1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta và vấn đề kiểm soát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai góp phần kiểm soát tham nhũng trong giai đoạn hiện nay.

8 77 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 22,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề đất đai và sở hữu đất luôn là nội dung được sự quan tâm của xã hội và các nhà làm luật để cập nhật pháp luật phù hợp với thực tiễn. Đất đai là một loại tài nguyên vô cùng quan trọng, nếu được sử dụng và khai thác một cách hợp lý thì nó sẽ mang lại những lợi ích vô cùng to lớn. Muốn làm cho đất đai phát huy hiệu quả thì phải có chế độ sở hữu phù hợp. Ở Việt Nam hiện nay, chế độ sở hữu đất đai là chế độ sở hữu toàn dân. Chế độ đó là phù hợp nhưng cần hoàn thiện hơn. Để hoàn thiện chế độ sở hữu đất đai thì Nhà nước cần có kế hoạch sử dụng đất đai lâu dài, cụ thể, rõ ràng, đúng đắn, công khai, minh bạch, công bằng; cần làm cho người dân nhận thức rõ lý do vì sao phải quy định mọi đất đai thuộc sở hữu toàn dân; cần quy định rõ ràng hơn các hình thức sử dụng và thời hạn sử dụng đất đai; đồng thời người dân cần thay đổi tập quán trong việc sử dụng đất đai. Vì tính thời sự của nó, bài làm sẽ: Phân tích cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta và vấn đề kiểm soát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai góp phần kiểm soát tham nhũng trong giai đoạn hiện nay. Sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về vấn đề sở hữu toàn dân về đất đai cũng như vấn đề kiểm soát quyền đại diện chủ sở toàn dân, kiểm soát vấn đề tham nhũng trong lĩnh vực này trên thực tế

Trang 1

Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy Trang

Lớp: Cao học K1-2019

Bài kiểm tra môn: Những vấn đề chuyên sâu về Luật Kinh tế

Đề bài: Phân tích cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta và vấn đề

kiểm soát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai góp phần kiểm soát tham nhũng trong giai đoạn hiện nay

Bài làm:

Vấn đề đất đai và sở hữu đất luôn là nội dung được sự quan tâm của xã hội

và các nhà làm luật để cập nhật pháp luật phù hợp với thực tiễn Đất đai là một loại tài nguyên vô cùng quan trọng, nếu được sử dụng và khai thác một cách hợp

lý thì nó sẽ mang lại những lợi ích vô cùng to lớn Muốn làm cho đất đai phát huy hiệu quả thì phải có chế độ sở hữu phù hợp Ở Việt Nam hiện nay, chế độ sở hữu đất đai là chế độ sở hữu toàn dân Chế độ đó là phù hợp nhưng cần hoàn thiện hơn Để hoàn thiện chế độ sở hữu đất đai thì Nhà nước cần có kế hoạch sử dụng đất đai lâu dài, cụ thể, rõ ràng, đúng đắn, công khai, minh bạch, công bằng; cần làm cho người dân nhận thức rõ lý do vì sao phải quy định mọi đất đai thuộc

sở hữu toàn dân; cần quy định rõ ràng hơn các hình thức sử dụng và thời hạn sử dụng đất đai; đồng thời người dân cần thay đổi tập quán trong việc sử dụng đất đai Vì tính thời sự của nó, bài làm sẽ: Phân tích cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta và vấn đề kiểm soát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai góp phần kiểm soát tham nhũng trong giai đoạn hiện nay Sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về vấn đề sở hữu toàn dân về đất đai cũng như vấn đề kiểm soát quyền đại diện chủ sở toàn dân, kiểm soát vấn đề tham nhũng trong lĩnh vực này trên thực tế

1 Cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta

Trước hết, về quy định về chế độ sở hữu đất đai của các nước trên thế giới là không giống nhau, nhưng tựu trung có các hình thức cơ bản là: sở hữu toàn dân,

sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Trung Quốc quy định có hai hình thức sở hữu đất đai là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể Singapore cho phép tư nhân được sở hữu đất đai, nhưng hầu hết (khoảng 90%) diện tích đất thuộc sở hữu nhà nước Các nước Mỹ, Đức, Nhật Bản, Nga đều cho phép tư nhân được sở hữu đất đai Việt Nam quy định mọi đất đai thuộc sở hữu toàn dân Ở nước nào cũng đều có một số đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng chỉ một số ít nước mới có quy định rằng, tất cả đất đai thuộc sở hữu toàn dân Việc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là chế độ sở hữu toàn dân về đất đai Chế

độ sở hữu toàn dân về đất đai có ưu điểm hơn so với chế độ sở hữu mà ở đó tư

Trang 2

nhân được phép sở hữu đất đai Sở hữu toàn dân là sở hữu chung của mọi người Với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, tất cả công dân của một nước đều là những chủ nhân bình đẳng của đất đai trên lãnh thổ nước đó Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai tạo cơ sở pháp lý cho mọi người có quyền sở hữu về đất đai một cách bình đẳng Mọi người đều bình đẳng trong sở hữu về đất đai Sự bình đẳng trong sở hữu về đất đai là sự công bằng Bởi vì, đất đai là tài sản đặc biệt được hình thành từ thành quả dựng nước và giữ nước lâu dài của toàn dân trong nhiều thế hệ; không ai có thể tùy tiện sử dụng và mua bán đất đai Ở nước nào thì đất đai cũng cần phải được sử dụng và chuyển nhượng theo quy định chung của nhà nước Ở các nước không thừa nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, pháp luật đều có những quy định ràng buộc để không ai có thể sử dụng và chuyển nhượng đất đai một cách tùy tiện Tuy nhiên, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thể hiện

rõ hơn tính đặc thù của tài sản đất đai, từ đó mỗi người dân có ý thức rằng mình

là đồng sở hữu về đất đai Việc thừa nhận một số đất đai thuộc sở hữu tư nhân nếu không có thêm những quy định khác ràng buộc khác thì có thể dẫn đến tình trạng đất đai tập trung vào một số người (vào các đại địa chủ), từ đó các đại địa chủ có thể bóc lột nông dân không có ruộng bằng cách phát canh thu tô Việc không thừa nhận sở hữu toàn dân về đất đai nếu không có thêm những quy định khác ràng buộc, cũng có thể dẫn đến tình trạng người nước ngoài sở hữu đất đai

và từ đó bóc lột nông dân không có ruộng (bằng cách phát canh thu tô như địa chủ trong nước hoặc sử dụng đất không theo kế hoạch của nhà nước) Trong chế

độ sở hữu toàn dân về đất đai, nhà nước là đại diện chủ sở hữu và có trách nhiệm quản lý đất đai Khi nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản

lý đất đai thì đất đai có thể được sử dụng vào mục đích chung một cách thuận lợi Chẳng hạn, khi cần chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai (từ đất để ở sang đất để xây dựng khu công nghiệp) thì nhà nước có quyền thu hồi đất đai và người sử dụng có trách nhiệm bàn giao đất đai đang sử dụng Đối với tài sản khác (như quần áo, xe máy…), thì chủ sở hữu tư nhân có quyền định giá tùy ý khi bán, có quyền bán hay không bán Nhưng đối với tài sản đất đai thì tư nhân không thể định giá tùy ý như tài sản cá nhân Đối với đất đai, tư nhân không phải là chủ sở hữu nên không có quyền bán hay không bán quyền sở hữu, khi nhà nước thu hồi đất đai thì tư nhân không có quyền định giá mà được Nhà nước quy định chung

Có thể đưa ra khái niệm chế độ sở hữu toàn dân về đất đai như sau: Chế độ

sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm pháp lí gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ sở hữu đất đai trong đó xác nhận, quy định và bảo vệ quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay là chế độ sở hữu toàn dân

Trang 3

Nhưng với những quy định của Luật đất đai năm 1993 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân; quyền sử dụng đất thuộc về người sử dụng đất, khắc phục những khiếm khuyết của Luật đất đai 1993 Luật đất đai 2013 đã sửa đổi bổ sung quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Điều 4 Luật đất đai năm2013) Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1980 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Các Hiến pháp sau tiếp tục quy định như vậy Hiến pháp hiện hành quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ

sở hữu và thống nhất quản lý” Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai cụ thể như: “1) Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất 2) Quyết định mục đích sử dụng đất 3) Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn

sử dụng đất 4) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất 5) Quyết định giá đất 6) Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất 7) Quyết định chính sách tài chính về đất đai 8) Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất” Toàn dân Việt Nam là chủ sở hữu về đất đai của Việt Nam; đại diện của chủ sở hữu về đất đai của Việt Nam là Nhà nước Việt Nam, cụ thể hơn là Quốc hội Việt Nam và Hội đồng nhân dân các cấp của Nhà nước Việt Nam Điều đó được pháp luật quy định tại Luật Đất đai năm 2013 như sau: “Quốc hội ban hành luật, nghị quyết về đất đai; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước

Cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta được thể hiện:

Một là, quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân Toàn dân là một khái

niệm chính trị mà không phải là một khái niệm pháp lý Điều nghĩa có nghĩa là toàn dân là một cộng đồng người bao gồm toàn thể hơn 90 triệu người Việt Nam không thể là chủ thể của một quan hệ pháp luật về sở hữu đất đai Theo Lý luận Nhà nước và Pháp luật, chủ thể quan hệ pháp luật là tổ chức (pháp nhân) và cá nhân (thể nhân) Do vậy, quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân trong Luật đất đai năm 2013 mang tính chính trị nhiều hơn là tính pháp lý Hơn nữa, khái niệm chủ sở hữu toàn dân về đất đai mang tính trìu tượng khó chỉ ra được các đối tượng cụ thể, ai, người nào là chủ sở hữu đất đai ở nước ta

Hai là, chủ sở hữu đất đai là toàn dân không thể tự mình thực hiện

các quyền của chủ sở hữu đối với đất (bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đất đai) mà phải trao các quyền này cho người đại diện

là Nhà nước đảm nhiệm Như vậy, pháp luật đất đai đã thực hiện việc chuyển giao quyền của chủ sở hữu đất đai từ chủ sở hữu toàn dân mang tính trìu tượng,

Trang 4

chung chung sang một người đại diện ít trìu tượng hơn là Nhà nước (một pháp nhân công) Tuy nhiên, Nhà nước với tư cách là một tổ chức chính trị - quyền lực có bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng quản lý xã hội Trên thực tế, các cơ quan nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước … thực hiện các chức năng của Nhà nước Vì vậy, việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai lại do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Các cơ quan này bao gồm: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp (HĐND các cấp); Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp (UBND các cấp) Việc chuyển giao thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai được chuyển từ Nhà nước - tổ chức chính trị, quyền lực - sang các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tức là chuyển giao việc thực hiện quyền đại diện này từ một tổ chức có tính trìu tượng, khó được nhận biết cụ thể trên thực tế sang các chủ thể cụ thể và có thể nhận biết rõ được sự hiện diện trên thực tế là Quốc hội, HĐND các cấp; Chính phủ, UBND các cấp

2 Thực tiễn vấn đề kiểm soát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai góp phần kiểm soát tham nhũng trong giai đoạn hiện nay

Mặc dù pháp luật đất đai quy định Quốc hội, HĐND các cấp; Chính phủ, UBND các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai trong phạm vi cả nước và từng địa phương song trên thực tế người ký các quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ); phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xác định giá đất v.v - là những phương thức thực hiện quyền đại diện chủ

sở hữu toàn dân về đất đai - lại là người đứng đầu hoặc người đại diện hợp pháp của các cơ quan này Như vậy, tuy về mặt pháp lý, người đứng đầu Quốc hội, HĐND các cấp; Chính phủ, UBND các cấp không phải là chủ sở hữu đất đai nhưng trên thực tế họ lại được trao rất nhiều quyền lực trong “hiện thực hóa” việc ký các quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, cấp GCNQSDĐ; phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xác định giá đất v.v là hoạt động cụ thể biểu hiện các phương thức thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước Vô hình chung các chủ thể này được trao rất nhiều quyền lực trong phân phối đất đai cho các nhu cầu khác nhau của xã hội Nếu không có cơ chế pháp lý hữu hiệu để giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của các đối tượng này thì sẽ dễ nảy sinh sự lạm dụng quyền lực, “tha hóa quyền lực” trong việc phân phối đất đai vì lợi ích nhóm Bởi lẽ, quỹ đất đai thì có hạn và ngày càng khan hiếm trong khi đó nhu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác nhau của xã hội ngày càng tăng Sự mất cân đối giữa “cung” và “cầu” đất đai đã tạo ra khả năng dễ dàng tìm kiếm lợi nhuận giữa người có đất với người không có đất Hơn nữa, trong điều kiện kinh

Trang 5

tế thị trường thì đất đai ngày càng có giá trị (đặc biệt là đất ở khu vực đô thị, vùng ven đô thị, giáp mặt đường giao thông v.v) Do đó, để tiếp cận và có được đất thông qua hình thức Nhà nước giao đất, cho thuê đất …; không ít doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức sử dụng việc hối lộ, “bôi trơn”, “đi đêm” với người đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất (người có quyền ký các quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

…)

Vì vậy, cần có Cơ chế giám sát mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan dân cử bao gồm Quốc hội và HĐND các cấp và cơ chế giám sát xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc, thông qua các cơ quan báo chí và người dân v.v đối với vấn đề quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thể hiện như sau:

Thứ nhất, trước hết nói về giám sát mang tính quyền lực nhà nước

của Quốc hội, HĐND các cấp và của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp: Tỷ lệ cán bộ, Đảng viên là đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp chiếm đa số tuyệt đối Với mạng lưới Đại biểu Quốc hội được rải rác dày đặc khắc các tỉnh thành nên việc giám sát, kiểm soát đã góp phần không nhỏ Tuy nhiên, Số đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp là người ngoài Đảng (không phải là Đảng viên) chiếm tỷ lệ thiểu số Bên cạnh việc đảm nhiệm vai trò đại biểu dân cử, số cán bộ, Đảng viên này còn được giao nhiều trọng trách giữ các chức vụ quản lý ở Trung ương và địa phương ; nên trong công việc hàng ngày khó tránh khỏi mối quan hệ, thậm chí sự phụ thuộc, ràng buộc (cho dù có thể là vô hình, khó chỉ ra cụ thể) giữa người giám sát là đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp với người bị giám sát là quan chức đứng đầu cơ quan hành chính các cấp từ trung ương đến địa phương (Chính phủ, các Bộ, ngành và UBND các cấp) Hơn nữa, trong nhiều trường hợp người bị giám sát có quyền quyết định việc cấp vốn ngân sách cho địa phương, đơn vị mà người giám sát là đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp công tác.Chính vì vậy, đôi khi người giám sát chưa có đủ bản lĩnh, tâm thế, tự tin, vô tư để giám sát, truy đến tận cùng đối với việc thực thi quyền lực của người bị giám sát

Thứ hai, về giám sát xã hội do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ

chức thành viên của Mặt trận ; các cơ quan báo chí và người dân thực hiện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã giám sát việc đại diện chủ

sở hữu toàn dân về đất đai thông qua các tổ chức thành viên chẳng hạn như Công đoàn, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh … cũng như thành viên của tổ chức đó thông qua công tác chuyên môn của họ Sự đóng góp ý kiến đối với việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của các tổ chức Mặt trận tổ quốc Việt Nam đã góp phần xây dựng cơ chế quản lý

Trang 6

hiệu quả ở nhiều nơi Sự phối hợp giữa các tổ chức đảng, chính quyền với mặt trận ngày càng chặt chẽ, thống nhất hơn dựa trên quy chế phối hợp công tác giữa Mặt trận Tổ quốc với HĐND, UBND Đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc ngày càng được mở rộng và có chuyên môn hơn, góp phần phát hiện sai phạm và kiểm soát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai

Tuy nhiên, do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc bao gồm Công đoàn, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Nông dân, Hội cựu chiến binh là các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động dựa vào nguồn vốn do ngân sách nhà nước cấp Hơn nữa, người đứng đầu các tổ chức chính trị - xã hội này lại là Đảng viên và là Thường vụ hoặc thành viên Ban Chấp hành cấp Ủy ở trung ương và địa phương ; trong khi đó, người đứng đầu

cơ quan hành chính nhà nước các cấp giữ trọng trách là Phó Bí thư tỉnh ủy, huyện ủy, Đảng ủy xã … và là người có tiếng nói, có quyền trong việc cấp hoặc

hỗ trợ vốn ngân sách cho hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội này Vì vậy, hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội đôi khi không mang lại hiệu quả

Đội ngũ cán bộ Mặt trận Tổ quốc còn thiếu và yếu ; không được đào tạo bài bản (nhất là ở cấp huyện, cấp xã) Nhiều cán bộ chưa đáng ứng yêu cầu của thực tiễn, tính chuyên sâu không cao ; năng lực nhìn nhận, phân tích vấn đề, đánh giá

và kết luận trong quá trình giám sát những chính sách liên quan đến đất đai còn nhiều bất cập Tính chủ động, trách nhiệm, sáng tạo của một số cán bộ làm công tác mặt trận có nơi chưa được phát huy đúng mức Cá biệt ở một vài nơi, cán bộ yếu kém về năng lực hoặc chuẩn bị nghỉ hưu lại được điều chuyển sang làm công tác mặt trận Bên cạnh đó, chính sách, điều kiện làm việc của mặt trận các cấp còn nhiều khó khăn, bất cập

Thứ ba, Bên cạnh đó còn có sự giám sát thông qua các cơ quan tư pháp

chẳng hạn như Viện kiểm sát, việc phát hiện sai phạm, dựa trên các kiến nghị khởi tố của các cơ quan chức năng, đã truy tố nhiều đối tượng tham nhũng tham

ô trong lĩnh vực đất đai, xử lý vi phạm một cách có hiệu quả

Thứ tư, giám sát thông qua các cơ quan báo chí Đây là phương thức giám

sát tạo áp lực dư luận xã hội mạnh mẽ nên có tác động và hiệu quả nhất định Nhiều vụ việc tiêu cực do báo chí phát hiện, phanh phui đã khiến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền vào cuộc và xử lý như vụ bán đất ở Đồ Sơn (Hải Phòng) ; vụ bán đất ở huyện Đảo Phú Quốc (Kiên Giang) v.v Tuy nhiên, trên thực tế do nhiều nguyên nhân việc tự do ngôn luận còn nhiều hạn chế nên hiệu quả của loại hình giám sát này đối với việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai chưa đạt hiệu quả mong muốn

Trang 7

Thứ năm, giám sát trực tiếp từ phía người dân Nhân dân là những người

liên quan trực tiếp đến vấn đề quyền sử dụng đất đai, vì vậy người dân là người giám sát việc đại diện quyền sở hữu toàn dân về đất đai có hiệu quả nhất Hàng loạt các sai phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai đã được người dân tố cáo, góp phần đưa ra ánh sáng xử lí vi phạm, góp phần giảm nạn tham nhũng trong lĩnh vực này Tuy nhiên, Loại hình giám sát này cũng bộc lộ nhiều hạn chế do người dân thiếu thông tin đầy đủ về đất đai; trình độ nhận thức, ý thức hiểu biết pháp luật đất đai, kỹ năng giám sát còn nhiều hạn chế Mặt khác, cơ chế pháp lý để người dân thực hiện giám sát nói chung và giám sát việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai còn chưa đầy đủ, thống nhất, đồng bộ và cụ thể

Một vài khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả giám sát việc thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai:

Trên cơ sở phân tích cấu trúc sở hữu toàn dân về đất đai và đánh giá thực trạng giám sát việc thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai ; để nâng cao hiệu hoạt động giám sát đối với lĩnh vực này nhằm ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, tôi xin nêu ra một số khuyến nghị cụ thể sau đây :

Thứ nhất, đối với loại hình giám sát mang tính quyền lực nhà nước Dần dần

tăng số lượng đại biểu chuyên trách và xây dựng kế hoạch hàng năm về các vấn

đề ưu tiên giám sát để góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động này Bên cạnh

đó, khuyến khích phát triển quan hệ đối tác giữa đại biểu Quốc hội và HĐND với các tổ chức giám sát khác ; tăng cường sự phối hợp giữa HĐND với Ban Thanh tra Nhân dân và Ban giám sát đầu tư cộng đồng trong giám sát việc thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai

Thứ hai, nâng cao năng lực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp một

cách thực chất Đội ngũ cán bộ mặt trận chủ chốt và bộ máy, cán bộ, nhân viên của Mặt trận Tổ quốc phải có trình độ, đủ năng lực, đủ bản lĩnh (nhất là lĩnh vực đất đai) để giám sát Phải tập hợp ý chí của nhân dân, của các giai tầng xã hội về nội dung giám sát để phản ánh đúng tiếng nói thực chất của nhân dân về những vấn đề liên quan đến lĩnh vực đất đai

Thứ ba, bảo đảm thực thi một cách thực chất và có hiệu quả quyền tự do

ngôn luận của các cơ quan báo chí nhằm tạo áp lực dư luận xã hội trong giám sát việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của các cơ quan nhà nước; lên án mạnh mẽ và đấu tranh không khoan nhượng đối với các hành

vi lạm dụng hoặc lợi dụng việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của các cơ quan nhà nước để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất v.v vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ hay để trục lợi

Trang 8

Thứ tư, Nhà nước cần đầu tư thỏa đáng các nguồn lực tài chính, khoa học

-công nghệ, con người và hệ thống hạ tầng -công nghệ thông tin hiện đại để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin về đất đai thống nhất trong phạm vi cả nước ; đồng thời, xác lập cơ chế tiếp cận, truy cập, khai thác và sử dụng hệ thống thông tin đất đai này một cách đơn giản, thuận tiện và dễ dàng nhằm phục

vụ cho hoạt động giám sát của người dân đối với việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của các cơ quan nhà nước một cách có hiệu quả

Thứ năm, bên cạnh đó, cần thực hiện đồng bộ, hiệu quả một số giải pháp

như đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai và các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động giám sát về đất đai như Hiến pháp năm

2013, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật về hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp v.v cũng như trang bị các kỹ năng giám sát cho các đại biểu dân cử, các cán bộ làm công tác Mặt trận và cán bộ của các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc ; đội ngũ phóng viên, nhà báo và người dân Mặt khác, đội ngũ luật sư, chuyên gia pháp lý, tư vấn viên pháp luật, luật gia và các tổ chức xã hội dân sự v.v cần đồng hành, hỗ trợ, giúp đỡ người dân trong giám sát việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Tóm lại, Chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam hiện nay là chế độ sở hữu toàn dân, điều này là phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như tình hình phát triển của đất nước ta hiện nay Và việc phối hợp giám sát, kiểm soát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai hiện nay được tiến hành mang lại nhiều đóng góp tích cực, góp phần kiểm soát tham nhũng trong giai đoạn hiện nay trong lĩnh vực này Tuy nhiên đối với cấu trúc sở hữu đất đai cũng như vấn đề kiểm soát đề cập như trên cũng có một số bất cập cần phải được giải quyết để đảm bảo thực thi đúng trên thực tiễn và vấn đề quản lý đất đai được hiệu quả hơn

Ngày đăng: 22/02/2021, 20:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w