1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cở sở địa lý cho định hướng bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn Quảng Ninh

93 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 3,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cở sở địa lý cho định hướng bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn Quảng Ninh Cở sở địa lý cho định hướng bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn Quảng Ninh Cở sở địa lý cho định hướng bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn Quảng Ninh luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Đức Dương

CƠ SỞ ĐỊA LÝ CHO ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

VÙNG BIỂN ĐẢO QUAN LẠN HUYỆN VÂN ĐỒN

TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Đức Dương

CƠ SỞ ĐỊA LÝ CHO ĐỊNH HƯỚNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

VÙNG BIỂN ĐẢO QUAN LẠN HUYỆN VÂN ĐỒN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài: “Cở sở địa lý cho định hướng bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Hạ Long, ngày tháng năm 20

Học viên

Nguyễn Đức Dương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí tài nguyên và môi trường “Cở sở địa lý cho định hướng bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh” được hoàn thành tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa

học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trước hết,với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, Học viên xin chân thành cảm ơn Thầy PGS.TS Đặng Văn Bào, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Chủ nhiệm Khoa cùng các thầy, cô trong Khoa Địa lý, phòng Sau Đại học - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Học viên xin được cảm ơn đề tài “Luận cứ khoa học cho việc thiết lập và giải pháp quản lý hành lang bảo vệ bờ biển Việt Nam”; Mã số: KC.09.17/16-20,

do PGS.TS Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm, đã hỗ trợ trong quá trình thu thập tài liệu, cơ sở dữ liệu và hoàn thiện luận văn

Trong quá trình hoàn thành luận văn này, Học viêncòn nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình của các cán bộ, nhân dân xã Quan Lạn, Minh Châu trong quá trình khảo sát và thu thập tài liệu tại địa phương Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những sự giúp đỡ quý báu đó

Cuối cùng, học viên xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã không ngừng động viên, chia sẻ và hỗ trợ rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ của mình

Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn

Xin trân trọng cảm ơn!

Hạ Long, ngày tháng năm 20

Học viên

Nguyễn Đức Dương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu: 2

2.2 Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Cơ sở dữ liệu 3

5 Kết quả và ý nghĩa của đề tài 3

6 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CẬN ĐỊA LÝ TỔNG HỢP TRONG TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÙNG BIỂN ĐẢO QUAN LẠN 4

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 4

1.1.1 Khái quát các công trình nghiên cứu theo hướng địa lý tổng hợp 4

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Ninh và khu vực biển đảo

Vân Đồn, đảo Quan Lạn 5

1.2 Tiếp cận địa lý tổng hợp trong quy hoạch không gian sử dụng hợp lý

tài nguyên và bảo vệ môi trường 6

1.2.1 Cơ sở khoa học về môi trường và bảo vệ môi trường 6

1.2.2 Tiếp cận địa lý tổng hợp trong quy hoạch không gian sử dụng hợp lý

tài nguyên và bảo vệ môi trường 8

1.2.3 Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường biển đảo 9

1.3 Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu 11

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 11

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 12

1.3.3 Quy trình nghiên cứu 14

Tiểu kết chương 1 14

Trang 6

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

VÙNG BIỂN ĐẢO QUAN LẠN 15

2.1 Vị trí của vùng biển đảo Quan Lạn trong chiến lược phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường 15

2.2 Đặcđiểmđiều kiện tự nhiên 16

2.2.1 Đặc điểm địa chất 16

2.2.2 Đặc điểm địa mạo 18

2.2.3 Hải văn 24

2.2.4 Khí hậu 24

2.2.5 Sinh vật, thổ nhưỡng 25

2.3 Tài nguyên thiên nhiên và nhân văn 26

2.3.1 Tài nguyên vị thế 26

2.3.2 Tài nguyên đất ngập nước 26

2.3.3 Tài nguyên khoáng sản 27

2.3.4 Cảnh quan thiên nhiên 28

2.3.5 Tài nguyên sinh vật 28

2.3.6 Giá trị văn hóa - lịch sử 31

2.4 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội 32

2.4.1 Dân cư, dân tộc và sự phát triển xã hội 32

2.4.2 Các chỉ số phát triển kinh tế 33

2.5 Phân vùng địa lý tự nhiên vùng biển đảo Quan Lạn 35

Tiểu kết chương 2 38

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÙNG BIỂN ĐẢO QUAN LẠN 39

3.1 Hiện trạng môi trường đảo Quan Lạn 39

3.1.1 Thực trạng nguồn thải tạiđảo Quan Lạn 39

3.1.2 Hiện trạng môi trường đảo Quan Lạn 44

3.1.3 Hiện trạng tai biến thiên nhiên và rủi ro môi trường 56

3.2 Phân tích định hướng phát triển kinh tế xã hội và xu hướng biến đổi môi trường vùng biển đảo Quan Lạn 59

3.2.1 Xu hướng biến đổi môi trường trên thực trạng phát triển kinh tế- xã hội đảo Quan Lạn 59

3.2.2 Xu hướng biến đổi môi trường từ quy hoạch kinh tế- xã hội 61

Trang 7

3.2.3 Sự thay đổi của cảnh quan và chất lượng môi trường 64

3.2.4 Thực trạng bảo vệ môi trường biểnđảo Quan Lạn 66

3.2.4.1 Các nỗ lực hiện tại 66

3.2.4.2 Định hướng lâu dài gắn với quy hoạch phát triển vùng 67

3.3 Định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ

môi trường 69

3.3.1 Bản đồ định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường 69

3.3.2 Định hướng giải quyết những vấn đề hiện tại 75

Tiểu kết chương 3 80

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích các kiểu đất ngập nước khu vực vịnh Quan Lạn và lân

cận[13] 27

Bảng 2 2 Thực trạng kinh doanh lưu trú du lịch đảo Quan Lạn năm 2014 35

Bảng 3 1 Tổng lượng chất thải hàng năm tại vịnh Hạ Long- Bái Tử Long 41

Bảng 3.2 Kết quả quan trắc mẫu nước biển ven đảo

xã Quan Lạn - Minh Châu 44

Bảng 3.3 Kết quả quan trắc môi trường một số mẫu nước khu vực NTTS

huyện Vân Đồn 46

Bảng 3 4 Kết quả quan trắc môi trường không khí tại đảo Quan Lạn 48

Bảng 3 5 Kết quả phân tích mẫu đất khu vựcđảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn 50

Bảng 3 6 Kết quả quan trắc môi trường một số mẫu nước khu vực NTTS

huyện Vân 52

Bảng 3 7 Kết quả quan trắc môi trường khu vực nuôi sá sùng đảo Quan Lạn 53

Bảng 3.8 Đặc điểm bão tại Quan Lạn- Vân Đồn trung bình hàng năm 56

Bảng 3.9 Xu hướng biển đổi của môi trườngtại Quan Lạn trên thực trạng

kinh tế- xã hội hiện tại 60

Bảng 3.10 Dự báo khối lượng và các thành phần chất thải rắn sinh hoạt

trên đảo Quan Lạn đến năm 2020 62

Bảng 3.11 Xu hướng thay đổi kiến trúc cảnh quan tại Quan Lạn theo các

quy hoạch kinh tế- xã hội 64

Bảng 3.12 Quy hoạch bảo vệ tài nguyên tại Quan Lạn đến năm 2020 68

Bảng 3.13 Phân vùng định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên 69

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu 14

Hình 2.1 Vị trí vùng biển đảo Quan Lạn trên vùng biển đông bắc Quảng Ninh 15

Hình 2.2 Các thành tạo địa chất vùng Quan Lạn (Theo Bản đồ địa chất

tỷ lệ 1:200.000, Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam) 17

Hình 2.3 Bản đồ địa mạo khu vực đảo Quan Lạn 20

Hình 2.4: Thềm biển cao 6 – 10m cấu tạo bởi cát trắng tại Minh Châu 21

Hình 2.5: Rừng trâm trên thềm cát trắng tại Minh Châu (ảnh Đặng Văn Bào) 26

Hình 2.6 Cát trắng Minh Châu trên bề mặt thềm biển cao 6-8m

(ảnh Đặng Văn Bào) 28

Hình 2.7: Bãi tắm Ro Bin Sơn trên đảo Quan Lạn (ảnh Đặng Văn Bào) 28

Hình 2 8 Dân số đảo Quan Lạn giai đoạn 2010-2017 (người) 32

Hình 2 9 Cơ cấu kinh tế huyện Vân Đồn năm 2018 (%) 33

Hình 2.10 Bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên vùng biển đảo Quan Lạn 37

Hình 3 1 Biểu đồ thông số DO trong nước biển ven bờ vùng biển đảo

Quan Lạn 45

Hình 3 2 Biểu đồ thông số PH trong nước biển ven bờ vùng biển đảo

Quan Lạn 45

Hình 3 3 Biểu đồ thông số DO trong mẫu nước khu vực NTTS

huyện Vân Đồn 46

Hình 3 4 Biểu đồ thông số PH trong mẫu nước khu vực NTTS

huyện Vân Đồn 47

Hình 3.5 Biểu đồ thông số TSP, Lceq trong môi trường không khí tại đảo

Quan Lạn 49

Hình 3 6 Biểu đồ thông số DO, pH trong môi trường nước tại đảo Quan Lạn 52

Hình 3 7 Ảnh phân bố RNM tại đảo Quan Lạn 54

Hình 3 8 Khu vực phân bố RNM khu vực Quan lạn 55

Hình 3 9 Cây ngập mặn được trồng hoàn nguyên cạnh tuyến đê bao đảo

Quan Lạn 55

Hình 3.10 Bản đồ định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn 74

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

SDHL TN và BVMT Sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ

môi trường

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiếtcủa đề tài

Vấn đề phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững khu vực biển đảo nói riêng từ lâu đã được các quốc gia trên thế giới chú trọng Tài nguyên biển đảo với các giá trị to lớn về phát triển du lịch, khai thác nguồn lợi hải sản, giao thông trao đổi quốc tế, Ô nhiễm tại các vùng biển đảo không chỉ gây suy giảm tài nguyên, ảnh hưởng tới kinh tế đất nước và đời sống của người dân vùng ven biển một quốc gia mà còn có tính chất lan truyền đa quốc gia, đặc biệt tại các vùng biên giới và vùng biển quốc tế Ý thức được vấn đề này, Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách về quản lý tài nguyên môi trường biển và hải đảo, đồng thời chung tay với bạn bè quốc tế trong bảo vệ môi trường, phát triển bền vững biển đảo Cácđề án "Hợp tác quốc tế về biển đến năm 2020" ngày 13-6-2008 của Thủ tướng Chính phủ và "Thực hiện Tuyên bố chung và Chương trình khung giữa Việt Nam, Cam-pu-chia, Thái-lan về hợp tác sẵn sàng ứng phó sự cố tràn dầu vùng vịnh Thái-lan" là những minh chứng cụ thể về những nỗ lực của Việt Nam Với 28/63 tỉnh thành giáp biển, bảo vệ môi trường biển- đảo có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong phát triển bền vững của mỗi địa phương cũng như cả nước

Là một tỉnh nằm ở phía đông bắc của Tổ quốc, Quảng Ninh có một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, là một tỉnh hội tụ được nhiều yếu tố lợi thế để phát triển kinh

tế của tỉnh và đầu tầu phát triển kinh tế của cả nước Đây cũng là tỉnh luôn thực hiện quan điểm nhất quán của Đảng: Phát triển kinh tế phải gắn với phát triển văn hoá và bảo vệ môi trường sinh thái, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển Vân Đồn là một huyện đảo của tỉnh Quảng Ninh có vị trí địa lý đặc biệt, thuận lợi cho phát triển kinh tế biển như du lịch, nuôi trồng và đánh bắt thủy - hải sản Những năm gần đây, Vân Đồn đã được Đảng, Nhà nước và tỉnh Quảng Ninh quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông, mạng lưới điện quốc gia, thông tin liên lạc, cung cấp nước ngọt… đến tận các xã trên huyện đảo Các lĩnh vực khác như việc bố trí lại dân cư, phát triển không gian cũng được chú trọng Theo đó,

sự phát triển KT-XH của huyện có bước chuyển biến mạnh mẽ

Quan Lạn là xã đảo của huyện Vân Đồn được thiên nhiên ưu đãi, nổi bật với các bãi tắm tự nhiên hoang sơ trong xanh và nguồn lợi hải sản phong phú Hằng năm,

du lịch xã đảo đón hàng chục nghìn lượt khách đến tham quan, nghỉ dưỡng Nơi đây còn là một trong những ngư trường lớn,thuỷ sản đã và đang là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện đảo.Tuy nhiên việc khai thác những thế mạnh trên của Quan Lạn cũng gâyáplực đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường, làm phát sinh tình trạng ô nhiễm vượt qua khả năng tự làm sạch môi trường, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường làm thay đổi cảnh quan tự nhiên Tình trạng này phá vỡ cấu trúc bền vững của Quan Lạn, ô nhiễm môi trường khiến các nguồn lợi ngày càng suy giảm và ảnh hưởng xấu tới phát triển kinh tế Hàng ngày, chất thải sinh hoạt, lượng thức ăn dư thừa từ các lồng

bè nuôi cá và rác thải từ các dịch vụ du lịch, từ tàu khai thác thuỷ sản xả trực tiếp ra

Trang 12

môi trường mà chưa qua xử lý Nguy cơ ô nhiễm môi trường là rất lớn nếu số rác thải này không được thu gom và xử lý kịp thời Chính vì vậy phát triển kinh tế, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên đi đôi với bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn trở thành yêu cầu cơ bản trong chính sách, chiến lược theo định hướng phát triển bền vững của huyện Vân Đồn nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung

Để khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn có hiệu quả thì cần thiết phải có một đề tài nghiên cứu khoa học tạo cơ sở cho định hướng phát triển bền vững.Đồng thời định hướng phát triển tại đây cần phù hợp với chủ trương chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ “nâu” sang “xanh” của tỉnh Quảng Ninh

Chính vì những lý do trên, học viên chọn đề tài: “ Cơ sở địa lý cho định hướng bảo vệ

môi trường vùng biển đảo Quan Lạn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh” nhằm nắm

được thông tin cơ bản và đưa ra được định hướng bảo vệ môi trường phù hợp cho Quan Lạn

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu:

Xác định đặđiểm, sự phân hóa không gian của điều kiện địa lý, hiện trạng môi trường và đề xuấtđịnh hướng sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường cho các tiểu vùng khu vựcbiển đảo Quan Lạn thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

2.2 Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài;

- Phân tích điều kiện địa lý, và xác định sự phân hóa không gian khu vực nghiên cứu;

- Tổng hợp hiện trạng môi trường, công tác quản lý môi trường;

- Đề xuất định hướng và giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệmôi trường theo các tiểu vùngđịa lý;

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian- thời gian:

Địa điểm nghiên cứu: Khu vực đảo Quan Lạn và vùng biển xung quanh đảo thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Các tài liệu và số liệu thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2010-2019

Phạm vi khoa học:

Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung sau:

- Hiện trạng và diễn biến môi trường vùng biển đảo Quan Lạn thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh;

- Thực trạng công tác quản lý môi trường tại khu vực nghiên cứu;

- Đề xuất các giải pháp thích hợp và định hướng bảo vệ môi trường cho khu

vực nghiên cứu

Trang 13

4 Cơ sở dữ liệu

Đề tài được thực hiện dựa trên nguồn cơ sở dữ liệu phong phú, đa dạng bao gồm:

- Các văn bản pháp quy của cơ quan quản lý nhà nước các cấp về đề tài và khu vực nghiên cứu: Số liệu thống kê, các báo cáo kinh tế- xã hội thường niên và giai đoạn,

- Các công trình nghiên cứu liên quan: Đề tài, đề án nghiên cứu về tài nguyên

và quy hoạch kinh tế- xã hội trong khu vực;

- Kết quả điều tra, khảo sát của học viên trong quá trình thực hiện đề tài

- Nguồn dữ liệu bản đồ địa hình, địa chất- địa mạo, bản đồ địa chính, bản đồ

hiện trạng sử dụng đất huyện Vân Đồn và tỉnh Quảng Ninh

5 Kết quả và ý nghĩa của đề tài

Đề tài nghiên cứu đạt được những kết quả sau:

- Phân tích cụ thể các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cũng như các giá trị nổi bật của đảo Quan Lạn

- Thông qua hiện trạng môi trường đánh giá diễn biến xu thế biến đổi môi trường vùng biển Quan Lạn và ảnh hưởng tới các hoạt động kinh tế- xã hội trong vùng

- Đề xuất giải pháp, định hướng bảo vệ môi trường khu vực Quan Lạn

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Kết quả đề tài là công trình nghiên cứu tổng hợp về cơ sởđịa lý cho quản lý tài

nguyên và môi trường biển đầu tiên cho vùng biển đảo Quan Lạn; phương pháp luận cũng như phương pháp nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng cho các khu vực biển đảo khác có điều kiện tự nhiên, xã hội tương tự ở Việt Nam

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các luận cứ khoa học cho Ban Quản

lý vịnh Hạ Long, Sở Tài nguyên và Môi trường và Uỷ ban nhân dân các huyện Vân Đồn trong việc quản lý và bảo vệ môi trường

Đồng thời đây cũng là cơ sở để giúp quản lý khai thác hợp lý các giá trị của vịnh Bái Tử Long cho phát triển kinh tế nhưng vẫn duy trì được các điều kiện môi trường cần thiết cho mục tiêu phát triển bền vững

6 Cấu trúc luận văn

- Chương 3: Định hướng tổ chức không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo

vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CẬN ĐỊA LÝ TỔNG HỢP TRONG

TỔ CHỨC KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI

TRƯỜNG VÙNG BIỂN ĐẢO QUAN LẠN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái quát các công trình nghiên cứu theo hướng địa lý tổng hợp

Trên thế giới, hướng nghiên cứu sử dụng lãnh thổ trên quan điểm tổng hợp đã xuất hiện từ rất lâu Quốc gia lớn nhất châu Á là Trung Quốc đã sáng tạo và áp dụng

thuyết Thiên- Địa- Nhân vào mọi hoạt động kinh tế- xã hội- văn hóa, chú trọng thiên nhân hợp nhất, tôn trọng thiên nhiên Đạo giáo của họ cho rằng“Phù Đạo giả, thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự”, sự hài hòa và thống nhất của thiên nhiên,

các quy luật tự nhiên và con người cần được áp dụng trong mọi hoạt động Thế kỉ XVII- XVIII là thời kì tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ, các thành tựu khoa học lớn ra đời, nghiên cứu Địa lý trong thời kì này không chỉ xuất hiện những bước tiến mới mà còn chứng minh được vai trò quan trọng của mình trong nghiên cứu, khai thác lãnh thổ, tài nguyên phục vụ sản xuất Đến cuối thế kỉ XIX, xu hướng nghiên cứu địa

lý tổng hợp chính thức xuất hiện và trở thành một trường phái lớn trong Địa lý học Nhà thổ nhưỡng học Nga V.V Docutraev (1846-1903) là người mở đầu cho hướng nghiên cứu này,ông sử dụng nguyên tắc tổng hợp để nghiên cứu các điều kiện tự nhiên

của các địa phương cụ thể Ông cho rằng “Tôn trọng và nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên một cách thống nhất, toàn vẹn và không chia cắt, chứ không phải tách rời chúng

ra thành từng phần” Sau đó, các nhà địa lý Xô Viết (cũ) và sau này là Nga, Ba Lan,

Bungari đã hoàn thiện lý luận và ứng dụng nó vào thực tiễn, cụ thể là Shisenkô P.G,

1988, Địa lý tự nhiên ứng dụng và Ixtraenkô, 1991, Cảnh quan học ứng dụng Các công trình này đề cập đến việc xem xét một cách tổng hợp và toàn diện từ tự nhiên đến môi trường, từ kinh tế đến xã hội Tác giả người Mỹ James K.Lain (Đại học Ohio, năm 2003) với cuốn Integrated Environment Planning đề cập đến quy hoạch môi trường tổng hợp theo quan điểm địa lý học Trên thực tế, con người sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ sự phát triển kinh tế- xã hội trong một môi trường Địa lý cố định, lớn nhất chính là toàn cầu, nhỏ hơn ở phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ Các yếu tố trong

đó luôn ảnh hưởng và quy định lẫn nhau, từ đó ảnh hưởng tới môi trường xung quanh.Hiện nay, các nghiên cứu về quy hoạch môi trường hay bảo vệ môi trường đều

sử dụng quan điểm tổng hợp này

Tại Việt Nam, tiếp cận tổng hợp ngày càng trở thành hướng nghiên cứu quan trọng cả trong lý luận và thực tiễn Trong thời đại phát triển bền vững, hướng nghiên cứu này phát huy được ưu thế đánh giá tổng hợp, cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Trước thế kỉ XX, địa lý Việt Nam có khuynh hướng nghiên cứu địa

lý bộ phận với ưu điểm dễ thực hiện; địa lý tổng hợp kém phát triển, ít công trình nghiên cứu, kinh tế xã hội cũng ít được quan tâm Các tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Cao Huần, Vũ Tự Lập là những người tiên phong trong hướng nghiên cứu này với các công trình nghiên cứu cảnh quan, sử dụng hợp lý tài nguyên- môi trường,

Trang 15

lý thuyết cảnh quan ứng dụng Vũ Tự Lập với “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” xuất bản năm 1976 trình bày các phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu

tổng hợp trong nghiên cứu cảnh quan Tính logic của nó đã khiến quan điểm địa lý tổng hợp qua công trình này được đề cao và tin cậy bởi các nhà khoa học Công trình

“Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp tài nguyên thiên nhiên,bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” năm 1997 của ba tác giả Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng,

Nguyễn Ngọc Khánh đã trình bày những biến đổi của tự nhiên do con người tác động, đồng thời đưa ra các giải pháp sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường.Ngày càng nhiều công trình khoa học được triển khai dưới quan điểm địa lý tổng hợp, đóng góp lớn lao trong việc nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất cũng như quy hoạch lãnh thổ, bảo vệ môi trường[4]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về tỉnh Quảng Ninh và khu vực biển đảo Vân Đồn, đảo Quan Lạn

Tỉnh Quảng Ninh có vai trò rất quan trọng trong kinh tế cả nước, đồng thời cũng là vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều giá trị tài nguyên độc đáo, điển hình là vùng than và vịnh karst ngập nước Hạ Long, vịnh Bái Tử Long… Chính vì vậy, các cấp bộ ngành và các nhà khoa học thường xuyên thực hiện những đánh giá, nghiên cứu về môi trường, tài nguyên, kinh tế…Những nghiên cứu bước đầu được thực hiện từ những năm 1975, ngay sau khi đất nước thống nhất Đó là những nghiên cứu về khí hậu Việt Nam của Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc [22] Các đặc điểm khí hậu Quảng Ninh được phân tích từ số liệu quan trắc khí hậu- thủy, hải văn trạm Hồng Gai, Bãi Cháy, Cô Tô Sau đó là các nghiên cứu thiết lập các bản đồ địa chất- địa mạo

và tài nguyên khoáng sản như: Bản đồ địa chất Việt Nam (Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao; 1981-1985), Bản đồ địa chất Hòn Gai- Móng Cái (Nguyễn Công Lượng; 1976-1979), Lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long (Nguyễn Đức Thạnh, 2002)… Bên cạnh

đó, các nghiên cứu về hệ sinh thái trong khu vực cũng được triển khai, điển hình là

“Điều tra nghiên cứu các hệ sinh thái thực vật thành phố Hạ Long và vùng phụ cận” của Vũ Quang Côn và nnk (1990) hay “Khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 50 đảo ven bờ Bắc Bộ Việt Nam” của Uông Đình Khanh và nnk (2013)

Nghiên cứu theo hướng địa lý tổng hợp cần thiết cho khu vực cũng đã xuất hiện

từ lâu Các cấp bộ ngành đã xây dựng được các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-

xã hội từng thời kì, thay đổi phù hợp với hiện trạng và xu hướng phát triển trong tương lai Năm 2014, Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và ngoài 2050 do Công ty Nikken Sekkei Civil Engineering LTD tư vấn lập quy hoạch đã được phê duyệt theo Quyết định số 1588/QĐ-UBND là một nghiên cứu tổng thể lớn của vùng đã chỉ ra những hướng đi cụ thể cho kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Ninh Tại Vân Đồn, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội của huyện tới năm 2020, tầm nhìn 2030 do UBND huyện thành lập cũng trong năm này đã nghiên cứu điều kiện tự nhiên- tài nguyên thiên nhiên và thực trạng kinh tế xã hội của huyện

để đưa ra những phương án phát triển phù hợp[28]

Trang 16

Theo sự phát triển của kinh tế và khoa học, vấn đề môi trường dần được chú trọng Các nghiên cứu về môi trường tại khu vực cũng xuất hiện như: Các giải pháp công nghệ phòng chống ô nhiễm môi trường do khai thác than ở vùng than Quảng Ninh (Đặng Văn Bát và nnk, 1999), Thực trạng công nghệ khai thác tại các mỏ than Quảng Ninh và giải pháp nhằm giảm tổn thất tài nguyên và sự cố môi trường (Lê Như Hùng và nnk, 2002)… Những năm gần đây, các đánh giá về môi trường tại Quảng Ninh tiếp tục góp mặt trong các dự án lớn: Dự án kiểm soát ô nhiểm môi trường biển

do các hoạt động kinh tế- xã hội vùng biển Quảng Ninh- Hải Phòng, Đà Nẵng- Quảng Nam, Bà Rịa Vũng Tàu- Thành phố Hồ Chí Minh được Cục điều tra và kiểm soát tài nguyên- môi trường biển thực hiện năm 2013, nhằm nêu ra hiện trạng ô nhiễm và biện pháp kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường vùng này Năm 2014, Công ty TNHH Nippon Koei thực hiện Quy hoạch môi trường tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn 2030 cũng đã chỉ ra thực trạng và các giải pháp cho vấn đề ô nhiễm vùng biển Quảng Ninh, Vân Đồn Những nghiên cứu chi tiết ở quy mô diện tích nhỏ cũng xuất

hiện như “Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”- Luận

văn Thạc sĩ của Đặng Thị Việt Hương năm 2012 cho 2 xã Minh Châu và Quan Lạn trên đảo Quan Lạn

Vấn đề quản lý nhà nước về môi trường tại Quảng Ninh cũng được cụ thể hóa,

không còn là các biện pháp chung chung Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển ven bờ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của Hà Văn Hòa (2015) là một công trình tiêu biểu.Luận án chỉ ra rằng quản lý nhà nước“chưa đáp ứng được so với thực tiễn tăng trưởng kinh tế hiện nay”; quy hoạch bảo vệ môi trường “chưa bảo đảm tính khách quan, bảo đảm lợi ích chung do sự chi phối của lợi ích cục bộ địa phương hay lợi ích nhóm”; vấn đề quản lý tổng hợp thì “chưa có một cơ quan có thẩm quyền

đủ mạnh để thống nhất điều hành quản lý”; xuất hiện hiện tượng “nhờn luật”; “thiếu

cơ chế quản lý đa ngành” Những định hướng đã biến thành hành động thực tế mang lại nhiều kết quả tốt: Năm 2016, Đề án “Nâng cao công tác quản lý đô thị trên địa bàn khu đô thị Cái Rồng và công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện giai đoạn 2017-2020” của UBND huyện Vân Đồn, trong đó quản lý chất thải rắn được chú trọng

xử lý, mang lại cảnh quan “xanh- sạch- đẹp” cho các địa phương

1.2 Tiếp cận địa lý tổng hợp trong quy hoạch không gian sử dụng hợp lý tài

nguyên vàbảo vệ môi trường

1.2.1 Cơ sở khoa học về môi trường và bảo vệ môi trường

Luật Bảo vệ môi trường 2015 định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người

và sinh vật” Môi trường địa lý trong Đại bách khoa toàn thư Xô Viết lại có nội dung:“Môi trường địa lý là một bộ phận tự nhiên của bề mặt Trái Đất bao quanh xã hội loài người và bị thay đổi bởi con người ở các mức độ khác nhau và xã hội ở một thời

Trang 17

điểm nhất định có quan hệ trực tiếp với bộ phận đó trong đời sống xã hội và sản xuất của mình”[15]

Môi trường mà học viên sẽ phân tích và định hướng bảo vệ tại vùng biển đảo Quan Lạn thuộc môi trường tự nhiên dưới sự tác động của hoạt động kinh tế - xã hội

Và môi trường tự nhiên với những chức năng của mình chính là nguồn sống của con người, nguồn vật chất để phát triển kinh tế- xã hội Môi trường tự nhiên có các chức năng sau: 1, Là không gian sống của con người và các thể sinh vật 2, Là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và các hoạt động KT- XH của con người 3, Là nơi chứa đựng và chuyển hóa các chất thải do con người tạo ra trong hoạt động đời sống

và KT-XH của mình 4, Là nơi điều hòa môi trường, giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên đối với con người và sinh vật 5, Là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người về môi trường sống Trong đó, chức năng thứ 3- nơi chứa đựng và chuyển hóa các chất thải của con người là chức năng được nghiên cứu chính trong luận văn Khi lượng chất thải của con người xả thải vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường, chất lượng môi trường sẽ suy giảm, môi trường có thể bị ô nhiễm

Môi trường bao gồm các thành phần, “là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác” Với môi trường tự nhiên tại Quan Lạn, các thành phần chính được nghiên cứu

gồm: Môi trường nước (nước mặt, nước ngầm trên đảo và nước biển), môi trường không khí, môi trường sinh vật Dưới tác động của các hoạt động xả thải, chúng đang dần bị biến đổi, suy thoái, trong tương lai sẽ gây nhiều tác hại cho đời sống và sản xuất của người dân trong vùng và khách du lịch

Ô nhiễm môi trường theo định nghĩa của Luật bảo vệ môi trường 2015 có

nghĩa là “ sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” Trong đó tiêu chuẩn môi trường là “là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công

bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường”[10] Ở mức độ nhẹ,

khi các chất gây ô nhiễm chưa làm biến đổi các thành phần môi trường ở cấp độ lớn thì xảy ra hiện tượng suy thoái môi trường- sự suy giảm các thành phần môi trường về chất lượng và số lượng, như sự giảm thiểu các loài sinh vật biển, hạ thấp mực nước ngầm… Các hiện tượng này diễn ra khi có chất gây ô nhiễm (chất hóa học, các yếu tố vật lý, sinh học…) xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho phép hoặc xảy ra các sự cố môi trường gây biến đổi môi trường nghiêm trọng Các ví dụ cụ thể cho trường hợp này là việc công ty Formosa Hà Tĩnh xả thải trực tiếp các chất gây ô nhiễm

ra biển khiến các sinh vật biển chết hàng loạt tại Việt Nam năm 2016, hay các hoạt động rửa tàu đánh cá, hiện tượng tràn dầu… Các hiện tượng này có thể do con người hoặc tự nhiên gây ra, và chủ yếu là do hoạt động kinh tế của con người Tại Quan Lạn, con người cũng chính là tác nhân chính gây ra các suy thoái về môi trường

Trang 18

Trước những ảnh hưởng nghiêm trọng của vấn đề ô nhiễm môi trường trong hiện tại và tương lai, cần phải có các biện pháp bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên

môi trường hợp lý Luật Bảo vệ môi trường 2015 quy định: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân” Do vậy,

cần phải có một hệ thống quản lý môi trường hợp lý để có những mục tiêu, việc làm

thống nhất GS Lê Quý An cho rằng: Quản lý môi trường là “bằng mọi biện pháp thích hợp tác động và điều chỉnh các hoạt động của con người nhằm làm hài hoà các mối quan hệ giữa phát triển và môi trường sao cho vừa thoả mãn nhu cầu của con người vừa đảm bảo được chất lượng của môi trường và không quá khả năng chịu đựng của hành tinh chúng ta”

Trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, để có thể phát triển theo định hướng bền vững, sử dụng hiệu quả các lợi thế và nguồn lực quốc gia, vùng lãnh thổ, cần thiết phải có các Quy hoạch phát triển kinh tế- xã hôi Thủ tướng Phan Văn Khải trong chỉ thị 32/1998/CT-TTg khẳng định: “Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội là bản luận chứng khoa học về phát triển tổ chức không gian hợp lý và có tính khả thi” Các quy

hoạch kinh tế- xã hội không thể bỏ qua Quy hoạch Bảo vệ môi trường “việc phân vùng môi trường để bảo tồn, phát triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhằm bảo đảm phát triển bền vững” [6]

Môi trường có tính chất đặc biệt, không thể phân tách theo ranh giới hành chính, bảo vệ môi trường không phải là việc riêng của bất cứ quốc gia, vùng lãnh thổ nào Trong thời kì phát triển bền vững"sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (WCED) trở thành chiến lược phát triển toàn cầu thế kỉ XXI, bảo

vệ môi trường là việc làm cấp thiết của con người trên toàn thế giới Quan Lạn hiện nay đang là khu vực được quy hoạch phát triển du lịch biển- một ngành kinh tế phụ thuộc nhiều vào sự trong sạch của môi trường và cần phải đưa bảo vệ môi trường thành nhu cầu cấp bách lâu dài

1.2.2 Tiếp cận địa lý tổng hợp trong quy hoạch không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường

Tiếp cận địa lý tổng hợp hay địa lý học là hướng đi vô cùng phù hợp cho các nghiên cứu liên quan đến phân vùng không gian như trong các quy hoạch kinh tế- xã hội- môi trường, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Theo Hoàng Lưu Thu

Thủy, “Tiếp cận địa lý học trong nghiên cứu môi trường chính là cách tiếp cận đánh giá tổng hợp các thể tổng hợp tự nhiên hoặc các CQST nhằm xác định được mối quan

hệ và sự biến đổi của các thành phần tự nhiên, các tính chất môi trường của lãnh thổ với hoạt động của con người trong quá trình khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên của lãnh thổ đó” [21] Quá trình phát triển kinh tế- xã hội là sự vận hành của một hệ

thống: Dựa vào nguồn lực tài nguyên- môi trường và xã hội để sản xuất ra hàng hóa- dịch vụ cung cấp cho xã hội phát triển, đồng thời các chất thải được để lại cho môi

Trang 19

trường và tiếp tục vòng phát triển “ Địa lý học là một hệ thống các khoa học tự nhiên

và xã hội nghiên cứu các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên và sản xuất và các thành phần của chúng”- Lê Bá Thảo (1983), do vậy, nghiên cứu hiện trạng và định hướng bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn cần thiết phải đi theo hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp

Để nghiên cứu về môi trường Quan Lạn, chúng ta phải “dựa vào các điều kiện địa lý và xem xét chúng trong một thể thống nhất và toàn diện trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội” Mọi yếu tố thuộc kinh tế- xã hội, thậm chí trong chính môi trường tự nhiên đều có thể tác động tới môi trường theo cả 2 hướng tiêu cực hoặc tích cực Con người xả thải ra môi trường, khai thác từ môi trường khiến môi trường suy giảm tài nguyên,ô nhiễm, và chính con người cũng là tác nhân khiến môi trường trở nên trong sạch, an toàn bằng các biện pháp của mình Các thảm họa tự nhiên cũng sẽ khiến chính nó ô nhiễm, như các vụ động đất, phun trào núi lửa Các hoạt động trong nghiên cứu địa lý tổng hợp đều cần mang tính tổng hợp, bao quát và bền vững Tính không gian, thời gian trong nghiên cứu địa lý tổng hợp không thể tách rời nhau, và các đối tượng mà nó nghiên cứu đều nằm trong một không gian cụ thể, có mối liên hệ chặt chẽ với không gian đó, biến đổi theo thời gian với các chu kỳ tự nhiên và đồng thời với sự tác động của con người Và việc nghiên cứu “phải phản ánh rõ sự phân bố không gian ở các đối tượng”

Bảo vệ môi trường là một hoạt động lâu dài Các yếu tố ô nhiễm trong môi trường ở thời điểm hiện tại cần có thời gian để khắc phục, đồng thời trong thời gian đó những đe dọa ô nhiễm khác cần được hạn chế Việc khai thác tài nguyên từ môi trường cũng cần phải hợp lý, tránh tình trạng khai thác cạn kiệt hoặc suy giảm những tài nguyên quan trọng Điều này sẽ khiến các thành phần trong một môi trường bị thay đổi, mất cân bằng và gây ra những thay đổi xấu Những sự thay đổi này thường diễn ra

từ từ, những dấu hiệu ban đầu thường mờ nhạt khiến con người dễ dàng bỏ qua nó Và chính sự hệ thống của môi trường địa lý, những thay đổi xấu này sẽ tác động tới con người, cho tới khi toàn bộ hệ thống thay đổi, con người có thể không còn sinh sống được ở đơn vị lãnh thổ này, mà sự biến mất dần của biển hồ Aral là một ví dụ Quan Lạn cần có những biện pháp bảo vệ môi trường ngay từ lúc này, khi sự phát triển kinh tế- xã hội chưa tác động quá lớn tới môi trường, để đảm bảo cho hệ thống kinh tế- xã hội- môi trường được vận hành một cách bền vững

1.2.3.Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường biểnđảo

Vùng biển đảo là nơi giàu tài nguyên thiên nhiên, trong đó tài nguyên cảnh quan địa mạo và tài nguyên sinh vật là nổi trội Các tài nguyên địa mạo điển hình là bãi biển, cảnh quan địa mạo ven bờ biển Vùng biển đảo ở vịnh Bắc Bộ còn phân bố dạng tài nguyên địa mạo có giá trị là cảnh quan karst, gồm cả karst trên mặt và hang động karst

Trang 20

Tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học là nết nổi trội về nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội vùng biển đảo Các hệ sinh thái biển đảo quan trọng là hệ sinh thái bãi triều, bãi biển, hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển

Bảo vệ môi trường một cách hiệu quả cần gắn liền với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên là cách thức sử dụng vừa đáp ứng được nhu cầu cần sử dụng tài nguyên của xã hội hiện tại vừa đảm bảo duy trì lâu dài nguồn tài nguyên cho các thế

hệ tương lai

Như vậy, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên trước hết phải là việc khai thác,

sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên phải phù hợp với chức năng, khả năng cung cấp đa dạng tài nguyên của các đơn vị lãnh thổ đồng thời phải đảm bảo sức tái tạo, khả năng phục hồi của tự nhiên, hạn chế các tai biến thiên nhiên, cải thiện và duy trì lâu dài chất lượng môi trường

Cơ sở khoa học cho sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên gắn với bảo vệ môi trường vùng biển đảo là xác định được sự phân hóa của điều kiện địa lý tự nhiên Cơ

sở địa lý trong sử dụng hợp lý TNTN và BVMT là tiếp cận, đánh giá các đối tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội theo hướng đánh giá tổng hợp và đặc thù không gian Các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã chỉ ra rằng, việc xác lập cơ sở địa lý cho sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, BVMT là rất phù hợp và hiệu quả Bởi để nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, BVMT trước hết phải dựa vào các điều kiện địa lý (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, thực vật ) và xem xét chúng trong một thể tổng hợp tự nhiên Từ đó tìm hiểu

và xác định được các tiềm năng tự nhiên để có hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế xã hội

Thể tổng hợp tự nhiên được tạo thành bởi các quy luật phân hóa của các yếu tố

tự nhiên trong quá trình trao đổi chất và năng lượng Các thể tổng hợp tự nhiên chứa đựng những chức năng riêng tạo nên một hệ thống chức năng tổng hợp có mối quan hệ tương đối chặt chẽ giữa tự nhiên và kinh tế, xã hội và môi trường Như vậy, tiếp cận địa lý học trong việc SDHL TN, BVMT là cách tiếp cận, đánh giá tổng hợp các thể tổng hợp tự nhiên nhằm xác định các mối quan hệ và sự biến đổi của các thành phần tự nhiên, các tính chất môi trường của lãnh thổ với hoạt động của con người trong quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên

Trong nghiên cứu địa lý, đánh giá tổng hợp các thể tổng hợp tự nhiên là phương pháp chủ đạo nhằm xác định các mối quan hệ và những tác động tương hỗ giữa các yếu tố và thành phần tự nhiên trong thể tổng hợp đó cũng như giữa các thể tổng hợp với nhau Nhận diện và đánh giá một cách đầy đủ bản chất tự nhiên, chức năng kinh tế của các thể tổng hợp tự nhiên sẽ góp phần đưa ra định hướng lâu dài cho việc SDHL

TN và BVMT

Trang 21

Hiện có nhiều cách tiếp cận xác định các thể tổng hợp tự nhiên, trong luận văn này, thể tổng hợp tự nhiêncác đơn vị địa lý tự nhiên được phân loại trên cơ sở sự đồng nhất về nền tảng rắn (nền vật chất), địa hình, chế độ động lực, đặc trưng sinh vật và hệ sinh thái

Như vậy, mỗi kiểu dạng địa lý khác nhau sẽ có những dạng tài nguyên thiên nhiên đặc trưng, chịu tác động khác nhau của điều kiện tự nhiên và có khả năng tự cân bằng khác nhau Định hướng sử dụng hợp lý các không gia tự nhiên các dạng tài nguyên thiên nhiên này là tiếp cận quan trọng nhất của bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững

1.3 Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu

Quan điểm địa lý tổng hợp

Nghiên cứu kinh tế- xã hội- môi trường trên bất cứ lãnh thổ nào đều cần thiết phải được tiến hành một cách toàn diện, đầy đủ, trong đó các yếu tố cấu thành bao gồm điều kiện tự nhiên, tài nguyên, đặc điểm kinh tế- xã hội- môi trường là những yếu

tố không thể bỏ qua Do sự khác nhau về mặt không gian, những yếu tố trên tại hai vùng lãnh thổ khác nhau là khác nhau, không thể đánh đồng, những sai khác tại các khu vực tương đồng dù rất nhỏ cũng cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng Con người dựa trên những đặc điểm của tự nhiên các lãnh thổ này mà phát triển, tạo nên sự khác biệt về văn hóa- xã hội, điển hình là hình thức sử dụng lương thực tại các khu vực ôn đới là lúa mì, khu vực nhiệt đới là lúa gạo Nghiên cứu lãnh thổ dựa trên quan điểm địa

lý tổng hợp sẽ khiến người nghiên cứu nắm bắt được những đặc điểm riêng biệt của các vùng lãnh thổ, từ đó đưa ra biện pháp- định hướng phù hợp, giải quyết tốt mối quan hệ trái ngược giữa lợi ích kinh tế và an toàn môi trường

Tại Quan Lạn, học viên nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và các hoạt động kinh tế- xã hội, sự biến động của sinh thái cảnh quan theo các nhân tố tự nhiên và nhân tạo, từ đó nắm bắt được thực trạng và xu hướng biến đổi của môi trường Bản thân các yếu tố môi trường không chỉ chịu tác động từ kinh tế- xã hội trong khu vực

mà còn có các yếu tố tự nhiên và sự lan tỏa ô nhiễm từ những khu vực lân cận thông qua không khí, dòng chảy Nhìn nhận vấn đề đa chiều và tổng hợp sẽ đưa ra những kết quả chính xác, không phiến diện và thiên vị về một phía Các biện pháp và định hướng thích hợp được đưa ra trên cơ sở đảm bảo sự phát triển kinh tế mà không gây

những tác động tiêu cực tới môi trường

Quan điểm hệ thống

Khu vực lãnh thổ Quan Lạn trong đề tài dưới cái nhìn của quan điểm này sẽ trở thành một hệ thống hoàn chỉnh Hệ thống này là một thể tổng hợp của tự nhiên và xã hội Các yếu tố tự nhiên bao gồm: Địa chất, địa hình, khí hậu, thổ nhưỡng, hệ thống thủy văn, các hệ sinh thái Các yếu tố xã hội bao gồm: Dân cư và xã hội, sự phát triển

Trang 22

kinh tế hiện tại (nông- lâm- ngư nghiệp, công nghiệp- xây dựng, dịch vụ- du lịch ), định hướng phát triển kinh tế- xã hội (quy hoạch) Hệ thống này có mối liên hệ với các vùng lãnh thổ lân cận, được đặt trong những hệ thống lớn hơn như huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Các mối liên hệ nội vùng và liên vùng cũng là một trong những điều cần được nghiên cứu cụ thể

Qua sự phân tích hệ thống trên, hiện trạng và xu hướng thay đổi của khu vực sẽ trở nên rõ ràng và toàn diện Các giới hạn phát triển về môi trường cần được thiết lập, đảm bảo kinh tế phát triển hiệu quả nhưng không gây ảnh hưởng xấu tới môi trường, hay cần thiết phải làm mối quan hệ kinh tế- môi trường hài hòa mới có thể hướng tới phát triển bền vững Phát triển bền vững giúp hệ thống vận hành một cách thuận lợi, lâu dài, mang lại những lợi ích tốt đẹp trong hiện tại và tương lai xa hơn

Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển bền vững hiện nay đang trở thành mục tiêu của mọi quốc gia và vùng lãnh thổ Sự phát triển không chỉ cho hôm nay mà còn cho mai sau đảm bảo xã hội loài người sẽ có đủ tài nguyên và một môi trường tốt để liên tục phát triển, giảm bớt những

lo lắng về suy thoái kinh tế- xã hội trong tương lai Tuy nhiên, làm được việc này không hề dễ dàng Tài nguyên cần được tiết kiệm và nâng cao mức độ sử dụng, tái chế, đồng thời tìm ra những nguồn tài nguyên mới Môi trường cũng cần được giữ gìn

và làm sạch Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng lớn mạnh, những yêu cầu trên cần được đầu tư nghiên cứu để có thể nhanh chóng tiết kiệm tài nguyên- bảo vệ môi trường

Tại Quan Lạn, nền kinh tế đang phát triển và chưa có nhiều thành tựu sẽ sử dụng rất nhiều tài nguyên, đồng thời tác động mạnh tới môi trường Phát triển không

có định hướng rõ ràng hay không có sự quản lý chặt chẽ đều sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng Đề tài phân tích sự phát triển này dựa trên quan điểm phát triển bền vững, xác lập định hướng, biện pháp sử dụng môi trường một cách hợp lý, tránh những hậu quả lớn do kinh tế gây ra cho môi trường, bên cạnh đó cần đảm bảo hiệu quả của nền kinh tế, nâng cao mức sống người dân

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu cũng như nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích cụ thể như sau:

Phương pháp phân tích và tổng hợp:

Phân tích và tổng hợp tài liệu các công trình nghiên cứu trước đó, kết nối các thông tin để làm sáng tỏ những nội dung nghiên cứu Việc tổng hợp chỉ được thực hiện trên những phân tích khoa học đối với những tài liệu có nguồn trích dẫn đáng tin cậy, các số liệu khảo sát thực tế về KT-XH ảnh hưởng đến chất lượng môi trường vùng biển đảo Quan Lạn

Trang 23

Phương pháp khảo sát thực địa:

Trong thời gian thực hiện nghiên cứu, học viên thực hiện khảo sát tổng hợp để điều tra chung về các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường tại khu vực nghiên cứu đặc trưng như: Khu vực nuôi trồng thuỷ hải sản, khu vực khai thác cát, khu vực phát triển dịch vụ du lịch, khu vực phát triển giao thông cảng biển, khu vực bảo tồn, các khu dân

cư ven biển Tiến hành khảo sát tổng hợp từ điều kiện tự nhiên, KT-XH và các vấn đề môi trường đặc thù

Phương pháp thống kê, dự báo:

Trong quá trình nghiên cứu việc xử lý hệ thống số liệu theo phương pháp thống

kê sẽ được thực hiện trên cơ sở sử dụng bảng tính Excel và phần mềm thống kê SPSS Việc thống kê kết quả từ việc thu thập tài liệu và khảo sát thực tế sẽ tìm ra những kết quả phản ánh thực tiễn trung thực nhất Những kết quả thống kê được sử dụng làm cơ

sở để phân tích, đánh giá, luận giải qua đó làm rõ hơn hệ thống lý thuyết căn bản và thực tế tại địa phương Dựa vào những kết quả này, phương pháp dự báo ngoại suy được sử dụng để đưa ra những nhận định khách quan về xu thế phát triển của lý thuyết, thực tiễn, cũng như dự báo những vấn đề thực tiễn có thể phát sinh để có giải pháp xử

lý cho phù hợp

Phương pháp chuyên gia:

Trong quá trình nghiên cứu cần phải có những cuộc trao đổi, phóng vấn các chuyên gia giúp đỡ trong việc chỉ dẫn phân tích, so sánh … các tài liệu đã thu được Các chuyên gia, nhà khoa học thuộc Đại học Khoa học tự nhiên; Viện Tài nguyên và Môi trường biển, những người có chuyên môn và kinh nghiệm của Sở TN&MT Quảng Ninh, Ban Quản lý vịnh Hạ Long Bên cạnh đó, các chuyên gia sẽ là đối tượng học viên tham khảo ý kiến trong định hướng và tìm ra các biện pháp bảo vệ môi trường tại Quan Lạn

Phương pháp bản đồ và GIS :

Đây là phương pháp quan trọng được áp dụng để thể hiện các kết quả nghiên cứu một cách khái quát dưới dạng sơ đồ, bản đồ Trong luận văn này, tác giả đã sử dụng phần mềm Mapinfo 10.5 để xây dựng các bản đồ như: Bản đồ địa mạo khu vực đảo Quan Lạn, Bản đồ phân vùng địa lý tự nhiên vùng biển đảo Quan Lạn, đồ định hướng không gian sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn

Trang 24

1.3.3 Quy trình nghiên cứu

Hình 1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Tiểu kết chương 1

Chương 1 đã đưa ra được hệ thống cơ sở lý luận cho hướng tiếp cận địa lý tổng hợp trong nghiên cứu đề tài Việc tổng hợp các công trình nghiên cứu về khu vực nghiên cứu cũng đưa ra cái nhìn khái quát, tổng thể về Quan Lạn trong mối quan hệ với huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh Nhờ đó, các hướng đi trong thực hiện đề tài được xác lập một cách hệ thống, khoa học, học viên có thể dễ dàng hiểu biết các thông tin về khu vực, từ đó làm cơ sở cho các định hướng tiếp theo

và cảnh quan vùng biển đảo Quan Lạn

Định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế

và bảo vệ môi trường vùng biển đảo Quan Lạn

Hình 1.1 Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Trang 25

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

VÙNG BIỂN ĐẢO QUAN LẠN 2.1 Vị trí của vùng biển đảo Quan Lạn trong chiến lược phát triển kinh tế và

bảo vệ môi trường

Khu vực biển đảo Quan Lạn chính thức có tên trên bản đồ Việt Nam từ những

năm 1149 dưới thời vua Lý Anh Tông dưới cái tên Vân Đồn, cũng là thương cảng sầm

uất tấp nập nhất cả nước đến những năm 1400 Đi cùng những thăng trầm của lịch sử,

Vân Đồn và Quan Lạn đã chứng kiến nhiều sự kiện liên quan tới sự hưng vong của các

triều đại phong kiến: Là nơi tiêu diệt đoàn thuyền xâm lược của quân Mông Nguyên

lần thứ 3 vào năm 1288 dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư mà hiện nay trên đảo còn

đền thờ ông cùng 3 vị tướng họ Phạm Từ thế kỉ XV- XVII, các triều đại phong kiến

Lê Sơ, nhà Mạc, nhà Nguyễn , nơi đây không được coi trọng, sầm uất được thay thế

bằng sự lụi tàn Đến đầu thế kỉ XIX, người Pháp đã xây dựng ngọn hải đăng Quan

Lạn, cũng bắt đầu khôi phục sự phát triển của hòn đảo này Trong công cuộc xây dựng

đất nước, phát triển kinh tế thời hiện đại, Quan Lạn và Vân Đồn là một trong những

khu vực được chú trọng đầu tư Nhà nước đang quy hoạch Vân Đồn và Quan Lạn trở

thành đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt Việc xây dựng sân bay quốc tế Vân Đồn

trong khu vực sẽ góp phần lớn vào việc thúc đẩy kinh tế Vân Đồn và Quan Lạn ngày

càng phát triển

Hình 2.1 Vị trí vùng biển đảo Quan Lạn trên vùng biển đông bắc Quảng Ninh

Vùng biển đảo Quan Lạn có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế

biển Đảo có tọa độ địa lý 20º53’04” vĩ Bắc, 107º30’42” kinh đông, thuộc tuyến đảo

Vân Hải, huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, trên đường trung chuyển chiến lược

nối liền Đông Á và Đông Nam Á thuộc vùng biển gần bờ phía đông bắc tổ quốc Đảo

Trang 26

gồm 2 xã Minh Châu và Quan Lạn với 5 thôn và một phần diện tích rừng thuộc VQG Bái Tử Long Quan Lạn nằm rất gần Trung Quốc- nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới đang phát triển mạnh mẽ, đồng thời cũng là thị trường khách quốc tế chủ yếu của du lịch tỉnh Quảng Ninh Bên cạnh đó, Quan Lạn còn là nơi có khả năng tiếp cận dễ dàng với

hệ thống giao thông quốc gia- quốc tế: Nằm gần khu vực cảng hàng không quốc tế Vân Đồn đang được xây dựng và hoàn thiện, cảng biển Hòn Nét- Con Ong hay cao tốc

Hà Nội- Hải Phòng- Hạ Long- Vân Đồn- Móng Cái Những ưu thế này tạo cho Quan Lạn rất nhiều thuận lợi trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội

Do nằm trong khu vực địa lý quan trọng- địa đầu biển đảo của Tổ Quốc, Quan Lạn mang ý nghĩa quan trọng trong bảo vệ môi trường biển đảo Việt Nam Vào mùa đông, dòng biển trên vùng biển nước ta chảy theo hướng Đông Bắc, từ khu vực Đông Bắc, trong đó có Quan Lạn xuống vùng biển, ven bờ phía Nam Vào mùa hạ, dòng biển chảy theo hướng Tây Nam từ Quan Lạn lên khu vực Móng Cái Những ảnh hưởng môi trường cũng theo các dòng biển và sự lan tỏa của nước từ Quan Lạn- Vân Đồn ảnh hưởng tới các khu vực khác Khi sự cố về môi trường xảy ra, các yếu tố ranh giới quốc gia, vùng miền sẽ không còn ý nghĩa, ảnh hưởng xấu không chỉ tới vùng xuất hiện ô nhiễm mà còn lan tỏa tới các khu vực khác Hiện nay, Quan Lạn được đánh giá là khu vực tự nhiên chưa chịu nhiều tác động xấu bởi các hoạt động kinh tế

và con người, là điểm đến lý tưởng của các du khách yêu thích sự hoang sơ, nguyên bản của thiên nhiên Trong tương lai, khi các hoạt động kinh tế tại đây trở nên nhộn nhịp, vùng biển đảo Quan Lạn cần được giữ gìn, bảo vệ nghiêm ngặt để không trở thành một khu vực ô nhiễm, gây tác động xấu tới các khu vực khác

2.2 Đặcđiểmđiều kiện tự nhiên

2.2.1 Đặc điểm địa chất

Quan Lạn được hình thành trong giai đoạn Cổ kiến tạo cách đây khoảng 542 triệu năm, thời kì hình thành đại bộ phận lãnh thổ đất nước.Trong giai đoạn này, thềm lục địa được mở rộng, đặc biệt là khu vực miền Bắc với thềm lục địa rộng, nông, đồng thời vận động kiến tạo Hecxini và Caledoni nâng cao địa hình, tạo nên các dãy núi hình cánh cung khu vực phía Bắc và các bể trầm tích than antraxit tại Quảng Ninh Do cường độ nâng không đồng đều,Quan Lạn và Vân Đồn nằm tại điểm cuối của khu vực chịu ảnh hưởng nâng cao địa hình nên chưa được tách rời hẳn với biển Đông mà được tạo thành những quần đảo ven bờ với các eo biển nông, hẹp ngăn cách giữa các đảo

Đá vôi trên đảo có tuổi Devon- tuổi phổ biến của đá vôi Việt Nam, thuộc hệ tầng Sông Cầu với các trầm tích lục nguyên Ngoài đá vôi, đảo còn được cấu tạo bởi các trầm tích bở rời Đệ Tứ- đảo đất [10] Chính vì vậy nên thổ nhưỡng và sinh vật trên đảo khác biệt so với đảo đá vôi thuộc hệ sinh thái Hạ Long, phong phú và đa dạng hơn rất nhiều

Khu vực nghiên cứu phân bố 3 thành tạo đá gốc trước Kainozoi (hình 2.2) gồm:

1 Hệ tầng Sông Cầu (D1sc) được chia làm hai phần như sau: i) Phần dưới:

cuội kết hỗn tạp, cát kết xen bột kết màu tím, nâu vàng; ii) Phần trên: bột kết xen cát bột kết, sạn kết thạch anh silic, cát kết thạch anh, cát kết dạng quarzit và trên cùng là

đá phiến sét vôi màu xám đen

Trang 27

2 Hệ tầng Dưỡng Động (D1-2dđ): Thành phần trầm tích của hệ tầng gồm 4 tập:

i) Tập 1: cát kết dạng quarzit; ii) Tập 2: cát kết xen bột kết màu xám; iii) Tập 3: cát kết thạch anh phân lớp dày; iv) Tập 4: bột kết màu xám; Chiều dày 100-1.300m

Hình 2.2 Các thành tạo địa chất vùng Quan Lạn (Theo Bản đồ địa chất tỷ lệ

1:200.000, Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam)

3 Hệ tầng Bản Páp (D2bp): Nằm rìa phía bắc khu vực nghiên cứu, gồm chủ

yếu là đá vôi, từ dưới lên gồm: i) Phần dưới: đá vôi phân lớp mỏng màu xám tái kết tinh; ii) Phần giữa: đá vôi phân lớp trung bình màu xám tái kết tinh có chứa san hô; iii) Phần trên: đá vôi phân lớp trung bình đến dày màu xám nhạt, tái kết tinh yếu

Các trầm tích Đệ tứ phân bố rất rộng trong vùng nghiên cứu cả trên bờ lẫn dưới đáy biển với thành phần và nguồn gốc rất khác nhau, nhưng đều dưới dạng chưa gắn kết Do đó, độ bền vững không cao, rất dễ bị bào mòn, di chuyển và tái trầm đọng tùy thuộc vào kích thước, hình dạng và tỷ trọng

Đặc điểm trầm tích tầng mặt vùng biển đảo Quan Lạn

Tổng hợp kết quả nghiên cứu trầm tích tầng mặt vùng biển đảo Quan Lạn cho thấy tồn tại 4 trường trầm tích cát sạn, cát, cát bùn và bùn cát Trong đó trầm tích bùn cát và cát bùn chiếm diện tích chủ yếu trên đáy vịnh

Trang 28

Các trường trầm tích cát, cát sạn, cát lẫn sạn phân bố ở một số khu vực bãi triều ven bờ vịnh là những bãi cát sạch và đẹp có tiềm năng làm bãi tắm phục vụ du lịch.Các trường trầm tích hạt thô ở xa bờ hơn có thể khai thác làm vật liệu san lấp, đặc biệt là san lấp các bãi biển du lịch bị xói lở mạnh trong khu vực

Nhìn chung, vùng biển đảo Quan Lạn được cấu tạo chủ yếu bởi trầm tích hạt mịn (cát bùn, bùn cát, bùn) Đây là các trầm tích có khả năng tích lũy độc tố cao, ảnh hưởng đến chất lượng môi trường trầm tích biển

2.2.2 Đặc điểm địa mạo

Đảo Quan Lạn là một hòn đảo hình củ lạc, kéo dài theo hướng Đông Bắc- Tây Nam với diện tích đảo Quan Lạn là 24,142 km2 (nếu lấy theo mực triều trung bình) và 18,884km2(theo mực triều cao nhất) và được xếp vào đảo trung bình ( xếp theo độ lớn diện tích của các đảo)- đảo trung bình theo phân loại của Uông Đình Khanh [6]cùng với các đảo trong tuyến Vân Hải tạo thành tấm bình phong ngăn gió ngăn sóng tại khu vực biển Đông Bắc của cả nước Đảo có địa hình cao ở phía đông, độ chia cắt khá lớn với 8 đỉnh núi đá vôi nối tiếp từ chân dãy Vân Đồn tới núi Gót, cao từ 200-300m Thềm lục địa khu vực phía đông, đông bắc rộng, hình thành nhiều bãi cát thoải, nông, điển hình là các bãi tắm Sơn Hào, Quan Lạn, Minh Châu Khu vực phía đông nam, nam và tây ít thoải hơn, nước sâu, cũng là nơi lặng gió cho tàu thuyền neo đậu với những bến Cái Làng, Cống Cái, Cái Cổng, Con Quy thời xưa Dưới lớp sình lầy do thời gian bồi đắp, các mảnh sành, mảnh sứ niên đại gần 1000 năm vẫn còn nằm lại tại các bến thuyền này

2.2.2.1.Đặc điểm độ sâu đáy biển vùng biển đảo Quan Lạn

Địa hình đáy biển vùng biển đảo Quan Lạn và lân cận rất phức tạp, do sự tồn tại của nhiều đảo lớn nhỏ chia cắt Đáy biển vùng nghiên cứu có thể chia ra hai khu vực như sau:

- Khu vực phía Tây Bắc đảo Quan Lạn đáy biển vùng này khá phức tạp do có nhiều núi đá vôi lớn nhỏ trong vùng Địa hình đáy biển bị cắt xẻ bởi nhiều rãnh sâu nhất là xung quanh các đảo nhiều chỗ độ sâu đạt tới 15-20m Mỗi hòn đảo lớn nhỏ các đường đẳng sâu đều ôm lấy đảo vì vậy tạo cho địa hình đáy biển vùng này thêm phức tạp bởi sự cục bộ địa hình Do địa hình có nhiều rãnh sâu nên trong vùng tạo ra nhiều luồng lạch tạo điều kiện cho ngành hàng hải phát triến mạnh

- Vùng biển phía Đông Nam đảo Quan Lạn Đây là vùng địa hình đáy biển có độ dốc nhỏ và thoải không phức tạp như vùng biển phía Tây Bắc đảo Quan Lạn Các đường đẳng sâu chạy đều nhau và đều có phương Đông Bắc - Tây Nam Trong vùng biển này có thể phân thành hai khu vực:

+ Đới 0-5m nước: độ sâu thay đổi nhanh hơn, đường đẳng sâu thường ôm sát lấy đường bờ đảo

Trang 29

+ Đới 5-20m nước: đáy biển thoải đều về phía đông nam, địa hình ít biến động Qua đócho thấy, đặc điểm địa hình đáy biển vịnh cũng như khu vực lân cận rất phức tạp Sở dĩ do sự tồn tại của nhiều đảo lớn nhỏ chia cắt Nhìn chung, vùng biển đảo Quan Lạncó độ sâu không lớn: độ sâu thay đổi từ 0-20m nước, phần trung tâm có

độ sâu khoảng 4-6m

2.2.2.2 Đặc điểm địa mạo vùng biển đảo Quan Lạn

* Trên cơ sở nguyên tắc hình thái-nguồn gốc-động lực kết hợp với trầm tích đã phân chia được các đơn vị địa mạo cho vùng biển đảo Quan Lạn như sau: gồm 12 đơn

vị địa hình, địa mạo khác nhau(hình 2.3), trong đó:

- Phần lục địa dọc theo đường bờ và các đảo có 4 đơn vị (độ cao từ 0 mét trở lên): đồi - núi bóc mòn - xâm thực ven biển và đảo, đồi núi bóc mòn - hòa tan trên đá vôi

- Phần đáy biển ven bờ có 8 đơn vị: bãi biển mài mòn - tích tụ do tác động của sóng, bãi biển tích tụ do tác động của thủy triều, đồng bằng tích tụ - xâm thực hiện đại

do tác động của dòng triều

- Hầu hết các đơn vị địa mạo đều được hình thành và phát triển trong kỷ Đệ tứ Với phức hệ các thềm biển, có thể thấy rằng trong Đệ tứ đã xảy ra các lần biển tiến và biển lùi Có thể thấy biển tiến sau băng hà lần cuối và sau đó là biển lùi đã tạo nên bộ mặt địa hình dải ven biển và đáy biển hiện nay

- Động lực phát triển địa hình trong giai đoạn hiện nay đều do các nhân tố tự nhiên và nhân sinh Thủy triều là nhân tố động lực tự nhiên chiếm ưu thế, còn dòng sông, sóng, dòng chảy biển giữa vai trò thứ yếu Các tác động của con người trong những năm gần đây mang lại sự thay đổi rõ rệt về kinh tế-xã hội, nhưng đều gây ảnh hưởng không tốt đến địa hình và các quá trình địa mạo cũng như đối với các điều kiện

tự nhiên khác trong vùng

Trang 30

Hình 2.3 Bản đồ địa mạo khu vực đảo Quan Lạn

Trang 31

450 nên mặc dù quá trình bóc mòn lộ cấu trúc địa chất, song không tạo địa hình đơn nghiêng

2 Sườn xâm thực rửa trôi

Dạng địa hình này phát triển trên Núi Cù Lao Mang ở phía tây bắc đảo Quan Lạn Núi có các đỉnh cao khoảng 100m, sườn thoải, cấu tạo bởi các đá trầm tích lục nguyên hệ tầng Dưỡng Động Quá trình hiện tại chủ yếu là xâm thực của các dòng chảy tạm thời, thường xuyên và rửa trôi bề mặt trên sườn thoải

1.2 Địa hình nguồn gốc biển

3 Thềm tích tụ cát biển cao 3-10m, Holocen giữa

Thềm cát biển là dạng địa hình chính phân bố trên đảo Quan Lạn Thực chất có thể có hai bậc thềm khác nhau Bậc thềm thứ nhất có độ cao từ 8 – 12m, bề mặt tương đối phẳng, bị phân cắt bởi các máng trũng thoải Cấu tạo nên bậc thềm này là cát thạch anh hạt nhỏ đến trung, phần dưới có màu vàng nâu, vàng dỉ sắt, phần trên là cát thạch

anh trắng tinh khiết (hình 2.4)

Hình 2.4: Thềm biển cao 6 – 10m cấu tạo bởi cát trắng tại Minh Châu

(ảnh Đặng Văn Bào) Bậc thấp có độ cao khoảng 3-6m, đôi nơi có dạng gò đụn Cấu tạo nên bậc thềm này là cát thạch anh trắng Cát trắng được khai thác trên thành tạo này

Các bậc thềm cát biển chính là nơi định cư lâu đời của người dân Quan Lạn – Minh Châu

Trang 32

4 Bãi biển và đụn cát tuổi Holocen muộn

Bãi biển phân bố ở bờ phía đông đảo Quan Lạn, trên các cung bờ lõm, được hình thành chủ yếu do hoạt động của sóng Các bãi biển thoải, song hầu hết có diện tích hẹp Tại nhiều bãi biển giáp các khối núi sót còn phân bố các nền mài mòn trên cát kết, tạo tính đa dạng, tăng hấp dẫn cho bãi biển

Phía trong bãi biển là các đụn cát thấp, chỉ rộng vài chục đến 100m, cấu tạo bởi cát trắng đến xám vàng, trên bản đồ tỷ lệ 1:50.000 khó tách được khỏi bãi biển nên được ghép thành một loại

II Đáy biển ven bờ[14]

2.1 Địa hình trong đới sóng vỗ bờ

5 Bãi triều cao hiện đại do tác động của thủy triều

Đây là đơn vị địa mạo rất phổ biến trong vùng nghiên cứu, phân bố ở phía tây đảo Quan Lạn Độ cao của bề mặt này đa số trong khoảng 0,5 mét trên mực nước triều trung bình Thành phần vật chất cấu tạo nên nó là trầm tích chủ yếu là cát lẫn bùn sét màu xám đen Bề mặt của nó cũng bị chia cắt mạnh bởi các lạch triều dạng cành cây Trên bề mặt của nó hầu hết đều phát triển rừng ngập mặn

Quá trình địa mạo chiếm ưu thế hiện nay là tích tụ do tác động chủ yếu của thủy triều, nhưng cường độ không mạnh, một số nơi đã được con người đắp bờ làm đầm nuôi hải sản Tại một số đoạn, con người lại giúp cho quá trình “tích tụ” phát triển đặc biệt nhanh chóng

6 Bãi triều thấp hiện đại do tác động của thủy triều

Đơn vị địa hình này phân bố ở phần ngập nước phía ngoài đơn vị địa mạo số 5, phân bố ở phía tây bắc Quan Lạn, chỉ lộ ra các diện tích nhỏ vào thời kỳ triều kiệt Bề mặt của nó rất bằng phẳng và gần nằm ngang Chiều rộng của nó cũng phụ thuộc vào lượng vật chất do sông mang ra và tích tụ từ vật liệu mài mòn các bờ đá Trầm tích cấu tạo nên bề mặt này chủ yếu là cát hạt mịn lẫn bùi sét

7 Bề mặt mài mòn - tích tụ nghiêng chủ yếu do sóng

Bề mặt địa hình này phân bố ở phần đáy biển ngay sát phía đông đảo Quan Lạn, trong phạm vi độ sâu từ 0-5 mét Bãi có chiều rộng không lớn và nghiêng thoải Trên

bề mặt của nó còn quan sát được vật chất tích tụ là cát và các khối sót do mài mòn

2.2 Địa hình trong đới sóng phá hủy và biến dạng

8 Bề mặt tích tụ - xâm thực chia cắt mạnh do dòng triều chiếm ưu thế

Phân bố ở rìa ngoài phía tây bắc đảo Quan Lạn Nằm giữa các đảo đá trầm tích, địa hình đáy biển có độ sâu trên 5m chịu tác động mạnh của thủy triều Bên cạnh các

bề mặt nghiêng thoải trong các vịnh mở rộng, dòng triều đặc biệt mạnh ở các đoạn vịnh hẹp, tạo nên độ sâu đáy vịnh lớn

Trang 33

9 Bề mặt xâm thực – tích tụ hơi trũng hiện đại do tác động của dòng triều chiếm

ưu thế

Bề mặt này phân bố rất rời rạc trên đáy biển vùng Hải Phòng-Quảng Ninh Chúng thường xuất hiện ở các eo biển, cửa luồng tàu như: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Đối, khu vực Quan Lạn-Thượng Mại, v.v Về mặt độ sâu, tất cả các trũng này đều sâu trên 15 mét, thậm chí tới 30 mét Trong khi ở khu vực Quan Lạn-Thượng Mai, các thành tạo này có dạng ovan, thì ở các khu vực khác chúng có dạng số “8 không cân đối”: phía hướng vào đất liền nhỏ hơn, còn phía hướng ra biển lớn hơn Điều đó cho thấy rằng dòng triều lên yếu hơn so với dòng triều rút Vì vậy khả năng xâm thực-tích

tụ của chúng cũng khác nhau Trầm tích tạo nên các trũng này chủ yếu là cát, sạn thậm chí có thể lộ ra đá gốc như ở Cửa Đối với độ sâu trên 20 mét Điều này được giải thích thông qua băng đo sâu hồi âm Hiện này, xâm thực-tích tụ do dòng triều vẫn là quá trình địa mạo chiếm ưu thế

10 Bề mặt tích tụ nghiêng thoải chủ yếu do tác động của sóng

Đơn vị địa mạo này phân bố thành một khu vực liên tục ở phía ngoài đảo Quan lạn và nằm trong khoảng độ sâu đến 10 mét Về mặt hình thái, bề mặt này được cấu tạo bởi các sóng cát với chiều rộng 5-6 mét, nằm song song với nhau và gần như nằm ngang Trầm tích tạo nên thành tạo địa hình này chủ yếu là cát và cát hạt nhỏ Nguồn vật liệu này có thể do mài mòn từ các đảo đá gốc và xâm thực do dòng triều Một phần khác có thể được dòng chảy gần bờ đưa đến từ phía Đông Bắc Hiện nay, quá trình này tích tụ vẫn đang tiếp tục xảy ra

11 Bề mặt tích tụ hiện đại hơi nghiêng do tác động của sóng – dòng chảy gần đáy

Bề mặt này phân bố trên đáy trong phạm vi độ sâu từ 20 đến trêm 15 mét nước Theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, bề mặt có chiều rộng khoảng 8 km, còn theo chiều Đông Bắc-Tây Nam nó kéo dài đến gần 30 km Bề mặt này có dạng lượn sóng Với đặc điểm địa hình và trầm tích như vậy, nên khu vực này được xếp là bề mặt xâm thực-tích tụ hiện đại do tác động của dòng chảy gần đáy chiếm ưu thế Quá trình địa mạo này vẫn đang tiếp tục xảy ra

2.3 Địa hình trong đới sóng lan truyền

12 Bề mặt tích tụ hiện đại do tác động cảu dòng chảy gần đáy

Bề mặt này phân bố thành một dải liên tục từ đông-bắc đến tây-nam và nằm ở phần ngoài cùng của vùng nghiên cứu trong giới hạn độ sâu từ 20-30 mét nước Chiều rộng của bề mặt này trong phạm vị nghiên cứu đạt khoảng 10 km Bề mặt của nó rất bằng phẳng và chỉ hơi nghiêng (giá trị tgα = 0,0007), hoặc thậm chí gần nằm ngang ở phía đông bắc Trên bề mặt cũng có vài rãnh trũng, nhưng độ sâu chênh nhau chỉ vài mét Toàn bộ bề mặt này đều được cấu tạo bằng trầm tích bùn-cát trong môi trường động lực tương đối yếu Do đó, nó được xếp là bề mặt tích tụ hiện đại do tác động của dòng chảy gần đáy chiếm ưu thế

Trang 34

2.2.3 Hải văn

2.2.3.1 Chế độ sóng vùng biển đảo Quan Lạn

Ở vùng nghiên cứu nhìn chung sóng không lớn, do nhiều đảo che chắn nên sóng nhỏ quanh năm Vùng ngoài khơi sóng đáng kể hơn Sóng trung bình có độ cao khoảng 0.6 - 0.7m tương ứng tại Hòn Dấu và Cô Tô Cần nhấn mạnh rằng, những sóng lớn nhất vừa nêu trên quan sát vào những tháng mùa hè do bão gây nên Các tháng mùa đông, gió mùa đông bắc thường tạo ra sóng lớn ở vùng này, có độ cao khoảng 2.8 -3.0 m

2.2.3.2 Chế độ dòng chảy vùng biển đảo Quan Lạn

Trong Vịnh Bắc Bộ, cả mùa đông và mùa hè đều tồn tại một xoáy thuận có tâm nằm ở khoảng giữa vịnh Mùa đông tâm này dịch xuống phía nam còn về mùa hè thì dịch về phía bắc Như vậy vùng biển nông ven bờ Hải Phòng - Quảng Ninh nói chung, vùng biển đảo Quan Lạn nói riêng thuộc rìa phía tây của hoàn lưu này nên cả mùa đông cũng như mùa hè dòng thường kỳ đều có xu thế đi từ bắc xuống nam Trong vịnh

có nhiều đảo che chắn nên dòng chảy diễn biến rất phức tạp và chủ yếu dòng chảy bị chi phối bởi địa hình Đặc biệt tốc độ dòng chảy rất lớn khi đi qua các eo hẹp, cửa giữa các đảo Tốc độ có thể đạt tới trên dưới 100cm/s cần lưu ý rằng dòng chảy trong các khu vực này chủ yếu quyết định bởi dòng triều, còn dòng chảy do gió ở đây gần như không đáng kể, điều đó khác với khu vực ngoài khơi

2.2.3.3 Chế độ thủy triều vùng biển đảo Quan Lạn

Thủy triều vùng này thuộc chế độ nhật triều thuần nhất, điển hình là Hòn Dấu Hầu hết số ngày trong tháng (trên dưới 25 ngày), mỗi ngày chỉ có một lần nước lên và một lần nước xuống Độ lớn triều vùng này thuộc loại lớn nhất ở nước ta, trung bình khoảng 3 - 4m vào kỳ nước cường Kỳ nước cường thường xảy ra 2 - 3 ngày sau ngày mặt trăng có độ xích vĩ lớn nhất Ớ thời kỳ này, mực nước lên xuống nhanh, có thế tới 0.5m trong một giờ Kỳ nước kém thường xảy ra 2 - 3 ngày sau ngày mặt trăng qua mặt phẳng xích đạo Vào những ngày này mực nước lên xuống chậm, có lúc gần như đứng và trong ngày có hai lần nước lớn, hai lần nước ròng nên những ngày đó còn được gọi là ngày con nước sinh

2.2.4 Khí hậu

Đảo nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với 2 mùa nóng- lạnh đặc trưng của khí hậu miền Bắc Việt Nam Nhiệt độ trung bình năm tại đây đạt trên 20ºC, chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và lạnh nhất từ 8-10ºC

Độ ẩm không khí Quan Lạn lớn, lượng mưa trung bình 2000mm/năm, mưa theo mùa

từ tháng 5- tháng 10 hàng năm Khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt với mùa đông lạnh, khô, gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh và mùa hè nóng, ẩm, gió Đông Nam là chủ

Trang 35

đạo Mùa mưa trùng với mùa hè, cũng là mùa nơi đây chịu tác động mạnh của bão và

áp thấp nhiệt đới trên biển Đông Mùa bão tại đây đến sớm và kết thúc sớm hơn các khu vực phía Nam, chủ yếu xuất hiện vào tháng 6- tháng 9 Trong thời gian này, gió Tây Nam hoạt động trên biển Đông do sức hút của khối áp thấp Bắc Bộ chuyển hướng Đông Nam đi qua đảo là nguyên nhân gây mưa chính

Điều kiện tự nhiên khu vực đã quyết định tính chất của chế độ gió vùng vịnh Quán Lạn Do đặc điểm nằm trong vịnh Bái Tử Long, nên gió ở vịnh Quán Lạn không mạnh cả về mùa đông lẫn mùa hè Tốc độ gió trung bình ở khu vực chỉ khoảng 3.0m/s, trong khi đó ở vùng biển thoáng có ít đảo che chắn từ Cô Tô đến vùng biển Hải Phòng, Thái Bình có tốc độ gió trung bình vào khoảng 4.0 - 5.0m/s Mùa gió đông bắc, vùng ngoài khơi gió có hướng đông bắc chiếm tần suất tới 80%, còn lại là gió hướng đông

và hướng bắc chiếm xấp xỉ 20% (tại trạm Cô Tô) Vùng gần bờ hướng gió phân tán gần đều cho cả 3 hướng, đó là hướng bắc, đông bắc và đông với tổng tần suất trên 90%, còn lại các hướng khác có tần suất không đáng kể Trong mùa đông tốc độ gió từ cấp 5 trở lên ( >8m/s) chiếm tần suất khá lớn, từ 20-25% về mùa gió tây nam, đối với

cả vùng ven bờ và ngoài khơi, hướng gió chiếm ưu thế là hướng nam với tần suất khoảng 40%, sau đó là hướng tây nam và đông nam có tần suất gần bằng nhau và bằng khoảng 20-25% Trong mùa gió tây nam tốc độ gió từ cấp 5 trở lên ( >8m/s) cũng chiếm tần suất khá lớn, nằm trong khoảng từ 15-20%

Đảo Quan Lạn được bao bọc bởi biển Đông, chịu tác động của biển nên khí hậu không xuất hiện những ngày nắng nóng cực đoan như khu vực đất liền, khí hậu mát

mẻ quanh năm Vào mùa hè, Quan Lạn được coi là “thiên đường nghỉ dưỡng” cho khách du lịch với biển xanh, cát trắng, nắng vàng

2.2.5 Sinh vật, thổ nhưỡng

Mặc dù là một hòn đảo đá vôi nhỏ nhưng thổ nhưỡng- sinh vật trên đảo Quan Lạn khá phong phú, dồi dào, đặc biệt là sinh vật Nhắc tới Quan Lạn là nhắc tới địa danh có nguồn sinh vật biển lớn, một bộ phận của Vườn Quốc Gia Bái Tử Long Do là vùng nước trong, lặng gió nên vùng biển Quan Lạn là nơi sinh sống của rất nhiều sinh vật biển có giá trị cao như sá sùng, mực, tôm, ghẹ với chất lượng rất tốt Tài nguyên rừng phát triển trên đất cát khá dồi dào với diện tích rừng lớn, đặc biệt có rừng trâm trên 400 năm tuổi tại xã Minh Châu, một số loài động- thực vật quý hiếm như gỗ mần lái- loài thực vật đặc hữu hay lim, táu, nghiến, khỉ lông vàng, công Sự đa dạng của vật liệu kiến tạo khiến thổ nhưỡng có độ phì lớn, thực vật phong phú hơn các khu vực

đá vôi như Hạ Long Hệ sinh thái trên đảo Quan Lạn có nhiều giá trị trong sinh học,

du lịch, nghiên cứu khoa học

Trang 36

Hình 2.5: Rừng trâm trên thềm cát trắng tại Minh Châu (ảnh Đặng Văn Bào)

2.3 Tài nguyên thiên nhiên và nhân văn

2.3.1 Tài nguyên vị thế

Tài nguyên được xem là những thực thể tồn tại trên Trái đất mà con người sử dụng và khai thác mà chưa quan tâm đến các nguồn tài nguyên tưởng chừng như vô hình khác Tài nguyên vị thế là một trong những loại đó, nó là tổng hợp của các yếu tố khí hậu, thủy văn, hải văn, địa chất và địa lý tạo nên vị thế quan trọng khác biệt của khu vực trong sự phát triển nền kinh tế quốc dân, bảo vệ đất nước Tài nguyên vị thế

có thể là vị trí địa lý, mũi nhô, luồng lạch, khu vực nước sâu có thể xây dựng cảng, bãi biển đẹp, thềm đá, rạn san hô, các vị trí bố trí quân đội bảo vệ bờ biển và biển phục

vụ cho phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng

Vùng biển đảo Quan Lạn là một bộ phận của vịnh Bái Tử Long và nằm gần vịnh Hạ Long một Di sản mỹ học thế giới và một Di sản Địa chất đã được UNESSCO công nhận Đây là điều kiện tốt để vùng biển đảo Quan Lạn phát triển các tiềm năng vốn có của mình phục vụ phát triến kinh tế xã hội

Về an ninh quốc phòng, vịnh với giá trị sử dụng cao và còn cao hơn nữa khi kết hợp với vịnh Hạ Long và khu vực Cát Bà để trở thành một căn cứ chiến lược thuận lợi cho việc triển khai kế hoạch tác chiến của lực lượng Hải quân cũng như xây dựng các căn cứ Hải quân

2.3.2 Tài nguyên đất ngập nước

Theo Công ước Ramsar "ĐNN là những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển, kể cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp" (Ramsar, 1997)

Đất ngập nước ven biển vùng biển đảo Quan Lạn và vùng lân cận có 6 kiểu ĐNNVB với tống diện tích khoảng 24.113 ha Chiếm diện tích lớn là các kiểu: vũng vịnh (Ab) (18.160 ha), bãi cát vùng gian triều (Ea) (4401 ha), rừng ngập mặn (650 ha),

Trang 37

vùng biển ở độ sâu dưới 6 khi triều kiệt (Aa) (583 ha) Các kiểu đất ngập nước còn lại chiếm diện tích nhỏ như bãi cuội sỏi vùng gian triều (231 ha); ao, đầm NTTS mặn, lợ (la) (88 ha) Tài nguyên đất ngập nước ven biển ngoài chức năng, giá trị về phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường còn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế

ở vùng ven vịnh Quan Lạn, đặc biệt trong phát triển nuôi trồng đánh bắt thủy sản, giao thông biển, du lịch

Bảng 2.1 Diện tích các kiểu đất ngập nước khu vực vịnh Quan Lạn và lân cận[13]

Kiểu ĐNN

Diện tích (ha)

Aa Vùng nước biển có độ sâu<6m khi triều kiệt 583

2.3.3 Tài nguyên khoáng sản

Cát thủy tinh: là khoáng sản phi kim loại phổ biến ở vịnh Quan Lạn Mỏ cát thủy tinh Vân Hải vốn rất nổi tiếng với chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu sản xuất thủy tinh cao cấp, được khai thác từ năm 1941, trữ lượng khoảng 5,764 triệu tấn Tại đây, cát tập trung ở hai khu vực: Xóm Chuốc với dải cát dài 2000m và Minh Châu với hai dải cát dài 2200m Các dải cát này có chiều rộng từ 250- 1000m, dày từ 1,5- 7,5m Thành phần khoáng vật chủ yếu là thạch anh, thành phần hóa học có Si02 chiếm đến 98,94%, Fe2O3 = 0,2%, Al2O3 = 0,64%, TiO2 = 0,32%, MgO = 0,19 %, CaO = 0,14% Điểm quặng sắt (Fe) Lộc Dữ ở đảo Thắng Lợi, có nguồn gốc phong hóa, tồn tại dưới dạng deluvi, eluvi trên mặt địa hình khác nhau và phân bố trong hệ tầng Dưỡng Động Điểm quặng này có diện tích hẹp, mật độ thấp, chất lượng không thỏa mãn yêu cầu công nghiệp, ít có triển vọng[13]

Trang 38

Hình 2.6 Cát trắng Minh Châu trên bề mặt thềm biển cao 6-8m (ảnh Đặng Văn Bào)

2.3.4 Cảnh quan thiên nhiên

Bãi biển là cảnh quan thiên nhiên đặc sắc nhất của Quan Lạn Hoạt động địa chất của sóng và thủy triều đã tạo cho vùng biển đảo Quan Lạn nhiều bãi cát trắng, thoải, hoang sơ kết hợp với nước vịnh trong xanh đạt chuẩn làm bãi tắm đẹp như bãi Sơn Hào dài 3 km và bãi Trước Làng dài 2km (đảo Quan Lạn) Thêm vào đó khu vực khá lặng sóng, hoàn lưu nước biển đều đặn, mạnh do nhật triều biên độ cao, kết hợp với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp trên đảo thuận lợi cho các hoạt động du lịch tắm biển, thể thao, nghỉ dưỡng, sinh thái

Hình 2.7: Bãi tắm Ro Bin Sơn trên đảo Quan Lạn (ảnh Đặng Văn Bào)

2.3.5 Tài nguyên sinh vật

2.3.5.1 Đa dạng hệ sinh thái

- Vùng biển đảo Quan Lạn có các HST rừng nhiệt đới, TVNM, HST vùng triều, HST rạn san hô và HST cỏ biển HST rừng nhiệt đới là HST lục địa, có độ phủ rộng trên các đảo của vùng biển đảo Quan Lạn, khá đa dạng và phong phú về thành phần

Trang 39

loài HST RNM nhìn chung kém phát triển, số lượng loài ít, duy nhất có RNM khu vực đảo Ngọc Vừng là phát triển tốt

- Hệ sinh thái vùng triều bao quanh các đảo với diện tích rất khác nhau, chia thành hai tiểu hệ hệ sinh thái bãi triều đá và hệ sinh thái bãi cát Các bãi triều đá là nơi phân bố của của hệ sinh vật vùng triều rạn đá Đáng chú ý những loài đặc sản quí hiếm như ốc Nón, ốc Nhảy, ốc Mắt, ốc Hương Tiểu hệ bãi triều cát bùn phân bố chủ yếu ở khu bãi cao, bột có màu nâu xám, xám đen do nằm trong vùng có TVNM Bãi triều có loại chất đáy này rất phù hợp cho sự phân bố của quần xã đáy mềm Có thể tìm thấy các loài thuộc họ cua Bơi (Portunidae), họ tôm He (Peneidae), tôm Gõ mõ (Alpheidae) hoặc các loài vùng triều vùi mình trong nền đáy như Ngao, Ngán, Vọp, Phi

- Rạn san hô là một dạng đặc thù của vùng biển nhiệt đới và cũng rất điển hình cho các đảo vùng Đông Bắc Việt Nam, khu vực Bái Tử Long đều có các rạn san hô phân bố như: Vạn Cảnh, Ngọc Vừng Sự phân bố và phát triển của chúng bị hạn chế rất lớn bởi độ trong thấp và chịu ảnh hưởng của khối nước từ lục địa đổ ra (nhất là vào mùa mưa) và do vùng biển thường xuyên có sóng gió mạnh Vì vậy trong cấu trúc thành phần loài, san hô dạng khối và bán khối chiếm số lượng chủ yếu, còn san hô cành chỉ có rất ít, chúng ít khi phân bố thành các rạn điển hình mà chủ yếu phân bố rải rác thành các mảng "đốm da báo" và độ phủ thấp chỉ đạt từ 20 - 30 % Sinh vật sống kèm theo vùng rạn khá phong phú bao gồm đại diện của các nhóm rong biển, trai, ốc, cầu gai và hải sâm Đáng chú ý hầu hết các loài động vật vùng rạn đều là các đối tượng kinh tế chủ yếu như cầu gai gai ngắn, Hải sâm đen, Hải sâm trắng, ốc Nón

- Cỏ biển thường phát triển trên nền đáy cát ít bùn, phân bố từ vùng triều đến chân RSH Giống như san hô, cỏ biển cũng phân bố theo kiểu da báo Thành phần loài chủ yếu là cỏ Xoan (Halophylla ovalis) với độ phủ lo - 30 % và sinh khối đạt 30 - 50 g/m2 Loài ĐVĐ điển hình của các thảm cỏ biển là Cerithidea cinguỉata, Cliothona owalaniensis Ngoài ra thảm cỏ biến còn là nơi phân bố của nguồn giống hải sản thuộc tôm, cua, cá Cùng với RSH, thảm TVNM , các thảm cỏ biển góp phần bảo tồn và phát tán nguồn giống ở vùng biển đảo

Trang 40

- Thực vật phù du:

Các kết quả nghiên cứu về cấu trúc thành phần loài TVPD từ Ba Mùn đến Hạ Mai cho thấy số loài TVPD biến đổi từ 147 loài đến 163 loài, ở vịnh Quan Lạn là 152 loài Ưu thế thường thuộc về ngành tảo Silic (Bacillariophyta) chiếm từ 80% - 88% tổng số loài, ngành tảo Giáp (Pyrrophyta) chiếm khoảng l0-12%, ngành tảo Lam (Cyanophyta) có số loài ít nhất chỉ chiếm 1-2% Các chi tảo chiếm ưu thế về số loài cũng như mật độ bao gồm chi: Chaetoceros, Rhizosolenia, Nitzschia, Coscinodiscus, bacteriastrum, Pleurosigma Đặc biệt chi Cheatoceros, Rhiosolenia thường có số loài cao có khi đạt đến 43 loài Sự biến đổi số loài và mật độ TVPD theo các mùa khác nhau

Số loài thực vật phù du trung bình toàn khu vực mùa khô đạt 42 loài/trạm khảo sát, cao hơn so với mùa mưa toàn khu vực này khoảng 1 loài/trạm

Mật độ TVPD tương đối cao, trung bình toàn khu vực đạt từ 31.265 tế bào/lít (các trạm khảo sát tại các đảo nằm xa bờ) đến 47.068 tế bào/l (các trạm thuộc khu vực ven bờ từ Trà cổ đến Hòn Gai), cao hơn từ 31 - 47 lần so với vịnh Bắc Bộ (106 tb/m3 )

và khối lượng trung bình từ 2,118 - 3,387 mg/l, cao hơn khoảng 20 - 30 lần so với vùng khơi vịnh Bắc Bộ (100 mg/m3 )

Chỉ số đa dạng TVPD: vịnh Quan Lạn và Vạn Cảnh - Ngọc Vừng đều có giá trị tổng đa dạng lớn hơn 3,00; trong đó vùng Vạn Cảnh - Ngọc Vừng có chỉ số đa dạng sinh học cao hơn vùng vịnh Quan Lạn

- Động vật phù du:

Khu vực vịnh Quan Lạn mới chỉ phát hiện 47 loài ĐVPD, thuộc 5 ngành và phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào các giống Eucalanus, Oithona, Labiocera, Acartia với số loài từ 6 đến 8 loài/giống; Paracalanus, Sagitta, Corycaeus, Centropages

có 4 loài mỗi giống; các giống còn lại, phần lớn chỉ có 1 loài Các loài ưu thế bao gồm

cả loài đặc trưng cho khối nước ven bờ, có khả năng thích nghi rộng nhiệt, rộng muối như Paracalanus aculeatus, Paracalanus parvus và đặc trưng cho khối nước biển khơi như Undinula vulgaris và Eucalanus subcrasus số loài trung bình mùa mưa đạt 10,5 loài/trạm và mùa khô 8 loài/trạm Kết quả phân tích cho thấy mật độ ĐVPD mùa mưa đạt trung bình 5.255 cá thể/m3 , khối lượng 547 mg/m3, cao nhất 12.510 con/m3 (trạm 163), thấp nhất 1.430 con/m3 (trạm 175) Mùa khô mật độ trung bình thấp hơn chỉ đạt 4.298 cá thể/m3 , khối lượng 257 mg/m3

Chỉ số đa dạng trung bình mùa mưa năm 2000 đạt 2,52 và mùa khô 2,20 thuộc vào mức độ trung bình so với các vùng khác thuộc khu vực các đảo Đông Bắc Việt Nam

- Động vật đáy ĐVĐ là nguồn thức ăn chính của các loài cá sống ở tầng đáy và cũng là nguồn thức ăn của các loài đặc sản như tôm, cua sống đáy Két quả nghiên cứu

đã xác định được trên 800 loài ĐVĐ tại các đảo đông bắc Việt Nam Riêng tại vịnh Quan Lạn là 125 loài Kết quả nghiên cứu cũng đã chứng minh nhóm Thân mềm thường có số loài, mật độ, khối lượng cao nhất; tiếp sau là nhóm giun Nhiều tơ, Giáp xác, Da gai

Ngày đăng: 22/02/2021, 18:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Đặng Thị Ngọc, (2011), Luận văn thạc sĩ khoa học “Cơ sở địa lý cho định hướng bảo vệ môi trường khu vực di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở địa lý cho định hướng bảo vệ môi trường khu vực di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Đặng Thị Ngọc
Năm: 2011
12. Nguyễn Minh Nguyệt, (2014). Luận án Tiến sĩ “Xác lập cơ sở địa lý cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Hà Tĩnh”, Khoa Địa lý-Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác lập cơ sở địa lý cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Minh Nguyệt
Năm: 2014
8. Nguyễn Chu Hồi (2009). Quản lý biển theo không gian -Cách tiếp cận mới ở Việt Nam, http://www.cpv.org.vn Link
1. Ban Quản lý vịnh Hạ Long (2016-2017), Báo cáo hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vực vịnh Hạ Long và Bái Tử Long và vùng phụ cận Khác
2. Ban Quản lý vịnh Hạ Long (năm 2019), Báo cáo hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vực vịnh Hạ Long và Bái Tử Long và vùng phụ cận Khác
3. Bộ Tài Nguyên Môi Trường(2016), Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam Khác
4. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh, (1997). Cở sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Khác
5. Nguyễn Cao Huần &amp; nnk (2007). Quy hoach bảo vê môi trường vùng Hạ Long - Cẩm Phả - Yên Hưng đến năm 2010 và định hướng đến năm2020, Khoa Địa lý – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Khác
6. Nguyễn Cao Huần, 2013. Quy hoạch bảo vệ môi trường, tỉnh quảng Ninh 7. Nguyễn Tiến Hiệp và Ruth kiew (2000). Thực vật tự nhiên ở Vịnh Hạ Long,NXB Tiến Bộ. Hạ Long Khác
9. ICEM (2003). Báo cáo quốc gia của Việt Nam về các khu bảo tồn và Phát triển, NXB Lao động xã hội Khác
10. Uông Đình Khanh và nnk, Khái quát về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 50 đảo ven bờ Bắc Bộ Việt Nam Khác
13. Mai Trọng Nhuận, 2010. Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước mã số KC.09.06/06.10"Điều tra đánh giá tài nguyên môi trường các vũng vịnh trọng diêm ven bờ phục vụ phát triên kinh tê -xã hội và bảo vệ môi trường&#34 Khác
15. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa 13 (2014), Luật Bảo vệ môi trường Khác
16. Phòng tài nguyên môi trường huyện Vân Đồn, Quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Khác
17. Sở Xây dựng Quảng Ninh (2010). Điều chỉnh Quy hoạch cấp nước các đô thịvà khu công nghiệp tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 và định hướngđến năm 2030 Khác
18. Sở Xây Dựng Quảng Ninh, Thuyết minh phát triển đô thị Vân Đồn đến năm 2030 Khác
19. Nguyễn Thị Kim Thái. Nghiên cứu, lập quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Viện Khoa học&amp; Kỹ thuật Môi trường - Đại học Xây dựng Hà Nội Khác
22. Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc (1975). Khí hậu Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Khác
23. Dư Văn Toán (2009). Quy hoạch không gian biển và khả năng ứng dụngtại Việt Nam Khác
24. Tổng cục Địa chất Việt Nam, 2003. Bản đồ địa chất tờ Hạ Long tỷ lệ 1:200.000 25. Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (1999). Các hệ sinhthái san hô và cỏ biển vùng vịnh Hạ Long - Bái Tử Long Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm