1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng phương pháp đánh giá rủi ro từ hoạt động của lò đốt chất thải nguy hại cho một cơ sở hành nghề xử lý chất thải nguy hại tại Hải Phòng

109 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 2,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áp dụng phương pháp đánh giá rủi ro từ hoạt động của lò đốt chất thải nguy hại cho một cơ sở hành nghề xử lý chất thải nguy hại tại Hải Phòng Áp dụng phương pháp đánh giá rủi ro từ hoạt động của lò đốt chất thải nguy hại cho một cơ sở hành nghề xử lý chất thải nguy hại tại Hải Phòng luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-* -

PHẠM THỊ LAN

ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ RỦI RO

TỪ HOẠT ĐỘNG CỦA LÒ ĐỐT CHẤT THẢI NGUY HẠI CHO MỘT CƠ SỞ HÀNH NGHỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Áp dụng phương pháp đánh giá rủi ro từ hoạt động của lò đốt chất thải nguy hại cho một cơ sở hành nghề xử lý chất thải nguy hại ở Hải Phòng” là công trình nghiên cứu của cá nhân được thực hiện trên cơ sở khảo sát thực tế và tham khảo các tài liệu chuyên môn

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hải Phòng, ngày 24 tháng 05 năm 2017

Phạm Thị Lan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Đặng Kim Chi người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện Luận văn, người luôn quan tâm, tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình giúp đỡ, ân cần dạy bảo và trang bị cho tôi những kiến thức bổ ích, thiết thực trong những năm qua

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Đào tạo sau Đại học - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn

Tôi cũng gửi lời cám ơn tới Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng đã giúp tôi rất nhiều trong việc thu thập các thông tin, số liệu liên quan đến đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, đồng nghiệp, bè bạn đã luôn giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều trong suốt thời gian tôi theo học chương trình cao học và làm luận văn

Hải Phòng, ngày 24 tháng 05 năm 2017

Phạm Thị Lan

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Phương pháp luận đánh giá rủi ro, mô hình đánh giá rủi ro 5

1.1.1 Khái niệm về đánh giá rủi ro 5

1.1.2 Quá trình đánh giá rủi ro 6

1.1.3 Lịch sử phát triển đánh giá rủi ro 11

1.2 Giới thiệu về lò đốt 2 buồng đốt CTNH ở VN 13

1.2.1 Giới thiệu chung 13

1.2.2 Công nghệ lò đốt chất thải nguy hại 14

1.2.3 Quá trình đốt chất thải rắn 16

1.3 Dioxin và Furan và thực tế liên quan đến phát thải dioxin -furan ở VN 19

1.3.1 Sự hình thành Dioxxin và Furan trong lò đốt chất thải nguy hại 19

1.3.2 Mức độ phát thải và ô nhiễm môi trường của dioxin và các hợp chất liên quan trong thiêu đốt chất thải 20

1.3.3 Tình trạng phát thải dioxin và các hợp chất liên quan trong thiêu đốt chất thải 21

1.4 Các chế tài kiểm soát phát thải DIOXIN ở Việt Nam 26

Trang 5

1.4.1 Các Quy định pháp lý về dioxin tại Việt Nam 26 1.4.2 Các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dioxin 27

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐÁNH GIÁ RỦI RO TỪ HOẠT ĐỘNG CỦA LÒ ĐỐT CHẤT THẢI NGUY HẠI 29 2.1 Ước tính xác xuất xảy ra phát thải DIOXIN/FURAN do sự cố 29

2.1.1 Đánh giá rủi ro sự cố môi trường trong hoạt động vận hành hệ thống

lò đốt chất thải nguy hại 29 2.1.2 Phương pháp đánh giá rủi ro bằng tính toán thống kê của Tổ chức Năng lượng nguyên tử thế giới (IAEA) 33 2.1.3 Phương pháp trọng số 42

2.2 Hướng dẫn đánh giá hậu quả sự cố môi trường do vận hành lò đốt CTNH 43 2.3 Xây dựng kịch bản xảy ra sự cố để làm cơ sở xây dựng các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu phát thải DIOXIN/FURAN trong quá trình vận hành lò đốt 45

2.3.1 Kịch bản số 1: Phát thải các chất ô nhiễm do cháy nổ, rò rỉ CTNH trong quá trình thu gom, vận chuyển CTNH từ nhà máy sản xuất về Công ty

để xử lý 45 2.3.2 Kịch bản số 2: Phát thải các chất ô nhiễm do cháy, rò rỉ CTNH trong quá trình tập kết và phân loại CTNH trước khi đưa vào lò đốt 46 2.3.3 Kịch bản số 3: Sự cố gây phát thải các chất trong quá trình vận hành

lò đốt và kiểm soát khí thải 48

CHƯƠNG 3 ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐÁNH GIÁ RỦI RO TỪ HOẠT ĐỘNG CỦA LÒ ĐỐT CTNH CỦA CÔNG TY TNHH TM&DV TOÀN THẮNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT RỦI RO 51 3.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng 51

3.1.1 Vị trí 51

Trang 6

3.1.2 Quy mô 54

3.2 Tìm hiểu thực trạng hoạt động của lò đốt CTNH tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng 55

3.2.1 Chức năng 55

3.2.2 Công suất, tải trọng, quy mô, kích thước 55

3.2.3 Cấu tạo, công nghệ và tính chất các loại CTNH có khả năng quản lý 56 3.2.4 Kết quả quan trắc môi trường hoạt động định kỳ hàng năm 62

3.3 Kết quả xác định mức độ phơi nhiễm dioxin/furan tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng 66

3.4 Đánh giá rủi ro [30,31] 69

3.5 Đề xuất các giải pháp kiểm soát rủi ro đối với hoạt động đốt CTNH tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng 70

3.5.1 Giảm thiểu rủi ro từ khâu kiểm soát thành phần và phối liệu CTNH được đốt trong lò đốt 2 cấp 71

3.5.2 Giảm thiểu rủi ro từ quá trình cháy 77

3.5.3 Giảm thiểu rủi ro từ quá trình tái tạo dioxin/furan 84

3.5.4 Giảm thiểu rủi ro từ phơi nhiễm dioxin/furan đối với công nhân vận hành 86

3.5.5 Giảm thiểu rủi ro đối với cộng đồng 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88

1 Kết luận: 88

2 Kiến nghị 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

TỪ VIẾT TẮT Stt Ký hiệu viết tắt Minh giải

1 BHLĐ Bảo hộ lao động

2 BQLDA Ban quản lý dự án

3 BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường

4 BOD Nhu cầu oxy sinh hóa

5 BVMT Bảo vệ môi trường

6 CB-CNV Cán bộ công nhân viên

7 CTNH Chất thải nguy hại

8 CTR Chất thải rắn

9 CTNH Chất thải nguy hại

10 COD Nhu cầu oxy hóa học

11 DO Dầu diesel

12 DRCs Dioxin và các hợp chất tương tự dioxin

13 ĐTM Đánh giá tác động môi trường

14 ĐRM Đánh giá rủi ro môi trường

15 ĐVT Đơn vị tính

16 ĐZ Đường dây

17 ERA Đánh giá rủi ro sinh thái

18 EU Liên minh các nước châu Âu

19 GPMB Giải phóng mặt bằng

20 HRA Đánh giá rủi ro sức khỏe

21 IRA Đánh giá rủi ro công nghiệp

22 K.lượng Khối lượng

23 KTXH Kinh tế xã hội

24 L.lượng Lưu lượng

25 LLTC Lực lượng thi công

26 MBA Máy biến áp

27 MVA Mega Vôn Ampe

28 NL Nhiên liệu

29 PCCC Phòng cháy chữa cháy

30 POP Chất hữu cơ khó phân hủy

31 QLMT Quản lý môi trường

32 QLRRMT Quản lý rủi ro môi trường

Trang 8

33 QCVN Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia

34 QCCP Quy chuẩn cho phép

35 RTSH Rác thải sinh hoạt

36 Sở TN&MT Sở Tài nguyên và Môi trường

37 SCMT Sự cố môi trường

38 TCCP Tiêu chuẩn cho phép

39 TCXDVN Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam

40 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

41 TBA Trạm biến áp

42 TEQ Độ độc tương đương

43 TSS Chất rắn lơ lửng

44 UBND Ủy ban nhân dân

45 UBMTTQ Ủy ban mặt trận Tổ Quốc

46 VNĐ Việt Nam Đồng

47 WB Ngân hàng thế giới

48 WHO World Health Organization-Tổ chức Y tế

Thế giới

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Hàm lượng TEQ trong khí thải ống khói lò đốt (pg/Nm3) của một số cơ

sở lò đốt đang hoạt động 23

Bảng 2.1 Liệt kê các yếu tố rủi ro từ hoạt động của lò đốt CTNH 29

Bảng 2.2 Thành phần khí thải 34

Bảng 2.3 Đánh giá mức độ độc tính của dioxin/ furan 40

Bảng 2.4 Xác định mức độ phơi nhiễm EL 41

Bảng 2.5 Xác định mức độ rủi ro RL 42

Bảng 3.1 Các hạng mục công trình nhà máy 54

Bảng 3.2 Đặc tính kỹ thuật lò đốt CTNH 55

Bảng 3.3 Các CTNH có khả năng xử lý trong lò đốt 61

Bảng 3.4 Kết quả quan trắc môi trường không khí sản xuất (Tháng 12/2015) 62

Bảng 3.5 Kết quả quan trắc môi trường không khí sản xuất (Tháng 3/2016) 63

Bảng 3.6 Kết quả quan trắc môi trường không khí sản xuất (Tháng 5/2016) 63

Bảng 3.7 Kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh (tháng 12/2015) 64

Bảng 3.8 Kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh (tháng 3/2016) 64 Bảng 3.9 Kết quả quan trắc môi trường không khí xung quanh (tháng 5/2016) 65 Bảng 3.10 Kết quả Giám sát khí thải của ống khói Lò đốt chất thải 66

Bảng 3.11 Phương pháp xác định mức độ nồng độ môi trường lao động (WL) 66 Bảng 3.12 Xác định giá trị WL trong môi trường lao động 67

Bảng 3.13 Xác định tần suất làm việc 67

Bảng 3.14 Xác định tần suất làm việc của công nhân tại các bộ phận 67

Bảng 3.15 Mức độ phơi nhiễm đối với dioxin/ furans các khu vực làm việc 68

Bảng 3.16 Xác định giá trị WL trong môi trường ống thải 68

Bảng 3.17 Xác định tần suất làm việc của công nhân tại các bộ phận 68

Bảng 3.18 Mức độ phơi nhiễm đối với dioxin/ furans các khu vực ống thải 68

Bảng 3.19 Xác định giá trị WL trong môi trường xung quanh nhà máy 69

Bảng 3.20 Xác định tần suất tiếp xúc 69

Trang 10

Bảng 3.21 Mức độ phơi nhiễm đối với dioxin/ furans khu vực xung quanh nhà

máy 69

Bảng 3.22 Kết quả xác định mức độ rủi ro RL 69

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ nguyên lý hệ thống xử lý khí thải 16

Hình 1.2 Sơ đồ công nghệ của quá trình đốt 17

Hình 1.3 Cấu tạo của PCDD và PCDF 19

Hình 1.4 Tồn lưu Dioxin/Furan chưa bị phân hủy trong quá trình đốt 20

Hình 2.1 Các bước để ước tính rủi ro của một sự cố phát thải DIOXIN/FURAN từ hoạt động vận hành hệ thống lò đốt CTNH 31

Hình 3.1 Sơ đồ mặt bằng Công ty Toàn Thắng 53

Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ vận hành lò đốt CTNH 57

Hình 3.3 Sơ đồ phân loại chất thải nên xử lý bằng phương phát đốt 73

Hình 3.4 Sơ đồ tiền xử lý chát thải trước khi đốt 75

Hình 3.5 Sơ đồ hướng dẫn khởi động lò đốt 78

Hình 3.6 Sơ đồ hướng dẫn quy trình tắt lò 82

Hình 3.7 Sơ đồ hướng dẫn duy tu bảo dưỡng lò đốt 84

Trang 11

tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ Trong những năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP của Hải Phòng luôn ổn định và được đánh giá cao so với bình quân chung của cả nước; công nghiệp giữ vai trò chủ lực, chiếm 31% trong GDP của thành phố, góp phần quan trọng hàng đầu vào tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu, thu hút lao động, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển dịch vụ, đô thị, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đấy, Hải Phòng cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức về môi trường trong quá trình tăng trưởng này Một trong những nguyên nhân là do sự hình thành các khu, cụm công nghiệp và sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân để đầu tư sản xuất, đa dạng hoá ngành nghề sản xuất trên địa bàn thành phố Hiện nay, sự phát triển mạnh ngành công nghiệp cũng như sự ra đời và phát triển của các KCN, doanh nghiệp sản xuất một mặt góp phần rất lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội tại các địa phương nhưng lại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Hiện trạng ô nhiễm môi trường do các chất thải từ quá trình hoạt động sản xuất đặc biệt là các chất thải có nhiễm các chất nguy hại tại hầu khắp các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất đang trong tình trạng báo động Nhiều KCN, doanh nghiệp không biết thu gom, phân loại, quản lý và xử lý các chất thải nguy hại này dẫn đến việc thải bỏ bừa bãi ra ngoài môi trường hay tự ý mang đi chôn lấp xuống đất đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

Việc thu gom, phân loại, quản lý và xử lý các chất thải nguy hại này là vấn

đề vô cùng cấp bách góp phần vào sự phát triển bền vững mọi quốc gia Chính vì

Trang 12

vậy, tại nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, việc đòi hỏi phải kiểm soát và xử lý nguồn chất thải nguy hại trở thành luật bắt buộc Hiện nay, tại Việt Nam nhiều cơ sở đầu tư xây dựng các cơ sở thu gom và thiêu đốt các chất thải nguy hại để tiến hành thu gom các chất thải phát sinh từ các KCN, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh về để tiêu huỷ các thiêu đốt Tuy nhiên, vẫn có hiện tượng các hệ thống thu gom, thiêu đốt chất thải nguy hại vận hành chưa hiệu quả dẫn tới việc tiềm ẩn các rủi ro, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thứ cấp: khí thải, nước thải,…

Căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương, tôi đã lựa chọn đề tài: “Áp

dụng phương pháp đánh giá rủi ro từ hoạt động của lò đốt chất thải nguy hại cho một cơ sở hành nghề xử lý chất thải nguy hại ở Hải Phòng” làm luận văn

tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu đánh giá rủi ro nói chung và rủi ro từ hoạt động của lò đốt CTNH nói riêng ở Việt Nam đã bước đầu được quan tâm; nhiều Luật và văn bản pháp luật đã được ban hành phục vụ cho công tác làm căn cứ đánh giá, so sánh và áp dụng cho các doanh nghiệp hoạt động như: Luật BVMT Việt Nam năm 2014; Luật Hóa chất (2007); Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (1989) Cùng với các Quy chuẩn Quy định về giới hạn nồng độ các chất, còn có các Tiêu chuẩn

về phương pháp đo kèm theo Một số Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) được Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành như: QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại; QCVN 30:2012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải công nghiệp Tuy nhiên, chi phí cho việc thu thập số liệu, phân tích, đánh giá và kiểm soát các chất ô nhiễm đặc biệt

là dioxin và furan là rất đắt và cũng chưa có đủ các trang thiết bị cũng như chế tài

để thực hiện triển khai rộng rãi trên phạm vi rộng

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Mục tiêu chung: Góp phần hoàn thiê ̣n phương pháp luâ ̣n trong đánh giá rủi ro môi trường, nhằm tăng hiê ̣u quả quản lý môi trường, phòng tránh các sự cố rủi ro đối với hoa ̣t đô ̣ng xử lý CTNH bằng lò đốt

Trang 13

do phát thải Dioxin/Furan và các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro do phát thải Dioxin/Furan

4 Tóm tắt cô đọng các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả

Đánh giá rủi ro trong hoạt động của hệ thống lò đốt CTNH cần được quan tâm vào các loại CTNH chuẩn bị cho quá trình đốt; cơ chế vận hành lò đốt đặc biệt cơ chế kiểm soát được nhiệt độ trong các buồng đốt (bao gồm buồng đốt sơ cấp và buồng đốt thứ cấp); Quá trình thu gom và xử lý khí thải, nước thải, tro trong và sau quá trình đốt đặc biệt là hoạt động kiểm soát nhiệt độ của lò đốt khi thực hiện tắt lò (kết thúc 1 mẻ đốt)

Phương pháp luận trong đánh giá rủi ro đối vận hành lò đốt CTNH để đưa

ra giả định các sự cố có khả năng xảy ra trong quá trình đốt để làm cơ sở đánh giá mức độ rủi ro và đề xuất các biệp pháp, giải pháp giảm thiểu phù hợp với từng đối tượng cụ thể

Sau khi áp dụng phương pháp luận để đánh giá rủi ro do vận hành lò đốt CTNH tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng giúp cho tác giả nhận thức được các rủi ro có khả năng xảy ra trong quá trình hoạt động của lò đốt

Trang 14

từ quá trình chuẩn bị đốt, quá trình vận hành lò đốt bao gồm cả quá trình thu gom, quản lý và xử lý khí thải trong quá trình đốt và quá trình kết thúc mẻ đốt,…

Từ đó đề ra các giải pháp để phòng ngừa và giảm thiểu các sự cố đặc biệt là sự cố phát thải Dioxin và Furan ra ngoài môi trường

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập thông tin về phương pháp luâ ̣n DRM, thông tin về công nghê ̣ đốt CTNH, số liệu về tình hình hoạt động xử lý CTNH, số liệu quan trắc môi trường định kỳ hàng năm (2015, 2016) của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng;

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Sử dụng để thu thập, phân tích và xử

lý một cách hệ thống các nguồn số liệu về điều kiện tự nhiên, môi trường của huyện Thuỷ Nguyên và thị trấn Minh Đức Từ đó phân tích dữ liệu điều tra phục

vụ cho việc đánh giá hiện trạng vận hành hệ thống lò đốt CTNH tại Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng và dự báo các sự cố rủi ro có thể xảy

ra

- Phương pháp nghiên cứu khảo sát thực địa: Xem xét địa hình, khảo sát

làm cơ sở đánh giá hoa ̣t đô ̣ng của lò đốt và hệ thống xử lý khí thải của Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Toàn Thắng

- Phương pháp so sánh: So chất lượng không khí xung quanh, môi trường

không khí khu vực làm việc, môi trường khí thải tại Công ty TNHH Thương mại

và Dịch vụ Toàn Thắng theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường VN hiện hành

để đánh giá thực trạng hoạt động của lò đốt chất thải nguy hại từ đó đề xuất các biện pháp phòng ngừa rủi ro, sự cố

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các kinh nghiệm của các chuyên gia

trong lĩnh vực môi trường nhằm loại bỏ các phương án đề xuất ít khả thi

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Phương pháp luận đánh giá rủi ro, mô hình đánh giá rủi ro

1.1.1 Khái niệm về đánh giá rủi ro

- Loại hình rủi ro: Các loại hình rủi ro được phân loại dựa trên tính chất vật

lý của sự cố (cháy, nổ, tràn đổ, rò rỉ, bay hơi, phát tán của hoá chất, )

- Mối nguy hại: Tiềm năng của một vấn đề hay trường hợp là nguyên nhân

của những tác hại tạo ra những tác động bất lợi cho cộng đồng hay tổn thất về tài sản và tính mạng con người trong những điều kiện cụ thể

- Sự cố: Sự kiện có liên quan đến công việc mà trong đó sự tổn thương, bệnh nghề nghiệp (không phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng) hay chết chóc đã

xảy ra hay có thể xảy ra

- Khả năng xảy ra là xác suất xảy ra một việc nào đó trong một thời gian nhất

định

- Nhận diện nguy hiểm: Là sự phát hiện khả năng tiềm ẩn mà trong bối cảnh

(điều kiện) nhất định nào đó nguy cơ tiềm ẩn sẽ trở thành sự cố nguy hại

- Phân tích rủi ro là việc sử dụng có hệ thống các thông tin sẵn có để xác

định các mối nguy hại và ước lượng các rủi ro đối với cá nhân, tập thể, tài sản, môi trường Phân tích rủi ro bao gồm: xác định các sự cố, các nguyên nhân và hậu quả sự cố

- Đánh giá rủi ro là quá trình tìm hiểu những rủi ro có thể và sẽ liên quan

tới công việc chuẩn bị thực hiện, phải chỉ ra cụ thể những rủi ro có thể gặp; nhận diện các nguy cơ đang tiềm ẩn, nhận định mức độ nguy hiểm của các nguy cơ này cũng như điều kiện mà nguy cơ này có thể trở thành sự cố, đối tượng và mức

độ bị tác động bởi sự cố

- Phân tích hậu quả rủi ro: Là quá trình đánh giá những hậu quả do các tác

động vật lý, tác động của hoá chất tới sức khỏe con người, cho các hệ sinh thái hay chất lượng cuộc sống do bị tiếp xúc với những nguy hiểm tiềm tàng đe doạ cuộc sống của con người và môi trường Các tiêu chí để phân tích hậu quả dựa trên các mối tương quan có thể gây ra rủi ro dây chuyền và hậu quả thứ cấp trong khu vực xảy ra sự cố, loại hình rủi ro, trạng thái vật lý, độc tính của hoá chất dẫn

Trang 16

đến khả năng phân bố và tác động tới các thành phần môi trường cũng như vượt quá ngưỡng các tiêu chuẩn, quy định của luật pháp

- Số đối chiếu: Là mã số được mã hóa để mô tả thông tin, được sử dụng để

chỉ định và nhanh chóng xác định vị trí, thứ tự của các thông tin tương ứng

- Quản lý rủi ro là một hoạt động bao gồm đánh giá rủi ro và triển khai các

giải pháp để: i/ ngăn ngừa các nguy cơ đã được nhận diện và ii/ ứng phó khi sự

cố xảy ra để giảm thiểu hậu quả không mong muốn

1.1.2 Quá trình đánh giá rủi ro

Đánh giá rủi ro do hoạt động sản xuất (hay nói rộng ra là phát thải chất ô nhiễm) về bản chất chính là công cụ để kiểm soát rủi ro do chất ô nhiễm, bao hàm cả ý nghĩa kiểm soát ô nhiễm trong cả trường hợp phát thải chất ô nhiễm thông thường qua hoạt động sản xuất và phát thải chất ô nhiễm bất thường do sự

cố

Rủi ro nói chung xuất phát từ nguồn có thể gây rủi ro, tức là các nguồn nguy hiểm hay là các mối nguy hiểm Các nguồn nguy hiểm có thể gây rủi ro sẽ phát sinh sự cố khi và chỉ khi khả năng xẩy ra sự cố là 100% (hay là xác suất xẩy

ra là 1), Nhưng sự cố mặc dù đã xẩy ra nhưng chưa chắc đã gây nên hậu quả gì,

có thể do sự cố xẩy ra ở quá xa các đối tượng nhạy cảm với mối nguy, hoặc cường độ các nguy hiểm là nhỏ so với đối tượng nhạy cảm; nghĩa là khi đó hậu quả là “0” Trong trường hợp này “RỦI RO” được coi là “0” hay không có rủi ro mặc dù có mối nguy hiểm nhất định trong trường hợp xác xuất sự cố thấp hơn 100%, các nguồn nguy hiểm có thể sẽ không bao giờ xảy ra sự cố

Tuy nhiên, trên thực tế không thể chắc chắn là sự cố không xẩy ra, vì sự cố

sẽ có thể xẩy ra trong một hoàn cảnh hay điều kiện nào đó Việc xác định khả năng xẩy ra sự cố từ một nguồn nguy hiểm được gọi là ước định xác suất Giá trị của xác suất là từ “0” (nghĩa khi hoàn toàn không thể xẩy ra, cho đến “1” nghĩa

là chắc chắn sự cố sẽ xẩy ra Giá trị càng gần với “1” bao nhiêu thì có nghĩa độ chắc chắn càng cao bấy nhiêu) Chính vì vậy ước định xác suất là một bài toán

dự báo (cho phép có sai số) dựa trên các mô hình, số liệu thống kê và kinh nghiệm

Trang 17

Việc xác định hậu quả của một sự cố khi sự cố chưa xẩy ra là dựa hoàn toàn trên các giả thiết, các giả thiết này dựa trên hoàn cảnh thực tế của khu vực có tồn tại các mối nguy hiểm, mối tương quan giữa mối nguy hiểm và các đối tượng nhạy cảm (con người, môi trường, địa hình, thời tiết, điều kiện xã hội…) Hoàn toàn có khả năng cùng một mối nguy hiểm, cùng 1 khả năng (xác suất) xẩy ra, nhưng hậu quả nếu như sự cố xẩy rư từ mối nguy hiểm đó là khác nhau nếu xem xét ở các khu vực khác nhau Do đó việc ước định hậu quả của sự cố chính là quá trình nghiên cứu, khảo sát và đánh giá dựa trên các kịch bản (các giả định) Rủi ro do phát thải hóa chất được tính bằng tích số của tính nguy hiểm và mức độ tiếp xúc của đối tượng với hóa chất nguy hại

Công thức tổng quát để xác định mức độ rủi ro:

RỦI RO = NGUY HIỂM x TIẾP XÚC (1.1)

Trong đó, ý nghĩa của các tham số là:

- Nguy hiểm (hazard) là một đặc trưng của hóa chất hay chất thải, gắn liền với tính chất hóa lý và độc tính hay độc tính sinh thái của hóa chất hay chất thải đó Ngoài ra, mức độ nguy hiểm còn được đặc trưng bởi khối lượng phát thải hóa chất

- Tiếp xúc hay phơi nhiễm (exposure) là phương thức và mức độ hóa chất hay chất thải gây ra các tác động đến môi trường hay các hệ sinh thái nói chung hay con người nói riêng Tiếp xúc hay phơi nhiễm gây tác động cho môi trường và con người (sức khỏe/tính mạng) phụ thuộc vào nồng độ hóa chất hay chất thải và cường độ tiếp xúc tới đối tượng chịu rủi ro trong một đơn vị thời gian

Nếu tính nguy hiểm (độ nguy hiểm và khối lượng) càng lớn thì rủi ro càng lớn, đồng thời tiếp xúc càng lớn (nồng độ hóa chất càng lớn và tổng thời gian tiếp xúc càng lớn) thì rủi ro càng lớn Như vậy, phát thải hóa chất sẽ có rủi ro lớn khi hóa chất phát thải có độ nguy hiểm cao, khối lượng phát thải lớn), cường độ tiếp xúc với hóa chất cao, thời gian tiếp xúc dài, hay tần suất tiếp xúc với hóa chất phát thải lớn

Trang 18

Quá trình đánh giá rủi ro tới sức khỏe con người đối với chất ô nhiễm (hóa chất độc hại) thường được thực hiện theo 4 bước như sau:

1 Nhận diện nguy hiểm từ loại hình công nghiệp với đặc trưng phát thải hóa chất độc hại;

2 Đánh giá phát thải hóa chất độc hại;

3 Đánh giá liều phơi nhiễm gây rủi ro về sức khỏe con người và vi sinh vật của các hóa chất độc hại;

4 Đánh giá các yếu tố gây rủi ro

Hiện nay có nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau để đánh giá định lượng

sự tiếp xúc với hóa chất của con người Phương pháp trực tiếp bao gồm các phép

đo sự tiếp xúc với hóa chất tại điểm tiếp xúc và thời điểm phát thải Ngoài ra có các phương pháp gián tiếp liên quan đến việc ngoại suy các mức độ tiếp xúc từ các phép đo khác, sử dụng dữ liệu đã có ví dụ như nồng độ hóa chất trong máu, nước tiểu, tóc, hay trong các sinh vật, động vật cấp thấp rồi từ đó ước tính liều phơi nhiễm đến con người

Các mục thông tin dưới đây sẽ trình bày chi tiết hơn về một số biện pháp đánh giá rủi ro liên quan đến sự phát thải hóa chất ra môi trường

- Nhận diện mối nguy hại:

Đây là bước đầu tiên và cũng rất quan trong trong quá trình đánh giá rủi ro Mục đích của việc nhận diện được các nguy hiểm là để phát hiện các nguy cơ, đánh giá sơ bộ, phân loại và sàng lọc các nguy cơ và đánh giá rủi ro trên cơ sở các mối nguy hiểm này, từ đó xác định đối tượng cần phải đánh giá rủi ro Để nhận diện nguy hiểm, thông thường có 8 tiêu chí được tham chiếu, đó là:

+ Xác định loại hình hoạt động công nghiệp có sự tham gia của các hóa chất nguy hiểm;

+ Xác định bản chất nguy hại của hóa chất;

+ Xác định các vị trí tiềm ẩn nguy hiểm trong quá trình lưu giữ hóa chất; + Xác định các vị trí tiềm ẩn nguy hiểm trong quá trình vận chuyển hóa chất;

+ Xác định các vị trí tiềm ẩn nguy hiểm trong quá trình thải bỏ hóa chất;

Trang 19

+ Xác định các vị trí có hoạt động hóa chất có liên quan hay có thể tác động đến đối với khu vực nhạy cảm xung quanh;

+ Tổng hợp lịch sử sự cố hóa chất;

+ Tổng hợp khối lượng hóa chất trong các quá trình công nghệ

Tùy theo từng loại hóa chất sử dụng, loại hình hoạt động hóa chất, khối lượng hóa chất, … mà có thể lựa chọn một hoặc nhiều tiêu chí nêu trên để nhận diện các nguy hiểm từ các hoạt động hóa chất này

- Đánh giá phơi nhiễm:

Đánh giá phơi nhiễm cung cấp thông tin về lượng phát thải ra môi trường, đường truyền và các tuyến tiếp xúc của tác nhân phơi nhiễm để thâm nhập vào vật tiếp nhận Đánh giá phơi nhiễm là quá trình đánh giá định lượng hay định

tính sự thâm nhập của một tác nhân nguy hại vào vật nhận (con người hoặc môi

trường) thông qua sự tiếp xúc với môi giới môi trường (nước, không khí, đất) Sự

đánh giá được thực hiện thông qua các thông số đầu vào về cường độ, tính liên tục, độ dài thời gian tiếp xúc và tuyến tiếp xúc Đánh giá phơi nhiễm bao gồm

mô tả tính chất và quy mô của các quần thể khác nhau bị phơi nhiễm đối với một hóa chất, độ lớn và thời gian phơi nhiễm của quần thể đó Các bước đánh giá phơi nhiễm gồm mô tả đặc trưng phơi nhiễm; xác định đường truyền phơi nhiễm; định lượng phơi nhiễm

- Mô tả đặc tính rủi ro

Mô tả đặc tính rủi ro là bước cuối cùng xác định phạm vi các tác động bất lợi đến nguồn tiếp nhận dưới điều kiện phơi nhiễm Các đặc tính rủi ro được tóm tắt và tổng hợp phơi nhiễm và đánh giá độc tính để định tính và định lượng các mức độ rủi ro và xem xét thêm các vấn đề không chắc chắn trong đánh giá rủi ro Kết quả phơi nhiễm trong vấn đề rủi ro lớn nhất có thể được xác định trong tiến trình này Các đặc tính rủi ro thích hợp từ các mối nguy hại liên quan đến các vấn

đề ô nhiễm môi trường cho phép quản lý rủi ro và quyết định đúng hơn để thực hiện tốt hơn Nó là sự biểu hiện của nguy cơ đối với từng cá thể, các cộng đồng hay từng đối tượng bị tác động khác trên cơ sở lượng hóa, qua đó ta được các giá trị định lượng cao hơn mức trung bình

Trang 20

- Mô tả đặc tính rủi ro định lượng (QRA)

Trường hợp xét đặc tính rủi ro từ chất ung thư và không gây ung thư thì

nhiệm vụ là ước lượng rủi ro (tính toán lượng rủi ro từ chất gây ung thư và chất

không gây ung thư trên cả ba tuyến phơi nhiễm) và phân tích kết quả để đưa ra

những quyết định đúng đắn Tính toán rủi ro đối với mức phơi nhiễm trung bình

và lớn nhất

Đối với phơi nhiễm lâu dài: sử dụng nồng độ trung bình để tính rủi ro đại diện cho việc ước lượng từ nhiều điểm phơi nhiễm Đối với phơi nhiễm tức thời:

sử dụng nồng độ lớn nhất để tính toán sẽ hiệu quả hơn

+ Tính toán rủi ro từ chất gây ung thư: R = CDI x SF

Trong đó:

• R: Rủi ro từ chất gây ung thư

• CDI: Liều lượng hóa chất vào cơ thể liên tục mỗi ngày (mg/kg.ngày)

• SF: Hệ số dốc đường cong liều lượng - phản ứng (kg.ngày/mg)

Đặc tính rủi ro ung thư cần phải tính toán cho riêng từng hóa chất phù hợp với tuyến và con đường phơi nhiễm Việc tính toán lặp lại cho mỗi hoàn cảnh và mỗi cộng đồng phơi nhiễm Mỗi tuyến phơi nhiễm có giá trị SF riêng Để tính tổng rủi ro từ các chất gây ung thư ta cộng dồn tất cả các rủi ro ung thư của mỗi chất ứng với mỗi tuyến phơi nhiễm

+ Tính toán rủi ro từ chất không gây ung thư:

Trong đó:

• CDI: Liều lượng hóa chất vào cơ thể liên tục mỗi ngày (mg/(kg.ngày))

• RfD: Liều lượng tham chiếu (mg/(kg.ngày))

• HI: Chỉ số độc hại Nếu HI<1: không có ảnh hưởng; nếu HI>1: chất không gây ung thư đang xét có khả năng ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe khi phơi nhiễm

Chỉ số độc được tính riêng cho từng hóa chất Trong trường hợp phơi nhiễm với nhiều chất thì chỉ số độc của tuyến phơi nhiễm đó bằng tổng các chỉ số độc

HI = CDI

RfD

Trang 21

của mỗi chất Nhưng nếu các chất đó không gây ra cùng một loại tác động thì việc xét chỉ số độc tổng cộng là không có tác dụng

- Mô tả các rủi ro bán định lượng (rủi ro yếu, trung bình hoặc cao)

Phương pháp hệ số rủi ro là phương pháp phổ biến để mô tả đặc tính rủi ro bán định lượng Hệ số rủi ro (RQ) được tính toán bằng tỷ số giữa nồng độ môi trường xác định bằng đo đạc (MEC) hoặc tính toán dự báo (PEC) với nồng độ dự báo ngưỡng là nồng độ không gây tác động (PNEC) lên đối tượng PNEC được xác định từ các tiêu chuẩn, quy định liên quan

+ Đối với đánh giá rủi ro môi trường và sinh thái:

+ Đối với đánh giá rủi ro sức khỏe:

Khi: RQ < 1: Rủi ro thấp; RQ > 1: Rủi ro cao

Trong đánh giá rủi ro môi trường, đặc biệt là rủi ro sinh thái thường sử dụng các cấp độ đánh giá chi tiết hơn:

• RQ từ 0,01 đến 0,1: rủi ro thấp;

• RQ từ 0,1 đến 1: rủi ro trung bình;

• RQ >1: rủi ro cao

1.1.3 Lịch sử phát triển đánh giá rủi ro

Nghiên cứu về đánh giá SCMT trong sản xuất và đời sống được quan tâm nhiều trên thế giới Đánh giá rủi ro đã và đang được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở

Mỹ, Canađa và các nước khối cộng đồng châu Âu Phương pháp giải quyết vấn

đề dựa vào việc xem xét những rủi ro trở nên nổi bật trong công nghiệp hạt nhân

và được tiến hành rộng rãi trong công nghiệp không gian, là ngành cá nhiều hệ thống phức tạp và cần thiết phải có độ tin cậy rõ ràng Trong những năm 1960, phương pháp đánh giá xác xuất của rủi ro – Probabilistic Risk Assessement (PRA) đã phát triển trong ngành công nghiệp này Sau những sự cố công nghiệp vào những năm giữa thập niên 70 (đáng chú ý nhất là vụ nổ cyclohexane ở

RQ = MEC (PEC)

PNEC

RQ = MEL (PEL)

LOC

Trang 22

Flixborough (Anh) năm 1974 và vụ rò rỉ hơi dioxin tại Seveso (Italia) năm 1976,

[16] khung phương pháp luận của công nghiệp hạt nhân được áp dụng trong

công nghiệp hóa chất và công nghiệp dầu mỏ ở châu Âu những năm 1980 Có nhiều quy định đối với những chất nguy hại được hình thành như hướng dẫn Seveso ở châu Âu… Vào những năm 1970, phương pháp đánh giá định lượng rủi

ro – Quantitative Risk Assessment (QRA) và hướng dẫn Seveso đã được sử dụng

trong công nghiệp hóa chất

Từ những năm 1990, trong công nghiệp tàu biển đã áp dụng phương pháp đánh giá độ an toàn – Formal Safety Assessement (FSA) Gần đây nhiều nghiên cứu tại các nước phát triển đã đưa ra nhiều phương pháp đánh giá rủi ro liên quan đến môi trường, bao gồm đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA), đánh gia rủi ro sinh thái (ERA) và đánh giá rủi ro công nghiệp (IRA) Joseph F và B Diane Louvar nghiên cứu về đánh giá SCMT do hóa chất với phương pháp đánh giá quan hệ liều lượng - phản ứng ĐRM sơ bộ và chi tiết được áp dụng cho eo biển Malacca (chung của ba nước Singapo, Malaixia và Inđonexia) năm 1999, đưa ra các kết luận quan trọng về khả năng rủi ro do tràn dầu và các đề xuất liên quan cho ba quốc gia nói trên ĐGRRSB đã hoàn thành đối với vịnh Manila, Philipin, bước đầu xác định và lượng hóa được mức độ của các rủi ro chính đối với môi trường nước của vịnh Tập đoàn Shimizu (Nhật Bản) vào ngày 25/10/2013 vừa qua đã công bố chính thức về việc phát triển thành công hệ thống đánh giá rủi ro với tên gọi "Hệ thống đánh giá rủi ro toàn cầu Shimizu"

Ở Việt Nam, đánh giá SCMT đã bước đầu được quan tâm Cụ thể:

- Luật BVMT Việt Nam năm 2014 giới thiệu những quy định chung về SCMT và phòng ngừa SCMT;

- GS.TSKH Lê Huy Bá giới thiệu tổng quan về SCMT và phương pháp đánh giá SCMT;

- PGS.TS Huỳnh Thị Minh Hằng giới thiệu tổng quan về rủi ro và quy trình đánh giá rủi ro trong hoạt động dầu khí;

- GS Lê Văn Khoa giới thiệu tổng quan về tai biến môi trường và cách ứng

xử tai biến môi trường;

Trang 23

- TS Chế Đình Lý giới thiệu về phân tích hệ thống môi trường và hướng dẫn đánh giá rủi ro môi trường

- TS Lê Thị Hồng Trân hướng dẫn đánh giá rủi ro sinh thái và rủi ro sức khỏe;

- Tổng Công ty dầu khí Việt Nam ban hành các văn bản hướng dẫn giám sát ATLĐ trong các hoạt động dầu khí, hướng dẫn quản lý rủi ro và ứng cứu khẩn cấp trong các hoạt động dầu khí, hướng dẫn quản lý ATLĐ và VSLĐ trong các hoạt động dầu khí đề cập chủ yếu tới công tác hướng dẫn quản lý an toàn trong chế biến dầu khí

Tuy nhiên, đánh giá sự cố được giới thiệu trong các văn bản nói trên hầu như chỉ mang tính chất định tính Một số báo cáo đánh giá rủi ro cho các dự án

cụ thể đã được thực hiện như ĐGRRSB môi trường vùng biển ven bờ thành phố

Đà Nẵng được thực hiện bởi nhóm chuyên gia đa ngành với sự tham vấn của các chuyên gia của chương trình hợp tác khu vực trong quản lý môi trường biển Đông nhằm nâng cao năng lực của địa phương trong quản lý tài nguyên, môi trường vùng ven bờ, tạo cơ sở để hoàn thiện chương trình quan trắc môi trường

và các kế hoạch, quy định về quản lý tài nguyên, môi trường liên quan và một số báo cáo khác

Trong nền kinh tế phát triển như Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu đánh giá về SCMT hiện có chưa đáp ứng yêu cầu BVMT với phát triển kinh tế Đã đến lúc, đánh giá SCMT cần được nghiên cứu áp dụng rộng rãi hơn nữa nhằm sử dụng hiệu quả hơn các cơ sở dữ liệu môi trường thu thập được trong những năm qua, hoàn thiện các chương trình quan trắc môi trường trên cơ sở các thông tin quan trọng được xác định, tập trung vào những vấn đề ưu tiên, có nguy cơ gây rủi

ro cao, tạo cơ sở khoa học tin cậy cho các đề xuất quản lý rủi ro

1.2 Giới thiệu về lò đốt 2 buồng đốt CTNH ở VN

1.2.1 Giới thiệu chung

Chất thải nguy hại là một loại chất thải có thể được tìm thấy trong trạng

thái vật lý khác nhau như khí, chất lỏng, hoặc chất rắn và có một trong 5 tính chất

sau: Cháy (chất thải lỏng dễ cháy có nhiệt độ chớp cháy không quá 55 0 C, chất

Trang 24

thải rắn dễ bốc cháy hoặc phát lửa do ma sát trong khi vận chuyển bình thường,

chất thải có khả năng tự bốc cháy do tiếp xúc với không khí hoặc nước), nổ (là

chất thải rắn hoặc lỏng có thể gây nổ do tiếp xúc với nhiệt, bị va đập, ma sát gây

thiệt hại đối với môi trường xung quanh), ăn mòn (là chất thải sẽ gây tổn thương

nghiêm trọng tế bào sống, phá hủy vật liệu, hàng hóa, phương tiện khi tiếp xúc

do các phản ứng hóa học: Ví dụ acid mạnh, bazơ mạnh ), phản ứng (quá trình tỏa nhiệt mạnh do các phản ứng oxi hóa của chất thải đó với các chất khác), độc

tính (Chất thải nguy hại chứa các chất gây độc tính đối với con người và động vật

ở liều lượng nhỏ Chất thải chứa các vi sinh vật gây bệnh cho người và động vật cũng là một phần của độc tính)

Lò đốt CTNH: Đốt chất thải là quá trình ôxy hoá chất thải bằng ôxy của

không khí ở nhiệt độ cao, phá hủy các hợp chất, phức chất nguy hại thành các chất không độc hại cho môi trường Đây là quy trình xử lý cuối cùng cho rác thải nguy hại mà không thể tái chế, tái sử dụng hay lưu trữ an toàn trong bãi chôn lấp Đốt chất thải nguy hại được sử dụng như một biện pháp xử lý để giảm số lượng, giảm tính độc, thu hồi năng lượng và có thể xử lý một khối lượng lớn chất thải, phân tro sau khi đốt được mang chôn lấp

1.2.2 Công nghệ lò đốt chất thải nguy hại

Đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh (phân phối),

sử dụng lò đốt chất thải công nghiệp trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn về khí thải công nghiệp theo QCVN 30:2012/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khí thải lò đốt chất thải Công nghiệp Vì vậy, để đáp ứng các tiêu chuẩn này, một loạt yêu cầu về chất thải đưa vào đốt, thiết kế lò đốt cần phải được nghiên cứu, đặc biệt phải đảm bảo điều kiện vận hành lò đốt (hoạt động của lò đốt) bao gồm:

+ Nhiệt độ tại vùng đốt sơ cấp

+ Nhiệt độ tại buồng đốt thứ cấp

+ Thời gian lưu cháy

+ Lượng ô xi dư

+ Nhiệt độ khí thải ra môi trường

Trang 25

+ Nhiệt độ bên ngoài vỏ lò

+ An toàn điện, điện trở nối đất với các bộ phận kim loại

- Ngoài ra còn cần phải đảm bảo các yêu cầu khác có liên quan như:

+ Quy định về vận hành

+ Quy định về phòng ngừa và ứng phó sự cố

+ Quy định về giám sát môi trường

Tùy theo từng thời kỳ phát triển của các ngành công nghiệp, nhu cầu về vốn đầu tư, về bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi của nhân dân xung quanh mà mức độ cụ thể và chi tiết của các Quy định này cũng tăng lên Có thể liệt kê một

Mỗi loại công nghệ, thiết bị đốt đều có những ưu điểm và nhược điểm, tuy

nhiên với mỗi loại lò đốt đều có các yêu cầu về kỹ thuật phù hợp (chất thải nguy

hại), để đảm bảo quá trình đốt triệt để, những tiêu chuẩn bao gồm:

+ Tiêu chuẩn lò đốt

+ Tiêu chuẩn và kiểm soát khí thải

+ Yêu cầu về chế độ làm việc

+ Yêu cầu về giấy phép

+ Yêu cầu về phân tích

+ Yêu cầu về quan trắc

+ Yêu cầu về quản lý tro đóng rắn

Chủng loại lò đốt chất thải nguy hại đang hoạt động ở nước ta khá đa dạng, nhưng đều có nguyên lý cấu tạo và công nghệ đốt khá giống nhau, đó là lò đốt gồm hai buồng đốt: buồng đốt sơ cấp dùng để đốt chất thải rắn và buồng đốt thứ cấp dùng để đốt phân huỷ khí Đi kèm với hệ thống lò đốt là hệ thống thu gom và

Trang 26

xử lý khí thải để đảm bảo thu gom và xử lý toàn bộ khí thải phát sinh trong quá trình hoạt động của lò đốt đạt tiêu chuẩn cho phép như QCVN 30:2012/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt CTCN), QCVN 02:2012/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế), QCVN 61-MT:2016/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn sinh hoạt) Mỗi loại thiết bị, lò đốt có công nghệ xử lý khí thải riêng nhưng có thể tóm tắt sơ đồ nguyên lý xử lý khí thải của lò đốt CTNH như sau:

Hình 1.1 Sơ đồ nguyên lý hệ thống xử lý khí thải 1.2.3 Quá trình đốt chất thải rắn

1.2.3.1 Các giai đoạn của quá trình đốt chất thải rắn

Đốt chất thải là quá trình oxy hóa chất thải bằng oxy của không khí (đủ hoặc dư) ở nhiệt độ cao, nhờ sự oxy hóa và phân hủy nhiệt, các chất hữu cơ sẽ được khử độc tính và phá vỡ cấu trúc Phương pháp này áp dụng cho các CTNH

ở các dạng: rắn, lỏng, khí, bao gồm các chất thải như: dung môi, dầu thải, chất thải bệnh viện, dược phẩm quá hạn, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, PCBs, chất dẻo, cao su, sơn keo, gỗ, giấy, vải…

Trang 27

*Sơ đồ các giai đoạn của quá trình đốt chất thải rắn:

Hình 1.2 Sơ đồ công nghệ của quá trình đốt

*Quá trình cháy của chất thải rắn xảy ra qua 4 giai đoạn:

Giai đoạn 1: sấy nóng, khô nhiên liệu, nguyên liệu;

Bùn cặn chứa dầu

Khí thải đạt tiêu chuẩn cho phép

Tuần hoàn tái sử dụng

Các loại chất thải:

- Chất thải sinh hoạt;

- Chất thải công nghiệp;

- Bùn thải;

- Chất thải nguy hại

Khu vực tập trung chất thải

Phân loại chất thải

Hầm chứa chất thải

Giảm kích thước

LÒ ĐỐT

Chất thải thô, cồng kềnh

Bộ phận chứa dầu thải

Môi trường Dầu thải

Trang 28

Giai đoạn 2: nhiệt phân: thoát chất bốc, chất cốc;

Giai đoạn 3: quá trình cháy: cháy chất bốc, chất cốc;

Giai đoạn 4: quá trình tạo tro, xỉ

1.2.3.2 Chất thải phát sinh từ lò đốt chất thải

Trong quá trình xử lý chất thải bằng phương pháp đốt, có thể sản sinh ra các chất bụi, khí với các thành phần chủ yếu như sau:

- Chất rắn kể cả kim loại (còn được gọi tên chung là bụi): "Các chất rắn"

hay "bụi" được sử dụng ở đây được hiểu là các hạt có kích thước nhỏ hơn 0,1

mm Các chất rắn này bao gồm các vết kim loại, mù, khói, bụi Để giữ được chất lượng không khí theo các tiêu chuẩn cần phải thu giữ các chất rắn này Chất rắn

mà chúng ta hay trông thấy được từ hệ thống lò đốt là khói có kích thước tới 50 micron Tùy thuộc vào loại chất thải đưa vào đốt mà thành phần và khối lượng riêng khác nhau, và màu của nó cũng khác nhau như màu đen, màu trắng hoặc không màu

Để thu giữ các chất rắn này có thể sử dụng một trong 3 loại thiết bị là: thu bụi cơ khí; lọc bụi túi và lọc bụi tĩnh điện

- Các khí độc vô cơ: Các chất khí vô cơ hình thành từ quá trình đốt chất thải nguy hại thường là: hơi nước, CO2, CO, NO2, SO2, SO3

- Các khí độc hữu cơ: Có nhiều loại khí hữu cơ trong khí thải lò đốt như:

• Các hydrocarbon đã bị ôxi hoá như aldehyde, keton, cồn và axít Nhiều trong số này có mùi khó chịu

• Các hydrocarbon đã bị halogen hoá như CCl4, percloretylen

• PCDD và PCDF, các olefins, các hợp chất thơm bao gồm benzen, toluen, xylen, hydrocacbon thơm đa vòng (PAH)

Các khí này khi thải vào môi trường không khí sẽ tác dụng với các thành phần khác trong không khí để tạo thành các khói quang hoá có hại cho sức khoẻ

và môi trường

- Khí axít: Nhiều loại chất dẻo và chất có chứa clorid khi đốt hay hình thành HCl hoặc Cl2, SO2, SO3

Trang 29

1.3 Dioxin và Furan và thực tế liên quan đến phát thải dioxin -furan ở

VN

1.3.1 Sự hình thành Dioxxin và Furan trong lò đốt chất thải nguy hại

Đioxin và Furan là những hợp chất có tính độc cao phát thải ở các lò đốt rác thải nguy hại Đioxin và Furan là tên chung của các hợp chất hoá học có công thức tổng quát là Polyclorua dibenzodioxin (PCDD) và Polyclorua dibezofuran (PCDF) Đó là ba dãy vòng thơm, trong đó 2 vòng được nối với nhau bằng một cặp nguyên tử ôxy hay một nguyên tử ôxy

Policlodibenzo-p-dioxin (PCDD) Policlodibenzofuran (PCDF)

Hình 1.3 Cấu tạo của PCDD và PCDF

Cơ chế và điều kiện hình thành dioxin/furan trong lò đốt chất thải nguy hại:

- Các chất U-POP là những chất ô nhiễm hữu cơ bền vững được hình thành một cách không chủ định và có thể coi là sản phẩm phụ trong một số quá trình hóa học Đặc biệt chúng phổ biến hơn trong các quá trình cháy mà trong đó có sự tham gia của cacbon, oxy, hydro và clo

- Trong số các chất U-POP thì Dioxin và Furan là 2 nhóm chất U-POP có tính độc rất cao, cần đặc biệt quan tâm Hai chất này được hình thành trong quá trình cháy, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng dioxin được hình thành được hình thành theo một trong ba cơ chế sau:

(1) Sự phá hủy không hoàn toàn của vật liệu được đốt nhưng trong vật liệu này đã có sẵn Dioxin và Furan nguyên nhân chính là do quá trình đốt không hiệu quả, công nghệ đốt và các hệ thống kiểm soát ô nhiễm trong quá trình vận hành

lò đốt kém;

Trang 30

Hình 1.4 Tồn lưu Dioxin/Furan chưa bị phân hủy trong quá trình đốt

(2) PCDD/Fs hình thành nhờ từ các chất hóa học có cấu trúc nhân thơm như

chlorobenzen và chlorophenol được tìm thấy trong nhiên liệu thô (đây được gọi

là tiền chất hình thành PCDD/Fs) Weber và Hagenmaier chỉ ra rằng phenol với

clo ở vị trí ortho và para-chlorophenol hình thành PCDD/Fs

(3) PCDD/Fs được hình thành từ hợp chất hóa học không liên quan như

xenlulozơ, than, polystyren, polyvinyl chlorit với clo vô cơ

1.3.2 Mức độ phát thải và ô nhiễm môi trường của dioxin và các hợp

chất liên quan trong thiêu đốt chất thải

Khí thải phát sinh từ hoạt động của lò đốt CTNH là một nguồn thải có nguy

cơ ô nhiễm cao Sự có mặt của các hợp chất DRCs (dioxin và các hợp chất tương

tự dioxin) trong khí thải, dù chỉ hàm lượng cỡ ng/Nm3 hoặc pg/Nm3, nhưng độc

tính cao của các hợp chất này và lượng khí thải của các nhà máy có công suất

cao, hoạt động liên tục là rất lớn nên lượng DRCs thải ra môi trường và những

nguy cơ ô nhiễm tiềm ẩn là không hề nhỏ Các lò đốt CTNH ở nước ta nhìn

chung đều có hệ thống xử lí khí thải, tuy nhiên nhiều công nghệ xử lí còn kém

hiện đại, chưa xử lí triệt để các chất độc hại đi kèm và chưa thực hiện quan trắc

định kì một cách có hệ thống Công nghệ xử lí khí thải ống khói phổ biến nhất tại

nước ta hiện nay bao gồm 2 công đoạn chính:

Trang 31

(1) khí thải được dẫn qua một hệ thống lọc để giữ lại bụi, trong công đoạn này một lượng đáng kể các DRCs hấp phụ trong bụi sẽ bị giữ lại;

(2) khí sau hệ thống lọc bụi sẽ được dẫn qua tháp rửa khí trước khi xả ra môi trường Trong tháp rửa khí, khí thải sẽ được xử lí kiểu ướt, dùng nước để thực hiện 2 nhiệm vụ là hạ nhiệt độ dòng khí và hòa tan một số thành phần trong khí thải (như các hơi axit, amoniac,…) Đối với các chất tan rất kém trong nước như dioxin, furan thì việc rửa khí chỉ bằng nước là không hiệu quả, nên ở một số

lò đốt tiên tiến còn đưa thêm một công đoạn nữa là phun than hoạt tính để hấp phụ các chất độc hại trong khí thải

Theo các số liệu khảo sát và phân tích hàm lượng DRCs trong mẫu khí thải, lượng dioxin/ furan được hình thành nhiều nhất, trong đó nhiều mẫu có hàm lượng TEQ cao vượt ngưỡng, thậm chí có mẫu lấy tại ống khói lò đốt rác thải có hàm lượng TEQ cao hơn giới hạn cho phép đến gần 80 lần

Đối với hoạt động thiêu đốt rác thải, phát thải dioxin từ các hệ thống đốt chất thải nguy hại thường không được nghiên cứu nhiều so với hệ thống đốt rác thải đô thị nên cơ sở dữ liệu về nồng độ dioxin phát thải từ các hệ thống đốt rác thải nguy hại cũng ít hơn

1.3.3 Tình trạng phát thải dioxin và các hợp chất liên quan trong thiêu đốt chất thải

1.3.3.1 Tại châu Âu:

Phần lớn hệ thống đốt rác thải nguy hại được trang bị các lò nung quay, do

đó đảm bảo hiệu quả đốt cao và lượng dioxin phát thải thấp Báo cáo phát thải dioxin tại 15 nước thành viên châu Âu cùng với Na Uy và Thụy Điển từ năm

1985 đến 1995 cho thấy lượng phát thải dioxin từ việc đốt rác thải nguy hại đã giảm đáng kể (tổng phát thải khoảng 300g I-TEQ/năm 1985 và giảm xuống dưới 200g I-TEQ/năm 1995) và dự kiến tiếp tục giảm trong tương lai (Quaß và cs.,2004) Báo cáo năm 1992 của Trung tâm Châu Âu về Độc học Sinh thái và Tính độc của Hóa chất (European Centre for Ecotoxicology and Toxicology of Chemical - ECETOC) cũng đưa ra một bức tranh chung về phát thải dioxin từ hệ thống đốt chất thải nguy hại tại một số nước châu Âu Theo báo cáo này, phần

Trang 32

lớn hàm lượng dioxin trong khí thải đều nhỏ hơn 0,1 ng TEQ/m3, tuy nhiên phát thải cao hơn 0,1 ng TEQ/m3 cũng đã được ghi nhận tại một số hệ thống thiêu đốt rác thải

1.3.3.2 Tại một số quốc gia châu Á:

Nhiều nghiên cứu về phát thải dioxin trong khí thải công nghiệp cũng đã được công bố Tại Hàn Quốc, trong 2 nghiên cứu với số mẫu khí thải phân tích tương ứng là 9 và 10 mẫu cho thấy nồng độ trung bình là 0,778 và 3,15 ng TEQ/Nm3 (Sam Cwan Kim, 1999 và Donghoon Shin, 1999) Tại Đài Loan, hàm lượng TEQ trong khí thải theo một nghiên cứu năm 2002 nằm trong khoảng từ 0,43 đến 4,8 ng I-TEQ/Nm3 (Moo Been Chang và cs.,2002) Hàm lượng

PCDD/PCDF trong khí thải từ hai hệ thống thiêu đốt rác thải công nghiệp tại một khu công nghiệp ở quận Siaogang, thành phố Kachsiung, Đài Loan là 0,137 và 10,245 ng TEQ/Nm3 (Kao và cs.,2007) Một nghiên cứu khác tại Đài Loan cho

kết quả PCDD/PCDF nằm trong khoảng từ 0,084 đến 0,239 ng TEQ/Nm3 (Jenshi B.Wang, 2009)

1.3.3.3 Tại Việt Nam:

Các số liệu về hàm lượng DRCs được trình bày dưới đây xoay quanh đối tượng mẫu khí thải của ống khói các lò đốt Mẫu được lấy tại các doanh nghiệp

và cơ sở sản xuất thuộc các nhóm ngành có nguy cơ cao về phát thải dioxin (như thiêu đốt chất thải) Trong các dự án liên quan đến kiểm soát, giảm thiểu và loại

bỏ dioxin của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng phối hợp với các tổ chức quốc tế khác như UNDP, UNIDO, GEF,… Số liệu phân tích được cung cấp bởi 2 trung tâm: Phòng thí nghiệm Dioxin, Trung tâm Quan trắc môi trường, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và môi trường và Phòng phân tích dioxin, Phân viện Hóa môi trường, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga, Bộ Quốc phòng Các thông số chủ yếu được quan tâm là tổng độ độc tương đương (TEQs) trong các đối tượng mẫu để đánh giá tổng quát mức độ phát thải các DRCs và phổ đồng loại của các DRCs là chìa khóa để truy nguyên nguồn gốc phát thải Đối với hàm lượng dioxin trong mẫu khí thải, các giá trị đo được là tại điều kiện có

Trang 33

nồng độ oxy thực tế tại các cơ sở lấy mẫu Hàm lượng oxy trung bình của các lò

đốt rác thải dao động trong khoảng từ 8 - 12 %

Trong khuôn khổ các hoạt động xây dựng hướng dẫn kĩ thuật quan trắc các

chất UPOPs trong công nghiệp được thực hiện bởi các đơn vị thuộc Bộ Tài

nguyên và Môi trường đã lựa chọn 2 lò đốt rác thải ở miền Bắc để khảo sát, lấy

mẫu và phân tích hàm lượng dioxin/furan trong mẫu khí thải lò đốt Trong một

nghiên cứu khác được thực hiện bởi Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga, một số lò đốt

và cơ sở xử lí chất thải nguy hại tại Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Thanh Hóa

và thành phố Hồ Chí Minh đã được khảo sát, lấy mẫu và phân tích hàm lượng 29

chỉ tiêu DRCs Đây là các số liệu khảo sát đầy đủ và mới nhất về tất cả các chỉ

tiêu mà nhiệm vụ dự án đề ra Hàm lượng DRCs trong khí thải của lò đốt rác thải

phụ thuộc vào 3 yếu tố chính:

(1) loại rác thải và công suất lò đốt;

(2) nhiệt độ lò đốt, bao gồm nhiệt độ buồng sơ cấp và buồng thứ cấp

(3) công nghệ xử lí khí thải

Kết quả hàm lượng TEQ (giá trị trung bình và khoảng) trong mẫu khí thải

được lấy tại ống khói của các cơ sở có lò đốt đang hoạt động, cùng với một số

đặc điểm công nghệ lò đốt, được đưa ra trong bảng sau:

Bảng 1.1 Hàm lượng TEQ trong khí thải ống khói lò đốt (pg/Nm 3 ) của một số

cơ sở lò đốt đang hoạt động

Stt Cơ sở

(số lượng mẫu)

Hàm lượng TEQ (pg/Nm 3 )

Một số đặc điểm về công nghệ lò đốt I-TEQ WHO-TEQ

127 (14,1 - 442)

- Công suất: 200 kg/h

- Xử lí khí thải bằng kiềm và than hoạt tính

Trang 34

17,2 (15,1-19,3) - Công suất: 350 - 600 kg/h

1.340 (280 – 2.980)

71,8 (48,2 - 103)

- Công suất: 21 tấn/ngày

- T0 sơ cấp: 800-8500 C ;

- T0 thứ cấp: 950-1.2000 C

- Đốt rác thải: sinh hoạt, công nghiệp, y tế

- Tách bụi và xử lí khí thải bằng dung dịch kiềm

Nhận xét:

Hàm lượng TEQ của các mẫu khí thải lấy tại ống khói các lò đốt và cơ sở

xử lí chất thải nằm trong một khoảng tương đối rộng, từ 14,1 đến 46.800 (pg

WHO-TEQ/Nm3) Sở dĩ có sự khác biệt lớn này giữa các mẫu lấy tại các cơ sở

khác nhau, thậm chí giữa các mẫu lấy tại cùng một cơ sở, là do các công nghệ đốt

khác nhau (trong đó nhiệt độ của các buồng đốt sơ cấp và thứ cấp khi vận hành

là yếu tố quan trọng nhất), công nghệ xử lí khí thải khác nhau (có thể xử lí ướt

kết hợp với hấp phụ bằng than hoạt tính hoặc chỉ xử lí bằng nước) và đặc biệt là

nguồn gốc phức tạp của các vật liệu thiêu đốt

Mẫu khí tại lò đốt rác thải công nghiệp ở Hải Dương có hàm lượng DRCs

cao nhất so với các mẫu lấy cùng đợt khảo sát, lên đến 46.800 pg TEQ/Nm3

Trang 35

Có 7/18 mẫu khí thải của lò đốt rác thải công nghiệp nói riêng và các hoạt động xử lí rác thải nói chung có hàm lượng TEQ cao vượt ngưỡng 0,6 ng TEQ/Nm3, trong đó nhiều mẫu cao hơn giới hạn tối đa cho phép hàng nghìn lần Hàm lượng TEQ cao bất thường trong một số mẫu khí thải của lò đốt rác thải công nghiệp cho thấy đây là hoạt động phát thải chủ yếu dioxin và các hợp chất tương tự dioxin như furan và dl-PCB vào môi trường

1.3.4 Nhận xét chung

Như vậy, hàm lượng TEQ trong hầu hết các mẫu khí thải của lò đốt rác thải công nghiệp tại Việt Nam tương đương hoặc cao hơn không đáng kể so với các quốc gia đang phát triển và các nước công nghiệp mới tại châu Á Tuy nhiên một

số mẫu khí thải có hàm lượng TEQ cao bất thường (đến 50 ng TEQ/Nm3) cho thấy sự hình thành và phát thải dioxin trong các lò đốt của Việt Nam là rất phức tạp và khó kiểm soát, công nghệ xử lí khí thải lò đốt chưa được quan tâm và đầu

tư đúng mức Nếu so với hàm lượng TEQ trong khí thải tại quốc gia châu Âu thì mức độ phát thải dioxin trong hoạt động thiêu đốt rác thải tại nước ta cao hơn rất nhiều và đa số mẫu phân tích đều cho kết quả cao vượt ngưỡng tiêu chuẩn của một số nước châu Âu là 0,1 ngTEQ/Nm3 Đây là một thực tế đáng lo ngại vì lượng rác thải công nghiệp ngày càng gia tăng cũng như số lượng các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực xử lí rác thải ngày càng nhiều hơn Nếu như các Quy chuẩn

về ngưỡng phát thải dioxin không được tuân thủ một cách nghiêm ngặt, hoạt động thiêu đốt rác thải không được quản lí một cách thường xuyên bằng các quan trắc định kì và bản thân các cơ sở có lò đốt không đảm bảo được công nghệ đốt, công nghệ xử lí nguồn thải tiên tiến để kiểm soát và hạn chế tối đa sự hình thành

và phát thải dioxin thì trong một tương lai không xa, sự ô nhiễm môi trường bởi các hợp chất DRCs sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với hệ sinh thái và sức khỏe người dân

Trang 36

1.4 Các chế tài kiểm soát phát thải DIOXIN ở Việt Nam

1.4.1 Các Quy định pháp lý về dioxin tại Việt Nam

Các chính sách quản lý và yêu cầu pháp lý về kiểm soát dioxin tại Việt Nam đã được quy định tại nhiều văn bản khác nhau của Nhà nước trong khung pháp lý chung, bao gồm các lĩnh vực như:

- Luật Bảo vệ môi trường (2014) quy định tại Khoản 11, Điều 7 “Nghiêm cấm: Sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá tiêu chuẩn cho phép”; Khoản 14, Điều 7 “Nghiêm cấm: Hoạt động trái phép, sinh sống ở khu vực được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là khu vực cấm do mức độ đặc biệt nguy hiểm về môi trường đối với sức khỏe và tính mạng con người” Các Điều 53, 56, 57, 58, 61 có các quy định cụ thể về kiểm soát phát thải hóa chất, chất thải nguy hại vào môi trường nước mặt, nước sông, nước dưới đất, từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, trong đó yêu cầu việc thải bỏ các hóa chất, chất thải phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường Các yêu cầu về nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường, nội dung tiêu chuẩn, yêu cầu về phương pháp đo, ban hành và công bố tiêu chuẩn môi trường được quy định tại Chương II, Luật Bảo vệ môi trường;

- Luật Hóa chất (2007) quy định về hoạt động hóa chất, an toàn trong hoạt động hóa chất, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hóa chất, quản lý nhà nước về hoạt động hóa chất Dioxin được xếp vào nhóm các hóa chất độc hại phải quản lý Luật Hóa chất cũng quy định rõ trách nhiệm quản

lý của bộ, cơ quan ngang bộ liên quan trực tiếp đến hoạt động hóa chất, theo đó

Bộ Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền đối với xử lý, thải bỏ hóa chất độc tồn dư, hóa chất độc tồn dư của chiến tranh, hóa chất độc không rõ nguồn gốc và hóa chất độc bị tịch thu (Điều 64);

- Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân (1989) quy định về Vệ sinh trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển và sử dụng hoá chất, trong đó việc sử dụng hóa chất không được gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người; phải thực hiện những biện pháp xử lý chất thải trong công nghiệp để phòng, chống ô nhiễm không khí,

Trang 37

đất và nước; không được để các chất phế thải gây ô nhiễm môi trường sống (Điều

9, 10);

- Năm 2002, Việt Nam trở thành thành viên thứ 14 của Công ước Stockholm và đã phê chuẩn Văn kiện Công ước, vì vậy cần tuân thủ các quy định của Công ước theo luật quốc tế Công ước Stockholm yêu cầu các thành viên phải có các biện pháp quản lý, kiểm soát, giảm thiểu sự hình thành, hướng đến loại bỏ hoàn toàn các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy

- Năm 2004, các chất dioxin, furan, PCBs đã được đưa vào Phụ lục C của Công ước Stockholm, là nhóm các chất POP hình thành và phát sinh không chủ định từ các hoạt động sản xuất và đời sống Công ước cũng yêu cầu các thành viên xác định rõ ràng các mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn khi xây dựng các chiến lược để hoàn thành các nghĩa vụ liên quan

- Điều 64, Luật Hóa chất và cơ chế tổ chức của Văn phòng Ban chỉ đạo 33:

do hậu quả của việc quân đội Mỹ sử dụng hóa chất gây ô nhiễm môi trường nghiệm trọng trong chiến tranh Việt Nam, hệ thống quản lý có sự phân chia khá

rõ về mục tiêu quản lý dioxin là hóa chất tồn dư như hậu quả của chiến tranh, hoặc hóa chất độc tồn dư thải bỏ và dioxin hình thành và phát sinh không chủ định trong quá trình sản xuất, kinh doanh Điều này thấy rõ qua việc phân công trách nhiệm và xây dựng thể chế liên quan đến quản lý dioxin

1.4.2 Các Tiêu chuẩn, Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dioxin

Hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường bao gồm các Quy

định về chất lượng môi trường xung quanh và tiêu chuẩn về chất thải (giới hạn

phát thải vào các thành phần môi trường không khí, nước mặt, nước dưới đất, nước biển ven bờ, đất, trầm tích, sinh học, chất thải rắn,…) Cùng với các Quy

chuẩn Quy định về giới hạn nồng độ các chất, còn có các Tiêu chuẩn về phương pháp đo kèm theo Một số Tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về dioxin được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành như:

- TCVN 8183:2009: Ngưỡng dioxin trong đất và trầm tích;

- TCVN 7556-1:2005: Lò đốt chất thải rắn y tế - Xác định nồng độ khối lượng PCDD/PCDF – Phần 1: Lấy mẫu;

Trang 38

- TCVN 7556-2:2005: Lò đốt chất thải rắn y tế - Xác định nồng độ khối lượng PCDD/PCDF – Phần 2: Chiết và làm sạch;

- TCVN 7556-3:2005: Lò đốt chất thải rắn y tế - Xác định nồng độ khối lượng PCDD/PCDF – Phần 3: Định tính và định lượng

- Phương pháp lấy mẫu, phân tích dioxin trong các đối tượng khác chủ yếu được tham khảo từ phương pháp tiêu chuẩn của các tổ chức uy tín trên thế giới như US EPA Một số Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về dioxin được Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành như:

- QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại, ban hành kèm theo Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010

- QCVN 41:2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về đồng xử lí chất thải nguy hại trong lò nung xi măng, ban hành kèm theo Thông tư số 44/2011/TT-BTNMT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2012

- QCVN 45:2012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của dioxin trong một số loại đất, ban hành kèm theo Thông tư số 13/2012/TT-BTNMT, có hiệu lực thi hành từ ngày 25/12/2012

- QCVN 02:2012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải rắn y tế, ban hành kèm theo Thông tư số 27/2012/TT-BTNMT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2013

- QCVN 30:2012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải công nghiệp, ban hành kèm theo Thông tư số 27/2012/TT-BTNMT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/03/2013

- QCVN 51:2013/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản xuất thép, ban hành kèm theo Thông tư số 32/2013/TT-BTNMT, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014

Trang 39

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐÁNH GIÁ RỦI RO

TỪ HOẠT ĐỘNG CỦA LÒ ĐỐT CHẤT THẢI NGUY HẠI

Sau khi xác định được các mối nguy hiểm có nguy cơ rủi ro gây sự cố phát

thải DIOXIN/FURAN trong quá trình vận hành hệ thống lò đốt chất thải nguy

hại, việc đánh giá rủi ro do phát thải DIOXIN/FURAN được tiến hành nhằm xác

định xác xuất xảy ra sự cố phát thải DIOXIN/FURAN và phạn vi, mức độ ảnh

hưởng của DIOXIN/FURAN tới môi trường và cộng đồng dân cư tại khu vực có

khả năng xảy ra sự cố Các quá trình thực hiện việc đánh giá rủi ro phát thải

DIOXIN/FURAN trong trường hợp xảy ra sự cố được mô tả như sau:

2.1 Ước tính xác xuất xảy ra phát thải DIOXIN/FURAN do sự cố

Thông thường đối với hoạt động vận hành hệ thống lò đốt chất thải nguy

hại, nếu bỏ qua các tai nạn lao động (ngã, đổ, trượt), thì con người thường phải

đối mặt với 3 loại hình sự cố mang lại hậu quả nhiều nhất, đó là các chất thải

đem đốt; vận hành lò đốt và sự cố tổ hợp (hay là sự cố thứ cấp, hoặc gọi là sự cố

kép)

2.1.1 Đánh giá rủi ro sự cố môi trường trong hoạt động vận hành hệ

thống lò đốt chất thải nguy hại

Hoạt động vận hành hệ thống lò đốt chất thải nguy hại có thể xảy ra các rủi

ro liên quan đến các quá trình sau:

Bảng 2.1 Liệt kê các yếu tố rủi ro từ hoạt động của lò đốt CTNH

- Cháy dẫn đến nổ

- Rơi vãi CTNH trên đường vận chuyển

- Để lẫn các loại CTNH với nhau;

- Thùng chứa không đảm bảo đúng quy cách, chủng loại hoặc tập kết CTNH không theo thùng chứa

- Lái xe không cẩn thận, không xếp, chằng, buộc các thùng

2 Kho chứa

CTNH

- Đổ tràn CTNH ra ngoài;

- Phản ứng hoá học xảy ra dẫn đến cháy, nổ khi để các CTNH

- Sai sót trong thiết kế kho lưu giữ CTNH

- Sai sót trong quá trình lưu chứa

Trang 40

khác loại tiếp xúc nhau

và phát thải các khí độc hại chưa được xử lý

- Sai sót trong chế tạo

và phát thải các khí độc hại chưa được xử lý

- Quá trình cháy trong hai buồng

đốt (bao gồm cả buồng sơ cấp,

buồng thứ cấp) không đảm bảo

dẫn đến hình thành Dioxin và Furan

- Sấm, sét, chập điện…

- Sai sót do chế tạo: các đầu phun dầu không đảm bảo, hệ thống quạt hút gió không đảm bảo công suất

- Sai sót trong lắp đặt, vận hành: quá trình vận hành lò đốt không tuân thủ đúng theo hướng dẫn của nhà sản xuất

- Sai sót trong vận hành

Ngày đăng: 22/02/2021, 15:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w