1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá phát thải khí nhà kính của Việt Nam sử dụng bảng cân đối liên ngành Bảng I O

289 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 289
Dung lượng 5,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá phát thải khí nhà kính của Việt Nam sử dụng bảng cân đối liên ngành Bảng I O Đánh giá phát thải khí nhà kính của Việt Nam sử dụng bảng cân đối liên ngành Bảng I O Đánh giá phát thải khí nhà kính của Việt Nam sử dụng bảng cân đối liên ngành Bảng I O luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

PHẠM TRÀ GIANG

ĐÁNH GIÁ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH CỦA VIỆT NAM SỬ DỤNG

BẢNG CÂN ĐỐI LIÊN NGÀNH (BẢNG I-O)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT

HÀ NỘI 2008

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết, người đã hướng dẫn trực tiếp, tận tình chỉ dạy, dẫn dắt tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường đại học Bách Khoa Hà Nội, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, nơi tôi đã được học tập, nghiên cứu và đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài luận văn này

Cảm ơn những người bạn đã chia sẻ tài liệu, kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Cuối cùng, tác giả vô cùng biết ơn sự quan tâm, khích lệ của gia đình và người thân

đã động viên về mọi mặt để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Và tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả trong luận văn là trung thực Những tài liệu được sử dụng trong Luận văn có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng

TÁC GIẢ

Phạm Trà Giang

Trang 3

1-2-2 Kiểm kê KNK quốc gia cho các lĩnh vực năm 1998 và

2000

19

1-2-3 Dự báo lượng phát thải KNK của 3 lĩnh vực chính

(năng lượng, nông nghiệp và lâm nghiệp) tại Việt Nam đến năm 2010 và 2020

20

1-3 Tổng quan về nhu cầu sử dụng năng lượng của Việt

Nam và thế giới

20

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ BẢNG CÂN ĐỐI LIÊN NGÀNH

(BẢNG IO)

29

2-3 Vai trò của mô hình sử dụng bảng cân đối liên ngành

35

Trang 4

2-4 Thực tế áp dụng mô hình I-O ở Việt Nam 36

cho các ngành kinh tế (đã nhóm gộp) trong giai đoạn

1996 - 2000

42

CHO CÁC HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG GIAI ĐOẠN 2000-2005

CHƯƠNG 5: HẬU QUẢ VÀ TÁC ĐỘNG GÂY RA BỞI KNK

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU VÀ THÍCH NGHI CHO VIỆT NAM

Trang 5

BĐKH

5 nước hàng đầu trong số các nước trên thế giới dễ bị

tổn thương nhất đối với BĐKH

A-1: Phân ngành sản phẩm cho bảng IO năm 1996

A-2: Phân ngành sản phẩm cho bảng IO năm 2000

A-3: Bảng phân loại 50 ngành gộp trong giai đoạn 1996-2000

A-4: Bảng IO rút gọn (50 ngành) cho năm 1996

A-5: Bảng IO rút gọn (50 ngành) cho năm 2000

A-6: Bảng IO rút gọn (50 ngành) cho năm 2005

(Kết quả cập nhật theo phương pháp RAS)

hoạt động sử dụng năng lượng trong giai đoạn 2000-2005

A-8: Ví dụ áp dụng phương pháp cập nhật bảng IO theo phương

pháp RAS

A-9: Danh mục các dự án CDM đã được Bộ TN&MT phê duyệt

từ tháng 11/2007 đến tháng 3/2008

Trang 6

Mô hình Input-output năng lượng

Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc

Bộ Năng lượng Mỹ Viễn cảnh năng lượng quốc tế Khí nhà kính

Các nước đang phát triển

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1-2 Kết quả kiểm kê KNK (lượng khí CO2 tương đương) cho

Bảng 4-5 Hệ số phát thải mặc định của các loại năng lượng theo

IPCC cho nguồn cố định

58

các hoạt động sử dụng năng lượng giai đoạn 2000 - 2005

62

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Trang

trên thế giới từ năm 2005-2030

23

giới

24

Trang 9

Hình 5-3 Dự báo mực nước biển tăng theo các kịch bản về

KNK

72

nước chủ trì dự án

82

CDM được đăng kí và tỷ lệ tính cho từng nước chủ trì

Trang 10

MỞ ĐẦU

Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn về khí hậu

Sự biến đổi diễn ra trên toàn cầu, trong các khu vực, bao gồm cả các thay đổi trong thành phần hóa học của khí quyển, biến đổi nhiệt độ bề mặt, mực nước biển dâng cao, các hiện tượng khí hậu cực đoan và thiên tai tăng lên đáng kể cả về số lượng lẫn cường độ Những thay đổi này dẫn đến những thay đổi trong các hệ thống vật lý,

hệ sinh học và hệ thống kinh tế xã hội trên toàn bộ hành tinh Những thay đổi này cũng đang đe dọa sự phát triển, đe dọa cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái Tất cả những vấn đề đó đang ảnh hưởng lớn đến công cuộc phát triển của tất cả các nước trên thế giới, trong đó có việc làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường Chính vì vậy biến đổi khí hậu (BĐKH) không còn đơn thuần là vấn đề môi trường mà đã trở thành vấn đề của sự phát triển

Hệ thống khí hậu Trái đất bao gồm khí quyển, lục địa, đại dương, băng quyển và sinh quyển Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục của những thành phần này Quy mô thời gian của sự hồi tiếp ở mỗi thành phần khác nhau rất nhiều Nhiều quá trình hồi tiếp của các nhân tố vật lý, hóa học và sinh hóa có vai trò tăng cường sự biến đổi khí hậu hoặc hạn chế sự biến đổi khí hậu Công ước khung

của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã định nghĩa: “Biến đổi khí hậu

nghĩa là biến đổi của khí hậu được qui cho trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ có thể so sánh được” Và “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh

hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã

hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người [11]

Trang 11

Hiện tượng nóng lên toàn cầu đang diễn ra Nhiệt độ trên thế giới đã tăng thêm

rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy mối liên quan giữa gia tăng nhiệt độ và gia tăng nồng độ khí nhà kính (KNK) trong bầu khí quyển của Trái Đất

Hình 1 - Sơ đồ biểu diễn mối liên hệ giữa KNK và BĐKH [34]

Sơ đồ trên đã chỉ ra phát thải và thay đổi sử dụng đất là những nguyên nhân chính làm tăng nồng độ KNK trong khí quyển, và vì thế đã ảnh hưởng đến sự cân bằng năng lượng của Trái đất Hậu quả của hiện tượng này là sự tăng nhiệt độ khí quyển

và đại dương, gây ra những thay đổi tiêu cực về mặt khí hậu: tăng mực nước biển, tan băng… Tuy nhiên do mức độ phức tạp của vấn đề nên trong phạm vi của luận văn, tác giả tập trung tính toán lượng phát thải KNK do các hoạt động sử dụng năng lượng (một phần phát thải quan trọng đã làm tăng nồng độ KNK trong khí quyển)

Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch của loài người đang làm cho nồng độ khí

Trái đất làm nhiệt độ Trái đất tăng lên

Thay đổi sử dung đất

quyển

Phản hồi toàn cầu và khu vực, ví dụ: thay đổi mây, hàm lượng nước trong khí quyển, lượng ánh sáng Mặt trời phản chiếu bởi băng biển (albedo)

Thay đổi vật lí của khí hậu

Tăng nhiệt độ bề mặt toàn cầu (GMT) Tăng mực nước biển Thay đổi lượng mưa Thay đổi đồ thị biến đổi khí hậu

tự nhiên Tan băng

Phản hồi bao gồm khả năng giảm hiệu suất hấp thụ của đất

và đại dương với CO 2 thải ra và tăng phát thải metan tự nhiên

Áp lực bức xạ (Thay đổi cân bằng năng lượng)

Tăng nhiệt độ khí quyển

Tăng nhiệt độ đại dương

Tác động đến hệ vật lí, sinh học

và con người

Trang 12

KNK có thể chia thành 2 loại:

tác động mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường Trái đất Vì vậy việc kiểm soát lượng KNK phát thải đang và sẽ là mục tiêu cơ bản của nhiều quốc gia trên thế giới trong nỗ lực góp phần giảm nhẹ tác động của BĐKH trong thời gian tới Việt Nam

đã tham gia Công ước khung về BĐKH của Liên hợp quốc (11/1994) và phê chuẩn Nghị định thư Kyoto (9/2002) nên việc kiểm kê KNK là một việc làm quan trọng và cần thiết Tuy nhiên do cơ sở hạ tầng thông tin chưa phát triển mạnh, chi phí đầu tư cho công tác thống kê còn hạn chế, số liệu các ngành liên quan đến phát thải KNK đưa ra còn rời rạc nên việc kiểm kê KNK của Việt Nam gặp nhiều khó khăn

Đã có nhiều phương pháp được ứng dụng để thực hiện việc kiểm kê KNK ở Việt Nam và trên thế giới, như phương pháp của IPCC năm 1996, và mới đây nhất là phiên bản mới năm 2006 cho tất cả các lĩnh vực có liên quan đến phát thải KNK Việt Nam đã sử dụng phương pháp của IPCC năm 1996 để kiểm kê KNK lần đầu tiên cho năm 1994 và đưa ra kết quả trong thông báo quốc gia lần thứ nhất năm 2003 theo Công ước khung về BĐKH của Liên hợp quốc (UNFCCC) Hiện nay Việt Nam đang tiến hành kiểm kê KNK lần thứ 2 cho năm 2000 và dự kiến sẽ chính thức đưa ra kết quả trong Thông báo quốc gia lần thứ hai vào năm 2009 Việc kiểm kê KNK đòi hỏi khối lượng thông tin rất lớn, vì vậy đối với một nước có cơ sở hạ tầng thông tin còn kém phát triển như Việt Nam, công việc này sẽ càng khó khăn hơn

năng lượng là phương pháp được áp dụng đối với Việt Nam vào năm 2004, từ đó đánh giá hiệu suất năng lượng của đất nước [28] Trong nghiên cứu này, dựa trên phương pháp luận đó, tác giả (Phạm Trà Giang) sẽ trình bày cách tính toán KNK

ngành (bảng Input-output) sẽ là công cụ chính, ngoài ra một số phương pháp khác sẽ

Trang 13

được sử dụng hỗ trợ trong tính toán Sử dụng bảng cân đối liên ngành không chỉ giúp tính toán được lượng KNK phát thải của các ngành sử dụng năng lượng mà còn đưa

ra một cái nhìn toàn diện về quá trình sử dụng năng lượng trong các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại và dịch vụ…) Kết quả hi vọng giúp cho các nhà quản lý có thể đánh giá tình hình tiêu thụ năng lượng các

giảm lượng KNK phát thải Đây là một nhu cầu rất thực tế không chỉ đối với Việt Nam mà còn của tất cả các nước khác, đặc biệt là các nước đang phát triển, khi năng lượng đang được coi là một công cụ hỗ trợ hiệu quả đối với phát triển bền vững

xuất bản là bảng IO-1996 và IO-2000 bằng phương pháp RAS

các hoạt động sử dụng năng lượng thông qua mô hình IO và một số phương pháp khác

xuất các giải pháp giảm thiểu phát thải KNK của Việt Nam Các giải pháp thích nghi và ứng phó với hậu quả lớn nhất – BĐKH của Việt Nam trong thời gian tới

 Chương 5: Hậu quả và tác động của KNK Một số biện pháp giảm thiểu

và thích ứng với BĐKH cho Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

Trang 15

1-1 Tổng quan về mức phát thải KNK trên thế giới

các hoạt động của con người và hiện nay vượt xa so với mức của thời kỳ trước cách mạng công nghiệp, làm tan chảy cả các khối băng đã tồn tại qua hàng nghìn năm

tăng thêm một phần năm kể từ năm 1990 Nồng độ các KNK ngày một cao đồng nghĩa với việc nhiệt độ toàn cầu sẽ tiếp tục tăng theo thời gian Tốc độ gia tăng và

khác

Hình 1-1 - Phát thải Carbon toàn cầu trong giai đoạn 1750 – 2000 [34]

Bảng 1-1: Nồng độ KNK trong khí quyển năm 2006 [2]

Nồng độ trung bình toàn cầu trong năm

2006

Lượng tăng trung bình hàng năm trong

Trang 16

Năm 2006, nồng độ CO2 đo được là 381,2 phần triệu (ppm), nồng độ CH4 là 1782

quyển kể từ những năm 1700, có tới 35% là do phát thải từ đốt nhiên liệu hoá thạch

không tăng trong năm 2006 trong khi kể từ năm 1999, mỗi năm tăng gần 3 ppb Các hoạt động của con người như khai thác nhiên liệu hoá thạch, trồng lúa nước, đốt sinh khối, chôn lấp rác thải và chăn nuôi gia súc đã đóng góp tới 60% lượng khí methane thải vào khí quyển Các quá trình tự nhiên như phát thải từ các vùng đất

các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu, đốt sinh khối, sử dụng phân bón và một số quá trình công nghiệp [23]

Nguồn: Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 - UNDP

Hình 1-2: Thống kê các nguồn phát thải KNK của IPCC [20]

Việc chia nhỏ sự phân bố nguồn phát thải các KNK sẽ cho thấy rõ hơn quy mô của vấn đề Năm 2000, khoảng một nửa lượng phát thải là từ việc đốt các nhiên liệu hóa

Trang 17

phần tư tổng lượng phát thải Giao thông là nguồn phát thải CO2 từ năng lượng lớn thứ hai Trong vòng ba thập kỷ vừa qua, các lĩnh vực cung cấp năng lượng và giao thông đã lần lượt tăng lượng phát thải KNK lên 145% và 120% Tỉ lệ hiện thời không thể hiện được đầy đủ vai trò quan trọng của ngành điện trong tổng lượng phát thải toàn cầu Nhu cầu tiêu thụ điện là vô cùng lớn trong tổng số năng lượng tiêu thụ

và tiêu thụ điện là quá trình phát thải gián tiếp vì quá trình sản xuất tiêu thụ một lượng khổng lồ các loại nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí thiên nhiên, phóng xạChuyển đổi sử dụng đất cũng đóng vai trò không nhỏ Trong việc sử dụng đất thì nạn chặt phá rừng là nguồn phát thải các-bon lớn nhất, lượng các-bon được lưu giữ trong lòng đất thoát vào khí quyển do đốt rừng và làm thất thoát các nhiên liệu sinh học [20]

Các nguồn gây phát thải KNK chủ yếu [7]:

liệu (than, dầu và ga ) của các hoạt động sử dụng năng lượng và phát thải từ hoạt động sản xuất nhiên liệu: khai thác, vận chuyển than, dầu, khí ga và đốt sinh khối (đốt củi, các chất thải nông nghiệp)

- Các quá trình công nghiệp: KNK phát thải bắt nguồn từ các quá trình chuyển đổi vật lí và hoá học của nguyên vật liệu Ở Việt Nam sẽ có một số ít các quá trình và

- Lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất: Lâm nghiệp vừa là ngành phát thải KNK vừa

là ngành góp phần giảm bớt KNK Những hoạt động thay đổi sử dụng đất và khai

tạo rừng tự nhiên và trồng rừng mới sẽ bảo vệ, duy trì và lưu giữ Carbon

đốt rẫy, đốt thảo nguyên, và đất nông nghiệp

- Chất thải: KNK phát thải từ chất thải đô thị chủ yếu là:

Trang 18

+ Chất thải chôn lấp

+ Thành phần Carbon hữu cơ có thể phân hủy được và thành phần Carbon hữu cơ phân hủy thực tế

Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung tính toán lượng phát thải KNK thông

qua bảng cân đối liên ngành (bảng IO) cho các hoạt động sử dụng năng lượng

Thực hiện theo Công ước khung về BĐKH của Liên hợp quốc – UNFCCC, KNK của Việt Nam lần đầu tiên được kiểm kê cho năm 1994 với các lĩnh vực chủ yếu: năng lượng, các quá trình công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và thay đổi sử dụng đất và chất thải; và đưa ra kết quả trong thông báo quốc gia đầu tiên năm 2003

Bảng 1-2: Kết quả kiểm kê KNK (lượng khí CO 2 tương đương) cho

Trang 19

1-2-3 Dự báo lượng phát thải KNK của 3 lĩnh vực chính (năng lượng, nông

nghiệp và lâm nghiệp) tại Việt Nam đến năm 2010 và 2020

Dự báo trong thời gian tới, lượng khí thải nhà kính của 3 lĩnh vực chính (năng

Hình 1-3 : Dự báo lượng phát thải KNK của 3 lĩnh vực chính tại Việt Nam [9]

Sơ đồ trên cho thấy mức độ phát thải KNK của Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng trong tương lai gần (giai đoạn 2010-2020) ở các lĩnh vực năng lượng và nông nghiệp Như vậy có nghĩa là nhu cầu tiêu thụ năng lượng trong các ngành sản xuất công nghiệp sẽ tiếp tục tăng trong tương lai Nhờ sử dụng các biện pháp giảm thiểu nên

2010-2020

1-3 Tổng quan về nhu cầu sử dụng năng lượng của Việt Nam và thế giới

Năng lượng đóng vai trò thiết yếu đối với sự phát triển của bất kì quốc gia nào Năng lượng hóa thạch, đặc biệt là dầu mỏ và than đá là những loại năng lượng quan trọng, chưa có dạng năng lượng nào có thể thay thế được Tuy nhiên việc sử dụng năng lượng cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng lượng KNK

có trong khí quyển, góp phần làm BĐKH toàn cầu

Trang 20

Quá trình phát triển công nghiệp rầm rộ ở tất cả các quốc gia trên thế giới đã khiến thế giới phải đối mặt với vấn đề năng lượng toàn cầu, cụ thể là vấn đề nguồn năng lượng và hiệu suất sử dụng năng lượng Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, suốt nhiều thập kỷ qua, các quốc gia đã sử dụng quá mức các nguồn nhiên liệu sơ cấp mà không quan tâm đến trữ lượng của chúng đang ngày càng cạn kiệt

Hình 1-4: Nhu cầu năng lượng sơ cấp của thế giới giai đoạn 1970-2020 [23]

Các nhà khoa học nghiên cứu về năng lượng và môi trường học đã cảnh báo rằng với tốc độ tiêu thụ năng lượng hóa thạch như hiện nay thì lượng nhiên liệu hóa thạch còn lại chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ trong vòng 50 năm nữa Vấn đề sử dụng năng lượng sơ cấp quá mức không chỉ gây khủng hoảng trong cung cấp và tiêu thụ năng lượng mà còn tạo ra những thách thức không nhỏ đối với môi trường và sự phát triển

Nhận thức được tầm quan trọng của năng lượng đối với sự phát triển bền vững từ sau Hội thảo của Liên hợp quốc về môi trường và sự phát triển năm 1992, nỗ lực phát triển trong những năm sau này tập trung vào năng lượng như một công cụ đối với phát triển bền vững Một số sự kiện chính toàn cầu có liên quan tập trung vào vấn đề năng lượng:

Trang 21

Năm 1994 – Công ước Khung của LHQ về Biến đối khí hậu (UNFCCC) được 154 quốc gia ký kết đưa vấn đề BĐKH lên tầm chính trị quốc tế;

Năm 1997 – Nghị định thư Kyoto với những cam kết, chính sách và biện pháp buộc các nước phát triển phải thực hiện giảm thiểu những ảnh hưởng do con người đến BĐKH;

Năm 2001 – Uỷ ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC) chỉ ra rằng hành tinh đang hứng chịu sự BĐKH là hậu quả của nóng lên toàn cầu;

Năm 2002 - Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất (WSSD) lồng ghép Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ vào chương trình hành động, được tổng kết thành các lĩnh vực Nước, Năng lượng, Y tế, Nông nghiệp và Đa dạng sinh học (WEHAB), trong đó chỉ

ra mối liên hệ không thể tách rời giữa nghèo khổ, năng lượng và cấp nước, cùng những cơ hội nhằm cải thiện tình trạng này ở mỗi lĩnh vực thông qua sử dụng năng lượng tái tạo;

Năm 2003 – Diễn đàn Nước Thế giới ở Kyoto xác nhận Các mục tiêu Thiên niên kỷ

và xác nhận vai trò của tất cả các nguồn tái tạo trong đó có thuỷ điện;

Năm 2004 – Tuyên bố chính trị Born về các nguồn năng lượng tái tạo, với sự cam kết của 154 quốc gia về thực hiện đầy đủ hơn các mục tiêu thiên niên kỷ Tuyên bố của LHQ về Thuỷ điện và Đập và Phát triển bền vững tại Bắc Kinh, Nghị quyết Hội nghị Năng lượng gió Thế giới nhằm phát triển thuỷ điện và các nguồn năng lượng tái tạo khác trong xu thế chung đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ;

Tháng 7/2005, các nhà lãnh đạo các nước G8 nhóm họp tại Gleneagles, Scotland đã đưa ra cuộc đối thoại về BĐKH, năng lượng sạch và phát triển bền vững với sự tham gia của 20 quốc gia sử dụng nhiều năng lượng…

Và gần đây nhất là Hội nghị thượng đỉnh về BĐKH của Liên hợp quốc được tổ chức vào 12/2007 tại Bali, Indonesia nhằm đạt được một thỏa thuận đưa ra khuôn khổ hành động giảm khí gây hiệu ứng nhà kính để tiếp tục thực hiện sau khi Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực vào năm 2012

Rõ ràng năng lượng có mối quan hệ mật thiết với môi trường và sự phát triển Và vấn đề sử dụng năng lượng đang được nghiên cứu và cải thiện để tiêu dùng của thế

Trang 22

hệ hiện tại không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng cho sự phát triển của các thế hệ tương lai Đáp ứng nhu cầu năng lượng trong tương lai trên quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi sự nỗ lực của cả bộ ba: Chính quyền, nhà sản xuất năng lượng, nhà công nghiệp sản xuất thiết bị có sử dụng năng lượng

Khí tự nhiên 15.6%

Chất thải và

chất đốt tái tạo

12.9%

Điện 16.3%

Than 8.3%

Dầu thô 43.4%

Khác (*) 3.5%

(*): Năng lượng khác bao gồm: địa nhiệt, năng lượng Mặt Trời, năng lượng gió, năng lượng nhiệt…

Hình 1-5: Cơ cấu tổng năng lượng tiêu dùng cuối cùng của thế giới năm 2005 [37]

Qua biểu đồ trên chúng ta có thể thấy các nước thuộc khối OECD tiêu thụ khoảng

3853 Mtoe, chiếm 48,7%, các nước không thuộc khối OECD tiêu thụ phần còn lại Trong đó Trung Quốc tiêu thụ nhiều năng lượng nhất, khoảng 14,2%, tiếp theo là các nước châu Á (trừ Trung Quốc) tiêu thụ khoảng 11,3%, các nước thuộc Liên Xô

cũ tiêu thụ 7,9%

Trong khi các nước phát triển cần nhiều năng lượng để phục vụ cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt ở mức độ cao thì các quốc gia đang phát triển cũng đòi hỏi ngày càng nhiều năng lượng hơn để tăng trưởng GDP, nâng cao chất lượng cuộc sống Sự khác biệt giữa các nước là nguồn năng lượng sử dụng Các nguồn năng lượng trên thế giới có thể chia thành 2 loại chính; năng lượng thương mại (bao gồm năng lượng từ than, dầu, khí thiên nhiên, thủy điện và năng lượng hạt nhân); năng lương phi thương mại (sinh khối, củi gỗ…) Tuy vậy, ngày nay, một bộ phận năng lượng

TỔNG: 7912 Mtoe

Trang 23

truyền thống như củi gỗ đã được thương mại hóa và một số năng lượng mới và tái tạo rất hiện đại nên cách gọi này cần được hiểu một cách linh hoạt Nếu như năng lượng truyền thống chỉ chiếm dưới 3,4% tổng tiêu thụ năng lượng ở các nước công nghiệp hóa thì con số này trung bình là 17,9% ở các nước đang phát triển Thậm chí

ở một số quốc gia kém phát triển, 80% tổng năng lượng sử dụng là từ các nguồn năng lượng truyền thống [37]

Các tác động môi trường do sử dụng năng lượng xảy ra ở 3 cấp: địa phương (ô nhiễm không khí, với các ảnh hưởng có hại đến sức khỏe con người), khu vực (mưa axit, tác động có hại đến các hệ sinh thái) và toàn cầu (sự nóng lên của Trái đất với

các tác động làm BĐKH)

Trong các tác động ảnh hưởng đến môi trường của quá trình sử dụng năng lượng, sự

Với mức độ tiêu thụ năng lượng khác nhau của các quốc gia cho phát triển kinh tế

Trang 24

Năng lượng liên quan đến phát thải CO2, 2005-2030

15,1 17,3

13,8

15,5 13,6

Theo các trường hợp nghiên cứu của Triển vọng năng lượng quốc tế (IEO) 2007,

bình 1,8%/ năm từ năm 2004 đến năm 2030 Đối với các nước trong khối OECD,

tấn trong năm 2005 đến 14,7 tỷ tấn vào năm 2020 và 15,5 tỷ tấn năm 2030 Trong

trung bình là 2,6%/năm, gấp 3 lần so với các nước thuộc khối OECD, tức là đạt

gia có liên quan đến mức độ sử dụng năng lượng và mức độ phát thải

Trang 25

Phát thải CO2 theo loại nhiên liệu, 1990-2030

Hình 1-7: Phát thải CO 2 theo loại nhiên liệu sử dụng trên thế giới [23]

tính chiếm 42% so với tổng lượng phát thải của thế giới Đến năm 2004, con số này

2004 đều là 39%, tuy nhiên con số này sẽ tăng lên 43% vào năm 2030 Than là loại nhiên liệu có chứa nhiều Carbon nhất trong các loại nhiên liệu hóa thạch, và có mức tiêu thụ tăng nhanh nhất theo các nghiên cứu và dự báo của IEO 2007 [23]

Xây dựng và triển khai các giải pháp đối với các vấn đề năng lượng – môi trường đang là nhiệm vụ cấp bách trong các năm tới Bằng chứng là các cam kết về việc cắt giảm KNK đã được thực hiện ở một số nước, một số khu vực trên thế giới Ví dụ mục tiêu sẽ giảm phát thải (nhưng không bắt buộc) từ 25 đến 40% vào năm 2020 so với mức phát thải năm 1990 mà các nước công nghiệp đã nhất trí (tháng 8/2007) tại các cuộc đối thoại của 158 nước ở Vienna, Áo Thoả thuận này được coi là điểm khởi đầu để các nước giàu tham gia một hiệp ước mới thay cho Nghị định thư Kyoto Tính đến thời điểm hiện nay, đã có 35 nước công nghiệp hoá thuộc Nghị

Trang 26

định thư Kyoto cam kết cắt giảm 5% phát thải CO2, trong giai đoạn 2008 - 2012, so với năm cơ sở 1990 Hay Các thành viên Liên minh châu Âu (EU) vừa ký cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính xuống 20% từ nay đến năm 2020 so với mức độ năm 1990 Nỗ lực của thế giới đang hướng đến sự phát triển bền vững Và một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững là cung cấp và sử dụng năng lượng hiệu quả Để đạt được những mục tiêu cắt giảm KNK như trên thế giới cần điều chỉnh, xem xét lại toàn bộ hệ thống cung cấp năng lượng, đặc biệt là các nước tiêu thụ nhiều năng lượng như Mỹ, Nga, Trung Quốc…

Tổng nhu cầu sơ cấp cung cấp cho nhu cầu trong nước cũng tăng từ 7 triệu toe (năm 1990) lên khoảng 29,8 triệu toe (năm 2005), bình quân tăng 10,13%/năm Tốc độ tăng tiêu thụ năng lượng bình quân trong giai đoạn này khoảng 11,6%/năm Trong

cơ cấu tiêu thụ năng lượng năm 2005, ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 44%, kế đến là ngành giao thông vận tải khoảng 29,7%, dịch vụ chiếm 7,7%, nông nghiệp 2,4% và dân dụng 16,2% Cơ cấu tiêu thụ năng lượng cuối cùng theo các dạng năng lượng: các sản phẩm dầu chiếm tỷ trọng cao nhất 52,1%, tiếp đến là than 27,2%, điện 17,7% và khí thiên nhiên chiếm 3% Cũng theo tính toán, năm

2005, tiêu thụ năng lượng sơ cấp bình quân đầu người của Việt Nam khoảng 360 kgoe/người; tiêu thụ năng lượng cuối cùng khoảng 264 kgoe/người Như vậy, mức tiêu thụ năng lượng bình quân của nước ta mới bằng khoảng 20% mức bình quân chung của thế giới Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam, mặc dù không nằm trong số các nước bắt buộc phải giảm phát thải KNK nhưng Việt Nam cũng là một trong những nước có cường độ tiêu thụ năng lượng ở mức cao trên thế giới Điều đó cũng có nghĩa là năng lượng ở Việt Nam chưa được tiết kiệm và sử dụng hiệu quả Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam để có được sự phát triển bền vững thì không thể không quan tâm đến khai thác và sử dụng năng lượng hiệu quả [44]

Trang 27

Bảng 1-3: Sản lượng một số loại năng lượng ở Việt Nam giai đoạn 2000-2007

Ngành năng lượng Việt Nam có thể khái quát thông qua các đặc điểm sau:

xuất khẩu hoàn toàn Ngành than có trữ lượng khá dồi dào, đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và lượng xuất khẩu ước tính khoảng trên 31,9 triệu tấn, chiếm khoảng 73,84% tổng lượng than khai thác năm 2007 [16]

cơ sở chế biến Năm 2007 lượng xăng dầu nhập khẩu là 12,9 triệu tấn [16]

lượng điện năm 2006 (tính trong hệ thống nhà máy điện thuộc EVN): điện

từ các nhà máy thủy điện chiếm 40,02%, nhiệt điện than chiếm 19,05%, nhiệt điện dầu chiếm 2,36%, turbine khí chạy bằng dầu chiếm 1,86% và còn lại là 36,41% đóng góp của điện từ turbine khí chạy bằng khí và đuôi hơi [41]

Hạn chế về kỹ thuật, quản lý cũng như sức ép phát triển đang khiến cho sử dụng năng lượng ở Việt Nam kém hiệu quả và lãng phí Nhu cầu tiêu thụ tăng trong khi

sử dụng năng lượng chưa thực sự mang lại hiệu quả cao, lại phụ thuộc chủ yếu vào khai thác các nguồn năng lượng hóa thạch đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường

Trang 28

trình tiêu thụ năng lượng của các ngành kinh tế Chính vì vậy, ước tính mức độ tiêu

làm rất cần thiết Nhất là trong giai đoạn toàn nhân loại đang hướng tới sự phát triển bền vững như hiện nay Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã lựa chọn phương pháp sử dụng bảng IO để ước tính lượng năng lượng tiêu thụ và lượng KNK phát thải vì đây là một phương pháp dễ áp dụng, thuật toán đơn giản và cho kết quả toàn diện để đánh giá và phân tích tình hình tiêu thụ năng lượng cũng như phát thải KNK của các nhóm ngành kinh tế

Trang 29

CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU VỀ BẢNG CÂN ĐỐI

Trang 30

2-1 Giới thiệu chung

Bảng IO được xây dựng do nhu cầu phân tích một cách tổng hợp các hoạt động kinh

tế trong một nền kinh tế và theo ngôn ngữ của các nhà kinh tế là phân tích vĩ mô nền kinh tế Việc phân tích vĩ mô này do Karl Marx thực hiện lần đầu tiên vào năm 1857 trong cuốn “Tư bản” Trong khi phân tích quá trình sản xuất sản phẩm, Marx đã tìm thấy mối quan hệ trực tiếp theo quy luật kỹ thuật giữa các yếu tố tham gia quá trình sản xuất Wassily Leontief trong thời gian còn sống ở Liên Xô đã suy nghĩ và phát triển tư tưởng của Marx, sau đó ông đã toán học hóa toàn diện mối quan hệ cung cầu trong nền kinh tế Ý tưởng cơ bản của Leontief là coi mỗi công nghệ sản xuất là sự quan hệ tuyến tính giữa số lượng sản phẩm được sản xuất ra và các sản phẩm vật chất

và dịch vụ làm chi phí đầu vào Sự liên hệ này được biểu diễn bởi một hệ thống hàm tuyến tính với những hệ số được quyết định bởi quy trình công nghệ

Với tư tưởng này, năm 1936 các bảng IO đầu tiên được W Leontief xây dựng cho Hoa Kỳ là bảng IO năm 1919 và năm 1929 Sau khi công trình trên được công bố với tên gọi: “Cấu trúc của nền kinh tế Hoa Kỳ” vào năm 1941 thì ứng dụng bảng IO trở nên phổ biến và đã được lập cho hơn 90 nước trên toàn thế giới

Ở Việt Nam, trước năm 1986 chỉ ứng dụng hệ thống bảng cân đối kinh tế quốc dân xây dựng theo hệ thống tiêu hao vật chất (MPS) của các nước XHCN Từ sau khi thực hiện chính sách mở cửa, khi hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) được áp dụng, các bảng IO theo mô hình của Leontief mới bắt đầu được xây dựng dưới sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới Năm 1992, với sự tài trợ của Liên hợp quốc, dự án VIE 88/032 về "Thực hiện hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) ở Việt Nam", Tổng cục Thống kê lần đầu tiên đã lập được bảng I-O với 54 ngành kinh tế và 55 ngành sản phẩm theo ba loại giá cho năm 1989 Nguyên tắc phân ngành kinh tế, phương pháp tính các chỉ tiêu chủ yếu như: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, tổng sản phẩm quốc nội, tiêu dùng cuối cùng, tích lũy tài sản, Xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ…là dựa trên những quy định chung của Thống kê Liên hợp quốc [8]

Trang 31

Năm 1996, được sự giúp đỡ tài trợ của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), ngành thống kê Việt Nam đã tiến hành thu thập thông tin, điều tra chọn mẫu trên tất cả các lĩnh vực hoạt động sản xuất của cả nước và đã hoàn thành lập bảng IO với quy mô (97 × 97) ngành sản phẩm, theo 3 loại giá: giá sử dụng cuối cùng, giá sản xuất, giá

cơ bản, chia ra sản phẩm sản xuất trong nước, sản xuất ở nước ngoài… [8]

Và hiện nay là bảng IO năm 2000 dựa trên những kinh nghiệm đã thu được từ quá trình xây dựng bảng IO 1996 Về cơ bản, bảng IO năm 2000 có bố cục tương tự như bảng IO 1996, tuy nhiên, số lượng ngành đã được tăng lên 112 do có nhiều ngành trong bảng IO 1996 đã được phân tích thành nhiều ngành nhỏ hơn Năm 2003, bảng

IO 2000 với quy mô (112 × 112) ngành sản phẩm đã được xuất bản [8]

Phân loại các ngành kinh tế trong bảng IO năm 1996 (97 × 97) và năm 2000 (112

× 112) được giới thiệu trong bảng A-1 và A-2 (phần phụ lục)

Bảng IO mô tả mối quan hệ thu – chi giữa các nhà sản xuất, nhà tiêu thụ của một

nền kinh tế trong một bảng số liệu nhằm giúp cho công tác dự đoán và phân tích kinh tế được dễ dàng Theo mô hình IO, đầu ra của mỗi ngành kinh tế trở thành đầu vào của các ngành kinh tế khác – được gọi là quá trình tiêu dùng trung gian (chẳng hạn, để sản xuất ra một chiếc ô tô, ngành công nghiệp ô tô cần phải sử dụng sản phẩm của các ngành sắt thép, cao su, kính…) Phần còn lại sẽ được sử dụng cho nhu cầu cuối cùng (bao gồm tiêu dùng của các hộ gia đình và tiêu dùng của Chính Phủ), tích lũy và xuất khẩu Trong bảng IO, các ngành sắp xếp theo dãy các hàng được hiểu là các ngành sản xuất còn các ngành sắp xếp theo dãy các cột là các ngành sử dụng sản phẩm

Bảng IO gồm 3 phần chính: khối I (màu xanh da trời), khối II (màu xanh lá cây) và khối II ( màu vàng) như trong bảng 2-1

gia đình, Tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, Tích lũy tài sản, Xuất khẩu trừ (-) Nhập khẩu

Trang 32

 Khối III thể hiện phần giá trị tăng thêm gồm Thu của người lao động, Khấu hao TSCĐ, Thuế sản xuất và Giá trị thặng dư

Cấu trúc của mỗi quá trình sản xuất công nghiệp được kí hiệu bởi một véc tơ xác định tương ứng của hệ số cấu trúc mô tả mối quan hệ giữa đầu vào mua vào và đầu

ra sản xuất, về mặt số lượng Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các ngành kinh tế của một nền kinh tế được mô tả bởi hệ phương trình cân bằng tuyến tính giữa tổng đầu vào

và tổng đầu ra của mỗi loại hàng hóa và dịch vụ đã sản xuất và sử dụng trong một hay một vài giai đoạn nào đó

cùng cho sản phẩm của ngành i, cân bằng sau được lập [28]:

i in ij

i i

i Z Z Z Z f

ngành kinh tế được xây dựng như sau:

1 1 1

12 11

2 2 2

22 21

i in ij

i i

i Z Z Z Z f

x = 1 + 2 + + + + +

n nn nj

n n

j j

Z Z

Z Z

2 1

(3-3)

Trang 33

Những thành phần này cho thấy khối lượng mua bán hoặc đầu vào cho ngành j từ ngành i, đây là lượng cần thiết để sản xuất trong ngành j Thêm vào đó, đầu vào còn

có nhân công, tích lũy tài sản và một số yếu tố khác (giá trị tăng thêm) là những yếu

tố liên quan đến quá trình sản xuất Trong phân tích này, chỉ có một phần chuyển đổi giữa chúng sẽ được sử dụng Về lý thuyết, các số liệu trong bảng IO có thể được xây dựng bằng cả đơn vị vật lý lẫn đơn vị tiền tệ Tuy nhiên, do việc xây dựng bảng

IO bằng đơn vị vật lý thường khó khăn hơn rất nhiều so với bằng đơn vị tiền tệ nên thường chỉ được xây dựng khi cần sử dụng cho những mục đích đặc biệt Đa số các bảng IO được xây dựng theo đơn vị tiền tệ Các thành phần của bảng IO đơn vị tiền tệ được trình bày trong bảng 2-1

Bảng 2-1: Cấu tạo bảng IO đơn vị tiền tệ

Tổng GTSP (GO)

Nhà nước

Trang 34

Ghi chú:

i lấy giá trị từ 1 đến n, là ký hiệu của các ngành sản xuất sản phẩm

j lấy giá trị từ 1 đến n, là ký hiệu của các ngành sử dụng sản phẩm

Z ij biểu thị nhu cầu của phía sử dụng – ngành j đối với ngành cung cấp i.

Trong bảng IO, khối Z – được gọi là khối tiêu thụ trung gian – thể hiện giá trị giao dịch bằng tiền giữa các ngành kinh tế trong quá trình tạo ra sản phẩm của mình Nhìn

ngành đó đã tạo ra Xét theo cột, để có thể tạo ra sản phẩm j, các ngành kinh tế phải

=

i ij

Z

1

cho các ngành khác, cùng với giá trị tăng thêm – tổng hai giá trị này chính là chi phí đầu vào cho sản xuất của các ngành kinh tế

Số lượng ngành có trong khối Z phụ thuộc vào mức độ phân ngành kinh tế Chính

vì vậy, các bảng IO có kích thước rất khác nhau Tùy theo khả năng và nhu cầu sử dụng, mỗi quốc gia, mỗi khu vực có thể biên soạn bảng IO của mình ở các cấp độ chi tiết khác nhau

Trong việc lập bảng IO, giả thuyết cơ bản là mối quan hệ giữa các ngành từ ngành i đến ngành j phụ thuộc hoàn toàn vào tổng đầu ra của ngành j Đó là, nếu ngành j là ngành sản xuất ô tô, ta giả định rằng nếu ngành sản xuất ô tô này có mức bán tăng lên, nghĩa là sẽ có mức tăng tương ứng về việc bán các động cơ điện được sử dụng

để sản xuất lượng ô tô đó Từ khái niệm này, ta có thể tính được tỉ lệ giữa đầu vào

được tính theo công thức sau [28]:

j

ij ij

x

Z

nghĩa rõ ràng về mối quan hệ tuyến tính giữa đầu vào và đầu ra Vì vậy, gấp đôi lượng đầu vào sẽ sản xuất ra gấp đôi lượng đầu ra, giảm đầu vào xuống 1 nửa thì đầu ra thu được cũng giảm còn một nửa

Trang 35

Về bản chất, hệ số biểu thị thương mại từ ngành công nghiệp i với ngành công nghiệp j Chúng ta có thể viết lại công thức (3-2) ở trên như sau [28]:

1 1

1 2

12 1 11

1 A x A x A x A x f

2 2

2 2

22 1 21

2 A x A x A x A x f

i n in j

ij i

nj n

n

n n

A A

A

A A

A

A A

2 22

21

1 12

x

2 1

f

2 1

(3-6)

Phương trình ma trận hoàn chỉnh với hệ thống n × n ngành kinh tế:

f x A

phân tích kinh tế và môi trường

Phân tích IO hiện đang là một trong những phương pháp được các nhà khoa học khai thác và ứng dụng phổ biến trong nghiên cứu về kinh tế và năng lượng điển hình là những đóng góp trong việc mở rộng bảng IO thành ma trận hạch toán xã hội

vùng (Inter regional IO) của Miyazawa vào những thập kỉ 70 của thế kỷ XX (Miyazawa’s Main Contribution, 1976) Những sự phát triển này sau đó được Miller và Blair hoàn thiện vào 1985 Trong những năm gần đây, bảng IO còn được

Trang 36

phát triển và mở rộng để nghiên cứu rất nhiều vấn đề về kinh tế, xã hội, nhân khẩu học và môi trường…Ví dụ: Mô hình IO có thể sử dụng để xác định GDP “xanh”; ước tính lượng chất thải phát sinh trong các ngành kinh tế, giúp các nhà quản lý có thể kiểm soát và đưa ra những biện pháp thích hợp giảm thiểu chất thải đối với từng ngành kinh tế khác nhau Trong lĩnh vực LCA, danh mục dạng bảng thể hiện gánh nặng môi trường thông quan vòng đời của một sản phẩm, một quá trình sản xuất hoặc một hoạt động được gọi là Kiểm kê vòng đời (Life Cycle Inventory) Đó là bảng tổng hợp vi mô tài nguyên đầu vào và chất thải đầu ra Đây không chỉ là một phương pháp lượng hóa các gánh nặng môi trường trực tiếp và gián tiếp của các hoạt động kinh tế mà còn phân tích được vòng tuần hoàn của tài nguyên và chất thải thông qua nền kinh tế [27]

Bảng IO ở Việt nam chủ yếu được sử dụng để phục vụ các dự án nghiên cứu phát triển Trong dự án "Quy hoạch tổng thể vùng kinh tế trọng điểm phía Nam" do Chính phủ Ôxtrâylia tài trợ đã thiết lập bảng I-O năm 1994 cho Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu và Sông Bé (nay là Bình Dương, Bình Phước)) với 21 ngành làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình cân bằng tổng thể Năm 1996 với kinh phí của Nhà nước và một phần của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Tổng cục Thống kê lập bảng I-O với 96 ngành, công bố năm 1998 Năm 1996, Viện kinh tế thành phố Hồ Chí Minh lần đầu tiên lập bảng I-O cho một tỉnh ở Việt Nam, với 96 ngành sau được gộp thành 45 ngành để xuất bản

Bảng I-O năm 1996 với sự tài trợ của Viện nghiên cứu về quan hệ giữa đất liền và biển của Chính phủ Hà Lan, Nhóm nghiên cứu (Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và Tổng cục Thống kê) đã lập thử nghiệm bảng I-O cho vùng Đồng bằng sông Hồng và sử dụng nó như một công cụ trong việc nghiên cứu mối liên hệ giữa kinh tế và môi trường

Riêng đối với lĩnh vực năng lượng và môi trường, năm 2004 bảng cân đối liên ngành đã được sử dụng trong nghiên cứu, đánh giá hiệu suất sử dụng năng lượng ở

Trang 37

Việt Nam trong luận án tiến sỹ của Nguyễn Thị Ánh Tuyết [28] Có thể nói việc ứng dụng bảng IO trong lĩnh vực năng lượng đã đóng góp một công cụ hiệu quả cho các nhà quản lý xây dựng chính sách nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng

Trong Hội thảo quốc tế về Địa sinh thái và công nghệ môi trường được tổ chức vào 25-27/10/2007 tại Hà Nội, một báo cáo đã phân tích việc sử dụng bảng IO của Việt

của hội nhập kinh tế [31]

Với những ứng dụng thực tế quan trọng của bảng IO trong các lĩnh vực kinh tế, năng lượng và môi trường, tác giả đã lựa chọn sử dụng bảng IO là một công cụ chính cùng với sự hỗ trợ của một số phương pháp khác để phân tích, đánh giá tình hình tiêu thụ năng lượng và phát thải KNK của các ngành kinh tế trong giai đoạn 2000-2005 Năm

2005 được tác giả lựa chọn để tính toán vì theo kinh nghiệm của một số quốc gia khác thì bảng IO thường được xuất bản định kì 5 năm/lần, phù hợp với quy luật biến đổi của nền kinh tế Tuy nhiên hiện nay Tổng cục Thống kê mới chỉ xuất bản bảng IO của các năm 1989, năm 1996 và năm 2000 Vì vậy tác giả đã sử dụng phương pháp RAS để cập nhật bảng IO năm 2005 từ bảng IO-1996 và IO-2000

Trang 38

CHƯƠNG 3 CẬP NHẬT BẢNG IO NĂM 2005 BẰNG PHƯƠNG PHÁP RAS

Trang 39

Trên thế giới đã có một số phương pháp sử dụng để cập nhật bảng IO như phương pháp RAS (GRAS), Entropy, cập nhật trực tiếp từ ma trận nghịch đảo Leontief… Trong đó RAS là một phương pháp cơ bản được sử dụng rất phổ biến Với mục đích cập nhật bảng IO, phương pháp RAS có thể xem là phương pháp ước tính rất đáng tin cậy với một lượng hạn chế thông tin sẵn có Phương pháp RAS có thể điều chỉnh bảng IO cũ nhằm thiết lập một bảng IO mới với một số thông tin cập nhật hơn của năm cần điều chỉnh, mà không cần tiến hành lập bảng IO từ đầu

Một trong những mục tiêu cơ bản của phương pháp RAS được ứng dụng trong luận văn là xác định ma trận chi phí trung gian để cập nhật bảng IO năm 2005 dựa trên bảng IO gốc của năm 1996 và năm 2000

RAS là phương pháp nhằm hiệu chỉnh đồng thời giá trị các tiêu dùng trung gian (hàng) và chi phí trung gian (cột) trong bảng IO, đã được phát triển độc lập bởi các nhà nghiên cứu khác nhau, đó là Kruithoff và Sheleikhovski năm 1930 Năm 1961, giáo sư Richard Stone và các đồng nghiệp của ông ở Cambridge đã phát triển với mục đích cập nhật các bảng IO Đây là một phương pháp kỹ thuật tốt và được sử dụng rộng rãi để điều chỉnh cập nhật bảng IO trên cơ sở lượng thông tin tối thiểu Sau đó phương pháp này đã được ứng dụng rộng rãi ở các nơi khác trong nước Anh

và nhiều nước khác [34]

Ở các nước, bảng IO thường được lập định kỳ 5 năm một lần, nhưng đối với những nước đang phát triển như Việt Nam thời gian lập bảng IO mới có thể kéo dài hơn Song do nhu cầu của công tác quản lý, phân tích và dự báo kinh tế nên việc điều chỉnh, cập nhật bảng IO đối với những năm không có điều tra lớn để lập bảng IO mới

là một đòi hỏi thực tế Phương pháp RAS thường được sử dụng để chỉnh lý và cập nhật bảng IO với những thông tin đã được xác định Ưu điểm của phương pháp RAS

so với các phương pháp khác để cập nhật bảng IO (Entropy, phương pháp cập nhật trực tiếp từ ma trận nghịch đảo Leontief ) là thuật toán đơn giản, có tính thực hành

Trang 40

cao và đảm bảo ma trận kết quả phù hợp với quy luật cơ bản của hệ thống tính toán thu nhập quốc gia [33]

Ngoài ra một số ứng dụng khác sử dụng RAS như một công cụ hỗ trợ để tìm các quy luật biến đổi của nền kinh tế dựa trên các bảng IO thực tế

Về cơ bản, RAS là một phương pháp lặp, hiệu chỉnh các giá trị tiêu dùng trung gian (hàng) và chi phí trung gian (cột) đồng thời từ bảng IO của năm cơ sở cho đến khi tổng các giá trị theo hàng và cột bằng tổng tiêu dùng trung gian thực tế (u) và tổng

hiện việc hiệu chỉnh bảng IO

(1) Hệ số r i: đặc trưng cho ảnh hưởng thay thế (theo hàng), cho biết mức độ sản phẩm i được thay thế hoặc như là một sản phẩm thay thế cho các sản phẩm khác

dùng trung gian của ngành i cho các ngành kinh tế khác

(2) Hệ số s j: đặc trưng cho ảnh hưởng sản xuất (theo cột), cho biết mức độ ngành công nghiệp j có tỉ lệ chi phí trung gian nhiều hơn hay ít hơn so với tổng đầu

trung gian của ngành j

S RA

thuật) của năm cần hiệu chỉnh và năm cơ sở R và S là ma trận đường chéo được tạo

Tất cả các ảnh hưởng đều là giá trị trung bình nên chúng phải thỏa mãn các điều

i

Ngày đăng: 22/02/2021, 18:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tài nguyên và môi trường- Ban chỉ đạo thực hiện công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH và nghị định thư Kyoto (5/2008). Thông tin BĐKH số 01/2008, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin BĐKH số 01/2008
3. Bộ Tài nguyên và môi trường- Ban tư vấn- chỉ đạo về cơ chế phát triển sạch (4/2007), Thông tin biến đổi khí hậu số 01/2007, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin biến đổi khí hậu số 01/2007
4. Bộ Tài nguyên và môi trường (3/2007), Báo cáo tổng hợp: Điều tra, xây dựng chế độ phí bảo vệ môi trường đối với khí thải, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp: Điều tra, xây dựng chế độ phí bảo vệ môi trường đối với khí thải
5. Bộ Tài nguyên và môi trường- Ban tư vấn- chỉ đạo về cơ chế phát triển sạch (8/2006), Thông tin biến đổi khí hậu số 02/2006, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin biến đổi khí hậu số 02/2006
6. Bộ Tài nguyên và môi trường- Ban tư vấn- chỉ đạo về cơ chế phát triển sạch (5/2005), Thông tin biến đổi khí hậu số 01/2005, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin biến đổi khí hậu số 01/2005
7. Bộ Tài nguyên và môi trường (2003), Thông báo quốc gia đầu tiên, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo quốc gia đầu tiên
Tác giả: Bộ Tài nguyên và môi trường
Năm: 2003
8. Bùi Bá Cường, Bùi Trinh, Dương Mạnh Hùng (2004), Phương pháp phân tích kinh tế và môi trường thông qua mô hình Input-output (I/O modelling), Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phân tích kinh tế và môi trường thông qua mô hình Input-output (I/O modelling)
Tác giả: Bùi Bá Cường, Bùi Trinh, Dương Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2004
9. Nguyễn Khắc Hiếu, Bộ Tài nguyên và Môi trường (01/2008), Hoạt động biến đổi khí hậu ở Việt Nam - Tổng quan và định hướng chiến lược, Báo cáo tại Hội thảo: “Hướng tới chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu”, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động biến đổi khí hậu ở Việt Nam - Tổng quan và định hướng chiến lược, "Báo cáo tại Hội thảo: “Hướng tới chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu
10. Nguyễn Thị Ngọc Hoàn, Nguyễn Phương Dung, Nguyễn Minh Phượng (5/2008), Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và sự dâng cao nước biển.Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và sự dâng cao nước biển
11. Nguyễn Hữu Ninh, nhóm tác giả chính Báo cáo lần thứ tư của IPCC (01/2008), Kết quả nghiên cứu của thế giới về biến đổi khí hậu, Báo cáo tại Hội thảo:“Hướng tới chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu”, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu của thế giới về biến đổi khí hậu", Báo cáo tại Hội thảo: “Hướng tới chương trình hành động của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu
12. GS.TS Lê Đình Quang - Trung tâm Khoa học, công nghệ khí tượng Thủy văn và Môi trường (2007), “Biến đổi khí hậu tới tương lai hành tinh của chúng ta”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, (số tháng 9), trang 19-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu tới tương lai hành tinh của chúng ta”, " Tạp chí Tài nguyên và Môi trường
Tác giả: GS.TS Lê Đình Quang - Trung tâm Khoa học, công nghệ khí tượng Thủy văn và Môi trường
Năm: 2007
13. Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (12/2004), Báo cáo chiến lược phát triển công nghệ của EVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chiến lược phát triển công nghệ của EVN
14. Tổng cục Thống kê (1999), Bảng cân đối liên ngành (Input-output:IO) của Việt Nam năm 1996, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng cân đối liên ngành (Input-output:IO) của Việt Nam năm 1996
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1999
15. Tổng cục Thống kê (2003), Bảng cân đối liên ngành (Input-output: IO) của Việt Nam năm 2000, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảng cân đối liên ngành (Input-output: IO) của Việt Nam năm 2000
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
16. Tổng cục Thống kê (2007), Niên giám thống kê năm 2006, Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2006
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2007
17. Tổng cục Thống kê (2008), Niên giám thống kê năm 2007, Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2007
Tác giả: Tổng cục Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2008
19. Trần Thục – Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2008), Biến đổi khí hậu: Tác động và các giải pháp thích ứng, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu: Tác động và các giải pháp thích ứng
Tác giả: Trần Thục – Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường
Năm: 2008
20. UNDP - Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (2007), Báo cáo phát triển con người 2007/2008 - Cuộc chiến chống Biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển con người 2007/2008 - Cuộc chiến chống Biến đổi khí hậu: Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách
Tác giả: UNDP - Chương trình phát triển Liên Hợp quốc
Năm: 2007
21. Văn phòng tiết kiệm năng lượng- Bộ Công thương (2007), Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Tác giả: Văn phòng tiết kiệm năng lượng- Bộ Công thương
Năm: 2007
22. Alexander P. (1993), Part one: Rapid Inventory Techniques in Environmental Pollution, World Health Organization (WHO), Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Part one: Rapid Inventory Techniques in Environmental Pollution
Tác giả: Alexander P
Năm: 1993

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm