Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về vấn đề thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, Hội nghị Trung Ương lần thứ bảy khóa X ra Nghị quyế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VÕ NGỌC THANH QUANG
ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NHÀ BÈ, TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS: TRẦN VĂN BÌNH
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Văn Bình; Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong
đề tài này là trung thực và chưa công bố bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2018
Tác giả
Võ Ngọc Thanh Quang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có điều kiện thực hiện và hoàn thành luận văn thạc sĩ:
Tôi xin cảm ơn Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các Quý thầy cô đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo môi trường điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tôi xin cảm ơn PGS.TS Trần Văn Bình đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi tận tình trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Với kiến thức và thời gian có hạn nên trong quá trong quá trình viết bài không tránh khỏi sai sót, rất mong các anh chị và quý thầy cô thông cảm
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài: 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: 2
3 Mục tiêu nghiên cứu: 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 4
5 Phương pháp nghiên cứu: 4
6 Kết cấu luận văn: 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 5
1.1 Sơ lược về chương trình xây dựng nông thôn mới 5
1.1.1 Nông thôn và phát triển nông thôn 5
1.1.2 Nông thôn mới 7
1.1.3 Quản lý nhà nước về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 9
1.2 Nội dung, tiêu chí, nguồn lực và các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới 16
1.2.1 Nội dung xây dựng nông thôn mới 16
1.2.2 Tiêu chí về xây dựng nông thôn mới 18
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới 21
1.4 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới 22
1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới 22
1.4.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 36
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ THEO CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40
2.1 Giới thiệu tổng quan về huyện Nhà Bè 40
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40
Trang 62.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 43
2.2 Tổng quan tình hình triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Nhà Bè 47
2.2.1 Bộ máy tổ chức 47
2.2.2 Công tác triển khai 48
2.2.3 Nguồn lực huy động 48
2.2.4 Kết quả đạt được của các xã trên địa bàn huyện 49
2.3 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội theo chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Nhà Bè giai đoạn 2011 - 2015 51
2.3.1 Công tác quy hoạch 51
2.3.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu 51
2.3.3 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập 54
2.3.4 Phát triển giáo dục, y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường 56
2.3.5 Xây dựng hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật 62
2.4 Những hạn chế và nguyên nhân trong vấn đề phát triển kinh tế theo chương trình xây dựng nông thôn mới của huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh 63
2.4.1 Hạn chế 63
2.4.2 Nguyên nhân 64
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN VÀ HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 67
3.1 Quan điểm của Đảng về xây dựng Nông thôn mới 67
3.2 Mục tiêu và phương hướng xây dựng nông thôn mới 68
3.2.1 Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 68
3.2.2 Định hướng và mục tiêu phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 69
3.3 Các giải pháp chủ yếu đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Nhà Bè giai đoạn 2016 – 2020 72
3.3.1 Nhóm giải pháp về xây dựng, thực hiện theo kế hoạch 72
3.3.2 Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn đồng bộ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu phát triển của Huyện 73
Trang 73.3.3 Nhóm giải pháp về phát triển các hình thức tổ chức sản xuất và phát
triển thị trường nông thôn 74
3.3.4 Nhóm giải pháp về phát triển các nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế 76 3.3.5 Nhóm giải pháp về nâng cao năng lực quản lý của chính quyền địa phường và công tác dân vận trong quần chúng nhân dân 78
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 81
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 87
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCH TW: Ban chấp hành Trung ương
CDCCKT: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
CNH-HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa CN-XD: Công nghiệp xây dựng
TTCN: Tiểu thủ công nghiệp
XD NTM: Xây dựng nông thôn mới
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Kết quả hoạt động đào tạo trong phong trào Saemaul Udong: 28
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Nhà Bè 40
Bảng 2.2 : Cơ cấu ngành nghề nông thôn qua 5 năm thực hiện chương trình nông thôn mới 43
Bảng 2.3: Hộ nông thôn chia theo nguồn thu nhập lớn nhất trong 12 tháng 44
Bảng 2.4: Cơ cấu lao động trong độ tuổi lao động nông thôn qua 5 năm 44
Bảng 2.5: Số ấp, hộ, nhân khẩu khu vực nông thôn phân theo xã năm 2015 45
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí cấp xã theo tiêu chuẩn đặc thù vùng nông thôn thành phố Hồ Chí Minh 49
Bảng 2.7: Điện khí hóa nông thôn 54
Bảng 2.8: Mạng lưới y tế trên địa bàn nông thôn 57
Bảng 2.9: Mạng lưới thông tin, văn hóa khu vực nông thôn 58
Bảng 2.10 : Số lượng và chất lượng trường học các cấp 60
Bảng 2.11 : Vệ sinh môi trường nông thôn 62
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Vai trò của việc phát triển kinh tế địa phương ngày càng tăng, các vấn đề kinh tế địa phương ở nông thôn cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn, như toàn cầu hóa, khủng hoảng kinh tế, thách thức trong nước, khu vực và những tác động tiêu cực khi thực hiện chương trình này Khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới và các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu khác, áp lực của việc hội nhập và phát triển đã và đang thách thức nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ngành nông nghiệp Đáp ứng các yêu cầu mới nổi cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chính phủ Việt Nam cần thiết kế các chính sách cụ thể để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội và văn hóa Thực tế, nông dân, nông nghiệp và nông thôn là ba yếu tố chính ảnh hưởng đáng kể tới sự phát triển của Việt Nam Tuy nhiên, các chính sách nông nghiệp gần đây đối với các vùng nông thôn của Chính phủ Việt Nam đã trở nên không thực sự hiệu quả và đã cho thấy nhiều vấn đề về tính bền vững của chính sách Bên cạnh đó, các chính sách này không đáp ứng đủ yêu cầu của vấn đề công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong nông nghiệp ở nông thôn Một vấn đề quan trọng là sản xuất nông nghiệp ở nông thôn không thực sự được đưa vào hoạt động như một thị trường hàng hóa năng động
Để khắc phục cơ bản tình hình này, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn phải tăng tốc Một giải pháp quan trọng cần thực hiện là thành công trong việc xây dựng mô hình nông thôn mới phù hợp với yêu cầu và nguồn lực nội bộ của nông dân, nông nghiệp và phát triển nông thôn có thể hòa nhập với nền kinh tế thế giới Quán triệt tinh thần Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về vấn đề thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, Hội nghị Trung Ương lần thứ bảy (khóa X) ra Nghị quyết số 26-NQ/TW về
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã chỉ rõ cần “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”
Chính sách nông thôn mới đã được triển khai rộng rãi ở các huyện nông thôn của Việt Nam nói chung và huyện Nhà Bè nói riêng, thành phố Hồ Chí Minh đã tham gia chương trình nông thôn mới thông qua các nghiên cứu tình hình thực tế tại
Trang 11huyện Nhà Bè, đề xuất các giải pháp đáp ứng các tiêu chí quốc gia cho chương trình nông thôn mới và góp phần cải thiện các khía cạnh xã hội cho người dân nông thôn Nội dung chính của bài luận văn này là cung cấp các giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh Để thực hiện vấn đề này, bài luận văn sẽ cung cấp các khái niệm về chương trình nông thôn mới, chức năng cũng như cơ sở lý luận của chương trình này Để góp phần công sức vào quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa phương, bài luận
văn nghiên cứu đề tài : “Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh chương trình Nông thôn mới trên địa bàn huyện Nhà Bè, Tp.Hồ Chí Minh”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Công trình nghiên cứu: “Về phát triển kinh tế nông thôn nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Đăng Chất Chủ biên, do Nxb Nông nghiệp ấn hành năm 1994,
đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng liên quan những vấn đề cơ bản trong quản
lý và phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn sau đổi mới như: Hệ thống chính sách nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông thôn, đầu tư, các giải pháp kỹ thuật mới áp dụng vào sản xuất nông nghiệp…
Công trình nghiên cứu: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” của tác giả Nguyễn Sinh Cúc, NXB Thống kê, năm 2003 Đây là công trình nghiên
cứu dài hơi, công phu của tác giả với những phân tích có tính thuyết phục về quá trình đổi mới nông nghiệp Việt Nam sau gần 20 năm Công trình đã luận giải rõ quá trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Công trình nghiên cứu: “Giáo trình phát triển nông thôn” của tác giả Mai
Thanh Cúc và Quyền Đình Hà đồng chủ biên do Nxb Nông nghiệp ấn hành năm
2005 đã đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về kinh tế nông thôn, phát triển kinh tế nông thôn, phát triển cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội và môi trường nông thôn Đồng thời công trình công trình cũng khẳng định được vai trò, vị trí của nhà nước và các tổ chức trong phát triển nông thôn Việt Nam
Công trình nghiên cứu: “Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” - một chiến
lược phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa” của tác giả Nguyễn
Mạnh Hùng (NXB Nông nghiệp, 2006) đã khái quát hình ảnh khu vực nông thôn trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công trình cũng đưa ra những phân tích, đánh giá có giá trị về Chương trình “Mỗi làng một nghề” ở Việt Nam theo ảnh hưởng sự lan tỏa của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở Nhật Bản
Trang 12Công trình: “Phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Quảng Bình trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” luận án tiến sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Cao
Chương (NXB Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2012) là một trong những công trình mới nhất nghiên cứu về phát triển kinh tế nông thôn Bằng những luận cứ thuyết phục công trình đã cung cấp hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn cho phát triển kinh tế nông thôn, đồng thời nêu ra được phương hướng phát triển cho khu vực kinh tế nông thôn còn nhiều lạc hậu
Những nghiên cứu về vấn đề xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam bước đầu
có các nghiên cứu như:
Công trình nghiên cứu: “Xây dựng nông thôn mới - những vấn đề lý luận và
thực tiễn” do Vũ Văn Phúc chủ biên (NXB Chính trị quốc gia, 2012) là công trình
nghiên cứu rất công phu của tập thể tác giả, ngoài những đánh giá sâu sắc về thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam công trình còn tập hợp nhiều bài viết nghiên cứu có giá trị về mặt lý luận chung, kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn mới để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Một trong những công trình mới nhất nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới
là công trình nghiên cứu: “Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ
chức quản lí mới, bước đi mới” do Tô Xuân Dân chủ biên (NXB Nông nghiệp,
2013) đã góp phần cung cấp những kiến thức cơ bản về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn mới ở Việt Nam cho các cán bộ quản lý nông thôn mới ở cơ sở
Ngoài những công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan trọng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới ở nước ta Tuy nhiên các công trình này đều không
đi sâu vào nghiên cứu các giải pháp đẩy mạnh phát triển và hoàn thiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là đối với các huyện ngoại thành thuộc khu vực thành phố Hồ Chí Minh Những kết quả nghiên cứu đã nêu cũng là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng mà tác giả tham khảo trong quá trình hoàn thành luận văn
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích của bài nghiên cứu này nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình nông thôn mới và quá trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay Đồng thời đánh giá thực trạng mô hình nông thôn mới và quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011-2015 Phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới ở địa bàn nghiên cứu Cuối cùng là đề xuất các giải pháp đẩy mạnh chương trình nông thôn mới tại địa phương trong giai đoạn 2016-2020
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Bài luận văn nghiên cứu dữ liệu giai đoạn từ 2011 đến năm 2015, qua đó phân tích và đánh giá chương trình xây dựng nông thôn mớivà phát triển kinh tế theo chương trình nông thôn mới tại huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh nhằm tìm ra giải pháp đẩy mạnh và hoàn thiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, hệ thống hóa, xử lý số liệu và thông
qua các số bình quân, số tuyệt đối, số tương đối để đánh giá các chỉ tiêu nghiên cứu
Phương pháp so sánh: Để đánh giá các động thái phát triển của hiện tượng,
bản chất kinh tế, xã hội theo thời gian, không gian
6 Kết cấu luận văn:
Chương 1: Cơ sở khoa học về chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế theo Chương trình xây dựng nông
thôn mới ở huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp đẩy mạnh phát triển và hoàn
thiện Chương trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2016 – 2020
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
1.1 Sơ lược về chương trình xây dựng nông thôn mới
1.1.1 Nông thôn và phát triển nông thôn
1.1.1.1 Nông thôn
Nông thôn được coi như là khu vực địa lý, nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó,
có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu
Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn và có nhiều quan điểm khác nhau
Theo định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt thì “nông thôn” được hiểu là khu dân cư chủ yếu làm nghề nông; khái niệm nông thôn dùng để chỉ một địa bàn mà ở
đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
Cũng có quan điểm cho rằng để xác định vùng nông thôn chỉ cần dựa vào trình
độ phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật, hay quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ mang tính chất tương đối và có sự khác biệt xét trên mỗi quan điểm, mỗi góc độ của các quốc gia khác nhau
“Nông thôn” là một khái niệm thông dụng, nhưng có nội hàm rộng và có thể khác nhau ở các Quốc gia.Theo từ điển Bách khoa toàn thư Thế giới thì “Nông thôn
là khu vực mà ở đó tập trung dân cư sống chủ yếu bằng sản xuất nông nghiệp” Ở Việt Nam, theo quy định về hành chính và thống kê, thì nông thôn là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị) Cho đến nay, nông thôn ở nước ta được hiểu là nơi sinh sống và làm việc của một cộng đồng bao gồm chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chính Nông thôn có cơ cấu hạ tầng, trình độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn so với thành thị
Hiện nay, khái niệm về nông thôn đã được nêu rõ tại Thông tư số 54 ngày 21/08/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã” Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn có thể
Trang 15được xem xét trên nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn
Xét về mặt kinh tế - kỹ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ trong đó nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu Xét về mặt kinh tế - xã hội, kinh tế nông thôn cũng bao gồm: nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể
Xét về không gian và lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các vùng như: vùng chuyên canh lúa, vùng chuyên canh cây màu, vùng trồng cây ăn quả Nông thôn trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội Nông thôn thuộc một cơ cấu xã hội, trong đó có hàng loạt các yếu tố, các lĩnh vực nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau
1.1.1.2 Phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Ngân hàng thế giới (1975): “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”
Phát triển nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng sống của dân cư nông thôn
Như vậy, phát triển nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau Ngày nay các nhà học giả và các nhà làm chính sách luôn quan tâm tới vấn đề phát triển nông thôn bền vững, đó là sự phát triển KT-XH nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn; phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn
Xuất phát từ các quan điểm trên, có thể hiểu rằng phát triển nông thôn là:
- Phát triển nông thôn bao gồm tất cả các vấn đề gắn với đời sống của người dân và môi trường, không gian sống của khu vực nông thôn;
Trang 16- Là một quá trình đa chiều hướng tới hội nhập bền vững trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường;
- Một quá trình ổn định và bền vững với những thay đổi về kinh tế , xã hội, văn hóa, môi trường hướng tới hiện đại và sự thịnh vượng lâu dài của cả cộng đồng
1.1.2 Nông thôn mới
1.1.2.1 Khái niệm nông thôn mới
Nông thôn mới là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn
và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng khác biệt hẳn so với mô hình truyền thống ở tính tiên tiến về mọi mặt: sản xuất nông nghiệp của nông thôn mới phải bao gồm cơ cấu các ngành nghề mới với các điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện đại hơn, việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến phải được phổ biến rộng rãi, quy mô lớn, hiệu quả kinh tế cao, thu nhập của người dân ổn định, hạ tầng
và các điều kiện sống hiện đại…Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt rõ XD NTM
để rút ngắn khoảng cách giữa “nông thôn” và “thành thị”
1.1.2.2 Chương trình xây dựng nông thôn mới
Nông thôn mới là khái niệm chỉ mang tính tương đối và biến động theo từng quốc gia, từng thời kì nhất định Có thể khẳng định rằng: Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn, không phải thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại;
Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa;
Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn ngày càng được nâng cao;
Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển;
Thứ năm, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
Trang 17Với mục tiêu chung nhằm xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lí, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với
đô thị theo quy hoạch; đồng thời đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới (quy định trong Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010, phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 gồm 11 nội dung, cụ thể:
1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới;
2 Phát triển kinh tế - xã hội;
3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập;
4 Giảm nghèo và an sinh xã hội;
5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn;
6 Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn;
7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn;
8 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn;
9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn;
11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
Có thể khẳng định rằng, mục đích cuối cùng của xây dựng nông thôn mới đó chính là hướng tới kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nông dân được nâng cao Do vậy, trong quá trình thực hiện xây dựng nông thôn mới cần tạo động lực, ưu tiên phấn đấu đạt các tiêu chí trong nhóm kinh tế và tổ chức sản xuất bởi đây là những yêu cầu cốt lõi và cũng là những tiêu chí khó thực hiện Thực hiện được các tiêu chí này sẽ là cơ sở để các địa phương thực hiện nhanh và có hiệu quả các tiêu chí khác Tuy nhiên, làm sao để thực hiện được các tiêu chí này một cách bền vững đang là vấn đề lớn đặt ra cho các địa phương trong quá trình xây dựng nông thôn mới Điều này đòi hỏi cần phải có sự quan tâm, chú trọng hơn nữa của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở để có thể thực hiện được các tiêu chí này một cách bền vững
Trang 181.1.3 Quản lý nhà nước về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
1.1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước về nông thôn mới và xây dựng nông thôn
mới
a) Khái niệm về quản lý nhà nước
Thuật ngữ “Quản lý nhà nước” được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực Nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, hành chính nhà nước nhằm xây dựng, tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình Từ những điểm chung của các quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước
Khái niệm quản lý nhà nước về nông thôn mới “Quản lý nhà nước về nông thôn mới là sự tác động có tổ chức của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương trong vấn đề XD NTM trên cơ sở các tiêu chí đánh giá
về nông thôn mới đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay”
b) Khái niệm quản lý nhà nước về XD NTM
Từ khái niệm “Quản lý nhà nước” và khái niệm về “quản lý nhà nước về nông thôn mới”, có thể hiểu: Quản lý nhà nước về XD NTM chính là việc Nhà nước thực
hiện vai trò của mình thông qua việc hoạch định chiến lược, xây dựng các chính
sách, kế hoạch và triển khai các chương trình hỗ trợ nhằm tác động tới sự phát triển KT-XH của khu vực nông thôn, làm cho nông thôn phát triển toàn diện và đồng bộ,
có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại; làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị vững mạnh và được tăng cường; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng XHCN
c) Nội dung quản lý nhà nước về nông thôn mới
Hoạch định chiến lược, quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Trang 19Hoạch định là quá trình xác định mục tiêu và quyết định phải làm gì và làm như thế nào để đạt được mục tiêu Hoạch định chiến lược là tập hợp các hành động, quyết định của lãnh đạo, hướng tới việc soạn thảo các chiến lược chuyên biệt nhằm đạt mục tiêu của tổ chức Hoạch định chiến lược bao gồm các việc như: xác định các ưu tiên, tập trung các nguồn lực nhằm hướng đến mục tiêu chung Hoạch định làm tăng khả năng thành công của tổ chức, bởi thông qua hoạch định sẽ phân tích,
dự báo được những thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện mục tiêu Từ đó có những giải pháp nắm bắt thời cơ, hạn chế rủi ro, phù hợp trong từng thời kỳ, từng giai đoạn Trong xây dựng NTM, hoạch định chiến lược chính là việc định ra những mục tiêu, nội dung, giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho CTMTQG XD NTM Quy hoạch XD NTM là một trong những nội dung cơ bản và là bước đi đầu tiên, quan trọng trong tổng thể nhiệm vụ XD NTM nói chung Quy hoạch NTM là điều kiện tiên quyết, là cơ sở cho đầu tư xây dựng các công trình, chỉnh trang, phát triển nông thôn Do đó, để thực hiện thành công, chủ động
XD NTM thì công tác lập quy hoạch cần được quan tâm đặc biệt Quy hoạch đúng mức tạo ra sự thống nhất giữa tổng thể phát triển KH-XH Quy hoạch xây dựng cơ
sở hạ tầng, sử dụng đất, gắn chặt với quy hoạch phát triển KH-XH vùng, ngành, địa phương, là công cụ quản lý XD NTM theo hướng văn minh, hiện đại Ở cấp xã, lập quy hoạch chi tiết xây dựng NTM phải được nghiên cứu, tham khảo kỹ lưỡng và phải gắn với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đã được lập; tổ chức lại các không gian chức năng, mạng lưới giao thông gắn với việc tổ chức sắp xếp lại dân cư, hoàn thiện hệ thống hạ tầng kinh tế xã hội, hạ tầng kỹ thuật; công trình nhà
ở và công trình công cộng được cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới phải phù hợp với điều kiện cụ thể, giá trị lịch sử, kiến trúc của các công trình hiện có và bản sắc văn hóa của từng địa phương
Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước và chính sách về xây dựng nông thôn mới
Văn bản quản lý nhà nước được hiểu là những văn bản chứa đựng những quyết định và thông tin quản lý do các cơ quan nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lý hành chính nhà nước giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân Văn bản quản lý Nhà nước thể hiện ý chí, mệnh lệnh, mang tính quyền lực Nhà nước, là phương tiện để điều chỉnh những quan hệ xã hội thuộc phạm vi Nhà nước, đồng thời thể hiện kết quả hoạt động quản lý của các cơ quan, tổ chức
Trang 20Trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, hệ thống các văn bản quản lý nhà nước chính là các văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục nhất định, trong đó chứa quy tắc xử sự chung, điều chỉnh các vấn đề về xây dựng nông thôn mới Thông qua hệ thống các văn bản này đảm bảo cho chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về XD NTM được triển khai đạt kết quả cao trong thực tiễn
Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động XD NTM nhằm chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương căn cứ thực hiện, như: Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết 24/2008/NĐ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về NNNDNT; Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010-2020 Bên cạnh đó, các Bộ, ngành liên quan ở Trung Ương và địa phương cũng đã ban hành đồng bộ hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Đồng thời, để tiết kiệm nguồn vốn hiện có, Nhà nước đã triển khai việc nối tiếp một số chương trình từ giai đoạn trước và trong giai đoạn 2006-2010
Đã có 11 CTMTQG được thực hiện trên địa bàn cả nước, tác động chủ yếu đến khu vực nông thôn Trong đó, đáng chú ý là các chương trình như: xây dựng
mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ, phục vụ phát triển
KT-XH nông thôn và miền núi giai đoạn 2004-2010; nước sạch và vệ sinh môi trường NT; kiên cố hóa kênh mương; điện nông thôn; xóa đói giảm nghèo
Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về XD NTM
Tổ chức bộ máy và biên chế là hai nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự vận hành của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước Việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và sử dụng, bố trí đúng, đủ biên chế có ý nghĩa quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy nhà nước Cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước với những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nó luôn được quy định chặt chẽ trong Hiến pháp và cũng có thể khẳng định, nội dung quan trọng nhất của các bản Hiến pháp chính là những quy định về bộ máy nhà nước Tương tự như vậy, đối với mỗi cấp hành chính, mỗi ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý hành chính Nhà nước nói chung, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước cũng được kiến tạo theo những quy định chặt chẽ, cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật Tổ chức bộ máy quản lý trong xây dựng
Trang 21NTM chính là các bộ phận tham mưu, giúp việc, giúp cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý trong XD NTM một cách thống nhất, khoa học Ngày 01/7/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1013/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương CTMTQG XDNTM, giai đoạn 2010-2020, trên cơ sở đó Ban Chỉ đạo TW tiếp tục xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai CTMTQG XD NTM, giai đoạn 2010 - 2020 Trong đó nêu rõ việc thành lập BCĐ - cơ quan tham mưu giúp việc trong quản lý nhà nước về XD NTM ở các cấp như sau:
- Ban chỉ đạo Trung ương
Theo Quyết định số 1013/QĐ-TTg, BCĐ TW CT MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 gồm 24 thành viên; Ban hành Quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm cụ thể đối với các thành viên của BCĐ TW;
Thành lập Thường trực BCĐ TW gồm Trưởng ban, phó Trưởng ban và 3 Ủy viên là lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch & Đầu tư, Tài chính và Xây dựng;
Thành lập Văn phòng điều phối Chương trình giúp Ban Chỉ đạo Trung ương đặt tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định)
- Cấp tỉnh
BCĐ của tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban Phó Ban thường trực
là Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 01 Phó ban là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các thành viên BCĐ có thành phần tương tự BCĐ TW Thường trực BCĐ cấp tỉnh là Trưởng ban, các phó trưởng ban và 3 ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở: Xây dựng, Kế hoạch Đầu tư, Tài chính;
Thành lập Văn phòng điều phối CT MTQG NTM đặt tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh, giúp BCĐ tỉnh thực hiện Chương trình trên địa bàn
- Cấp huyện, thị xã (gọi chung là huyện)
BCĐ của huyện do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND là Phó Trưởng ban Thành viên gồm lãnh đạo các phòng, ban có liên quan của địa phương;
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) là cơ quan thường trực điều phối, giúp BCĐ huyện thực hiện Chương trình trên địa bàn
- Cấp xã
Thành lập Ban Quản lý XD NTM xã do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND xã là Phó Trưởng ban Thành viên là một số đại diện cơ quan chuyên môn và đại diện một số Ban, ngành, đoàn thể chính trị xã Đi đôi với thành lập bộ máy giúp việc, cần tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ cán bộ, công chức,
Trang 22viên chức làm việc ở NT, đặc biệt là cán bộ chuyên trách về NTM Kinh nghiệm thành công trong XD NTM chỉ ra rằng, một tập thể lãnh đạo có năng lực, có trách nhiệm chính là điều kiện quan trọng quyết định thành công Chính vì vậy, công tác đào tạo cán bộ cơ sở được coi trọng, bởi đây là lực lượng trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về XD NTM Sự năng động
và tinh thần trách nhiệm của họ đã dẫn dắt và khơi dậy tính sáng tạo của nông dân Nhiều năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước đã xây dựng và triển khai thực hiện nhiều
Đề án về tuyển chọn, sử dụng và có những chế độ đãi ngộ để thu hút những người
có đủ năng lực, trí tuệ và phẩm chất tham gia XD NTM (Đề án “Thí điểm tuyển chọn 500 trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013-2020”)
Tổ chức chỉ đạo thực hiện các nội dung XD NTM
CTMTQG về XD NTM là chương trình tổng thể về phát triển KT-XH, chính trị và an ninh quốc phòng Do đó, quản lý Nhà nước về XD NTM chính là việc tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện 11 nội dung XD NTM Trong đó, trọng tâm là các nội dung sau
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
CDCCKT theo hướng CNH-HĐH đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển, trở thành một Quốc gia văn minh, hiện đại Nội dung và yêu cầu cơ bản của CDCCKT ở nước ta theo hướng CNH-HĐH là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ Đồng thời, giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp (gọi chung là nông nghiệp) Để chuyển dịch cơ cấu cần tập trung thực hiện một số vấn đề như: tăng mạnh hơn nữa tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong GDP; phát triển mạnh các ngành nghề phi nông nghiệp; chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; phát triển mạnh chăn nuôi với tốc độ và chất lượng cao hơn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất, bảo quản và chế biến; Tiếp tục rà soát, bổ sung, điều chỉnh lại quy hoạch sản xuất nông nghiệp theo hướng: phát huy lợi thế tự nhiên của từng vùng, lợi thế kinh tế của từng loại cây trồng, con gia súc, tăng tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ; Ðưa nhanh khoa học công nghệ vào sản xuất; ứng dụng mạnh công nghệ sinh học và xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao; Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh
Trang 23nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nông, lâm thủy sản…
- Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn
Về cơ bản, xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH Đó cũng là yếu tố cơ bản để phát triển
xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh và bền vững Xuất phát từ thực tiễn tiến hành CNH trước đây và căn cứ vào thực trạng kinh tế của nước ta cũng như yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải không ngừng phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng nông thôn làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay đó là vốn đầu tư từ Nhà nước, trong khi cần phải tăng tỷ lệ đầu tư cho phát triển
hạ tầng NT theo hướng đồng bộ, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất Do đó, cần khuyến khích hơn nữa các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông thôn Đổi mới cơ chế, chính sách để huy động mạnh nguồn lực đất đai vào phát triển hạ tầng Có chính sách phù hợp thu hồi đất, đấu giá quyền sử dụng đất để tạo vốn hỗ trợ cho xây dựng công trình hạ tầng Mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm theo hướng Nhà nước đầu tư vốn, người dân đóng góp thêm vốn hoặc nhân công Khuyến khích, vinh danh các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhiều đóng góp cho xây dựng kết cấu hạ tầng, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc…
- Quản lý các vấn đề xã hội, an ninh và trật tự khu vực nông thôn
Đó là việc quản lý, chỉ đạo thực hiện trên các lĩnh vực: phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng nâng cao chất lượng toàn diện; chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện Bảo hiểm y tế toàn dân; thực hiện các tiêu chí về văn hóa
xã hội; đảm bảo vệ sinh môi trường; xây dựng môi trường NT ổn định về chính trị,
an toàn về trật tự xã hội; tạo thuận lợi cho KT-XH địa phương phát triển ổn định
- Huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
Đây là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý, qua đó nhằm huy động nguồn lực vật chất, tài chính và cả nguồn lực về tinh thần toàn xã hội để xây dựng NTM, tạo bước chuyển biến đáng kể về cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của cư dân nông thôn
Thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 phê duyệt CTMTQG XDNTM giai đoạn 2010 - 2020 Đây là một chương trình khung toàn diện nhất để cộng đồng chung sức xây dựng một NTM
Trang 24Trong đó, huy động nguồn lực thực hiện là vấn đề rất được quan tâm Theo Quyết định, nguồn vốn ngân sách chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 40% tổng nguồn vốn thực hiện CT MTQG XD NTM, tiếp đến là vốn tín dụng (khoảng 30%), vốn từ các
DN và các tổ chức kinh tế khác (khoảng 20%) và huy động đóng góp của cộng đồng dân cư (khoảng 10%) Do vậy, đòi hỏi trong quản lý nhà nước về XD NTM phải có
cơ chế huy động được thực hiện theo hướng đa dạng hóa các nguồn vốn, thông qua: lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình MTQG, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đa nguồn lực của địa phương, kêu gọi sự đóng góp của nhân dân; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp pháp khác
Huy động và quản lý các nguồn lực đầu tư XD NTM luôn được triển khai để đảm bảo tính cân đối phù hợp, tính hiệu quả trong huy động nguồn lực XD NTM nói riêng và thu ngân sách ở địa phương nói chung Vai trò của Nhà nước ở đây là tạo lập, huy động mọi nguồn vốn đầu tư, mở rộng hệ thống quỹ tín dụng để phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các quỹ phòng chống thiên tai, quỹ xóa đói giảm nghèo để thúc đẩy quá trình CDCCKT NT, đáp ứng các tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về XD NTM Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, để huy động tối đa nguồn lực cho chương trình, các địa phương cần tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, các ngành, sự đóng góp của tổ chức, cá nhân, các nguồn vốn trong và ngoài nước; lồng ghép các chương trình dự án Bên cạnh đó, phát huy nội lực bằng các biện pháp như: tăng thu từ đất, đấu giá quyền sử dụng đất; có giải pháp khuyến khích nhân dân cùng tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH theo phương châm
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó xác định rõ cơ chế huy động vốn của các thành phần cùng tham gia; đặc biệt là phát huy nguồn lực tại chỗ, vận động nhân dân hiến kế, tham gia góp đất, góp công, góp kinh phí đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn mới Đồng thời cũng cần quan tâm tới vai trò của các tổ chức đoàn thể trong huy động nguồn lực XD NTM Quan tâm thu hút sự hỗ trợ nguồn lực từ bên ngoài thông qua việc xây dựng công khai, kế hoạch về các dự án cụ thể theo từng năm để huy động nguồn lực cho xây dựng Chương trình NTM
- Kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm
Kiểm tra, giám sát các hoạt động xây dựng NTM là việc Nhà nước xem xét, đánh giá tình trạng đạt hay không đạt các tiêu chí về XD NTM; đảm bảo việc tuân thủ những quy định của pháp luật trong tổ chức triển khai thực hiện XD NTM theo các quy định, tiêu chí của CTMTQG về XD NTM Đây là một trong những chức năng, nhiệm vụ cần thiết để thanh kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chính
Trang 25sách, các thể chế quản lý của nhà nước Qua đó kịp thời phát hiện những sai sót và ngăn chặn, chấn chỉnh các hành vi sai phạm, kiểm soát các sai lầm, lệch lạc Đồng thời, xử lý các vi phạm, điều chỉnh các tiêu chí cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương Việc kiểm tra, giám sát các hoạt động thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới cần tiến hành
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch
và pháp luật của nhà nước về nông thôn mới;
Kiểm tra, giám sát việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước và các nguồn lực khác;
Kiểm tra, giám sát việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật; công tác quy hoạch
và giám sát về kinh tế, tổ chức sản xuất;
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chức năng và việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước về XD NTM
Đi đôi với kiểm tra, giám sát, định kỳ sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm để kịp thời tháo gỡ khó khăn, nhân rộng những kinh nghiệm, cách làm hay và những điển hình trong XD NTM; biểu dương khen thưởng các tập thể, cá nhân điển hình, tạo động lực cho phong trào thi đua chung sức XD NTM
1.2 Nội dung, tiêu chí, nguồn lực và các nhân tố ảnh hưởng đến xây dựng nông thôn mới
1.2.1 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới không phải chỉ nhằm xây dựng con đường, kênh mương, trường học, hội trường… mà cái chính là qua cách làm này sẽ tạo cho người nông dân hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa và thúc đẩy họ tự tin, tự quyết, đưa
ra sáng kiến, tham gia tích cực để tạo ra một nông thôn mới năng động hơn Phải xác định rằng, đây không phải là đề án đầu tư của Nhà nước mà là việc người dân cần làm, để cuộc sống tốt hơn, Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần
Căn cứ vào điều kiện thực tế của từng thôn về tiềm năng, lợi thế, năng lực của cán bộ, khả năng đóng góp của nhân dân… hướng dẫn để người dân bàn bạc đề xuất các nhu cầu và nội dung hoạt động của đề án Xét trên khía cạnh tổng thể, những nội dung sau đây cần được xem xét trong xây dựng mô hình nông thôn mới
Đào tạo nâng cao năng lực phát triển cộng đồng
Nâng cao năng lực cộng đồng trong việc quy hoạch, thiết kế, triển khai thực hiện, quản lý, điều hành các chương trình, dự án trên địa bàn thôn
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở và đội ngũ cán bộ các cấp về phát triển nông thôn bền vững
Trang 26Nâng cao trình độ dân trí của người dân
Phát triển mô hình câu lạc bộ khuyến nông thôn để giúp nhau ứng dụng TBKT vào sản xuất, phát triển ngành nghề, dịch vụ để giảm lao động nông nghiệp
Tăng cường và nâng cao mức sống cho người dân
Quy hoạch lại các khu dân cư nông thôn, với phương châm: Giữ gìn tính truyền thống, bản sắc của thôn, đồng thời đảm bảo tính văn minh, hiện đại, đảm bảo môi trường bền vững
Cải thiện điều kiện sinh hoạt của khu dân cư: Ưu tiên những nhu cầu cấp thiết nhất của cộng đồng dân cư để triển khai thực hiện xây dựng: Đường làng, nhà văn hoá, hệ thống tiêu thoát nước…
Cải thiện nhà ở cho các hộ nông dân: Tăng cường thực hiện xoá nhà tạm, nhà tranh tre nứa, hỗ trợ người dân cải thiện nhà ở, nhà vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi, hầm biogas cho khu chăn nuôi…
Hỗ trợ người dân phát triển sản xuất hàng hoá, dịch vụ nâng cao thu nhập Căn cứ vào các điều kiện cụ thể của mỗi thôn để xác định một cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả, trong đó:
Sản xuất nông nghiệp: Lựa chọn tập trung phát triển cây trồng, vật nuôi là lợi thế, có khối lượng hàng hoá lớn và có thị trường, đồng thời đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp trên cơ sở phát huy khả năng về đất đai, nguồn nước và nhân lực tại địa phương
Cung ứng các dịch vụ sản xuất và đời sống như: Cung ứng vật tư, hàng hoá, nước sạch cho sinh hoạt, nước cho sản xuất, điện, tư vấn kỹ thuật chuyển giao tiến
Xây dựng nông thôn gắn với phát triển ngành nghề nông thôn tạo việc làm phi nông nghiệp
Đối với những thôn chưa có nghề phi nông nghiệp: Để phát triển được ngành nghề nông thôn cần tiến hành “cấy nghề” cho những địa phương còn “trắng” nghề Đối với những thôn đã có nghề: Củng cố tăng cường kỹ năng tay nghề cho lao động, hỗ trợ công nghệ mới, quảng bá và mở rộng nghề, hỗ trợ xử lý môi trường, hỗ trợ tư vấn thị trường để phát triển bền vững
Hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất
Trang 27Tư vấn hỗ trợ quy hoạch giao thông, thuỷ lợi nội đồng, chuyển đổi ruộng đất, khuyến khích tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại với nhiều loại hình thích hợp
Hỗ trợ xây dựng mặt bằng cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, chế biến sau thu hoạch, giao thông, thuỷ lợi nội đồng
Xây dựng nông thôn gắn với quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường ở nông thôn
Vấn đề bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trường từ việc quản lý nguồn cấp nước, thoát nước đến quản lý thu gom rác thải ở nông thôn cũng đã trở nên đáng báo động Đã đến lúc cơ quan địa phương cần có những biện pháp quản lý môi trường địa phương mình như: Xây dựng hệ thống xử lý rác thải, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân, xây dựng hệ thống quản lý môi trường ở khu vực mình một cách chặt chẽ
Phát triển cơ sở vật chất cho hoạt động văn hoá, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc ở nông thôn
Thông qua các hoạt động ở nhà văn hoá làng, những giá trị mang đậm nét quê
đã được lưu truyền qua các thế hệ, tạo nên những phong trào đặc sắc mang hồn quê Việt Nam riêng biệt, mộc mạc – chân chất – thắm đượm tình quê hương
Xã hội hoá các hoạt động văn hoá ở nông thôn, trước hết xuất phát từ xây dựng làng văn hoá, nhà văn hoá làng và các hoạt động trong nhà văn hoá làng Phong trào này phải được phát triển trên diện rộng và chiều sâu
Căn cứ vào từng điều kiện cụ thể mà vai trò của từng nội dung đối với mỗi địa phương là khác nhau, tuy nhiên những nội dung trên cần được song song thực hiện, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ, toàn diện trong một mô hình nông thôn mới
1.2.2 Tiêu chí về xây dựng nông thôn mới
Các nhóm tiêu chí: Gồm 5 nhóm
- Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí)
- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế – Xã hội (có 08 tiêu chí)
- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí)
- Nhóm IV: Văn hóa – xã hội – môi trường (có 04 tiêu chí)
- Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)
Tiêu chí để xây dựng xã nông thôn mới cho chính phủ ban hành:
- Tiêu chí thứ 1: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch
Trang 28Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghịêp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ: Đạt
Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội – môi trường theo chuẩn mới: Đạt
Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện
có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hoá tốt đẹp: Đạt
- Tiêu chí thứ 2: Giao thông nông thôn
Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT: Đạt 100%
Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của
- Tiêu chí thứ 3: Thuỷ lợi
Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh: Đạt
Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hoá: Đạt từ 85% trở lên
- Tiêu chí thứ 4: Điện nông thôn
Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kĩ thuật của ngành điện: Đạt
Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn: Đạt từ 99% trở lên
- Tiêu chí thứ 5: Trường học
Tỷ lệ trường học các cấp mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia: Đạt 100%
- Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hoá
Nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch: Đạt
Tỷ lệ thôn có nhà văn hoá và khu thể thao đạt quy định của Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch: Đạt 100%
- Tiêu chí thứ 7: Chợ nông thôn
Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng: Đạt
- Tiêu chí thứ 8: Bưu điện
Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông: Đạt
Có Internet đến thôn: Đạt
- Tiêu chí thứ 9: Nhà ở dân cư
Trang 29Về nhà ở dân cư, bộ tiêu chí nông thôn mới xác định rõ sẽ không còn nhà tạm, dột nát và tất cả các vùng miền trong cả nước phải bảo đảm 90% nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng đề ra
- Tiêu chí thứ 12: Cơ cấu lao động
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đạt dưới 25%
Y tế xã đạt chuẩn Quốc gia
Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt từ 40% trở lên
- Tiêu chí thứ 16: Văn hoá
Xã có từ 70% số ấp, tổ trở lên đạt tiêu chuẩn ấp, tổ văn hoá theo tiêu quy định của Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch
- Tiêu chí thứ 17: Môi trường
Tỷ lệ hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn Quốc gia: Đạt từ 90% trở lên
Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
Không có các hoạt động suy giảm môi trường và các hoạt động phát triển môi trường xanh sạch đẹp
Nghĩa trang được xây dựng đúng quy định
Nước thải và chất thải được thu gom và xử lý theo quy định
- Tiêu chí thứ 18: Hệ thống tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh
Cán bộ xã đạt chuẩn
Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị theo quy định
Đảng bộ, Chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”
Trang 30Các tổ chức đoàn thể trong xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
- Tiêu chí thứ 19: An ninh trật tự xã hội
An ninh trật tự xã hội được giữ vững
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về nông thôn mới và xây dựng nông thôn mới
Sự lãnh đạo của Đảng Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X đã đề ra Nghị quyết số 26-NQ/TW, đề cập một cách toàn diện quan điểm của Đảng ta về phát triển NNNDNT, trong đó có XD NTM Nghị quyết khẳng định: NNNDNT có vai trò to lớn, chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Vì vậy, các vấn đề về NNNDNT phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH-HĐH Đó không phải chỉ là nhiệm vụ của nông dân ở khu vực NT mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
Thực hiện đường lối của Đảng, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về NNNDNT; đã thống nhất nhận thức, hành động về NNNDNT và CTMTQG XD NTM Nối tiếp Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2011-2016 cũng đã nêu: “Tiếp tục triển khai chương trình xây dựng NTM phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn, giữ gìn và phát huy nét văn hóa bản sắc của nông thôn Việt Nam” Thực hiện đường lối của Đảng, thời gian qua phong trào XD NTM ở các địa phương đã thu hút sự tham gia tích cực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và nhân dân, bước đầu làm thay đổi đáng kể diện mạo khu vực nông thôn tại nhiều địa phương, đời sống vật chất và tinh thần của người dân có bước tiến bộ rõ rệt Tuy nhiên, quá trình XD NTM còn bộc lộ nhiều hạn chế Đây là một chương trình mới nên phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm, năng lực thực tiễn của cán bộ các cấp chưa nhiều, công tác chỉ đạo, triển khai còn lúng túng Trong nhận thức một bộ phận nhân dân vẫn cho rằng xây dựng NTM là dự án do Nhà nước đầu tư, do đó còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước Vì vậy, trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, để mọi người dân đều nhận thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng chung sức xây dựng NTM
Vai trò quản lý và năng lực của bộ máy chính quyền các cấp XD NTM là một chương trình tổng hợp bao gồm mọi mặt công tác của Đảng, Nhà nước về NNNDNT Để thực hiện nội dung đó, Nhà nước phải đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành
Trang 31lang pháp lý, hỗ tợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện và kích thích tinh thần nhân dân thực hiện; nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách trong việc thực hiện các tiêu chí về XD NTM XD NTM là một vấn
đề phức tạp vì liên quan đến nhiều ngành, nhiều chính sách và hoạt động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khu vực nông thôn và đời sống của người dân Việc triển khai XD NTM mới là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó vai trò chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp đóng vai trò nòng cốt, có tính chất quyết định Vì vậy, nâng cao năng lực chỉ đạo, điều hành của UBND các cấp, nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực thực tiễn của đội ngũ cán bộ thực thi nhiệm vụ chính là vấn đề cần được quan tâm, chú trọng
Vai trò của MTTQ và các đoàn thể quần chúng XD NTM là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị, trong đó vai trò của MTTQ và các đoàn thể quần chúng là hết sức quan trọng Cùng với chính quyền, MTTQ và các đoàn thể nhân dân chính là nơi tập hợp, đoàn kết, động viên các hội viên, đoàn viên và toàn thể nhân dân tích cực tham gia thực hiện tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước do địa phương phát động, trong đó có chương trình chung sức XD NTM Do đó, để XD NTM thành công cần đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ và các đoàn thể theo hướng ngày càng đa dạng, thiết thực và hiệu quả
Sự tham gia chủ động, tích cực của người dân nông thôn Người dân, nhất là
cư dân nông thôn chính là chủ thể trong XD NTM Thể hiện ở chỗ: người dân trực tiếp tham gia phát triển kinh tế, tổ chức sản xuất, thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp NT; chủ động xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH; tham gia vào quá trình quy hoạch
và thực hiện quy hoạch XD NTM; xây dựng và giữ gìn đời sống văn hóa; đảm bảo
vệ sinh môi trường; duy trì ổn định về trật tự xã hội; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh
Sự tham gia của người dân, của cộng đồng trong XD NTM là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao tính dân chủ ở NT Từ đó huy động được cả cộng đồng tham gia tích cực vào các quá trình XD NTM, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
1.4 Cơ sở thực tiễn về xây dựng nông thôn mới
1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên, một nước từng bị đô hộ từ cuối thế kỷ
19, xuất phát điểm là một trong những quốc gia nghèo đói Cuối thập kỷ 60 GDP
Trang 32bình quân đầu người chỉ có 85USD, phần lớn người dân không đủ ăn, 80% người dân nông thôn vẫn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, ở trong những căn nhà lợp bằng lá Lúc ấy, nền kinh tế của Hàn Quốc phải dựa vào nông nghiệp trong khi khắp đất nước, lũ lụt và hạn hạn lại xảy ra thường xuyên Xã hội Hàn Quốc thời đó là một xã hội thờ ơ, hỗn độn và vô vọng Mối lo lớn nhất của Chính phủ là làm sao thoát khỏi đói nghèo
Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường sá mà không có sự trợ giúp của Chính phủ Điều này làm Tổng thống suy nghĩ rất nhiều và nhận ra rằng “viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp chính mình” Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp
đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào xây dựng nông thôn mới (Saemaul Udong)
Từ đó đến nay, phong trào Saemaul Udong đã thu được những thành tựu rất to lớn, sau 40 năm đưa đất nước Hàn quốc từ nghèo đói sang một nước phát triển, nằm trong tốp G20 của thế giới với thu nhập bình quân đầu người hơn 30.000 USD/năm Kinh nghiệm từ sự thành công của Hàn Quốc được thể hiện quan các tiêu chí sau:
(1) Đoàn kết nhân nhân, khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường trong nhân dân
để xây dựng nông thôn mới:
Phong trào Saemaul Udong không đơn thuần là một kế hoạch hành động mà còn là cả một cuộc cải tổ về ý thức dựa trên tinh thần Ngay từ đầu, Chính phủ đã truyền cho người dân ý thức “nhất định phải làm”, “đã làm là được”, “tất cả đều có thể làm được”
Nhờ được tuyên truyền tốt, người dân nhận thức được rằng phong trào Saemaul Udong là một cuộc cải tổ vì một cuộc sống tốt đẹp hơn cho cả cộng đồng chứ không chỉ đối với từng cá nhân đơn lẻ Sự thịnh vượng ở đây không chỉ bó hẹp
ở ý nghĩa vật chất, nó còn bao hàm cả ý nghĩa tinh thần, không chỉ cho thế hệ hôm nay mà còn cho cả con cháu mai sau Mục tiêu của phong trào SaemaulUdong là xây dựng nền tảng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi gia đình, làng xã góp phần vào sự tiến bộ chung của cả quốc gia
Để đoàn kết, tập hợp nhân dân trong sự nghiệp chung, Phong trào Saemaul Udong đề cao ba phẩm chất chính, đó là “ Sự cần cù, tự lực và hợp tác” Cần cù mang lại tính chân thật, không cho phép sự giả tạo và thói kiêu căng ngạo mạn Tính tự lực giúp cho con người tự quyết định vận mệnh của chính mình, không phải nhờ cậy đến bất kỳ sự giúp đỡ nào từ bên ngoài Hợp tác dựa trên mong muốn phát triển chung cả cộng đồng để nỗ lực vì mục tiêu chung
Trang 33Chính vì vậy ba nguyên tắc chủ yếu của phong trào Saemaul cũng chính là hạt nhân của công cuộc xây dựng một xã hội tiên tiến và một quốc gia thịnh vượng (2) Kích thích sự tham gia bằng những lợi ích thiết thực:
Giai đoạn đầu của sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, Chính phủ Hàn Quốc không có nhiều kinh phí, do đó, Chính phủ đã khéo léo sử dụng chính sách kích cầu đầu tư, huy động sức mạnh của nhân dân
Năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc đưa ra thử nghiệm 10 dự án lớn trong phát triển nông thôn, bao gồm mở rộng và nắn thẳng đường sá, làm lại mái nhà bếp và hàng rào, xây dựng giếng nước công cộng và khu giặt giũ công cộng… vv Kinh phí
để thực hiện các dự án này phần lớn dựa vào quỹ của xã và lực lượng lao động sẵn
có, Chính phủ chỉ cấp miễn phí cho mỗi xã trung bình 355 bao xi măng Kế hoạch triển khai trên quy mô toàn quốc và hơn 33.000 xã được nhận hỗ trợ Kết quả là mười sáu nghìn xã tức là phân nửa số xã ở nông thôn đã được cải thiện rõ rệt Toàn
bộ kế hoạch đều do chính ủy ban xã đó quản lý
Tới năm thứ hai, Chính phủ quyết định tiếp tục giúp đỡ những xã đã tự biết đứng lên bằng cách cấp thêm cho mỗi xã 500 bao xi măng và một tấn thép Nhờ đó, nhà tranh vách đất được dần thay thế bằng nhà mái ngói và tường xây Khắp nơi trên các làng xã, đường sá được mở rộng, đê điều được tu bổ và cầu cống được xây dựng Làng xã phát triển chóng mặt, người dân nông thôn lấy lại được sự tự tin vốn
có, những người trước đây sống rất thờ ơ giờ cũng bắt tay xây dựng lại ngôi làng của chính mình
Năm thứ 3, Chính Phủ Hàn Quốc đã đề ra chủ trương những làng tích cực thì được hỗ trợ nhiều Chính phủ đã chia tổng số 33.267 xã của cả nước thành 3 nhóm, trong đó, nhóm làng tích cực chiếm 6,7%, nhóm làng trung bình chiếm 40,2%, nhóm làng cơ bản chiếm 53,1% Chính phủ quy định, những làng thăng hạng sẽ được thưởng 2000 USD Do đó,chỉ sau 3 năm (năm 1976), tỷ lệ nhóm làng cơ bản chỉ còn có 0,9% nữa Những làng làm tốt cảm thấy họ được Chính phủ đền ơn Nhờ
đó mà nông thôn nước Hàn đã thay đổi mạnh mẽ
Kết quả sau 8 năm (1971-1978), cả nước Hàn Quốc đã làm được:
- 43.631 km đường giao thông liên làng (nhựa và bê tông);
- 42.220 km đường giao thông ngõ xóm (nhựa và vê tông);
- 68.797 cầu nông thôn (bê tông, cốt thép);
- 7.839 km đê được cứng hóa
- 24.140 hồ chứa nước được xây dựng;
- 98% hộ được dùng điện;
Nhờ khơi dậy nội lực của nông dân mà nông thôn Hàn Quốc đã có những biến
Trang 34đổi to lớn Cuối những năm 80, Nông thôn Hàn Quốc đã biển hiện có những dấu hiệu của sự phát triển và đô thị hóa
(3) Phát triển kinh tế hộ và các loại hình kinh tế có sức cạnh tranh cao:
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ “Quan điểm của Hàn Quốc là không kêu gọi đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp vì lo ngại lợi nhuận các công ty nước ngoài hưởng còn nông dân suốt đời làm thuê” (Lee Sang Mu, Cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về Nông – lâm – ngư nghiệp) Chính vì vậy, Chính phủ Hàn Quốc chủ trương hỗ trợ để nông dân tự mình đứng lên trở thành người chủ đích thực
- Thành lập các khu liên hiệp nông nghiệp trồng các sản phẩm đem lại lợi nhuận cao như nấm, thuốc lá để gia tăng tổng thu nhập Các khu liên hiệp này trồng cây trong nhà kính, sản phẩm rau sạch có thể thu hoạch ngay giữa mùa đông Khi làm việc tập thể, người nông dân cũng giảm được các chi phí không cần thiết so với làm việc đơn lẻ nên làm tăng hiệu quả sản xuất
- Chính phủ cho xây dựng các nhà máy ở nông thôn để gia tăng thu nhập Các nhà máy đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều phụ nữ Kết quả là thu nhập ở nông thôn tăng đều đặn Năm 1977, có 98% các xã đã có thể độc lập về kinh
tế
(4) Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân: Chính phủ luôn đóng vai trò cốt yếu trong việc gia tăng thu nhập cho người dân nông thôn Đi kèm với việc phát triển hạ tầng và tăng cường các cơ sở đào tạo nghề nông, đưa tiến bộ KHKT, các loại giống mới như nấm, cây thuốc lá được đưa vào sản xuất Các làng xã và xí nghiệp đều được trang bị thư viện Saemaul và các phương tiện vui chơi giải trí khác Đặc biệt, thư viện ở nông thôn đều có sách về các phương pháp canh tác mới Đây là bước đột phá lớn ở nông thôn và là nguyên nhân chính gia tăng thu nhập Năm 1974, sản lượng lúa tăng đến mức độ cố thể tự cấp tự túc Phổ biến kiến thức nông nghiệp đã tạo nên một cuộc cách mạng trong phương pháp canh tác Nuôi lợn, bò, gà cũng đem lại lợi nhuận đáng kể Các làng chài cũng chuyển từ đánh bắt sang nuôi trồng thủy sản Tập quán trồng lúa và lúa mạch xưa kia đã được thay thế triệt để bằng các phương pháp canh tác tổng hợp Khi đất nước đã giàu có, Chính phủ Hàn Quốc có thêm nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển khoa học công nghệ phục vụ nông nghiệp, nông thôn Năm
1995, Trung tâm Nghiên cứu và Xúc tiến Phát triển nông nghiệp (ARPC) được thành lập Trung tâm này đảm nhận hỗ trợ nghiên cứu và triển khai (R&D) trong nông nghiệp với kinh phí hoạt động lên tới 358 triệu USD và hàng năm lại tăng thêm 6,4% (trong khi thu ngân sách chỉ tăng 4,1%/năm)
Ngoài ra, Chính phủ còn đầu tư vào Chương trình Hỗ trợ phát triển cụm nông
Trang 35nghiệp với kinh phí rất lớn (năm 2005 là 12,6 triệu USD, năm 2006 là 20,9 triệu USD) nhằm mục đích phát triển hệ thống liên vùng kết nối giữa các nhà nghiên cứu, các viện nghiên cứu, các ngành công nghiệp và chính quyền địa phương nhằm giúp nông dân tiếp cận nhanh nhất với dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật và marketing
(5) Xây dựng trật tự, kỷ cương và nếp sống lành mạnh trong xã hội:
Thành công của phong trào Seamaul ở nông thôn lan tới các vùng không làm nông nghiệp như trường học, công sở, thành phố, nhà máy với nhiều lĩnh vực khác nhau Các thành phố bắt đầu các dự án chống tham nhũng và xây dựng một đô thị hoàn hảo Ba chiến dịch Seamaul Udong đã được phát động là chiến dịch tinh thần,
cư xử và môi trường
Chiến dịch tinh thần bao gồm mối quan hệ thân thiện hơn với láng giềng, kế thừa và phát huy những truyền thống dân tộc dựa trên lòng hiếu thảo và nâng cao ý thức cộng đồng Chiến dịch cư xử nhấn mạnh tới trật tự công cộng trên đường phố, những cách ứng xử tích cực, hành vi nơi công cộng và cấm say rượu dẫn tới cư xử không đúng đắn Chiến dịch môi trường nhấn mạnh vấn đề vệ sinh khu vực đang sống và làm việc, gìn giữ môi trường đường phố và phát triển màu xanh ở thành phố cũng như các con sông
Tại nhà máy, phong trào Seamaul hướng tới khôi phục niềm tin và nâng cao khẩu hiệu “ mọi công nhân trong nhà máy đều là thành viên trong một gia đình, việc của nhà máy là việc của bản thân”, đoàn kết, đồng lòng cùng xây dựng nhà máy phát triển vững mạnh Việc củng cố nền tảng cho sự ổn định của các ngành công nghiệp được chú trọng bằng cách thu hẹp khoảng cách về hệ thống giá trị giữa công nhân và giới chủ và xây dựng những quy tắc ứng xử lành mạnh Thêm vào đó, dịch
vụ công cộng ở nông thôn cũng là một cách để xây dựng những quy tắc đạo đức đúng đắn
(6) Phân cấp phân quyền và thực hiện dân chủ trong quản lý và thực hiện dự án:
Trong thời kỳ đầu, phong trào Saemaul bắt đầu bằng việc Chính phủ giao quyền tự quản rộng rãi cho chính quyền xã Bộ Nội vụ khi đó được giao đảm trách vấn đề này Một số các cơ quan ban ngành khác của Chính phủ cũng tham gia hỗ trợ thực thi công cuộc này trong đó có cả chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp huyện
Hội đồng xã và thị trấn thành lập Ủy ban điều hành để đảm bảo kế hoạch được thực thi suôn sẻ Các làng đều có một người lãnh đạo (nam hoặc nữ) song hành cùng với ban phát triển tự quản
Ban phát triển tự quản có hai phân ban chính của phụ nữ và thanh niên cùng
Trang 36với một số tiểu ban khác Họ có nhiệm vụ lập kế hoạch và điều hành các tiểu ban để tăng được thu nhập xã và thúc đẩy những giá trị và tư tưởng tiến bộ
Các dự án Saemaul do hội đồng cấp huyện quyết định và phải có sự nhất trí của Chánh án Tiêu chí chọn dự án mới là sự cần thiết đối với người dân, điều kiện sống được cải thiện cho tất cả người dân trong vùng và lợi ích lâu dài của dự án Mỗi tháng ít nhất hai lần có viên chức nhà nước tới để kiểm tra và hướng dẫn tiến độ của sáng kiến quốc gia theo chức trách Lãnh đạo của các phân ban có nhiệm vụ báo cáo tóm tắt hàng tháng và tổng kết tiến độ hàng năm Đánh giá từng giai đoạn là một bước rất quan trọng Có ba báo cáo chính: báo cáo tiền dự án, báo cáo lâm thời và báo cáo tổng kết dự án Hiệu quả của dự án trước được nghiên cứu rất kỹ lưỡng để phát triển tiếp những dự án mới Các bản báo cáo tổng kết dự án được sử dụng rộng rãi trong chế độ bổ nhiệm cán bộ xã
(7) Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương:
Sau một năm thực hiện kế hoạch, Chính phủ đã nhận ra tầm quan trọng của người lãnh đạo Những nơi có người lãnh đạo đã triển khai dự án rất tốt, theo đúng đường lối của nhà nước còn những nơi không có người lãnh đạo thường tiêu phí tài nguyên vô ích Chính vì vậy, phải có người lãnh đạo tận tâm
Nhận ra được tầm quan trọng của người cầm đầu dự án, năm 1972, Chính phủ
đã thành lập Học viện Bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo Saemaul Mỗi xã được phép cử một cán bộ (nam hoặc nữ) đi học Khoá học bồi dưỡng lãnh đạo nhấn mạnh vào sự cống hiến quên mình và nêu gương cho quần chúng Họ học trong một lán trại chung, do đó hiểu được cách làm việc theo nhóm trên tinh thần hợp tác Trong mỗi buổi thảo luận nhóm, các thành viên chia sẻ kinh nghiệm làm việc và do đó có thể học tập lẫn nhau bên cạnh sự hướng dẫn và trợ giúp của giáo viên Chính những học viên này sẽ là những người lãnh đạo và hướng dẫn cho dân làng Tại thời điểm bấy giờ, khi vai trò của phụ nữ còn chưa được coi trọng thì sự tham gia của một bộ phận
nữ giới trong khoá học đã tạo ra sự khác biệt căn bản Phụ nữ đứng ra gây quỹ cho địa phương, họ tiết kiệm thực phẩm và tham gia vào phong trào giữ sạch đẹp làng
xã Ngoài ra, họ còn góp phần tích cực trong việc ngăn ngừa nạn rượu chè, cờ bạc
Số lượng các quán rượu bắt đầu giảm hẳn trong thời gian này Phương pháp đào tạo cán bộ cho các dự án Saemaul đã có ảnh hưởng nhất định đến các chính trị gia, lãnh đạo các tôn giáo, giới báo chí và cả người nước ngoài Những chính trị gia trước kia vẫn không mấy mặn mà lắm với phong trào Saemaul cũng chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ bởi phương pháp đào tạo Saemaul
Trang 37Bảng 1.1: Kết quả hoạt động đào tạo trong phong trào Saemaul Udong:
Phân loại Số lượng (lượt người) Tổng số (lượt người)
(8) Thực hiện các chính sách hỗ trợ cho nông dân:
Để nông thôn có đủ nguồn lực và liên tục phát triển, Hàn Quốc đã tìm mọi cách Cụ thể là:
- Áp dụng chính sách miễn thuế xăng dầu, máy nông nghiệp, điện giá rẻ cho chế biến nông sản;
- Cho nông dân thuê máy nông nghiệp;
- Giảm lãi suất tiền vay 2% so với các ngành nghề khác cho những dự án đầu
tư vào nông nghiệp, nông thôn;
- Ban hành đạo Luật “Các ngành phải trợ giúp nông nghiệp, nâng cao đời sống nông dân và ngư dân”
Khi lao động làm việc ở nông thôn ngày càng ít đi (năm 2007 dân số ở nông thôn chỉ còn 6,7%) và thu nhập giữa nông thôn và thành phố chênh lệch lớn, Chính phủ đã cho triển khai Dự án Khám phá làng nông thôn truyền thống Cơ quan phát triển nông thôn Hàn Quốc được giao triển khai dự án này Có 141 làng nằm trong
dự án, mỗi làng được nhận khoản tiền đầu tư 200.000 USD Mục đích của Dự án là kéo người dân thành phố về với nông thôn
Đồng thời, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân tham gia mô hình du lịch làng với chiến dịch “Mỗi công ty - Một làng nông nghiệp” Thường thì mỗi doanh nghiệp đăng ký “đỡ đầu” cho một làng, mức tiền đầu tư mà nhà nước khuyến khích là tối thiểu 300.000 USD/làng Tập đoàn Hyundai hiện đang giúp đỡ
Trang 3866 làng trên toàn quốc Hàng năm Hyundai bố trí một lực lượng nhân viên, công nhân của mình về các làng này giúp đỡ nông dân gặt lúa, thu hoạch mùa màng, tham gia sửa nhà, sửa đường, chữa xe và khuyến khích nhân viên tiêu thụ các loại nông sản cho nông dân
Bên cạnh đó, Chính Phủ Hàn Quốc còn:
- Hỗ trợ tài chính cho nông dân: Những nông dân có độ tuổi trên 65 được hỗ trợ nhượng bán hoặc cho thuê đất Chương trình này bắt đầu từ năm 1997, theo đó, người trên 65 tuổi khi nhượng, bán hoặc cho thuê đất với thời hạn trên 5 năm sẽ được hỗ trợ 3000 USD/ha
- Thực hiện hỗ trợ cho lao động trẻ nhằm chống lại xu hướng già hóa lực lượng lao động nông nghiệp và khuyến khích chuyên môn hóa Theo đó, hàng năm, Nhà nước chọn khoảng 1.000 lao động trẻ dưới 35 tuổi cho họ tiếp nhận khoản vốn vay ưu đãi với mức tối đa tương đương 75.000 USD để họ tham gia hoạt động nông nghiệp
- Áp dụng chính sách chỉ bán đất sản xuất nông nghiệp cho những người đăng
ký là nông dân
- Thực hiện chính sách người từ thành phố về sinh sống ở nông thôn được trợ cấp lần đầu 50.000 USD và nhiều ưu đãi khác
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, có dân số trên 1,3 tỷ người, trong đó nông dân sống ở nông thôn gần 900 triệu người Dân số của Trung Quốc chiếm 21% dân số thế giới, trong khi đó, diện tích đất canh tác chỉ chiếm có 9% của thế giới Lại xuất phát điểm là một nước nghèo nhưng nhờ có công cuộc cải cách mở cửa, Trung Quốc đã trỗi dậy như một hiện tượng thần kỳ của khu vực Châu Á và trên thế giới
Với một diện tích đất canh tác ít ỏi như vậy, để nuôi sống 21% dân số của thế giới là một bài toán hóc búa Lời giải cho bài toán đó chính là chính sách Tam nông của Trung Quốc mà nhiều người gọi là “Quốc sách”
Thành công của chính sách Tam nông của Trung Quốc cho phép chúng ta rút
ra những bài học sau đây:
(1) Cải tổ việc quản lý trong nông nghiệp:
Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc, trong đó những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh 2 tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp và thực hiện trợ
Trang 39cấp trực tiếp cho nông dân
Nổi bật trong việc cải tổ quản lý trong nông nghiệp là:
- Xóa bỏ công xã nhân dân Công xã nhân dân được hình thành từ thời “Đại nhảy vọt” (1958), vốn là cấp bậc cao nhất trong ba cấp bậc hành chánh ở nông thôn Trung Quốc Nó là đơn vị tập thể hóa lớn nhất, được chia thành những đội và đoàn sản xuất Các công xã nhân dân vừa có chức năng kinh tế, chức năng chính trị và chức năng chính quyền Bước vào thời kỳ cải cách mở cửa, hình thức Công xã nhân dân đã bộc lộ nhiều khuyết tật, trở thành lực cản của sự phát triển Vì vậy, đến năm
1985 Trung Quốc đã quyết định xóa bỏ công xã nhân dân và thay thế chúng bằng bằng các Hương Làng Xóa bỏ Công xã nhân dân đã đặt các thành phần kinh tế cùng bình đẳng trong cơ chế thị trường
- Đổi mới cơ chế quản lý như thực hiện cơ chế “hai mở một điều chỉnh” Hai
mở là mở cửa giá thu mua theo cơ chế thị trường, mở cửa thị trường mua bán lương thực Một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân như trợ cấp giống, phân bón, vật tư, máy móc
Việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp đã thực sự cởi trói cho nông dân, thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển mạnh trong những năm vừa qua
(2) Nguồn lực của Nhà nước tập trung cho kết cấu hạ tầng:
Để thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện đời sống dân sinh ở nông thôn, Chính phủ Trung Quốc đã huy động nhiều nguồn lực cho xây dựng kết cấu hạ tầng
ở nông thôn Ngân sách nhà nước chủ yếu được sử dụng cho làm đường giao thông, xây dựng công trình thủy lợi, trường học, cơ sở y tế chỉ một phần nhỏ dùng để xây nhà cho người dân Nhờ đó, đến năm 2011, nông thôn Trung Quốc có kết cấu hạ tầng tương đối hoàn chỉnh Cụ thể là:
- 95% số thôn có đường bộ đến trung tâm thôn;
- 98,7% số thôn có điện;
- 97,6 % số thôn có điện thoại;
- Cải tạo và xây dựng mới 188.000 trạm y tế hương, trấn; trang bị thêm thiết bị
y tế cho 117.000 trạm y tế
Chỉ tính riêng trong 5 năm tài chính 2005 – 2011, Nhà nước Trung Quốc đã xây mới và cải tạo 1,3 triệu km đường nông thôn, cải tạo 22.000 trường tiểu học và trung học nông thôn không an toàn
Nhờ tập trung nguồn lực của Nhà nước vào xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn nên hạ tầng của nông thôn Trung Quốc khá đồng bộ theo quy hoạch thống nhất, dần thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn với thành thị
(3) Phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn để tạo việc làm tại chỗ, nâng
Trang 40cao nhu nhập cho người dân:
Song song cới việc thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển mạnh mẽ để đảm bảo an ninh lương thực, ổn định đời sống nhân dân, Trung Quốc tìm cách để phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn để giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân
Hiện nay, cơ cấu lao động nông thôn Trung Quốc cũng chuyển dịch rất mạnh,
226 triệu lao động nông thôn chuyển sang chế độ làm thuê trong các xí nghiệp hoặc các ngành dịch vụ khác Đạt được thành tựu đó là nhờ Trung Quốc đã phát triển mạnh các doanh nghiệp ở nông thôn
Chính phủ Trung Quốc đặc biệt chú trong phát triển các doanh nghiệp hương trấn (town village enterprises, TVEs) Về hình thức, phần lớn TVEs do chính quyền hương trấn ở địa phương sỡ hữu, một loại sở hữu tập thể giống như hợp tác xã, nhưng trên thực tế, các loại doanh nghiệp này hoạt động như doanh nghiệp tư nhân Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, TVEs là một trong hai đầu máy kéo lực lượng sản xuất của Trung Quốc theo hướng hiệu suất hoá
và tăng năng lực cạnh tranh Từ năm 1986 đến năm 1997, tỷ lệ của TVEs trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc đã tăng từ 9% lên đến 46% (Lin and Yao 2001, tr.147) Vào những năm đầu trong quá trình cải cách của Trung Quốc, TVEs chỉ chiếm dưới 10% lực lượng lao động có việc làm ở nông thôn, nhưng đến giữa thập niên 1990 tỷ
lệ đó đã tăng lên gần 30% Tỷ lệ của TVEs trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã tăng từ 10% năm 1980 lên tới 58% năm 1997 (Lin and Yao
2001, tr 146)
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn, nhanh chóng đưa tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; phát triển các ngành sản xuất cần nhiều lao động; mở rộng các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn là chìa khóa giúp Trung Quốc thành công trong chính sách “Li nông, bất ly hương” Việc thực thi chính sách “cho nhiều, thu ít, tạo nhiều việc làm” đã mở rộng con đường giúp nông dân tăng thu nhập
(4) Có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân, đảm bảo an sinh xã hội:
Đến năm 2009, thu nhập bình quân của cư dân nông thôn Trung Quốc đã đạt
5000 nhân dân tệ Những chính sách cụ thể là:
- Xóa bỏ thuế nông nghiệp (gồm cả thuế chăn nuôi, thuế đặc sản) Việc giảm thuế nông nghiệp đã đã thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh hơn, riêng sản lượng lương thực tăng liên tục sau 4 năm, đến năm 2007, lần đầu tiên Trung Quốc đạt trên
500 triệu tấn (sản lượng cây có hạt) Việc xóa bỏ thuế nông nghiệp đã làm giảm gánh nặng đóng góp cho nông dân mỗi năm 133,5 tỷ nhân dân tệ