tác quản lý đối với ứng dụng CNTT cũng đi vào nề nếp
1.2.5 Kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong quản lý nhà nước tại Việt Nam
Trong những năm gần đây, ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước là nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu cho sự phát triển của chính phủ điện tử
Trang 27nói riêng cũng như sự phát triển của kinh tế – xã hội nói chung Một trong những mục tiêu đề ra tại Nghị quyết 36a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện tử là
“đến hết năm 2017 Việt Nam nằm trong nhóm 3 quốc gia đứng đầu ASEAN về chỉ
số dịch vụ công trực tuyến (OSI) và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EDGI) của Liên hợp quốc” Để làm được vậy, Chính phủ và Bộ ngành các cấp cần phối hợp chặt chẽ cũng như quyết tâm cao độ nhằm hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xây dựng hệ thống điện tử kết nối và liên thông từ trung ương tới địa phương, ứng dụng mạnh mẽ CNTT gắn chặt với công cuộc cải cách hành chính và phát triển dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3,4; đồng thời tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn thông tin
Hưởng ứng xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 quy mô toàn cầu, ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước Việt Nam đã và đang được quan tâm đảy mạnh hơn bao giờ hết Nhờ sự quyết tâm và nỗ lực của các
cơ quan nhà nước trong việc thực hiện Nghị quyết 36a, lộ trình phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam đã ghi nhận những kết quả tích cực
Theo Báo cáo từ Liên Hợp Quốc công bố tháng 7/2016, Việt Nam xếp thứ 89/193 trên thế giới về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử, tăng 10 hạng so với năm
2014, đứng thứ 6 trong ASEAN và cũng chính thức gia nhập nhóm các nước có chỉ
số phát triển Chính phủ cao Cũng trong báo cáo này, chỉ số thành phần về cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Việt nam được đánh giá ở mức cao với 0,57 điểm, xếp hạng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á, tuy nhiên các chỉ số thành phần về hạ tầng viễn thông và nguồn nhân lực lại giảm so với năm 2014
Trong lộ trình phát triển Chính phủ điện tử thì việc xây dựng hạ tầng công nghệ tốt song song với việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin là điều thiết yếu Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong thời kỳ cách mạng công nghiệp lần thứ 4 mang lại rất nhiều cơ hội phát triển to lớn nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi các cơ quan chính phủ cũng như các tổ chức, doanh nghiệp cần chú trọng hơn nữa đến việc nâng cao chất lượng hạ tầng công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng các giải pháp an ninh thông tin phù hợp nhằm ứng phó kịp thời với những hiểm họa an ninh khi mà các cuộc tấn công mạng đang diễn biến ngày càng phức tạp
Trong bối cảnh đó, Hội thảo Quốc gia về Chính phủ điện tử 2017 đã có những trao đổi, đánh giá về thực trạng và đề ra những giải pháp cho việc ứng dụng CNTT trong
sự phát triển của Chính phủ điện tử, nhằm tăng cường năng lực quản lý điều hành của các cơ quan nhà nước đồng thời nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với các dịch vụ công nhằm đón đầu xu thế phát triển đất nước khi
Trang 28mà cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra
1.2.5.1 Kinh nghiệm tại tỉnh Bắc Giang
Đến thời điểm hiện nay, về cơ bản tỉnh Bắc Giang đã ở trong giai đoạn đầu của lộ trình xây dựng chính quyền điện tử trong toàn tỉnh Những kết quả đạt được
là rất đáng ghi nhận 100% các cơ quan thuộc UBND tỉnh và 10/10 huyện, thành phố đã sử dụng phần mềm quản lý văn bản và điều hành qua mạng (05 huyện liên thông tới cấp xã) 10/10 huyện, thành phố, 100% các Sở, ngành có thủ tục hành chính công đã triển khai Một cửa điện tử; 8 huyện liên thông đến cấp xã, 01 sở liên thông đến cấp huyện; 50% xã đã triển khai Một cửa điện tử Từ năm 2009, Bắc Giang đã triển khai gửi nhận văn bản điện tử trong các cơ quan nhà nước từ tỉnh đến các xã, phường, thị trấn Trong một năm, các cơ quan nhà nước trong toàn tỉnh ban hành trên 300.000 văn bản với gần 15 triệu trang văn bản; tỷ lệ văn bản điện tử đến ước đạt 76%; tỷ lệ văn bản điện tử gửi đi ước đạt 74% Do thực hiện tốt gửi nhận văn bản điện tử, hàng năm Bắc giang tiết kiệm cho ngân sách hàng chục tỷ đồng
Để thông tin cho nhân dân về chính sách, pháp luật, các thủ tục hành chính của các cấp chính quyền, đến nay, 100% các cơ quan thuộc UBND tỉnh và 10/10 huyện, thành phố đã xây dựng và vận hành tốt trang thông tin điện tử; gần 500 đơn vị sự nghiệp và 150 doanh nghiệp đã xây dựng trang thông tin điện tử
Hạ tầng viễn thông và CNTT được đầu tư phục vụ cho yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin của cơ quan, doanh nghiệp và nhân dân như: 100% các xã, phường, thị trấn dược kết nối cáp quang và Internet băng rộng, được phủ sóng di động; 70% xã được phủ sóng 3G; 100% các cơ quan nhà nước (kể cả UBND các xã) đã xây dựng mạng LAN và đầu tư máy tính cho cán bộ, công chức, viên chức làm việc (tỷ lệ máy tính/CBCC các Sở, ngành đạt 1,28 máy; của UBND các huyện,
TP đạt 0,99 máy; UBND cấp xã có 10,1 máy tính/xã); Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh được đầu tư, cài đặt phần mềm phục vụ cho các cơ quan nhà nước từ tỉnh đến xã…
Kết quả ứng dụng công nghệ thông tin trên là rất đáng ghi nhận vì Bắc Giang
là tỉnh miền núi, kinh tế-xã hội còn chậm phát triển, ngân sách TW hỗ trợ khoảng 80% nhu cầu chi; hàng năm ngân sách đầu tư cho ứng dụng công nghệ thông tin cho các cơ quan nhà nước từ tỉnh đến xã chưa đến 10 tỷ đồng/năm
Từ những kết quả đã đạt được trong quá trình tổ chức ứng dụng CNTT ở tỉnh Bắc Giang rút được những bài học kinh nghiệm như sau:
Thứ nhất là, ứng dụng CNTT cũng như muốn làm bất cứ việc lớn nào cũng phải xác định được chiến lược, định hướng được mô hình ứng dụng CNTT của tỉnh Bắc Giang là thế nào Để từ đó, bất cứ triển khai một ứng dụng CNTT dù nhỏ bé
Trang 29đều phải hướng tới mục tiêu chung Mục tiêu chung trong ứng dụng CNTT của Bắc Giang chính là xây dựng chính phủ điện tử, chính quyền điện tử theo mô hình tập trung thống nhất, liên thông và tích hợp dữ liệu trong toàn tỉnh Toàn tỉnh Bắc Giang chỉ có một trung tâm tích hợp dữ liệu chung phục vụ cho tất cả các cơ quan nhà nước từ tỉnh đến cơ sở, hình thành một cơ sở dữ liệu chung toàn tỉnh
Mô hình đó rất gần gũi với cách thức cung cấp dịch vụ CNTT cho các cơ quan, doanh nghiệp và công dân Các đơn vị chỉ lo sử dụng “dịch vụ ứng dụng CNTT” do Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) cung cấp, không quá bận tâm đầu tư hạ tầng, quản trị thiết bị và dữ liệu của đơn vị mình, giảm tải công việc cho cán bộ chuyên trách CNTT các cấp, các ngành Mô hình đó sẽ tiết kiệm chi phí khoảng 90% nếu đầu tư phân tán: mỗi Sở, mỗi huyện, mỗi xã …đều có máy chủ để cài đặt các phần mềm ứng dụng cho đơn vị mình
Thứ hai là, tổ chức ứng dụng CNTT cũng như tổ chức một phong trào thi đua, phải xây dựng điển hình tiên tiến, rồi tập trung chỉ đạo, tuyên truyền để các nơi đồng loạt triển khai Nơi nào chậm triển khai sẽ mang tiếng “yếu”, sẽ mất điểm thi đua, rồi từ đó các đơn vị ganh đua nhau để làm tốt hơn, nhanh hơn đơn vị khác Từng thời điểm, phải chọn được một việc để triển khai Thí dụ như: năm 2008-
2009, Bắc Giang tập trung triển khai gửi, nhận văn bản điện tử từ tỉnh đến xã; năm
2010 toàn tỉnh tập trung xây dựng trang thông tin điện tử; năm 2011-2012 triển khai phần mềm QLVB&ĐHCV; năm 2012-2013 triển khai phần mềm Một cửa điện tử; năm 2014 nâng cao chất lượng Một cửa điện tử….Nhờ cách đó, Bắc Giang triển khai ứng dụng CNTT rất nhanh
Tổ chức ứng dụng CNTT theo kiểu phong trào còn có cái hay là ở chỗ làm đồng loạt, đồng khởi “trăm hoa đua nở”, nhiều nơi làm, giá thành rẻ đến bất ngờ Như triển khai Trang thông tin điện tử, Sở hỗ trợ cho một ngành (hoặc một huyện) chỉ 10 triệu đồng Hoặc như triển khai phần mềm Quản lý văn bản và điều hành công việc (QLVB&ĐHCV), cho một Sở chi phí chưa tới 50 triệu đồng Vì lẽ đó, Bắc Giang triển khai nhiều ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước với chi phí cực thấp
Thứ ba là, phải quyết tâm làm chủ, chủ động về công nghệ, quán triệt quan điểm tại chỗ trong ứng dụng CNTT Sở khuyến khích cán bộ của Sở viết phần mềm, đặc biệt là các phần mềm dùng chung cho các cơ quan nhà nước Đến nay cán bộ Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT-TT) của Sở đã viết được một số phần mềm dùng chung đưa vào sử dụng trong toàn tỉnh như: Phần mềm Một cửa điện tử, Phần mềm QLVB&ĐHCV, Phần mềm Trang thông tin điện tử (TTĐT)… Nhờ chủ trương trên, Sở chủ động trong việc triển khai ứng dụng CNTT,
Trang 30dễ dàng nâng cấp phần mềm theo yêu cầu sử dụng cho từng đơn vị, hạ giá thành sản phẩm khi triển khai, dễ dàng và nhanh chóng hỗ trợ kĩ thuật cho các đơn vị sử dụng vận hành, vì đó là phần mềm “tại chỗ”…
Sự chủ động về công nghệ còn thể hiện sự định hướng theo mô hình ứng dụng CNTT trong toàn tỉnh Các phần mềm trên đều hướng tới việc liên thông, tích hợp
dữ liệu trong toàn tỉnh
Một yếu tố quan trọng khi Sở chủ động viết được phần mềm và tự triển khai,
vô hình chung làm đối trọng cho các doanh nghiệp khác muốn triển khai phần mềm tại tỉnh Bắc Giang phải hạ giá thành và đầu tư phải nghiêm túc hơn
Thứ tư là, phải đào tạo, tôn vinh được cán bộ trẻ Cán bộ trẻ trong sự nghiệp cách mạng của Đảng đã rất quan trọng, nhưng trong sự nghiệp CNTT thì càng quan trọng hơn Vì trong CNTT, cán bộ trẻ mới được đào tạo bài bản, nắm chắc công nghệ và giàu nhiệt huyết Trong quản lý, sử dụng phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa cán bộ già (có kinh nghiệm chỉ đạo) và cán bộ trẻ (có trình độ công nghệ) để họ bù trừ cho nhau, phát huy cho nhau Vấn đề này nếu không giải quyết thỏa đáng sẽ xẩy
ra việc kiềm chế lẫn nhau, gây hại cho sự phát triển
Trong điều kiện Bắc Giang là một tỉnh nghèo, đầu tư cho ứng dụng CNTT nhỏ giọt, không có chế độ ưu đãi riêng, thì việc giữ chân được cán bộ trẻ, giỏi và tâm huyết là công việc cực kỳ nhạy cảm, không phải lúc nào cũng thành công
Phải thấy rằng, đa số cán bộ trẻ muốn được cống hiến, muốn được sử dụng, muốn được làm việc để phát huy khả năng của mình phục vụ cho quê hương chứ không phải lúc nào họ cũng nghĩ đến tiền bạc, danh vọng Do vậy, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ làm việc là rất quan trọng
Thứ năm là, việc tổ chức ứng dụng CNTT phải được nghiên cứu tỉ mỉ, có bước đi cụ thể phù hợp với tình hình kinh tế, điều kiện hạ tầng và nguồn nhân lực CNTT ở địa phương Đây là vấn đề rất quan trọng đối với những tỉnh nghèo luôn đầu tư cho ứng dụng CNTT nhỏ giọt, phân tán Nhưng đã đầu tư dù nhỏ đều phải phục vụ cho đại cục Đã đầu tư là sẽ phải hướng tới sử dụng để hoàn chỉnh thành các hệ thống CNTT rộng lớn hơn của toàn tỉnh (hạn chế đến mức thấp nhất phải bỏ
đi làm lại) Tránh tránh đầu tư, triển khai theo kiểu chụp giựt, khuếch trương thành tích, không đi vào thực tế dễ dẫn đến hậu quả lãng phí, tốn kém Trong đầu tư phải mạnh dạn, có tiền đến đâu làm đến đó, không ngồi chờ khi có tiền nhiều mới đầu tư một thể
Thứ sáu là, trong đầu tư phải rất coi trọng yếu tố con người Bắc Giang xác định chất lượng và hiệu quả ứng dụng CNTT của từng cơ quan phụ thuộc rất nhiều
Trang 31vào quyết tâm của người đứng đầu và vai trò của cán bộ chuyên trách CNTT ở các cấp, các ngành
Vì ứng dụng CNTT là vấn đề rất mới mang tính cách mạng, nó thay đổi cách thức làm việc cũ và đặc biệt là nhiều khi nó đụng chạm đến quyền lợi của một bộ phận cán bộ, công chức Thí dụ, việc giải quyết thủ tục hành chính công, một số người vẫn muốn công dân trực tiếp đến để xin xỏ, cán bộ giải quyết tùy tiện thế nào cũng được, không bị ai kiểm soát, do vậy họ thường không “sốt sắng” ứng dụng một cửa điện tử để công khai, minh bạch, giảm phiền hà cho nhân dân… Do vậy, nếu thủ trưởng không quan tâm, thì ứng dụng CNTT rất khó Đó là chưa kể ứng dụng CNTT phải bỏ ra chi phí ban đầu tương xứng mới triển khai được, “người đứng đầu” không vào cuộc thì sẽ không có kinh phí và quyết tâm để triển khai
Để gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả ứng dụng CNTT ở đơn vị mình, Bắc Giang tham mưu cho UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng các ngành vào thành phần Ban Chỉ đạo CNTT tỉnh; từ năm 2009 Sở tiến hành xếp loại trình độ ứng dụng CNTT, xếp loại trang TTĐT của các cấp, các ngành Gắn kết quả ứng dụng CNTT với xếp loại thi đua hàng năm của từng cơ quan, đơn vị Từ năm 2007, Sở BCVT đã phối hợp với Sở Nội vụ hướng dẫn tiêu chuẩn chuyên môn và yêu cầu các
sở, ngành của tỉnh và UBND các huyện, thành phố tuyển dụng, bố trí cán bộ chuyên trách CNTT Đến nay, toàn tỉnh có 46 cán bộ chuyên trách CNTT…
Thứ bảy là, phải tích cực vận động các cấp, các ngành ủng hộ, hưởng ứng và phối hợp tổ chức thực hiện Ứng dụng CNTT là công việc khó khăn, phức tạp Bởi
vì, đây là công nghệ mới, trong khi đội ngũ cán bộ, công chức nhiều người đã luống tuổi, ít được đào tạo nghiêm túc về CNTT, do vậy họ rất ngại ứng dụng CNTT trong làm việc Cùng với đó, ứng dụng CNTT sẽ làm cho các hoạt động trong cơ quan nhà nước trở nên minh bạch, tốt xấu rõ ràng, khó tiêu cực, nhũng nhiễu, và vì thế, một bộ phận không nhỏ cán bộ không muốn ứng dụng CNTT
Về đầu tư, ứng dụng CNTT đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn, gây khó khăn cho ngân sách; phải tiến hành đồng bộ, rộng khắp trong tất cả các cơ quan nhà nước thì mới
có hiệu quả Do vậy, vận động các cấp, các ngành ủng hộ, hưởng ứng và phối hợp
tổ chức thực hiện là giải pháp quan trọng trong tổ chức ứng dụng CNTT của các địa phương
1.2.5.2 Kinh nghiệm tại tỉnh Quảng Ninh
Theo báo cáo mới nhất về chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng
CNTT-TT Việt Nam 2016 (Vietnam ICT Index) do Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội tin học Việt Nam công bố vào tháng 3/2017, Quảng Ninh đã vươn lên vị trí thứ 4 toàn quốc Đây cũng là thứ hạng cao nhất của Quảng Ninh trong 11 năm qua Tỉnh
Trang 32Quảng Ninh đã trải qua giai đoạn đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, triển khai rộng khắp ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan, đơn vị từ cấp tỉnh đến cấp
xã, đảm bảo truyền nhận thông tin đa chiều an toàn và nhanh chóng trong toàn tỉnh Các cơ chế, chính sách cũng được ban hành kịp thời, làm cơ sở để triển khai hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin được đồng bộ, bài bản Công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng CNTT thường xuyên được thực hiện, đảm bảo sẵn sàng nguồn nhân lực CNTT Hoạt động thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp CNTT từng bước được đẩy mạnh
Thông qua hoạt động đầu tư và ứng CNTT đã góp phần hiện đại hóa nền hành chính tỉnh Quảng Ninh, xây dựng môi trường công vụ hiện đại, minh bạch; thay đổi cách thức tiếp cận và giao dịch giữa tổ chức, người dân và chính quyền, chuyển từ phương thức truyền thống sang các phương thức hiện đại CNTT đã trở thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực của tỉnh phát triển, trong đó trọng tâm của Quảng Ninh là ứng dụng CNTT trong đổi mới giáo dục, hiện đại hóa ngành y
tế, nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực giao thông, quản lý tài nguyên, phát triển du lịch và đẩy mạnh thương mại – dịch vụ
Năm 2017, Quảng Ninh tiếp tục phấn đấu nằm trong nhóm những địa phương
đi đầu cả nước về ứng dụng CNTT Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng hạ tầng
kỹ thuật CNTT hiện đại, đồng bộ tới cấp xã đảm bảo cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến mức độ cao trên diện rộng nhằm phục vụ người dân và doanh nghiệp; phát triển các cơ sở dữ liệu trọng điểm trong các cơ quan nhà nước như cơ
sở dữ liệu về đất đai, công chứng, thủ tục hành chính; nghiên cứu, ban hành các chính sách mới về ưu đãi doanh nghiệp, khuyến khích hỗ trợ phát triển CNTT; mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư trong lĩnh vực CNTT …
Đặc biệt, Quảng Ninh đang triển khai các đề án trọng tâm, trọng điểm lớn là
đề án Xây dựng đô thị thông minh thí điểm tại thành phố Hạ Long nhằm tạo dựng một đô thị hiện đại, năng động và sáng tạo, nơi mọi thứ được kết nối và chia sẻ Bên cạnh đó là đề án xây dựng Khu công nghệ thông tin tập trung là nền tảng cung cấp các dịch vụ CNTT tốt nhất cho đô thị thông minh, hình thành nên ngành kinh tế mới, đóng góp GDP cho tỉnh Đây là hai đề án lớn, tạo động lực và sẽ làm nên sự khác biệt của Quảng Ninh so với các địa phương trong cả nước Quảng Ninh đang
có những bước đi mới, quyết tâm và mạnh mẽ với mục tiêu đẩy mạnh phát triển CNTT xây dựng những đô thị hiện đại, trở thành là một trong những nơi đáng đến
và đáng sống
Trang 33TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 của luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản sau:
1 Tổng quan về công nghệ thông tin
2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước và các
yếu tổ ảnh hưởng đến ứng dụng công nghệ thông tin
Việc đề cập đến những vấn đề trên là cơ sở để nghiên cứu và đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Sở Thông tin và Truyền thông trong Chương 2
Trang 34CHƯƠNG 2
PHÂN TÍCH CÔNG TÁC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
TỈNH LẠNG SƠN 2.1 Giới thiệu về Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn
2.1.1 Vị trí, chức năng
Sở Thông tin và Truyền thông là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân
dân tỉnh Lạng Sơn; có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về: báo chí; xuất bản; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin; điện tử; phát thanh và truyền hình; thông tin đối ngoại; bản tin thông tấn; thông tin cơ sở; hạ tầng thông tin truyền thông; quản cáo trên báo chí, trên môi trường mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo tích hợp trên sản phẩm, dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin (sau đây gọi tắt là thông tin và truyền thông)
Sở Thông tin và Truyền thông có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Thông tin và Truyền thông
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
Có Giám đốc và 03 Phó Giám đốc, 06 phòng chuyên môn nghiệp vụ thuộc Sở
và 01 đơn vị sự nghiệp công lập, cụ thể bao gồm:
Lãnh đạo Sở:
- Sở Thông tin và Truyền thông có Giám đốc và 03 Phó Giám đốc;
- Giám đốc là người đứng đầu Sở, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Sở; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; báo cáo trước Hội đồng nhân dân, trả lời kiến nghị của cử tri, chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh theo yêu cầu;
- Phó Giám đốc là người giúp Giám đốc Sở, chịu trách nhiệm trước Giám đốc
và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công; khi Giám đốc Sở vắng mặt, một phó Giám đốc Sở được ủy nhiệm điều hành các hoạt động của Sở;
- Việc bổ nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc Sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ do Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành và theo các quy định của pháp luật Việc miễn nhiệm, khen thưởng,
Trang 35kỷ luật Giám đốc và Phó Giám đốc Sở thực hiện theo quy định của pháp luật
Các tổ chức tham mưu tổng hợp và chuyên môn, nghiệp vụ:
- Văn phòng;
- Thanh tra Sở;
- Phòng Kế hoạch - Tài chính;
- Phòng Công nghệ thông tin;
- Phòng Thông tin - Báo chí - Xuất bản;
- Phòng Bưu chính - Viễn thông
Các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Thông tin và Truyền thông:
Trung tâm Công nghệ thông tin và truyền thông
2.1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn
Từ khi thành lập đến nay, với chức năng, nhiệm vụ của mình Sở Thông tin và Truyền thông Lạng Sơn đã thực hiện công tác Quản lý nhà nước về thông tin và truyền thông, trong đó có lĩnh vực CNTT bằng việc tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoach, quy hoạch, quy chế, thực hiện triển khai một số dự án về CNTT, ban hành các văn bản hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện ứng dựng CNTT Ngoài các nhiệm vụ và quyền hạn chung đối với Công nghệ thông tin, truyền thông, thì Sở Thông tin và Truyền thông có các nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể về công nghệ thông tin như:
Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển, các chương trình, đề án, dự án, tiêu chuẩn quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật về thông tin và truyền thông đã được phê duyệt; tổ chức thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở
Tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch về ứng dụng và phát triển CNTT; cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp phần cứng, công nghiệp phần mềm, công nghiệp điện tử, công nghiệp nội dung số và dịch vụ CNTT; về xây dựng
và quản lý khu CNTT tập trung; về danh mục và quy chế khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, quy chế quản lý đầu tư ứng dụng và phát triển CNTT trên địa bàn tỉnh sau khi được phê duyệt;
Tổ chức thực hiện, báo cáo định kỳ, đánh giá tổng kết việc thực hiện các kế hoạch về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước của tỉnh;
Xây dựng quy chế, quy định về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của địa phương;
Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực công nghệ
Trang 36thông tin trên địa bàn tỉnh và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;
Tổ chức, hướng dẫn thực hiện các quy định về an toàn công nghệ thông tin theo thẩm quyền;
Tổ chức, hướng dẫn thực hiện các dự án ứng dụng công nghệ thông tin phục
vụ thu thập, lưu giữ, xử lý thông tin số phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân và UBND tỉnh;
Xây dựng quy chế quản lý, vận hành, đảm bảo kỹ thuật, an toàn thông tin; hướng dẫn sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành, tác nghiệp của UBND tỉnh;
Xây dựng mới hoặc duy trì, nâng cấp, đảm bảo kỹ thuật, an toàn thông tin cho hoạt động trang thông tin điện tử (website, cổng thông tin) của UBND tỉnh; hướng dẫn các đơn vị trong tỉnh thống nhất kết nối, cung cấp nội dung thông tin và các dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh theo sự phân công của UBND tỉnh;
Khảo sát, điều tra, thống kê về tình hình ứng dụng và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin; xây dựng cơ sở dữ liệu về sản phẩm, doanh nghiệp tại địa phương phục vụ công tác báo cáo định kỳ theo quy định;
Thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin của tỉnh
2.2 Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại
Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Lạng Sơn
2.2.1 Các chính sách hiện hành
Để triển khai phát triển và ứng dụng CNTT, UBND tỉnh đã chỉ đạo, quán triệt, triển khai các văn bản Quy phạm pháp luật và ban hành các văn bản hướng dẫn, tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện, bao gồm:
Triển khai tuyên truyền phổ biến và tổ chức thực hiện các văn bản của Đảng
và Nhà nước về phát triển và ứng dụng CNTT như: Nghị Quyết số 36-NQ/TW ngày 01/07/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế; Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử; Luật Công nghệ thông tin; Luật giao dịch điện tử; Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg, ngày 24/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2008; Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ về Quy định về cung cấp thông tin
và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin hoặc Cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước; Quyết định số 50/2009/QĐ-TTg ngày 03/4/2009 của Thủ tướng
Trang 37Chính phủ về Quy chế quản lý Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam; Quyết định số 1605/QĐ-TTg, ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011 - 2015; Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 22/5/2012 của Thủ tướng Chính phỉ về việc tăng cường sử dụng văn bản điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước
Sở Thông tin và Truyền thông đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các văn bản quản lý nhà nước về CNTT gồm:
Quy hoạch phát triển Công nghệ thông tin tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2007 -
2015 và định hướng đến năm 2020 (đã được phê duyệt ngày 31/12/2007);
Kế hoạch số 45/KH-UBND ngày 18/5/2010 của UBND tỉnh về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước giai đoạn 2011-2015;
Kế hoạch số 69/KH-UBND ngày 20/7/2011 của UBND tỉnh Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và Chương trình phát triển nội dung số năm 2012;
Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 18/7/2011 ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước năm 2012;
Kế hoạch số 68/KH-UBND ngày 18/7/2012 của UBND tỉnh về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2012;
Kế hoạch hành động số 33/KH-UBND ngày 31/3/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015của Chính phủ về Chính phủ điện tử;
Kế hoạch số 102/KH-UBND ngày 22/9/2016 về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2016-2020;
Kế hoạch số 125/KH-UBND ngày 04/10/2016 về Ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2017;
Kế hoạch số 194/KH-UBND ngày 22/11/2017 về Ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước năm 2018
Kế hoạch số 201/KH-UBND ngày 13/12/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai dịch vụ công mức độ 3, 4 và một cửa điện tử trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn năm 2018 và những năm tiếp theo
Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 04/01/2013 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế quản lý, sử dụng Hệ thống Văn phòng điện tử trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn;
Quyết định số 20/QĐ-UBND ngày 07/01/2013 của UBND tỉnh về việc ban
Trang 38hành Quy chế quản lý, vận hành, sử dụng Hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến tỉnh Lạng Sơn;
Quyết định số 32/QĐ-UBND ngày 09/01/2013 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành và sử dụng Hệ thống thư điện tử tỉnh Lạng Sơn Quyết định số 45/QĐ-UBND ngày 10/01/2013 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo CNTT tỉnh Lạng Sơn
Quyết định số 1456/QĐ-UBND ngày 03/10/2013 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế đảm bảo an toàn, an ninh thông tin trong hoạt động ứng dụng CNTT của các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
Quyết định số 945/QĐ-UBND ngày 25/5/2009 của UBND tỉnh về việc thành lập Ban biên tập Cổng thông tin điện tử của tỉnh; Quyết định số 1712/QĐ-UBND ngày 09/9/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành quy chế hoạt động của Ban biên tập Cổng thông tin điện tử của tỉnh;
Quyết định số 1871/QĐ-UBND ngày 14/10/2016 về việc kiện toàn Ban chỉ đạo về ứng dụng công nghệ thông tin tỉnh Lạng Sơn
Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 11/4/2017 về việc tăng cường công tác đảm bảo
an toàn thông tin trên môi trường mạng tỉnh Lạng Sơn
Quyết định số 789/QĐ-UBND ngày 03/5/2017 về việc thành lập Đội Ứng cứu
xử lý sự cố an toàn thông tin tỉnh Lạng Sơn
Triển khai một số dự án do UBND tỉnh giao cho Sở thực hiện gồm: Dự án Văn phòng điện tử eOffice triển khai từ năm 2008 đến các cơ quan hành chính cấp Sở và
11 huyện, thành phố (hiện nay đã triển khai xuống cấp xã); Dự án Hội nghị giao ban trực tuyến triển khai năm 2012; Dự án đầu tư nâng cấp Cổng thông tin điện tử của tỉnh giai đoạn 2; Dự án đầu tư nâng cấp Trung tâm tích hợp dữ liệu của tỉnh, Dự
án nâng cấp hệ thống thư điện tử công vụ của tỉnh; Dự án phần mềm dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và một cửa điện tử liên thông
Việc ban hành các kế hoạch, quy chế hoạt động về CNTT trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi để triển khai đồng bộ, có hệ thống, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn thông tin trong công tác quản lý, điều hành công việc, trao đổi văn bản điện tử qua mạng của các cơ quan quản lý nhà nước; góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và cụ thể hóa trách nhiệm của các cấp, các ngành trong triển khai ứng dụng, phát triển CNTT vào công tác quản lý, điều hành
Với những văn bản đã ban hành, công tác quản lý nhà nước về ứng dụng và phát triển CNTT đã đạt được một số kết quả như sau:
Trang 392.2.2 Cơ sở hạ tầng
Theo thống kê năm 2016 của Sở Thông tin và Truyền thông, hạ tầng kỹ thuật CNTT tại sở cơ bản được đảm bảo, tỷ lệ số máy tính/cán bộ, công chức ở khối hành chính của Sở TT & TT đạt trên 97%, các cơ quan đều có kết nối Internet tốc độ cao,
hệ thống mạng LAN được xây dựng hoàn thiện
Ngoài số lượng thiết bị được mua sắm từ nguồn kinh phí của UBND tỉnh, Sở TT& TT tỉnh Lạng Sơn cũng đầu tư mua sắm các thiết bị để phục vụ nhu cầu sử dụng tại đơn vị khi nguồn trung ương không đáp ứng được Số lượng thiết bị trang
bị từ nguồn địa phương chủ yếu tiết kiệm từ nguồn tiết kiệm chi, kinh phí hoạt động Số lượng thiết bị được cung cấp và sử dụng chi tiết trong bảng sau:
Bảng 2.1 Tổng hợp số lƣợng thiết bị tin học tại Sở TT & TT năm 2016
STT Thiết bị Số lƣợng
Tình trạng Đang sử
dụng
Chờ sử dụng
5
Thiết bị sao lưu (WDBBCL0000NBK 4TB)
Trang 40Hình 2.1 Biểu đồ tổng hợp thiết bị tin học tại Sở TT & TT năm 2016
(Nguồn: Số liệu thống kê của Sở TT& TT năm 2016)
Qua bảng 2.1 và hình 2.1 thiết bị tin học tại Sở TT & TT được trang bị đầy
đủ và đa dạng gồm nhiều thiết bị tin học khác nhau như máy in, thiết bị sao lưu, thiết bị nguồn Bên cạnh những thiết bị được UBND tỉnh trang bị theo dự án, Sở
TT &TT cũng tự mua sắm thêm một số thiết bị đáp ứng nhu cầu hoạt động tại Sở
Tỉ lệ thiết bị đang được sử dụng là 99% vì vậy luôn đảm bảo hạ tầng thiết bị sẵn sàng và đáp ứng các yêu cầu vận hành
Sở TT & TT đã thiết lập hệ thống hạ tầng CNTT tương đối mạnh, gồm hệ thống máy chủ, máy trạm, máy in, thiết bị tin học khác tạo thành mạng cục bộ của các đơn vị, Sở TT & TT liên thông kết nối cấp huyện, tỉnh kết nối với trung ương, tạo ra một cơ sở hạ tầng vững chắc cho việc vận hành các chương trình phần mềm ứng dụng
Công tác bảo mật tại Trung tâm tích hợp dữ liệu được giao cho Trung tâm CNTT và Truyền thông (trực thuộc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh) phụ trách
và được củng cố bằng hệ thống 02 thiết bị tường lửa Fortinet Fortigate A300, 01 thiết bị chống thư rác Fortinet FortiMail 400B
Sở TT & TT được trang bị máy chủ riêng để quản lý phần mềm chống mã độc hại, phần mềm diệt virus Vùng bảo vệ được cố định cho 4390 máy trạm trên toàn hệ thống máy chủ và máy trạm của tỉnh Số lượng thiết bị thiết bị tin học được cung cấp và trang bị chủ yếu từ nguồn kinh phí của UBND tỉnh Lạng Sơn mua sắm tập trung và cấp theo kế hoạch trang bị của từng đơn vị trên cơ sở cân đối ngân sách toàn ngành Năm 2015, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2399/QĐ-
UBND phê duyệt Dự án và Kế hoạch lựa chọn nhà thầu thuộc dự án “Đầu tư nâng