Đánh giá công nghệ sản xuất giấy vệ sinh nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Đánh giá công nghệ sản xuất giấy vệ sinh nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Đánh giá công nghệ sản xuất giấy vệ sinh nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1Trường đại học bách khoa hà nội
Trang 2Trường đại học bách khoa hà nội
Trang 3Mở đầu
Chương 1
Phương pháp luận đánh giá công nghệ môi trường 1
1.1.5 Quan hệ giữa EnTA và các công cụ đánh giá quản lý
Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh 14
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quá trình sản xuất
2.1.2 Những đặc điểm của Giấy vệ sinh, tình hình sử dụng và
2.1.3 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ giấy vệ sinh
Trang 42.2.2 Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh từ nguyên liệu giấy
Phân tích đánh giá quan hệ công nghệ – chất thải 41
3.1.3 Đánh giá so sánh định mức năng lượng nguyên liệu
Tài liệu tham khảo
Trang 5Bảng 1.1 So sánh giữa EnTA và các công cụ đánh giá quản lý môi
Bảng 2.3 Dự báo mức tiêu thụ giấy vệ sinh trong một số năm gần đây
của Trung quốc
21
Bảng 3.2 So sánh số lượng thiết bị của hai dây chuyền công nghệ 62 Bảng 3.3 So sánh định mức tiêu hao nguyên liệu giữa VP và WP 63
Bảng 3.7 Các nguồn thải và lượng chất thải của công nghệ VP 69 Bảng 3.8 Các nguồn thải và lượng chất thải của công nghệ WP 69 Bảng 3.9 Bảng so sánh nước thải của hai công nghệ VP và WP
trước và sau xử lý với tiêu chuẩn Việt Nam
Trang 6Hình 1.1 Các thành phần của hệ thống công nghệ có ảnh hưởng tới MT 7
Trang 7để đánh giá và kết thúc khoá đào tạo Cao học Kỹ thuật môi trường tại Trường
Đại học Bách khoa Hà nội
Trước tiên, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với cô giáo hướng dẫn GS.TS Đặng Kim Chi đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong toàn bộ thời gian thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô, các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Hà nội, ngày tháng năm 2006
Học viên thực hiện
Vũ Việt Hà
Trang 8Mở đầu
Chương 1
Phương pháp luận đánh giá công nghệ môi trường 1
1.1.5 Quan hệ giữa EnTA và các công cụ đánh giá quản lý môi
Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh 14
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quá trình sản xuất
2.1.2 Những đặc điểm của Giấy vệ sinh, tình hình sử dụng và
2.1.3 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ giấy vệ sinh tại 22
Trang 92.2.1 Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh từ nguyên liệu bột giấy 25 2.2.2 Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh từ nguyên liệu giấy loại 30
Phân tích đánh giá quan hệ công nghệ – chất thải 41
3.1.3 Đánh giá so sánh định mức năng lượng nguyên liệu
Tài liệu tham khảo
Trang 10Thế kỷ 20 đã sản sinh ra một thời đại công nghệ sôi động nhất từ trước đến nay
Sự tăng trưởng kinh tế như vũ bão cùng những tiến bộ vượt bậc trong công nghiệp
đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người Bên mặt những tích cực
đạt được, ngày nay, con người phải đối mặt những thách thức lớn về vấn đề môi trường hiện tại và trong tương lai
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, những hiểu biết của con người về môi trường ngày càng được hoàn thiện Trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường được nhiều Quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm trong xu thế tiến tới quá trình phát triển bền vững Rất nhiều lĩnh vực liên quan đến môi trường đã
được nghiên cứu, trong đó có vấn đề tìm ra những phương pháp đánh giá nhằm giải quyết được hai mặt công nghệ và môi trường
Việc đánh giá Công nghệ- Môi trường được xem như một công cụ hữu hiệu hỗ trợ phát triển, được sử dụng nhằm các mục đích:
Thứ nhất: Việc đánh giá công nghệ- môi trường cho phép xác định được hiện
trạng khi sử dụng công nghệ đó, từ đó xác định được lộ trình công nghệ phù hợp
đảm bảo về cả công nghệ đồng thời giải quyết được vấn đề môi trường một cách tối ưu nhất, để giành được lợi thế cạnh tranh
Thứ hai: Đánh giá công nghệ- môi trường đối với một công nghệ đang sử dụng
cho phép đưa ra những cải tiến hợp lý, nâng cao năng suất, đảm bảo an toàn lao
động, làm cho quá trình sản xuất bền vững hơn, hiệu quả hơn
Thực hiện hai mục đích trên, quy trình đánh giá công nghệ môi trường thực hiện
cụ thể một số giải pháp tập trung vào việc giảm thiểu chất thải tại nguồn thông qua việc phân tích, đánh giá các nội dung, cải tiến thiết bị và thay đổi công nghệ… Việc thực hiện đánh giá công nghệ môi trường thường được tiến hành đối
Trang 11Sản xuất giấy vệ sinh là một lĩnh vực đang được chú ý đầu tư và phát triển ở Việt Nam trong những năm gần đây Sản xuất giấy vệ sinh cũng đã góp phần giúp ngành công nghiệp giấy và bột giấy của Việt Nam trở thành một ngành quan trọng trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, là một trong những ngành mũi nhọn góp phần xoá đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội vùng sâu vùng xa
Bên cạnh những nhân tố tích cực mà ngành sản xuất giấy vệ sinh mang lại thì vấn
đề ô nhiễm môi trường do sản xuất cũng rất đáng quan tâm Việc sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào của công nghệ sản xuất giấy vệ sinh ở nước ta là từ bột giấy hoặc giấy loại sẽ cho những tác động của quá trình sản xuất giấy vệ sinh đến môi trường là khác nhau
Nhiệm vụ chính của bản Luận văn Thạc sỹ này là Đánh giá quan hệ công nghệ và môi trường và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho công nghệ sản xuất giấy vệ sinh
Mục tiêu nghiên cứu
• Xây dựng phương pháp luận đánh giá công nghệ môi trường, áp dụng thực tế cho điều kiện ở một số ngành công nghiệp tại Việt Nam
• Đánh giá công nghệ sản xuất giấy vệ sinh và trên cơ sở đó xác định các tác động môi trường do công nghệ sản xuất gây ra
• Phân tích đánh giá quan hệ công nghệ và chất thải của các loại hình công nghệ sản xuất giấy và bột giấy
• Phân tích, đánh giá và đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiểm môi trường và sản xuất sạch hơn đồng thời xem xét cơ hội áp dụng các biện pháp này
Trang 12
Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 1
Đánh giá công nghệ – môi trường giúp vạch định chính sách, kế hoạch, ra quyết định cho chính phủ, các tổ chức, cá nhân, các uỷ ban cũng như các nhà
đầu tư tiến tới thống nhất một loại hình công nghệ có vai trò ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời đảm bảo phát triển về mặt kinh tế
1.1.2 Đối tượng áp dụng
Đánh giá công nghệ môi trường được áp dụng đối với các đối tượng sau:
Người ra quyết định và các nhà quản lý công nghiệp: Thực hiện các hành
động bảo vệ môi trường trên một phạm vi rộng hơn nhằm tuân thủ pháp luật
và tránh được các chi phí không cần thiết
Người lập kế hoạch phát triển và các quan chức chính phủ: Nhằm chắc chắn rằng những tác động của việc phát triển công nghệ là cơ bản và thuận lợi nhất Các uỷ ban, các tổ chức phi chính phủ: Nhằm chắc chắn rằng quyền lợi và trách nhiệm của các cá nhân và tập thể khi áp dụng công nghệ mới
Tất cả các cá nhân và các tổ chức với cam kết về phát triển bền vững: Nhằm chắc chắn rằng các tác động môi trường là nhỏ nhất khi công nghệ mới được
Trang 13Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 2
đó
Tính chặt chẽ cao được thể hiện trong đánh giá công nghệ môi trường thông qua việc xem xét đồng thời các điều kiện và yêu cầu của các quá trình kinh tế
kỹ thuật, môi trường Do đó, đánh giá công nghệ môi trường cũng là một yếu
tố giao tiếp nhằm đạt tới sự nhất trí trong việc ra quyết định giữa chủ đầu tư và người thiết kế
Đánh giá công nghệ môi trường quan tâm đến việc ngăn ngừa ô nhiễm và các vấn đề môi trường hơn là giải quyết và khắc phục chúng (giảm thiểu tại nguồn) Hơn thế nữa, đánh giá công nghệ môi trường xem xét ảnh hưởng môi trường của toàn bộ hệ thống công nghệ bao gồm cả việc sử dụng tài nguyên, nguyên liệu, chất thải trong toàn bộ vòng đời sản phẩm
Đánh giá công nghệ môi trường được thực hiên một cách đơn giản hoá - linh hoạt và chất lượng cao với mục đích hướng tới lợi ích của các chủ đầu tư Do vậy, đánh giá công nghệ môi trường còn là một công cụ hiệu quả - được sử
Trang 14Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 3
dụng nhiều trong giai đoạn đầu từ khi hình thành ý tưởng cho dự án, còn sau khi đã triển khai dự án nó thích hợp với việc xác định các tác động môi trường
Đánh giá công nghệ môi trường thể hiện tính chất tổng hợp và toàn diện – chú ý đến toàn bộ chu kỳ vòng đời sản phẩm và việc triển khai trên phạm vi rộng của hệ thống công nghệ
1.1.4 Mục đích của đánh giá công nghệ môi trường
Đánh giá công nghệ môi trường được tiến hành nhằm mô tả công nghệ được xem xét, đề xuất những lựa chọn thay thế có giá trị, mô tả các tác động môi trường (an toàn, sức khoẻ, ô nhiễm môi trường tự nhiên, xã hội….) do công nghệ sản xuất gây ra Từ đó, đưa ra các kết quả về công nghệ, kỹ thuật phù hợp và thân thiện với môi trường nhưng vẫn đảm bảo khả năng kinh tế
1.1.5 Quan hệ giữa EnTA và các công cụ đánh giá quản lý môi trường khác
Đánh giá công nghệ môi trường không đề cập đến việc thay thế các công cụ khác đã được sử dụng trước đây như: đánh giá tác động môi trường (EIA);
đánh giá rủi ro môi trường (EnRA); đánh giá chu kỳ sống (LCA)… mà nó tập trung vào việc xác định và ước tính các tác động trức tiếp và gián tiếp đến môi trường, so sánh và kiểm tra chúng gắn liền với quá trình công nghệ theo suốt chu kỳ sống của sản phẩm
Đánh giá công nghệ - môi trường có thể hỗ trợ các công cụ khác, giúp xác
định mục tiêu đánh giá trước mắt và từ đó hướng tới sự hiểu biết hơn về ảnh hưởng của công nghệ đến môi trường Mặt khác, đánh giá công nghệ - môi trường cung cấp một công cụ hiệu quả để xác định các thuộc tính đặc biệt của công nghệ Nó mô tả rõ ràng việc ứng dụng một cách hiệu quả các bước của quá trình sản xuất sạch hơn (chẳng hạn như ngăn ngừa ô nhiễm và giảm thiểu
sử dụng độc chất) và của các công cụ khác như phân tích chi phí lợi ích hay
đánh giá tác động xã hội
Trang 15Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 4
Bảng 1.1: So sánh giữa EnTA và các công cụ đánh giá quản lý môi trường khác
Đánh giá
rủi ro môi trường (EnRA)
Đánh giá
chu kỳ sống (LCA)
Sản xuất sạch hơn (CP)
động phát triển, cung cấp cơ sở để
ra quyết định
và các định hướng giảm thiểu tác động môi trường
Xác định các nguy cơ rủi
ro môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Ước tính và
so sánh hậu quả môi trường khi xảy ra rủi ro,
đề xuất các giải pháp ngăn ngừa
Xác định phạm vi môi trường gắn liền với sản phẩm, quá
trình hoạt
động của sản phẩm theo suốt chu kỳ sống của nó
Xác định các
ảnh hưởng môi trường từ quá trình sản xuất,
áp dụng các giải pháp phòng ngừa ô nhiễm tại nguồn một cách tổng hợp,
sử dụng hiệu quả nguyên liệu, năng lượng
hệ sinh thái
và sức khoẻ con người
Đánh giá rủi
ro đến môi trường và sức khoẻ cộng
đồng,nguy cơ và xác xuất xảy ra rủi ro, phạm
vi ảnh hưởng
và giải pháp ngăn ngừa
Chỉ ra được
ảnh hưởng
đến an toàn
và sức khoẻ cộng đồng,
ảnh hưởng
đến tài nguyên thiên nhiên và các
hệ sinh thái
Xác định nguồn gốc phát sinh chất thải, ảnh hưởng của nó
đến sức khoẻ cộng đồng, đến môi trường và các giải pháp khắc phục tại nguồn Sử dụng hiệu quả
nguyên liệu, năng lượng
Trang 16Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 5
Người khởi xướng dự án, các nhà đầu tư có liên quan
Người khởi xướng dự án, các nhà đầu tư…
Chủ doanh nghiệp, các nhà
định các tác
động, giảm thiểu tác động
và quan trắc, tư vấn
Xác định các nguy hại,
đánh giá liều lượng và mức độ cũng như các thuộc tính của rủi ro
Kiểm soát chu kỳ sống của nguyên liệu năng lượng, sản phẩm và chất thải
Tiếp cận theo
hệ thống, phân tích đánh giá các công đoạn sản xuất Đề xuất, lựa chọn
và phát triển các cơ hội sản xuất nhằm giảm thiểu chất thải, ngăn ngừa ô nhiễm
đoạn ra quyết
định thực hiện hoặc không thực hiện
Tại mọi thời
điểm khi cần thiết hay có người khởi xướng
Tại mọi thời
điểm khi cần thiết
Tại mọi thời
điểm khi cần thiết hay có người khởi xướng
Không bắt buộc – có thể sử dụng
để đưa ra kết luận khi có yêu cầu của luật pháp
Không bắt buộc – thường sử dụng cho quá trình sản xuất và tiêu thụ
Không bắt buộc – thường sử dụng cho quá trình sản xuất
và tiêu thụ và dịch vụ
Trang 17Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 6
1.2 Trình tự thực hiện đánh giá công nghệ môi trường
Công nghệ không tồn tại một cách riêng biệt mà nó bị tác động bởi quan hệ với môi trường xung quanh Ngược lại, công nghệ cũng có những tác động nhất định đến môi trường xung quanh EnTA là một công cụ nhằm xác định một cách hệ thống mối quan hệ nhân quả giữa công nghệ và môi trường thông qua các tiêu chí như sử dụng tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường, sức khoẻ cộng đồng… Trình tự thực hiện đánh giá công nghệ môi trường được mô tả bằng cụm từ “DICE” – là từ viết tắt chữ cái đầu của các hành động sau:
- Describe: Mô tả công nghệ được đề xuất, các giải pháp giảm thiểu,
ngăn ngừa, thay thế và các yêu cầu của chúng
- Identify: Xác định các áp lực của loại hình công nghệ đến môi trường
- Characterise: Đặc điểm của các tác động môi trường đó như thế nào
- Evaluate: Ước tính toàn bộ hậu quả của các tác động trong một điều
kiện cụ thể
Mỗi một mặt của công nghệ có một tác động đến các khía cạnh khác nhau của môi trường Có những tác động có lợi và có những tác động có hại Đánh giá công nghệ môi trường quân tâm đến hậu quả cuối cùng của các tác động đó Chúng thường là: sức khoẻ và an toàn của con người, ảnh hưởng môi trường tự nhiên của địa phương, quốc gia, khu vực và toàn cầu, các tác động đến văn hoá - xã hội cũng như việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Trang 18Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 7
Hình 1.1: Các thành phần của hệ thống công nghệ có ảnh hưởng tới môi trường
Phương pháp luận về đánh giá công nghệ môi trường do John Hay đề xướng bao gồm 5 bước đánh giá có liên quan chặt chẽ với nhau:
Hình 1.2: Các bước đánh giá công nghệ môi trường
Trang 19Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 8
1.2.1 Chuẩn bị đánh giá công nghệ môi trường
Quá trình chuẩn bị đánh giá công nghệ - môi trường đòi hỏi phải xác định các mục tiêu đánh giá và các biện pháp để đạt được mục tiêu này Ngoài ra, cần phải có được cam kết thực hiện đánh giá của các bên liên quan cũng như việc chuẩn bị tốt về nguồn lực (tài chính, nhân lực, kỹ thuật…) Trong đó cần quan tâm đến hai vấn đề quan trọng nhất đó là:
Vấn đề thứ 1: Xác định mục tiêu đánh giá
Vấn đề quan trọng để bắt đầu quá trình đánh giá công nghệ môi trường là đạt
được sự nhất trí về nội dung đánh giá, các yêu cầu của đánh giá Mục tiêu
đánh giá, khả năng và phương pháp đánh giá phải được minh bạch rõ ràng Việc cụ thể hoá mục tiêu nhằm nâng cao nhận thức về yêu cầu nhiệm vụ có thể hoàn thành, sự nhất trí của tất cả các bên liên quan
+ Các thông tin liên quan đến việc đánh giá
+ Xây dựng kế hoạch đánh giá: Xác định nguồn tài chính, năng lực và
sự đáp ứng về kỹ thuật, công nghệ, thiết bị…
1.2.2 Mô tả công nghệ
Bước này bao gồm việc mô tả công nghệ được đề xuất bằng việc xác định lựa chọn công nghệ, xác định các mục tiêu công nghệ nhằm thoả mãn yêu cầu của các nhà đầu tư Trong giai đoạn này việc tư vấn của các nhà khoa học, các chuyên gia là rất quan trọng Để thực hiện bước này cần phải thu thập được các thông tin chi tiết sau:
- Bản chất và chức năng của công nghệ
- Đặc tính môi trường tự nhiên của khu vực
Trang 20Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 9
- Mục tiêu chính của công nghệ cần đạt được
- Những người có lợi và các nhà đầu tư trong sự can thiệp của công nghệ
- Toàn bộ hoạt động của công nghệ
- Mô tả nguyên liệu và sản phẩm của quá trình, mối quan hệ tương tác giữa công nghệ và môi trường
Kết thúc bước này, nhóm đánh giá phải hiểu được đầy đủ về chu kỳ vòng đời sản phẩm và chất thải bao gồm đầu vào, đầu ra và các yêu cầu khác Những thông tin này cần thiết cho việc xác định các tác động môi trường tiềm ẩn Sự tham vấn của các bên họp tác trong giai đoạn này là rất quan trọng
Giai đoạn này tập trung vào đánh giá những tác động môi trường tiềm ẩn và nhu cầu về tài nguyên mà công nghệ gây ra Yêu cầu chi tiết về các thông tin
sẽ phụ thuộc vào mục tiêu đánh giá và ảnh hưởng đến kết quả của đánh giá Phạm vi đánh giá có thể xác định bằng nhiều cách: có thể theo thời gian, theo không gian, theo vị trí địa lý, theo sự lựa chọn và ứng dụng của công nghệ…
Hoàn thiện bước 1:
+ Xác định bản chất và chức năng của công nghệ: Cung cấp và mô tả được tên công nghệ, các chi tiết về tác dụng và hiệu quả…
+ Xác định và mô tả đặc điểm của công nghệ: Mô tả công nghệ có thể thực hiện theo danh mục, nghĩa là cung cấp thông tin của một công nghệ cụ thể
đang tồn tại hoặc đang được đề xuất, công nghệ trong nước được cải thiện hay công nghệ nhập khẩu (nhằm mục đích xem xét sự phù hợp của công nghệ với
điều kiện địa phương) hoặc là một công nghệ mới được nghiên cứu
+ Mô tả và xác định nguyên liệu và sản phẩm cũng như chất thải đầu ra của công nghệ
+ Mô tả công nghệ một cách logic và có trình tự các chức năng và nhiệm vụ của từng công đoạn Điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc xác định phạm
vi đánh giá và kết quả của đánh giá
Trang 21Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 10
+ Mô tả sơ đồ công nghệ: Công nghệ là sự kết hợp của nhiều thành phần khác nhau Việc mô tả càng chi tiết sơ đồ công nghệ sẽ càng dễ dàng xác định
được mối quan hệ tương tác giữa công nghệ và môi trường Ví dụ: có thể mô tả sơ đồ công nghệ theo cân bằng vật chất, theo dòng năng lượng, theo sản phảm và chất thải …
1.2.3 Xác định các tác động môi trường
Bước này liên qua đến việc xác định nguyên liệu thô, năng lượng, nhân lực, cơ
sở hạ tầng và sự cung cấp các yêu cầu công nghệ Các dòng chất thải, chất thải nguy hại phải được xác định trong giai đoạn này Các tác động môi trường và các nguy cơ tiềm ẩn kết hợp với từng thành phần trong công nghệ cũng phải
được nêu ra một cách rõ tàng Toàn bộ đầu vào, đầu ra của công nghệ được quan tâm theo suốt vòng đời của nó
Hoàn thành bước này yêu cầu phải có các thông tin chi tiết từ công nghệ nhằm xác định các tác động môi trường Cụ thể là từ các nguồn sau:
- Cung cấp nguyên liệu và năng lượng đầu vào, các yêu cầu về sử dụng tài nguyên thiên nhiên
- Sản xuất, lưu giữ, vận chuyển, sử dụng và thải bỏ của các chất thải và chất thải nguy hại
- Yêu cầu về nhân lực
- Yêu cầu về cơ sở hạ tầng
- Yêu cầu về cung cấp công nghệ
Tất cả các vấn đề trên được nhóm đánh giá nắm bắt một cách sâu sắc cả đầu vào, đầu ra cũng như các yêu cầu khác của công nghệ, các ảnh hưởng đến hệ thống môi trường, chất thải công cộng và sức khoẻ con người
Các khía cạnh của công nghệ được xem xét để xác định các áp lực môi trường bao gồm các yếu tố liên quan đến nhu cầu nguyên liệu, năng lượng đầu vào, nguồn nhân lực…, tất cả đều phải được xem xét trong quá trình đánh giá Ví dụ: nguyên liệu đầu vào phải được giảm xuống tối thiểu hay nói cách khác là
Trang 22Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 11
tăng tối đa khả năng sử dụng nguyên liệu đầu vào tạo thành sản phẩm Đối với năng lượng và các nhu cầu khác cũng được xem xét tương tự Các yếu tố đầu
ra không phải là sản phẩm (chất thải) sẽ gây ra những tổn thất về mắt kinh tế, những tác động có hại về mặt môi trường, sức khoẻ con người… Việc đánh giá, xem xét các yếu tố này là quan trọng và cần thiết Ví dụ: Chất thải khi
được thải vào đất, nước, không khí sẽ gây ra ô nhiễm môi trường, phát sinh các chi phí gián tiếp do việc sử dụng không hiệu quả nguyên liệu và năng lượng
Hoàn thành bước 2:
+ Lập được danh mục về nhu cầu nguyên liệu thô, năng lượng của công nghệ
và xác định mối liên hệ của nó tới các hậu quả môi trường
+ Lập được danh mục về chất thải và chất thải nguy hại phát sinh từ công nghệ, xác định các tác động của chúng tới môi trường
+ Lập bảng xác định các hậu quả môi trường gây ra do yêu cầu của công nghệ
về cơ sở hạ tầng
+ Lập danh mục xác định các hậu quả môi trường gây ra do yêu cầu về cung cấp, áp dụng và triển khai công nghệ
+ Xác định các tác động môi trường do yêu cầu về nhân lực
+ Xác định các tác động khác gây ra trực tiếp bởi các khía cạnh của công nghệ
Tất cả những thông tin trên sẽ cung cấp cơ sở cho các đánh giá những tổn hại
do công nghệ gây ra đối với sức khoẻ con người, môi trường tự nhiên khu vực, môi trường toàn cầu, sử dụng tài nguyên bền vững và các tác động đến văn hoá - xã hội
1.2.4 Đánh giá lựa chọn các công nghệ
Bước này dòi hỏi việc đánh giá tập trung vào các phương pháp thay thế để đạt
được cùng một mục tiêu công nghệ Các phương pháp thay thế có thể áp dụng cho toàn bộ công nghệ (thay đổi hoàn toàn công nghệ, ứng dụng công nghệ
Trang 23Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 12
mới) hoặc lựa chọn một vài thay đổi chi tiết của công nghệ nhằm cải thiện các hậu quả môi trường
Việc đánh giá tập trung vào so sánh các đặc trưng công nghệ, thuộc tính của thiết bị, nguyên liệu, sản phẩm, chất thải., đánh giá chúng trong mối quan
hệ với môi trường Cuối cùng là lựa chọn được một công nghệ phù hợp và thân thiện với môi trường hơn
1.2.5 Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp lại toàn bộ các đánh giá trong bước trên - đề xuất và xem xét sự phù hợp của các giải pháp thay thế với nhau và đưa ra được một loại hình công nghệ tổng thể Công nghệ này phải có tính khả thi, có hiệu quả rõ ràng (mục tiêu công nghệ phải đạt được ít nhất là như công nghệ ban đầu) nhưng các tác
động môi trường của công nghệ nay phải được giảm đến mức tối thiểu
Mức độ cụ thể và chi tiết của công nghệ đề xuất phụ thuộc rất nhiều vào cấp
độ đánh giá, trình độ và năng lực hiểu biết của chuyên gia về công nghệ đó Kết thúc bước này sẽ có những đề xuất để công nghệ có thể ứng dụng và triển khai vào thực tế
1.2.6 Hoàn thiện đánh giá công nghệ môi trường
Cần phải đưa ra được các thông tin đầy đủ và chi tiết về:
+ Lợi ích của công nghệ, mục tiêu và yêu cầu công nghệ
+ Thông tin và phương pháp sử dụng trong đánh giá
+ Các lựa chọn thay thế để đạt được mục tiêu
+ Các áp lực môi trường và quan hệ của nó với công nghệ
+ Các tác động môi trường của công nghệ ban đầu và công nghệ thay thế + Khả năng áp dụng công nghệ thay thế để đạt được mục tiêu và quan hệ với các tác động môi trường, hiệu quả kinh tế của các lựa chọn thay thế
+ Đề xuất giới thiệu các đánh gia xa hơn và thực hiện việc áp dụng các công nghệ đề xuất vào thực tế
Trang 24Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 13
1.3 Nhận xét
Đánh giá công nghệ môi trường là phương pháp đánh giá ứng dụng nhằm định hướng lựa chọn công nghệ, xem xét quan hệ của công nghệ với môi trường nhằm giảm thiểu các tác động môi trường và các hậu quả môi trường phát sinh
Trong quá trình đánh giá, việc so sánh giữa các giải pháp đôi khi gặp rất nhiều khó khăn do các tác động tiềm ẩn có thể tương đương hoặc cùng hiệu quả Khi
đó đánh giá theo phương pháp liệt kê tác động không thể đem lại hiệu quả rõ ràng, có thể sử dụng phương pháp cho điểm đối với từng tiêu chí đánh giá để cho việc lựa chọn có hiệu quả hơn
Việc xây dựng tiêu chí và cách cho điểm phụ thuộc vào phạm vi quy mô đánh giá công nghệ và kinh nghiệm của các chuyên gia đánh giá Có thể tham khảo phương pháp ma trận cho điểm của công cụ đánh giá tác động môi trường (EIA) để làm cơ sở: Lựa chọn và xây dựng các tiêu chí: bao gồm tiêu chí 1, tiêu chí 2, tiêu chí 3… và thang điểm cho theo tầm quan trọng hoặc mức độ tác động từ công nghệ của tiêu chí đó (có thể cho điểm từ 1 – 10 điểm hoặc
đánh giá theo mức độ High – Medium - Low) Sau khi lựa chọn được các tiêu chí, có thể gửi bản đánh giá cho các chuyên gia về công nghệ, các nhà đầu tư hoặc thậm chí là các công nhân vận hành có kinh nghiệm để cho điểm Kết quả tổng hợp sẽ cho thấy rõ ràng công nghệ thay thế hoặc phương pháp đề xuất được lựa chọn bằng điểm số Đây chính là cách mà chúng ta lượng hoá
được các tiêu chí đánh giá lựa chọn công nghệ môi trường
Trong phạm vi của Luận văn, sẽ vận dụng các phương pháp luận đánh giá
Trang 25Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 - 2006 14
công nghệ môi trường để đánh giá công nghệ sản xuất Giấy vệ sinh nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường - đề xuất một loại hình công nghệ phù hợp và thân thiện với môi trường với các tiêu chí được lựa chọn để so sánh:
Tiêu chí thứ 1: Đánh giá lựa chọn về kỹ thuật bao gồm khả năng cung cấp
nguyên liệu thân thiện với môi trường, khả năng đầu tư thiết bị cũng như tiêu hao nguyên vật liệu
Tiêu chí thứ 2: Đánh giá lựa chọn về kinh tế, bao gồm tiêu chí về nguồn nhân
lực và hiệu quả kinh tế của từng công nghệ
Tiêu chí thứ 3: Đánh giá so sánh các tác động môi trường
Tiêu chí thứ 4: Đánh giá về khả năng cung cấp và đáp ứng của công nghệ
Với 4 tiêu chí như đã đề ra ở trên, luận văn đưa ra cách so sánh có cho điểm theo thang điểm 1-10 ứng với cấp độ đáp ứng từ thấp đến cao
Trang 26Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 14
Chương 2 Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh
2.1 Tổng quan về sản xuất Giấy vệ sinh
Công nghiệp sản xuất giấy đã có từ nghìn năm trước đây, khi đó giấy được sản xuất thủ công và rất thô sơ nên chất lượng không cao và không phong phú về chủng loại Qua thời gian dài phát triển, ngành giấy đã có những bước tiến lớn cả về công nghệ, thiết bị sản xuất, chất lượng và chủng loại sản phẩm nhằm
đáp ứng nhu cầu và yêu cầu ngày càng cao của con người Đóng góp một phần không nhỏ trong sự phát triển của ngành giấy là lĩnh vực sản xuất giấy vệ sinh
Sản xuất giấy vệ sinh ở các nước đang phát triển tăng đáng kể trong những năm gần đây Với các nền kinh tế phát triển khác nhau, sản xuất giấy vệ sinh lại có sự khác nhau về đặc điểm, quy trình và công nghệ sản xuất Các nước công nghiệp phát triển có công nghệ hiện đại, trình độ tự động hoá cao, áp dụng nhiều phương pháp giảm thiểu và xử lý ô nhiễm nên ít gây ảnh hưởng tới môi trường ở các nước công nghiệp mới, sản xuất giấy vệ sinh có sự kết hợp giữa các dây chuyền sản xuất hiện đại với các thiết bị cũ được hoàn thiện cải tiến
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quá trình sản xuất giấy vệ sinh
Những ghi chép cho thấy việc sản xuất cũng như sử dụng giấy vệ sinh đầu tiên bắt nguồn từ khu vực Châu á Theo một số nghiên cứu thì người Trung Quốc sản xuất và sử dụng giấy vệ sinh đầu tiên từ ngay những thế kỷ thứ 14 Châu
âu cũng đã sử dụng loại giấy này, nhưng muộn hơn là vào quãng thế kỷ 16
Trang 27Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 15
Tuy nhiên, ở quy mô sản xuất công nghiệp thì nhà máy sản xuất giấy vệ sinh
đầu tiên lại được hình thành ở Mỹ Đó là nhà máy sản xuất giấy vệ sinh độc quyền đầu tiên trên thế giới của Joseph Gayetty, thành lập năm 1857 Và trên tất cả sản phẩm đều được in thương hiệu Gayetty
Các mốc lịch sử chính của sản xuất và sử dụng giấy vệ sinh trên Thế giới
- Thế kỷ 14: Giấy vệ sinh lần đầu tiên được sản xuất tại Trung Quốc dùng cho vua chúa sử dụng: kích thước của giấy vệ sinh 60cm x 90 cm
- 1596: John Harington Phát minh ra nhà vệ sinh dội nước
- Những năm 1700: Thời kỳ này báo chí bắt đầu xuất hiện vì thế báo cũ
được sử dụng làm giấy vệ sinh
- Những năm 1710: Phát minh ra chậu, bồn rửa
- Năm 1792: Cuốn niên giám nông nghiệp cho Nông dân được xuất bản khá phổ biến, những trang giấy từ ấn phẩm này được sử dụng làm giấy
vệ sinh Người ta còn đục lỗ để có thể treo những tờ giấy loại này trong nhà vệ sinh
- Năm 1857: Joseph Gayetty bán những tờ giấy vệ sinh đầu tiên trên nước
Mỹ Loại giấy vệ sinh này làm phẳng, xốp và được tẩm hương liệu Mỗi
tờ giấy vệ sinh đều được in tên của Gayetty
- Năm 1877: Công ty giấy Albany sản xuất và bán loại giấy đục lỗ (tiêu chuẩn) và được phân phối bởi hầu hết những nhà phân phối đồ mỹ phẩm, hiệu thuốc, loại giấy này không tẩm thuốc, hoá chất Loại giấy này được quảng cáo là an toàn, không có chất độc, không sử dụng loại mực in trên bao bì ngay cả đối với hoá chất in ấn trên giấy vì những loại hoá chất này có thể là nguyên nhân gây ra bệnh trĩ
- Năm 1879: Công ty Giấy Scott cung cấp loại giấy vệ sinh dạng cuộn
đầu tiên, mặc dù công ty này không in nhãn hiệu lên trên sản phẩm nhưng sản phẩm được tiêu thụ cho rất nhiều nhà máy xí nghiệp ngay cả
Trang 28Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 16
cho cả khách sạn Wadorf, và thương hiệu này đã trở lên khá phổ biến trong ngành sản xuất kinh doanh giấy vệ sinh lúc bấy giờ
- Những năm1900: Những tiến bộ về thiết kế hệ thống ống nước cho phép phát triển hàng loạt nhà vệ sinh xối nước ở Châu âu
- Năm 1935 Công ty Giấy vệ sinh phương bắc quảng cáo cho loại giấy vệ sinh mảnh
- Năm 1942: Lần đầu tiên giấy vệ sinh hai lớp được nhà máy giấy Andrew của Anh sản xuất Giấy vệ sinh trở lên mềm và dai hơn
- Năm 1943: Giấy vệ sinh đặc biệt có in hình ảnh của Hitle
- Năm 1980: Tại Anh, Công ty Andrex bán loại giấy vệ sinh ẩm đầu tiên
- 1999 Viện bảo tàng Giấy vệ sinh chính thức được thành lập
- Trong nhưng năm đầu thế kỷ 21, sau vụ khủng bố 11.9, xuất hiện những loại giấy vệ sinh lạ có in hình của Osama Binladen
- Năm 2005: Công ty Renova của Bồ Đào Nha đua vào hoạt động nhà máy sản xuất giấy vệ sinh màu đen
2.1.2 Những đặc điểm của Giấy vệ sinh, tình hình sử dụng và sản xuất trên thế giới trong giai đoạn hiện nay
Đặc điểm của giấy vệ sinh hiện nay
Đặc điểm dễ nhận thấy của Giấy vệ sinh ngày nay phổ biến là loại giấy mềm,
dễ sử dụng và có khả năng thấm nước và tiêu hủy nhanh
Giấy vệ sinh khá phong phú về chủng loại, và sắc trang trí và cấu trúc đáp ứng
được nhu cầu của người sử dụng
Giấy vệ sinh được sản xuất chủ yếu từ nguyên liệu là giấy tái chế Mức độ ảnh hưởng đến môi trường sống (ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm không khí) của công nghiệp sản xuất giấy vệ sinh cũng giảm hơn rất nhiều so với các ngành công nghiệp sản xuất giấy khác Có thể xem đây là ngành công nghiệp thân
Trang 29Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 17
thiện và an toàn đối với môi trường, hoá chất cũng ít được sử dụng Chủng loại của giấy vệ sinh hết sức đa dạng và phong phú Chúng khác nhau về kích cỡ, trọng lượng, độ thô ráp, khả năng hút nước, khả năng bị xé rách, độ mịn, mềm
và những tồn dư của hoá chất
Loại giấy vệ sinh kép là loại giấy tiêu chuẩn ở một số nước, mặc dù giấy đơn cũng được sử dụng khá rộng rãi vì tính kinh tế, và nó cũng tiện sử dụng hơn
đối với những thuỷ thủ hoặc nhưng người du lịch Các công ty lớn có những
điều tra rất tỉ mỷ, khoa học về tình hình thị trường, thị hiếu tiêu dụng Trong
đó chất lượng của giấy vệ sinh phụ thuộc vào số mảnh, mức độ thô, độ bền Loại chất lượng thấp đó là loại được sử dụng nguyên liệu kém chất lượng, có một hoặc hai mảnh, rất thô và thường có những hạt giấy gắn trên bề mặt Loại trung bình hai mảnh, bền hơn và tương đối mịn hơn Những loại giấy vệ sinh
đặc biệt cao cấp thường được cắt viền và dập nổi Loại giấy này được tẩm huơng liệu, hoá chất chống khuẩn và được sản xuất từ loại bột mịn
Ngành công nghiệp sản xuất Giấy vệ sinh phát triển ngày một đa dạng và nó
được sử dụng rất phổ biến và với nhiều mục đích khác nhau ở các nước Đông Nam á, giấy vệ sinh được sử dụng như là giấy ăn dùng trong nhà hàng khách sạn Giấy vệ sinh dùng để lau mặt, lau tay hay hỉ mũ Giấy vệ sinh dùng trong trang điểm Tuy nhiên, loại giấy sử dụng trong toilet (loại tự huỷ) được sử dụng nhiều hơn vì chúng có thể thay thế hoàn toàn cho loại giấy lau mặt
Tình hình sản xuất giấy vệ sinh trên thế giới
Theo số liệu của công ty Charmin (Mỹ) thì trung bình một người sử dụng 57 mảnh giấy vệ sinh một ngày (20.805 mảnh/ năm) Riêng nước Mỹ tiêu tốn khoảng 2,4 tỷ đô la cho riêng giấy vệ sinh Người Trung quốc dùng 2 kg giấy
vệ sinh/năm trong đó người Thuỵ Điển là 20kg giấy vệ sinh/năm
Qua đó cho thấy sự khác biệt rất lớn về mức độ tiêu dùng ở các nước đang
Trang 30Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006
đã đem lại sự giàu có, thịnh vượng cho rất nhiều người, làm cho tầng lớp trung lưu phát triển, và trong xã hội chủ yếu là tầng lớp này
Tại Bắc Mỹ, thị trường giấy vệ sinh bị thao túng bởi 3 nhà cung cấp lớn đó là: Georgia-Pacific, Procter&Gamble, and Kimerly-Clark
Cùng với nhau 3 tập đoàn này thâu tóm 75% tổng sản lượng sản xuất ra Trong khi đó tại châu Âu, những nhà sản xuất này ít có ảnh hưởng hơn và chỉ chiếm 48% thị phần
Khi so sánh giữa hai khu vực, theo Mike Jone [2] thì có sự khác biệt lớn về nguyên liệu sản xuất giấy vệ sinh ở Bắc Mỹ, bột giấy sản xuất giấy vệ sinh
được phối trộn giữa giấy loại và bột giấy, trong khi Châu Âu lại rất ít sử dụng nguyên liệu gỗ
Về công nghệ Bắc Mỹ thường sử dụng công nghệ làm khô bằng khí đối lưu (through air dried – TAD) Một số nước châu Âu lai sử dụng công nghệ ANDRIZ TISSUE FLEX, cạnh tranh với công nghệ TAD
Bảng 2.1 và 2.2 sẽ giới thiệu cơ cấu và giá thành sản xuất các loại giấy vệ sinh tại Bắc Mỹ và tại Châu Âu
Trang 31Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 19
Đơn vị: Đô la Mỹ/ Tấn sản phẩm Loại giấy VS Sản lượng
(tấn)
Tỉ lệ (%)
Giá thành (trung bình)
Giá thành (thấp)
Giá thành (cao)
(tấn)
Tỉ lệ
%
Giá thành (trung bình)
Giá thành (thấp)
Giá thành (cao)
Trang 32Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006
20
Bảng 2.2: Cơ cấu và giá thành sản xuất các loại giấy vệ sinh tại Châu Âu
Một quốc gia có thế mạnh trong sản xuất và tiêu thụ giấy vệ sinh đáng kể là Trung Quốc Là một nước đang phát triển nhanh và có nhiều nét tương đồng
về hình thái kinh tế, chính trị như Việt Nam nhưng Trung Quốc cải cách và
mở cửa sớm hơn Việt Nam khoảng 10 năm
Xem xét tình hình sản xuất, xuất khẩu giấy vệ sinh của Trung Quốc, có thể
được khái quát trong vài nét chính sau:
- Tăng trưởng liên tục trong khoảng 10 năm gần đây
Năm 1990: sản lượng khoảng 600.000 tấn/năm (tiêu thụ 600.000 tấn/năm), năm 1998 là trên 2,5 triệu tấn (tiêu thụ khoảng 2,3 triệu tấn) Riêng năm 2003: sản xuất 3,27 triệu tấn (tăng 9,7% so với năm 2002, tiêu thụ 3,10 triệu tấn (tăng 8,0% so với năm 2002, nhập khẩu 25.600 tấn (tăng 13.8%), xuất khẩu 191.800 tấn (tăng 38% so với năm 2002, bình quân sử dụng: 2,4kg/người/năm (tăng 7,6% so với năm 2002)
- Sản lượng giấy xuất khẩu tăng liên tục
Trước năm 1999, thị trường giấy vệ sinh của Trung Quốc tại đại lục (không tính Hồng Kông và Macao) chủ yếu là tự cung tự cấp với những loại giấy vệ sinh kém chất lượng Sau 1999, thị trường xuất nhập khẩu giấy vệ sinh tăng trưởng nhảy vọt Như năm 1999 sản lượng xuất khẩu của Trung Quốc là 25.000 tấn thì năm 2003 Trung Quốc xuất khẩu 191.000 tấn chiếm 6% tổng sản lượng sản xuất trong năm Trung Quốc đang trở thành nước xuất khẩu giấy vệ sinh chủ lực trên thế giới Sản phẩm giấy vệ sinh của nước này đã thâm nhập 120 nước Trong đó Hồng Kông, úc, Mỹ, Nhật, Ma Cao, Đài Loan
là những nước đang nhập khẩu khá nhiều sản phẩm giấy vệ sinh từ Trung Quốc
Trang 33Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 21
- Sản lượng sản xuất và tiêu thụ biến động theo từng vùng và có liên quan chặt chẽ đến mức sống, thu nhập đầu người
Theo số liệu của Cục thống kê Trung Quốc, GDP của Trung Quốc năm 2003
là 1090 $/đầu người Tuy nhiên có sự khác biệt lớn giữa các vùng như Thựơng Hải GDP là 5000$ mức tiêu thụ giấy vệ sinh là 10kg/người/năm, trong khi đó
ở những vùng nông thôn như các tỉnh GUIZHOU hay GANSU có GDP trên
đầu người là 500$ thì hầu như người dân không sử dụng giấy vệ sinh
Dự báo tình hình thị trường giấy vệ sinh của TQ trong những năm tới được miêu tả ở bảng 2.3
(1000 tấn)
Tăng trưởng hàng năm (%)
Dân số (tỷ người)
Mức tiêu thụ (bình quân đầu người) kg/năm
Trang 34Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 22
Những nhà máy sản xuất giấy vệ sinh nhỏ lẻ có trình độ công nghệ thấp, sản xuất ra giấy vệ sinh kém chất lượng và đặc biệt gây ra ô nhiễm môi trường sẽ phải đóng cửa
2.1.3 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ giấy vệ sinh tại Việt Nam
Tình hình sản xuất giấy vệ sinh tại Việt Nam
Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển do đó nhu cầu về sử dụng giấy vệ sinh đang ngày càng ra tăng với một tốc độ khá lớn, nhất là tại các thành phố lớn Trước đây có rất ít cơ sở sản xuất giấy vệ sinh tại Việt Nam với chất lượng thấp, chủ yếu sử dụng công nghệ và thiết bị sản xuất của Trung Quốc
10 năm trở lại đây do cuộc sống ngày càng được nâng cao nên nhu cầu giấy vệ sinh cũng tăng theo và chất lượng giấy vệ sinh cũng được chú trọng hơn Hiện nay giấy vệ sinh ở Việt Nam có các cơ sở chuyên sản xuất như sau:
- Công ty New Toyo là công ty 100% vốn nước ngoài của Nhật Bản, có hai dây chuyền xeo giấy, năng lực sản xuất khoảng 40 000 tấn/năm là công ty có công suất lớn nhất hiện nay ở Việt Nam về lĩnh vực giấy vệ sinh Công ty chuyên sản xuất các sản phẩm cao cấp và trung cấp Tuy nhiên công ty này chủ yếu xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, sản lượng tiêu thụ trong nước chỉ chiếm 15 đến 20% năng lực sản xuất
- Công ty giấy Tissue Sông Đuống thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam, có một dây chuyền xeo, năng lực sản xuất 10 000 tấn/năm Chuyên sản xuất các sản phẩm cao cấp
- Công ty giấy Sài Gòn có chín dây chuyền xeo giấy từ 500 tấn/năm đến 1500 tấn/năm Chủ yếu sản xuất các sản phẩm giấy vệ sinh trung cấp
- Công ty cổ phần giấy Trúc Bạch Hà Nội có 3 dây chuyền xeo giấy 1500 tấn/năm Công ty sản xuất các sản phẩm giấy vệ sinh cao cấp và trung cấp
Trang 35Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 23
- Ngoài ra còn có một số công ty có sản xuất giấy vệ sinh với công suất thấp hơn như: Công ty cổ phần giấy Hải Phòng, công ty giấy Việt Trì, công ty giấy Lửa Việt, Công ty giấy Vĩnh Huê các cơ sở sản xuất giấy Bắc Ninh
Tình hình tiêu thụ giấy vệ sinh tại Việt Nam
ở nước ta, theo thông tin từ Hiệp hội giấy Việt Nam, việc sử dụng giấy Tissue ngày càng gia tăng, vì sự tiện ích với những tính năng cơ lý và những tính chất
sử dụng độc đáo của chúng Trong năm 2004 sản xuất và xuất khẩu giấy Tissue Việt Nam tăng gấp 4 lần so với năm 2003 Sản lượng giấy Tissue trong năm 2005 ước tính có thể đạt tới 51.000 tấn
2.2 công nghệ sản xuất giấy vệ sinh tại việt nam
Công nghệ và thiết bị sản xuất giấy vệ sinh tại Việt Nam hiện nay có thể được phân loại theo các dạng phân loại khác nhau như sau:
- Phân loại theo chất lượng sản phẩm
+ Giấy vệ sinh cao cấp
+ Giấy vệ sinh trung cấp
+ Giấy vệ sinh thấp cấp
- Phân loại theo công nghệ sản xuất: có hai dạng công nghệ sản xuất chủ yếu:
+ Công nghệ làm khô bằng lô sấy Yankee
Công nghệ này thường sản xuất giấy vệ sinh chất lượng thấp từ nguyên liệu tái chế Đây là công nghệ sản xuất giấy vệ sinh điển hình tại Việt Nam trước đây Nguyên liệu (chủ yếu là giấy loại tái chế) được ngâm xuống ao từ 1 đến 3 tháng sau đó vớt lên đưa vào máy nghiền Hà Lan nghiền và rửa trong thời gian
từ 30 đến 60 phút rồi bơm lên dàn lắng cát Từ dàn lắng cát bột giấy được bơm lên máy xeo và xeo thành tờ giấy
Trang 36Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 24
Tuy nhiên do công nghệ này ô nhiễm môi trường rất lớn và do nhu cầu ngày càng cao của thị trường về chất lượng sản phẩm nên hiện nay đang dần dần bị xoá bỏ
+ Công nghệ làm khô bằng lô sấy Yankee kết hợp với khí đối lưu (through air dried – TAD)
Công nghệ làm khô bằng lô sấy Yankee kết hợp với khí đối lưu là công nghệ
đang được áp dụng tại các nước phát triển và được phát triển rất nhanh trong những năm gần đây tại Việt Nam
+ Công nghệ sản xuất từ nguyên liệu bột giấy: VP (Virgil Pupl)
+ Công nghệ sản xuất từ nguyên liệu lề giấy loại : WP (Waste Paper)
Trong khuôn khổ luận văn này, sẽ tập trung xem xét theo sự phân loại dựa trên nguồn nguyên liệu đầu vào
Trang 37Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 25
2.2.1 Công nghệ sản xuất từ nguyên liệu bột giấy: VP (Virgil Pupl)
2.2.1.1 Qui trình công nghệ sản xuất từ nguyên liệu bột giấy
Nghiền thuỷ lực Nồng độ bột 15%
Lọc cát nồng độ cao
Nồng độ 4- 5%
Bể bột số 1 Nồng độ 3%
Sàng hai tác dụng
Bể bột số 2 Nồng độ 2,5%
Bể tẩy rửa bột số 1
Bể bột số 3 Nồng độ 3-5%
Nghiền đĩa 1 Nghiền đĩa 2
Bể tẩy rửa bột số 2
Sàng rung
Javen
1%
Nước thải
Javen 1%
Thiết bị cô đặc
Nước
cô đặc
Bột rơi lẫn cát 1%
H 2 O
H 2 O
H 2 O
NaOH 0,2%
Trang 38Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006
26
Bể bột số 4 Nồng độ 5%
Bể bột số 5 Nồng độ 2%
Hòm điều tiết
Bể bột trước xeo Nồng độ 0,1-0,5%
Trang 39Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 27
Công nghệ sản xuất giấy vệ sinh từ nguyên liệu bột giấy được tiến hành theo 7 công đoạn chính để tạo thành sản phẩm hoàn thiện
1 Tạo bột, tách rác, lọc cát
Bột giấy được đưa vào nhà máy dưới dạng kiện, bánh hoặc tháo rời Các kiện bột giấy cần được cắt các đai sắt và tháo rời trước khi đưa vào máy nghiền thuỷ lực để có thể đạt được chất lượng bột là tốt nhất và loại trừ được các trục trặc trong quá trình vận hành Bột giấy đã được tháo rời được đưa vào các băng tải một cách liên tục để vào máy nghiền thuỷ lực tạo bột
Bột giấy, nước pha loãng và cả hoá chất được cấp vào máy nghiền thuỷ lực, máy nghiền thuỷ lực hoạt động ở nồng độ 12-15 %
Từ máy nghiền thuỷ lực(12%), bột giấy được bơm qua thiết bị lọc cát nồng độ cao sau đó được chảy xuống bể chứa
Tại bể chứa thứ nhất, ở dưới đáy bể thiết bị khuấy trộn được trang bị sẽ làm
đồng đều nồng độ bột một cách tốt nhất
Từ bể bột thứ nhất bột giấy (3-5%) được bơm tiếp vào máy sàng hai tác dụng rồi vào máy sàng rung để sàng lọc và phân loại bột giấy, tách các tạp chất khác ra khỏi dung dịch bột giấy Thành phần chất thải nặng cũng sẽ được thoát ra khỏi sàng và đưa tới thiết bị sàng rung rồi đỏ vào bể bột số 2
2 Rửa bột, tẩy trắng:
Bột từ bể bột số hai được bơm bột bơm qua bể rửa bột và tẩy trắng Tại bể rửa bột và tẩy trắng bột sau khi đã đầy bể thì xả nước vào bật khuấy trộn sau 10 phút thì bật quồng cô đặc bột để rửa bột, bột sẽ có nồng độ khoảng từ 3-5% sau khi rửa Nước trắng lọt qua thiết bị cô đặc sẽ được đưa tới hệ thống xử lý lọc để sử dụng lại pha loãng cho các công đoạn phía trước
Bột sau rửa được cho hoá chất vào tẩy trắng theo yêu cầu sản xuất
Trang 40Lớp Cao học Kỹ thuật Môi trường 2004 – 2006 28
3 Tồn trữ bột
Bột được tẩy trắng sẽ được tồn trữ ở bể số 3 có nồng độ 5% và được bơm sang
hệ thống nghiền đĩa
4.Nghiền đĩa
Quá trình này nhằm tăng độ SR cho bột giấy (40 – 45 SRo)
áp lực nghiền : 150 A đối với nghiền đĩa 1
150 A đối với nghiền đĩa 2 Nồng độ nghiền : 4-5%
* Kiểm tra xem độ nghiền nếu đạt 45 – 50 SRo thì thôi nếu không đủ phải nghiền lại
* Nếu không có máy đo độ SR thì ta có thể kiểm tra bằng cách cho một ít bột vào chai nước khoáng rồi đổ đầy nước sạch vào, xóc cho bột tan ra thì nhìn bằng mắt
Bột từ bể bột tồn trữ được bơm qua nghiền đĩa hai cấp rồi đổ vào bể bột số 4 Các hoá chất được sử dụng trong công nghệ đi từ nguyên liệu bột giấy bao gồm: chất tạo xốp, chất bền khô, chất bền ướt, chất tẩy trắng, chất phân tán Lượng hoá chất được sử dụng phụ thuộc vào chất lượng bột giấy nguyên liệu
6 Xeo và sấy khô giấy
Bột từ bể bột hoà trộn được bơm vào hòm điều tiết, và chảy vào bể bột trước