Nâng cao hiệu quả quản lý môi trường khu công nghiệp thông qua áp dụng các nguyên lý sinh thái công nghiệp nghiên cứu điển hình tại KCN Đình Trám tỉnh Bắc Giang Nâng cao hiệu quả quản lý môi trường khu công nghiệp thông qua áp dụng các nguyên lý sinh thái công nghiệp nghiên cứu điển hình tại KCN Đình Trám tỉnh Bắc Giang luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KHU CÔNG NGHIỆP THÔNG QUA ÁP DỤNG CÁC
ĐIỂN HÌNH TẠI KCN ĐÌNH TRÁM TỈNH BẮC GIANG
NGÀNH: KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được dùng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Thanh Huyền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, cán bộ trong Viện Đào tạo Sau đại học
và Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
để hoàn thành luận văn
Ban quản lý các Khu công nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Giang đã tận tình giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu tại địa phương và các nhà máy trong Khu công nghiệp
Tôi xin bày tỏ lỏng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo – PGS TS Trần Văn Nhân đã tận tình giúp đỡ và chỉ dẫn tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các đồng chí, đồng nghiệp, bè bạn và gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ, động viên khích lệ tôi, đồng thời có những ý kiến đóng góp quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2009
Tác giả luận văn
Hoàng Thanh Huyền
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Doanh thu và kim ngạch xuất khẩu của các KCN VN 20 Bảng 1.2 Số lượng lao động Việt Nam trong các KCN 21 Bảng 1.3 Tổng hợp tình hình phát triển các KCN ở Việt Nam 22 Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa sinh vật sống và cơ sở sản xuất 35 Bảng 2.2 Đặc điểm quá trình trao đổi chất của hệ sinh thái tự
nhiên và hệ công nghiệp hiện tại
Trang 6Hình 1.3 T ỷ lệ lấp đầy của các KCN Việt Nam 19
Hình 1.4 Doanh thu, xuất khẩu của các doanh nghiệp trong KCN
Việt Nam
20
Hình 2.1 Hình thức thứ nhất của hệ công nghiệp 37
Hình 2.2 Hình thức thứ hai của hệ công nghiệp 38
Hình 2.3 Các thành ph ần chính của hệ sinh thái công nghiệp 39
Hình 2.4 Hệ sinh thái công nghiệp - KCN Kalundborg, Đan Mạch 45
Hình 2.5 Hệ sinh thái công nghiệp - Tập đoàn Guitang, Quảng
Đông, Trung Quốc
Trang 7TÓM T ẮT LUẬN VĂN
Vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường đang từng ngày, từng giờ diễn ra làm cho chất lượng môi trường sống ngày càng xấu đi Các giải pháp ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm đang được áp dụng là xử lý cuối đường ống, tái
chế/ tái sử dụng, sản xuất sạch hơn và tổ hợp của các giải pháp này là sinh thái công nghiệp đang dần dần chứng tỏ ưu thế vượt trội nên được nhiều nước
ưa chuộng Trên cơ sở thuyết sinh thái công nghiệp kết hợp với kinh nghiệm của các nước phát triển, phương pháp luận xây dựng khu công nghiệp sinh thái áp dụng cho khu công nghiệp Đình Trám gồm có 3 bước chính: (1) thống
kê dữ liệu của tất cả các nhà máy trong khu công nghiệp, (2) xác định giải pháp tái chế, tái sử dụng chất thải (trao đổi chất thải) và (3) áp dụng công nghệ xử lý cuối đường ống và thải bỏ hợp vệ sinh
Mô hình khu công nghiệp sinh thái xây dựng trên cơ sở trao đổi chất công nghiệp giữa các nhà máy, qua đó giảm được lượng chất thải bị thải bỏ vào môi trường Khả năng trao đổi chất thải được xét ở cả 3 loại hình nước thải, khí thải và chất thải rắn, trong đó chất thải rắn có khả năng trao đổi nhiều nhất và mang lại lợi ích kinh tế cao nhất Đề tài lấy Khu công nghiệp Đình Trám - Khu công nghiệp đầu tiên ở Bắc Giang đã được lấp đầy và đã đi vào
hoạt động làm thí điểm để xây dựng mô hình Khu công nghiệp sinh thái Đề tài đã xác định thành phần chất thải có khả năng tái chế, tái sử dụng và các nhà máy sử dụng chất thải làm nguyên liệu, trên cơ sở đó đề xuất mô hình trao đổi chất thải trong khu công nghiệp; đồng thời đề xuất các giải pháp để
thực hiện quá trình phát triển Khu công nghiệp theo mô hình Khu công nghiệp sinh thái
Trang 8SUMMARY
Pollution and environment deterioration are happening daily and hourly
to reduce progressively life quality Applying pollution preventing methods include end of pipe treatment, reuse and recycling, cleaner production and industrial ecology that prove gradually its superiority in many countries Based on Industrial Ecology Theory and experiences from developed countries, an Eco-industrial park model is prepared and methodology applied
in the case of Dinh Tram industrial zone, Bac Giang provice The methodology consists of three main steps: (1) investigate input and output of all enterprises in industrial zone, (2) ascertain waste reuse and recycling, waste exchange technologies and (3) indicate end of pipe treatment method and sanitary disposal
Model of Eco-Industrial Park developed based mainly on material exchange among the existing enterprises By doing, so amount of waste generated and needed to be disposed to environmental will decreased Wastewater, exhausted gas and solid wastes are considered in exchange ability, of which, solid waste has the highest ability of exchange and economical benefit In research, Dinh Tram industrial zone – the first industrial zone of Bac Giang province was selected as a case study to develop
an Eco- Industrial park model Components and amount of reusable and recyclable materials as well as enterprises, which are able to receive these materials, are also indicated We proposed Eco-Industrial Park model To put this model to practice, specific steps of implementation are discussed These data play an important role in development and proposing Eco-Industrial Park model
Trang 9MỤC LỤC
Lời cam đoan 1
Lời cảm ơn 2
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các bảng 4
Danh mục các hình vẽ, đồ thị 5
Tóm tắt luận văn 6
MỞ ĐẦU 12
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÀ TÌNH HÌNH QU ẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 16
I.1 Hiện trạng phát triển Khu công nghiệp tại Việt Nam 16
I.1.1 Phát triển Khu công nghiệp 16
a Số lượng và phân bố KCN 16
b Tình hình thu hút đầu tư vào KCN 18
c Kết quả hoạt động của các KCN 19
d Tạo công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực 20
I.1.2 Những mặt còn hạn chế trong phát triển KCN tại Việt Nam 23
I.2 Hiện trạng môi trường tại các KCN Việt Nam 24
I.2.1 Ô nhiễm môi trường tại các KCN 24
a Ô nhiễm môi trường do nước thải trong KCN 25
b Tình hình ô nhiễm môi trường do chất thải rắn trong các KCN 25
c Tình hình ô nhiễm môi trường không khí 26
I.2.2 Những vấn đề đặt ra trong quản lý môi trường tại KCN 26
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI 32
Trang 10II.1 Nh ững khái niệm cơ bản về sinh thái công nghiệp 32
II.1.1 Sinh thái công nghiệp 32
II.1.2 Quá trình trao đổi chất công nghiệp 33
II.1.3 Quá trình trao đổi chất công nghiệp so với quá trình trao đổi chất sinh học 34
II.1.4 H ệ sinh thái công nghiệp 38
a Các thành phần chính của hệ STCN 38
b Các dạng hệ STCN 39
II.2 K hu công nghiệp sinh thái 40
II.2.1 Khu công nghiệp sinh thái là gì? 40
II.2.2 Mô hình khu công nghiệp sinh thái 41
II.2.3 Đặc trưng của Khu công nghiệp sinh thái 42
II.2.4 Lợi ích của sự phát triển các KCNST 43
II.3 Ví dụ điển hình về các KCNST 43
II.3.1 Kinh nghiệm từ Khu công nghiệp Kalundborg- Đan Mạch 43
II.3.2 Tập đoàn Guitang - Quảng Đông - Trung Quốc 46
II.3.3 KCNST Fujisawa – Tập đoàn Ebara, Nhật Bản 49
II.3.4 Khu công nghiệp sinh thái Bourbon An Hòa – Việt Nam 50
II.4 Phương pháp luận xây dựng mô hình KCNST 51
4.1 Kinh nghiệm của các nước phát triển: Từ xử lý cuối đường ống đến sinh thái công nghiệp 51
4.2 Áp dụng Thuyết sinh thái công nghiệp ở Việt Nam 54
4.3 Phương pháp luận xây dựng Khu công nghiệp sinh thái 55
CHƯƠNG III NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN KCN ĐÌNH TRÁM TỈNH B ẮC GIANG THEO HƯỚNG KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI 60
III.1 Giới thiệu chung về các KCN tỉnh Bắc Giang 60
Trang 11III.2 Nghiên cứu phát triển mô hình Khu công nghiệp sinh thái từ Khu
công nghiệp Đình Trám – Bắc Giang 61
III.2.1 Khảo sát hiện trạng môi trường KCN Đình Trám tỉnh Bắc Giang …61
a.Môi trường không khí………62
b.Môi trường nước……….………63
c Ch ất thải rắn……….……… 66
d Chất thải nguy hại……….67
III.2 2 Khảo sát các nhà máy trong Khu công nghiệp 67
III.2.3 Tiềm năng thực hiện tái sử dụng, tái chế và trao đổi giữa các nhà máy trong KCN Đình Trám 70
a Trao đổi sản phẩm 70
b Trao đổi phế liệu 71
III.2.4 Thực hiện giảm thiểu chất thải tại nguồn (Sản xuất sạch hơn) và sử dụng năng lượng hiệu quả 73
III.2.5 Xử lý chất thải 76
III.3 Sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng 78
III.4 Sự đồng tình của các công ty trong KCN Đình Trám 78
III.5 Những khó khăn thách thức trong quá trình phát triển mô hình Khu công nghiệp sinh thái tại KCN Bắc Giang 78
III.6 Đề xuất một số giải pháp đối với KCN Đình Trám khi phát triển theo hướng KCNST 78
CHƯƠNG IV ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KCN THEO HƯỚNG KCNST NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG KHU CÔNG NGHIỆP 81
IV.1 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức hệ thống Quản lý môi trường KCN 81
Trang 12IV.1.1 Phân c ấp và phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể đối với các đơn
v ị trong hệ thống quản lý môi trường KCN 81
IV.1.2 Tăng cường năng lực quản lý BVMT KCN 82
IV.2 B ảo đảm khả năng phát triển của KCNST trong tương lai 82
IV.3 Ph ối hợp các hoạt động hành chính và hỗ trợ 83
IV.4.Quá trình v ận hành các nhà máy trong KCN 84
IV.5 Qu ản lý Khu công nghiệp sinh thái 84
IV.6 Các hình thức hỗ trợ phát triển KCNST 87
IV.6.1 Chính sách ngu ồn tài nguyên 88
IV.6.2 Công c ụ kinh tế 90
IV.6.3 Thông tin,Tuyên truy ền, Huấn luyện 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
Tài liệu tham khảo 94
Phụ lục 96
Trang 13MỞ ĐẦU
Phát triển công nghiệp theo hướng tập trung tạo ra các Khu công nghiệp (KCN) với điều kiện hạ tầng thuận lợi nhằm thu hút đầu tư là một chủ trương lớn của Nhà nước Thực tiễn phát triển các KCN hơn 18 năm qua (kể
từ khi KCN đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh ra đời), đã và ngày càng chứng minh tính đúng đắn của sự lựa chọn KCN đã góp phần làm thay đổi diện mạo kinh tế của nhiều địa phương, trở thành động lực tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu
Tuy nhiên, phát triển các KCN cũng đang bộc lộ nhiều mặt trái thiếu bền vững Phát triển chưa đi đôi với Bảo vệ môi trường (BVMT) Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2008 trên phạm vi cả nước mới có 60/219 KCN, KCX xây dựng nhà máy xử lý nước thải Tổng lượng nước thải công nghiệp ước tính khoảng 1.000.000 m3ngày/đêm (chiếm 35% tổng lượng nước thải trên toàn quốc), trong đó hơn 75% vẫn xả trực tiếp ra môi trường không qua xử lý Bên cạnh đó, quản lý khí thải, chất thải rắn, nhất là chất thải công nghiệp nguy hại của KCN cũng còn nhiều bấp cập, chưa quản lý tốt KCN đang trở thành nguyên nhân gây ô nhiễm ở nhiều vùng và địa phương
Trải qua nhiều năm nghiên cứu và thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường, các nhà khoa học Việt Nam đã nhận ra rằng chúng ta đang xử lý các
"triệu chứng môi trường" (nước thải, chất thải rắn, khí thải, sau khi chúng được thải ra môi trường xung quanh, ) thay về giải quyết các "căn bệnh môi trường" (nguyên nhân phát sinh chất thải) Vấn đề ô nhiễm môi trường không phải chỉ tại mỗi dòng sông, trong môi trường không khí, tại vị trí đổ chất thải nguy hại mà nguyên nhân sâu xa là từ nhận thức và hiểu biết của con người, của các tổ chức quản lý, từ các mối quan hệ giữa hoạt động công nghiệp, chính sách và cơ chế quản lý môi trường Cho đến nay, hầu như quan điểm về
Trang 14BVMT ở Việt Nam vẫn còn chú trọng vào xử lý chất thải đã phát sinh Giải pháp "xử lý cuối đường ống" đã trở nên phổ biến ở Việt Nam từ khi Luật Bảo
vệ môi trường (1993) và các chính sách luật lệ liên quan đến môi trường ra đời Việc ban hành Bộ tiêu chuẩn môi trường Việt Nam đối với các loại chất thải công nghiệp (chất thải rắn, nước thải, khí thải, tiếng ồn và độ rung, chất thải độc hại, chất thải nguy hại, ) đã góp phần thúc đẩy các nhà sản xuất tìm kiếm biện pháp xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn quy định
Trong một chừng mực nào đó, giải pháp "xử lý cuối đường ống" đã, đang và sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm Sự hiện diện và hoạt động của các trạm xử lý nước thải tập trung của các nhà máy là bằng chứng cụ thể về vai trò của "xử lý cuối đường ống" Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận một thực tế rằng mặc dù các giải pháp xử lý cuối đường ống
đã được triển khai áp dụng từ năm 1990 nhưng đến nay chất lượng môi trường ở Việt Nam vẫn chưa được cải thiện đáng kể Sự suy thoái môi trường đang diễn ra hàng ngày không chỉ do bản thân công nghệ xử lý, do quá trình phát triển công nghiệp quá nhanh, mà còn là hậu quả của việc thực thi các giải pháp xử lý cuối đường ống không hợp lý Yêu cầu người gây ô nhiễm phải xử
lý chất thải đạt tiêu chuẩn quy định trong khi các cơ quan quản lý nhà nước không có đủ nguồn nhân lực và kinh phí để giám sát mức độ thực thi cũng là một trong những nguyên nhân tất yếu dẫn đến tình trạng vận hành không hiệu quả các hệ thống xử lý chất thải
Các khảo sát của UNEP cho thấy chỉ một số ít KCN có khả năng quản
lý hoặc hiện nay có kế hoạch quản lý môi trường ở mức độ KCN Tuy nhiên,
do nhận thức về bảo vệ môi trường ngày càng được nâng cao và quy định ngày càng chặt chẽ, các KCN đang bị buộc phải tìm kiếm các giải pháp "chi phí - hiệu quả" để cải thiện các hoạt động bảo vệ môi trường của mình Các KCN hiện có vẫn là những hệ thống mở Trong đó, nguyên liệu được khai
Trang 15thác từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho hoạt động công nghiệp và sau đó được trả lại môi trường dưới dạng chất thải Đó là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trường tự nhiên theo đà phát triển công nghiệp Tuy nhiên, các nhà STCN cho rằng có thể khắc phục điều này bằng cách phát triển hệ công nghiệp theo mô hình hệ thống kín, tương tự như hệ sinh thái tự nhiên Trong đó "chất thải" từ một khâu này của hệ thống sẽ là "chất dinh dưỡng" của một khâu khác Ý tưởng rất cơ bản ở đây là sự cộng sinh công nghiệp Hay nói cách khác, các cơ sở sản xuất công nghiệp, giống như các sinh vật tự nhiên, phải sử dụng sản phẩm phụ của cơ sở khác làm nguyên liệu sản xuất thay vì liên tục khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên mới và đổ chất thải vào môi trường
Mặc dù STCN là môn khoa học mới, nhưng gần đây, môn khoa học
này đã nhận được sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội bền vững Nhiều thành phố của Mỹ đang quy hoạch
để thành lập Khu công nghiệp sinh thái (KCNST) trong tương lai như Brownsville, Texas; Baltimore, Maryland; Cape Charles, Virhinia, Chattanooga, Tennessee, Plattsburgh, New York; Burlinton, Vermont Ở Canada đang hình thành các KCNST như KCN Burnside, Nova Scotia và Trung tâm Năng lượng, Ontaria Tại Hà Lan, KCN Bền Vững đang được hình thành tại Apeldoorn với tên gọi Ecofactorij Mặc dù các dự án này chỉ mới bắt đầu, nhiều dự án vẫn đang ở thời kỳ phôi thai, nhưng KCNST vẫn được xem
là ý tưởng phát triển công nghiệp bền vững khả thi nhất
Song hành với phát triển công nghiệp truyền thống, suy thoái môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên là điều không tránh khỏi Mặc dù hiệu quả kinh tế do SXCN đem lại đã rõ, nhưng không thể không tính đến chữa trị môi trường Nhiều nước phát triển và đang phát triển phải trả giá đắt cho sự phá huỷ môi trường và suy giảm tài nguyên thiên nhiên của quốc gia
Trang 16mình Chi phí này có thể chiếm từ 1 đến 7% tổng thu nhập quốc nội của mỗi quốc gia, ở Việt Nam là 7,2% Do vậy, Bảo vệ môi trường và Phát triển bền vững đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại Không thể có một
xã hội phát triển lành mạnh, bền vững trong một thế giới còn nghèo đói, đại dịch và suy thoái môi trường
Để giải quyết các vấn đề bức xúc về môi trường nêu trên, cần tiến hành đánh giá hiện trạng môi trường và tình hình quản lý môi trường các KCN, từ
đó đề xuất các giải pháp, mô hình KCN thân thiện môi trường để hướng đến KCNST nhằm cải thiện công tác quản lý môi trường các KCN Đây là một trong những biện pháp quan trọng góp phần bảo vệ môi trường và phát triển
công nghiệp theo hướng bền vững Đó cũng là lý do hình thành đề tài : “Nâng cao hiệu quả Quản lý môi trường KCN thông qua áp dụng các nguyên lý Sinh thái công nghiệp Nghiên cứu điển hình tại KCN Đình Trám tỉnh Bắc Giang”
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là các Khu công nghiệp hiện hữu, điển hình là KCN Đình Trám tỉnh Bắc Giang – là quê hương của tác giả, một tỉnh nghèo đang phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Đưa ra hiện trạng và tình hình quản lý môi trường KCN Đình Trám, tỉnh Bắc Giang, từ đó xây dựng mô hình KCN thân thiện với môi trường và phát triển KCN Đình Trám theo hướng KCNST nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trường KCN
Kết quả thu được của đề tài sẽ là cơ sở khoa học để xây dựng, tổ chức
và hoàn thiện công tác quản lý môi trường các KCN, nâng cao ý thức trách nhiệm của các nhà sản xuất, các cán bộ môi trường ở từng cơ sở và từng khu
công nghiệp hướng đến các KCNST
Trang 17CHƯƠNG I
VI ỆT NAM I.1 Hiện trạng phát triển Khu công nghiệp tại Việt Nam
I.1.1 Phát triển Khu công nghiệp
Sự ra đời của các Khu công nghiệp, Khu chế xuất (sau đây gọi tắt là KCN) là kết quả của chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước Từ khi ra đời, nhất là sau khi ban hành Nghị định 36 CP ngày 24/4/1997, KCN ngày càng khẳng định vai trò và vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế chung của đất nước
Lịch sử phát triển “khu công nghiêp” đã trải qua chặng đường hơn 18 năm kể từ KCN tập trung đầu tiên – KCN Tân Thuận ra đời năm 1991 tại thành phố Hồ Chí Minh Đến nay cả nước có 219 KCN, trong đó tập trung nhiều nhất ở phía Nam chiếm 52%, miền Trung 22%, hơn 26% KCN phân bố
ở miền Bắc [2]
a Số lượng và phân bố KCN
Trong 18 năm xây dựng và phát triển, năm nào cũng có KCN được thành lập mới (ngoại trừ năm 1993 không cấp phép cho KCN nào) Giai đoạn 1996-1998 là thời kỳ phát triển đỉnh cao của các KCN Riêng năm 1997, thành lập 22 KCN Tuy nhiên từ năm 1999 đến 2001, số lượng các KCN được thành lập mới giảm Từ năm 2002 đến nay, số lượng các KCN được thành lập mới có xu hướng tăng dần (Hình 1.1)
Trang 18Hình 1.1 Số lượng các KCN được thành lập ở VN qua các năm
( Nguồn: Tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX ở Việt Nam)
Tính đến cuối tháng 12/2008, cả nước có 219 KCN được Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên 61.472 ha, trong
đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 40.000 ha, chiếm 67% tổng
diện tích đất tự nhiên Trong đó có 118 KCN đã đi vào hoạt động, 101 KCN còn lại đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản.[2]
Về phân bố, các KCN tập trung phần lớn ở 3 vùng kinh tế trọng điểm Tuy nhiên những năm gần đây phân bố KCN có xu hướng dịch chuyển về các tỉnh duyên hải miền Trung Hiện 48 tỉnh, thành phố đã thành lập KCN, tuy nhiên, phân bố các KCN vẫn chủ yếu ở những vùng có điều kiện thuận lợi về
vị trí địa lý, giao thông vận tải, nguồn lao động như Đông Nam bộ, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung Cả 3 khu vực này chiếm 79% tổng
số KCN được quy hoạch và 77% tổng quỹ đất quy hoạch Những vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn như Trung du miền núi phía Bắc và Tây
Trang 19Nguyên số lượng, quy mô còn hạn chế Cả hai vùng này chỉ chiếm hơn 6% tổng số KCN được quy hoạch của cả nước (Hình 1.2)
Hình 1.2 Phân bố các KCN theo lãnh thổ
( Nguồn: Tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX ở Việt Nam)
b Tình hình thu hút đầu tư vào KCN
Tính đến cuối tháng 12/2008, các KCN đã thu hút được 3.564 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt 42,7 tỷ USD Cơ cấu vốn đầu
tư cho thấy, trong 2008, tại các KCN, vốn đầu tư mới tăng gấp 4,45 lần so với vốn đầu tư mở rộng Về thu hút đẩu tư trong nước, năm 2008, các KCN đã thu hút gần 59.200 tỷ đồng (tương đương 3,5 tỷ USD) Lũy kế đến 31/12/2008, các KCN của cả nước thu hút được 3.588 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký là 251.541,6 tỷ đồng (tương đương 14,8 tỷ USD) [2]
Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp tiếp tục gia tăng: Tính đến cuối năm 2006, các KCN trên cả nước đã cho thuê được khoảng 10.758 ha, đạt diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê 54,5% Riêng các KCN đã vận hành
Trang 20đạt tỷ lệ lấp đầy trên 72,2%[1] Đáng chú ý là các KCN mới thành lập 2 – 3 năm gần đây có tốc độ lấp đầy khá nhanh so với trước
Các Vùng kinh tế trọng điểm, tỷ lệ lấp đầy đạt trên 60% Trong đó, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đạt 57,7%; Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đạt 71 %; Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đạt 53,9%.[1]
Hình 1.3 Tỷ lệ lấp đầy của các KCN Việt Nam
( Nguồn: Tổng kết 15 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX ở Việt Nam)
c Kết quả hoạt động của các KCN
Trong những năm qua, doanh thu và giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp trong KCN liên tục tăng nhanh và đều cho các năm.(Bảng 1và hình 4)
Tính chung cho cả nước, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN đạt 14 tỷ USD, tương đương 28 % tổng giá trị sản xuất công nghiệp của
cả nước Giá trị kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp ở KCN đạt hơn 6
tỷ USD, gấp gần 3 lần so với năm 2000 và chiếm 19 % trong tổng giá trị xuất khẩu của cả nước; Nộp ngân sách Nhà nước đạt 650 triệu USD
Trang 21Bảng 1.1 Doanh thu và kim ngạch xuất khẩu của các KCN Việt Nam
(Nguồn: Báo cáo Vấn đề phát triển bền vững KCN ở Việt Nam, Trường ĐH Kinh tế Quốc Dân năm 2006)
Hình 1.4 Doanh thu, xuất khẩu của các doanh nghiệp trong KCN Việt Nam
( Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
d Tạo công ăn việc làm, đào tạo nguồn nhân lực
KCN đã thu hút lực lượng lớn lao động của các tỉnh, thành phố và những vùng phụ cận Sự phát triển KCN trong thời gian qua đã góp phần không nhỏ vào việc giải quyết vấn đề việc làm tại các địa phương Tính đến
Trang 22cuối năm 2006, các KCN đã giải quyết việc làm cho trên 918.000 lao động và khoảng 1,2 – 1,5 triệu lao động gián tiếp
Các KCN không chỉ thu hút lượng lớn lao động của địa phương mà cả những lao động từ các khu vực lân cận và các vùng miền khác (Bảng 1.2)
Bảng 1.2 Số lượng lao động Việt Nam trong các KCN
( Nguồn: www.moi.gov.vn)
Nhiều KCN đã phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao như thiết bị văn phòng (Canon), điện tử (Panasonic, Sanyo), phụ tùng ôtô, xe máy, vật liệu xây dựng, sản phẩm thép…Theo đánh giá, các công nghệ đang sử dụng ở các dự án FDI trong các KCN đều hiện đại hơn
Trang 23công nghệ vốn có của nước ta Doanh nghiệp trong các KCN góp phần quan trọng vào việc mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại, làm thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu và cơ cấu nhập khẩu, mở rộng thị trường tiêu thụ trong khu vực và trên thế giới
Bảng 1.3 Tổng hợp tình hình phát triển các KCN ở Việt Nam
Trang 24KCN đã góp phần làm thay đổi cơ cấu công nghiệp và tăng nhanh thu nhập cho địa phương Tỉnh Vĩnh Phúc, một tỉnh thuần nông với trên 90% dân
số sống ở nông thôn, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 140 USD/năm vào năm 1996; tỷ trọng công nghiệp – xây dựng trong cơ cấu kinh tế tỉnh đạt 12,9%, đến nay các kết quả tương ứng về thu nhập và phát triển công nghiệp
là 515 USD và 52,2% Thành công này là kết quả của quá trình tích cực kêu gọi đầu tư và phát triển KCN
I 1.2 Những mặt còn hạn chế trong phát triển KCN tại Việt Nam
Bên cạnh những kết quả, phát triển KCN đang bộc lộ nhiều mặt trái, kém bền vững Chất lượng quy hoạch các KCN còn thấp, phát triển theo phong trào, thu hút đầu tư chưa đi đôi với bảo vệ môi trường
Phát triển KCN đang chiếm dụng đất nông nghiệp, do quy hoạch thiếu cân nhắc Nhiều KCN đang phân bố vào các vùng đất phù sa châu thổ, bám mặt đường một cách thụ động do thiếu quy hoạch Nhiều địa phương không
có lợi thế tự nhiên nhưng vẫn phát triển KCN, dẫn đến tỷ lệ lấp đầy thấp, lãng phí đất đai trong thời gian dài Một số địa phương chạy theo phong trào, nóng vội thu hồi đất của nông dân, trong khi chưa có sự chuẩn bị cần thiết để chuyển đổi nghề cho họ gây xáo trộn xã hội và gây tâm lý bất ổn trong nhân dân
Quy hoạch KCN không gắn kết quy hoạch tổng thể, quy hoạch ngành, vùng, không xem xét đầy đủ tính đặc thù và điều kiện tự nhiên khác nhau giữa các địa phương về các yếu tố như: vị trí địa lý, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực,… Thiếu sự điều tiết chung/điều tiết vĩ mô trong phát triển KCN do đó đã không tận dụng được lợi thế so sánh, dẫn đến hiệu quả phát triển kém
Chưa phối hợp tốt giữa quy hoạch phát triển KCN với quy hoạch đô thị, dẫn đến tập trung dân cư về các đô thị, giao thông đô thị đã quá tải nay lại
Trang 25càng khó giải quyết hơn Chưa nói, phát triển KCN chưa đi đôi với giải quyết vấn đề xã hội của bản thân KCN như đảm bảo nhà ở, hạ tầng trường học, môi trường, chăm sóc sức khỏe và đời sống tinh thần của người lao động dẫn đến nhiều vấn đề xã hội bức xúc mà báo chí đã phản ánh trong thời gian qua
Phát triển KCN chưa có sự phối hợp đồng bộ với công tác đào tạo lực lượng lao động, dẫn đến thiếu hụt gay gắt lao động tại các KCN, nhất là lực lượng lao động có tay nghề Do chạy theo đầu tư, nhiều KCN đã bỏ qua các quy định tối thiểu về môi trường, thậm chí họ đã phá bỏ các quy định phân khu chức năng đã được phê duyệt, thiếu sự kiểm tra giám sát các hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực môi trường… Nhiều KCN đã trở thành điểm nóng về môi trường, gây bức xúc cho cộng đồng tại nhiều địa phương
Thực hiện các chính sách, pháp luật về lao động trong các KCN, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn nhiều bất cập, thậm chí có biểu hiện vi phạm pháp luật Nhiều doanh nghiệp chưa ký kết thoả ước lao động tập thể, hay hợp đồng lao động và chưa thực hiện đóng Bảo hiểm xã hội cho người lao động
Chính sách tiền lương trong các doanh nghiệp, nhất là khu vực FDI chậm thay đổi và rất lạc hậu, dẫn đến đời sống một bộ phận lớn lao động rất
khó khăn, tình trạng đình công do doanh nghiệp vi phạm thường xuyên xảy
ra
I 2 Hiện trạng môi trường tại các KCN Việt Nam
I 2.1 Ô nhiễm môi trường tại các KCN
Ô nhiễm môi trường tại các KCN đang là vấn đề nóng được dư luận đặc biệt quan tâm Phát triển KCN trải qua nhiều thời kỳ với những quy định, ràng buộc và quan tâm rất khác nhau, chính vì vậy với những quy định mới
Trang 26của Luật BVMT 2005 phần lớn KCN có những vi phạm nhất định KCN đang tạo ra ô nhiễm: nước thải, khí thải, chất thải rắn
a Ô nhiễm môi trường do nước thải trong KCN
Ô nhiễm do nước thải của KCN là vấn đề nghiêm trọng nhất Theo ước tính, mỗi KCN có quy mô 100 – 400 ha, hàng ngày thải ra môi trường từ 3000 – 5000 m3 nước thải/ngày đêm Theo điều tra năm 2007, cả nước có 154 KCN, có 39 KCN đã có trạm xử lý nước thải tập trung, chiếm 25,3 %, 27 KCN đang xây dựng (dự kiến đưa vào vận hành năm 2008), chiếm 17,5%, 27 KCN mới có kế hoạch, còn lại 61 KCN chưa có kế hoạch triển khai, chiếm 39%.[1]
Tính chung cả nước, chỉ riêng các KCN đang hoạt động có lượng nước thải lên đến 223.750 m3/ngày đêm, trong đó mới có khoảng 30% được xử lý [1] Nước thải chưa qua xử lý tại các KCN đang là nguyên nhân chính gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, lưu vực sông tại nhiều địa phương
b Tình hình ô nhiễm môi trường do chất thải rắn trong các KCN
Tổng lượng chất thải rắn công nghiệp và nguy hại phát sinh từ các KCN trên cả nước ước từ 25-30 nghìn tấn/ngày đêm Trong đó, lượng rác thải công nghiệp chiếm khoảng 20%, 3 vùng kinh tế trọng điểm chiếm khoảng 80% tổng lượng rác thải.[1]
Theo báo cáo Vấn đề môi trường trong phát triển KCN tại Việt Nam, hiện các chất thải rắn công nghiệp và nguy hại từ các KCN chưa được thu gom và xử lý một cách có hiệu quả Nhiều KCN có phát sinh chất thải rắn đã
ký kết hợp đồng với các công ty dịch vụ thu gom chất thải rắn, nhưng không kiểm soát được tình trạng chất thải sau khi ký Cả nước, theo báo cáo của Tổng cục Môi trường, chưa có cơ sở xử lý chất thải nguy hại nào đạt chuẩn, chưa nói số lượng cũng rất ít, chủ yếu mới chỉ có ở Thành phố Hồ Chí Minh,
Trang 27Đồng Nai và Hà Nội Trong những năm tới, một số khu xử lý chất thải rắn sẽ được hình thành như:
- Khu xử lý chất thải công nghiệp đầu tiên trên diện tích 2,2 ha (trong
số 100 ha được quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải trong thời hạn 50 năm) thuộc địa bàn 2 xã Giang Điền và An Viễn (huyện Thống Nhất) do công
ty phát triển KCN Biên Hòa – Sonadezi Đồng Nai xây dựng
- KCN xử lý chất thải (kể cả chất thải công nghiệp và sinh hoạt) tại xã Tân Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An trên diện tích 1760 ha do Liên doanh giữa Công ty cổ phần Đức Hạnh và Công ty Môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh xây dựng
c Tình hình ô nhiễm môi trường không khí
Tình trạng ô nhiễm không khí do khí thải công nghiệp tăng theo thời gian; nồng độ chất SO2, CO, NO2, PM10,… bụi tại phần lớn khu vực xung quanh KCN vượt quá giới hạn cho phép Khí thải công nghiệp tập trung vào các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng (vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20 đến
435 lần); điện, luyện kim (vượt từ 5 – 125 lần); dệt nhuộm, đóng tàu vượt khoảng 10 – 15 lần.[1]
Các báo cáo hiện trạng môi trường cũng chỉ ra rằng hiện tại nồng độ bụi trung bình của các KCN hiện tại vẫn cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép
Ô nhiễm do các chất khí SO2, CO, NO2: kết quả quan trắc trong các năm không thay đổi nhiều Theo báo cáo Hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2003, các KCN của Bình Dương có nồng độ khí NO2 và SO2 lớn nhất so với cả nước
I.2.2 Những vấn đề đặt ra trong quản lý môi trường tại KCN
Những năm gần đây, quản lý môi trường tại các KCN đã có nhiều cải
Trang 28thiện Đầu tư cho BVMT tại các KCN, tỷ lệ các KCN có xử lý nước thải tập trung cũng đã tăng lên Các KCN thành lập mới đa phần đều chú ý xây dựng đồng bộ các công trình xử lý chất thải Ý thức cộng đồng doanh nghiệp cũng
đã có những chuyển biến tích cực
Tuy nhiên, kết quả điều tra của Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp gần đây cho thấy môi trường tại các KCN đang bị ô nhiễm nghiêm trọng và chậm được cải thiện Nguyên nhân chính là quản lý môi trường tại địa phương chưa làm tốt, hệ thống quản lý môi trường chưa hoàn thiện, quy định quản lý bộc lộ nhiều bất cập, khó thực hiện
Hệ thống quản lý Nhà nước về môi trường KCN vẫn còn nhiều bất cập, kém hiệu quả Do cơ chế phân cấp chưa hợp lý dẫn đến phối hợp giữa Sở Tài nguyên và Môi trường với Ban quản lý KCN cấp tỉnh chưa hiệu quả, việc giám sát môi trường chưa được tiến hành thường xuyên Quản lý môi trường KCN cho đến nay không rõ đầu mối, không biết ai chịu trách nhiệm Ban Quản lý KCN được giao rất nhiều trọng trách, nhưng thiếu chức năng quản lý môi trường hoặc có nhưng không thực chất Điều tra cho thấy, nhiều Ban quản lý KCN bỏ mặc vấn đề môi trường KCN cho Sở Tài nguyên và Môi trường, quan niệm rằng Sở thực hiện thanh tra, kiểm tra thì Sở chịu trách nhiệm Trong khi đó, Sở Tài nguyên và Môi trường lại cho rằng Sở chỉ thực hiện chức năng thanh tra, kiểm tra, còn quản lý thế nào là việc của Ban quản
lý KCN
Tại nhiều địa phương, Công ty kinh doanh hạ tầng đang được hiểu lầm như cơ quan quản lý do có nhiều quyền hạn đối với doanh nghiệp (kể cả cắt điện, cắt nước…) Sự lẫn lộn dẫn đến trong nhiều trường hợp khi có sự cố môi trường xảy ra (thí dụ nước thải không đạt yêu cầu), trách nhiệm được quy
về cho Công ty kinh doanh hạ tầng mà thiếu đi trách nhiệm của cơ quan quản
lý thực thụ Bản thân công ty kinh doanh hạ tầng cũng đang được sử dụng như
Trang 29một đơn vị đa năng, nhưng thực chất năng lực chính/thế mạnh chỉ là kinh doanh cho thuê đất Chính vì vậy, khi chuyển sang hoạt động môi trường không phải công ty kinh doanh hạ tầng nào cũng có năng lực Do không có năng lực, nhiều công ty kinh doanh hạ tầng ngại hoặc cố tình chậm triển khai các hạng mục BVMT, thậm chí ngay cả khi đã thu tiền của doanh nghiệp (trong tiền thuê đất đã có cả tiền xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung)
Quản lý chất thải rắn, chất thải công nghiệp nguy hại, môi trường không khí KCN vẫn chưa được quan tâm đúng mức Công tác thanh tra, kiểm tra môi trường, triển khai giám sát hoạt động môi trường của KCN cũng đang gặp rất nhiều khó khăn do thiếu năng lực và cả tổ chức đầu mối triển khai
Các quy định quản lý môi trường qua thực tiễn triển khai đã bộc lộ nhiều bất cập, thiếu hụt Quyết định 62 của Bộ KHCN và Môi trường quy định: Tỷ lệ lấp đầy KCN dưới 70% chưa phải xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung gây nhiều khó khăn cho việc quản lý Nhiều địa phương do khó khăn đầu tư, khoán trắng hoặc giao cho công ty phát triển hạ tầng KCN, nhưng thiếu kiểm soát dẫn đến KCN phát triển thiếu đồng bộ, đặc biệt là thiếu các công trình xử lý chất thải
Nhiều KCN quy định tùy tiện, cho phép doanh nghiệp tự ý khai thác nước ngầm, không kết nối vào hệ thống thu gom xử lý tập trung (Doanh nghiệp chỉ cần đăng ký xử lý đạt là cho phép làm đường thoát nước riêng) Tình trạng trên dẫn đến gia tăng các đường xả nước thải trong cùng KCN không thể kiểm soát được Mỗi tỉnh có những quy định chi tiết về tiêu chuẩn nước thải ra đạt loại C hay B hay A trước khi đưa vào hệ thống xử lý tập trung Tuy nhiên, quy định chung chưa tính đến đặc thù khác nhau của từng doanh nghiệp
Công tác ĐTM còn nhiều bất cập, mang nặng tính hình thức Điều tra cho thấy hơn 70% doanh nghiệp không thực hiện theo như cam kết trong báo
Trang 30cáo ĐTM đã phê duyệt nhưng không bị phát hiện, hoặc không bị chịu bất cứ hình thức kỷ luật và cảnh bảo nào Sự buông lỏng quản lý, vô tình tạo điều kiện cho doanh nghiệp vi phạm Gần đây khi triển khai thực hiện nghị định 29CP, quy định trình tự thẩm định báo cáo ĐTM, không quy định ĐTM nào thì thuộc quyền Ban quản lý hay Sở TN&MT gây khó khăn trong triển khai
Vấn đề Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư cũng đang được hiểu và vận dụng không đúng tại nhiều địa phương, nhất là khu vực
miền trung, “Tạo điều kiện” ở đây thường được hiểu là bao cấp cho những vấn đề môi trường Nhiều địa phương hứa hẹn với nhà đầu tư rằng sẽ tạo mọi điều kiện thuận lợi kể cả giải quyết thay cho họ những vấn đề môi trường (cũng có thể do năng lực không hiểu biết những vấn đề môi trường) Thực tế,
bảo vệ môi trường không thể làm thay, càng không thể là sự chờ đợi của nhiều KCN Đất có thể giảm để tạo ra ưu dãi, nhưng môi trường làm thay thì chỉ tạo ra nhiều vấn đề môi trường hơn, điều kiện sinh ra nhiều chất thải hơn
mà không hệ thống quản lý nào có thể chịu đựng được
Nhận thức về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường trong các KCN nói riêng của chính quyền địa phương chưa đầy đủ Vẫn tư tưởng “ưu tiên kinh tế trước, bảo vệ môi trường sau”, chưa đánh giá được đúng mức tầm quan trọng của vấn đề môi trường trong mối quan hệ bền vững giữa hoạt động sản xuất và sinh hoạt trong KCN cũng như giữa KCN với môi trường xung quanh
Các cơ quan nhà nước ở địa phương và trung ương có chế tài ràng buộc
và giám sát chặt chẽ việc thực hiện các hạng mục xây dựng KCN theo quy hoach và theo đúng dự án nghiên cứu khả thi đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Do đó, các hạng mục xử lý nước thải, chất thải và bảo vệ môi trường trong báo cáo khả thi chưa được triển khai trên thực tế
Trang 31Ý thức bảo vệ môi trường của một số chủ đầu tư xây dựng hạ tầng KCN và nhà đầu tư vào các KCN còn hạn chế Sự mâu thuẫn lợi ích – Chi phí khi xây dựng hệ thống xử lý chất thải cùng với việc lựa chưa có cơ chế hỗ trợ thỏa đáng từ phía Nhà nước đã khiến cho các nhà đầu tư chậm triển khai việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải tập trung cho KCN
Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường trong KCN còn chưa hoàn
chỉnh Chưa hình thành hệ thống các quy định thống nhất về công tác quản lý môi trường trong KCN theo các loại hình ô nhiễm (rắn, lỏng, khí) và chưa thích hợp với đặc trưng phổ biến hiện nay của KCN là đa ngành đòi hỏi phải quản lý ô nhiễm theo từng ngành và theo hệ thống trong KCN Quy định về
thẩm định môi trường đối với các dự án trong KCN còn chậm được đổi mới
và chưa có chế tài cụ thể mang tính ràng buộc cao Ngoài cơ chế hỗ trợ theo Quyết định 183/2003/QĐ-TTg, cơ chế hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý chất thải KCN chưa hình thành
Một số quy định còn khá cứng nhắc như trường hợp một số doanh nghiệp như may mặc thực sự ít thải ra môi trường nhưng theo quy định vẫn phải xây dựng nhà máy xử lý nước thải cục bộ hoặc một số doanh nghiệp phát sinh nước thải ít, mức độ ô nhiễm môi trường không cao nhưng do không có
trạm tập trung nên bắt buộc phải xây dựng trạm xử lý cục bộ dẫn đến tốn kém chi phí cho doanh nghiệp, sau đó lại tốn thêm phí nước thải khi xây dựng trạm tập trung
Tại một số KCN gần nhau, so cùng chủ đầu tư là đơn vị sự nghiệp có thu thì có thể xây dựng 1 trạm ở 1 KCN với công suất lớn xử lý cho các KCN
gần đó, sử dụng hệ thống đường ống bơm từ KCN này sang KCN khác do đó
sẽ giảm áp lực kinh phí, tuy nhiên lại trái nguyên tắc phải xâ dựng công trình
xử lý nước thải tập trung trong KCN
Trang 32Ngoài ra, đã xuất hiện nhưng mâu thuẫn lớn trong quá trình thực hiện
cơ chế chính sách, gây lúng túng và ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp như: mâu thuẫn giữa chi phí đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải với tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, tốc độ thu hút đầu tư và lợi ích từ việc xây
dựng trạm xử lý đối với chủ đầu tư; mâu thuẫn giữa việc xây dựng trạm xử lý nước thải ngay từ khi triển khai xây dựng hạ tầng trong khi chưa thể dự đoán trước được cơ cấu ngành nghế và khả năng thu hút đầu tư vào doanh nghiệp với việc xây dựng công trình xủa lý nước thải sau khi thu hút đầu tư nhưng không đáp ứng được kịp thời yêu cầu xử lý nước thải
Trang 33CHƯƠNG II
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP SINH THÁI II.1 Nh ững khái niệm cơ bản về sinh thái công nghiệp
II.1.1 Sinh thái công nghiệp
Khái niệm Sinh thái công nghiệp (STCN) được biết đến vài năm trước đây, đặc biệt từ khi xuất hiện bài báo của Frosch và Gallpoulos phát hành theo
số báo đặc biệt của tờ Scientific American (Frosch và Gallpoulos, 1989) Khái niệm STCN thể hiện sự chuyển hóa mô hình hệ công nghiệp truyền thống sang dạng mô hình tổng thể hơn - hệ STCN Trong đó, chất thải hay phế liệu
từ quy trình sản xuất này có thể sử dụng làm nguyên liệu cho quy trình sản xuất khác
Khái niệm STCN còn được xem xét ở khía cạnh tạo thành mô hình hệ công nghiệp bảo toàn tài nguyên là chiến lược có tính chất đổi mới nhằm phát triển công nghiệp bền vững bằng cách thiết kế những hệ công nghiệp theo hướng giảm đến mức thấp nhất sự phát sinh chất thải và tăng đến mức tối đa khả năng tái sinh - tái sử dụng nguyên liệu và năng lượng STCN là một hướng mới tiến đến đạt được sự phát triển bền vững bằng cách tối ưu hóa mức tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên và năng lượng đồng thời giảm thiểu sự phát sinh chất thải Hay nói cách khác, khái niệm STCN còn bao hàm tái sinh, tái chế, tuần hoàn các loại phế liệu, giảm thiểu chi phí xử lý, tăng cường việc sử dụng tất cả các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm bao gồm cả sản xuất sạch hơn và
xử lý cuối đường ống Ở đây sản xuất sạch hơn là hướng tới ngăn ngừa ô nhiễm ở mức cơ sở sản xuất riêng lẻ, trong khi đó STCN hướng tới ngăn ngừa
ô nhiễm ở mức hệ công nghiệp
Trang 34Mặc dù khái niệm STCN vẫn còn "non trẻ" và chưa có một định nghĩa thống nhất, tuy nhiên có thể thấy sự nhất trí rằng khái niệm STCN thể hiện những quan điểm chính sau đây:
- STCN là sự tổ hợp toàn diện và thống nhất tất cả các thành phần của
hệ công nghiệp và các mối quan hệ của chúng với môi trường xung quanh
- STCN nhấn mạnh việc xem xét các hoạt động do con người điều khiển sao cho có thể phát triển công nghiệp theo hướng bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường
- STCN xem quá trình tiến hóa (cải tiến) công nghệ sản xuất là yếu tố quan trọng để chuyển tiếp từ hệ công nghiệp không bền vững hiện tại sang hệ STCN bền vững trong tương lai
Cơ sở hình thành khái niệm STCN là dựa trên hiện tượng trao đổi chất công nghiệp Đó là toàn bộ các quá trình vật lý chuyển hóa nguyên liệu và năng lượng cùng với sức lao động của con người thành sản phẩm, phế phẩm
và chất thải ở điều kiện ổn định Khái niệm này giúp chúng ta hiểu được hoạt động của hệ công nghiệp và mối quan hệ tương hỗ của chúng đối với môi trường xung quanh Trên cơ sở đó, cùng với những hiểu biết về hệ sinh thái, con người có thể hiệu chỉnh hệ công nghiệp sao cho tương thích với hoạt động của hệ sinh thái tự nhiên Bằng cách làm như vậy, các cơ sở sản xuất công nghiệp có thể được tổ hợp thành những hệ STCN Những hệ STCN này
sẽ bao gồm nhiều cơ sở sản xuất được tập hợp sao cho chúng sử dụng sản phẩm và chất thải của nhau Những kiến thức cơ bản về quá trình trao đổi chất công nghiệp và hệ STCN là cơ sở để hiểu rõ và ứng dụng những nguyên lý cơ bản của khái niệm STCN
II.1.2 Quá trình tra o đổi chất công nghiệp
Quá trình trao đổi chất công nghiệp thể hiện sự chuyển hóa của dòng vật chất và năng lượng từ nguồn tài nguyên tạo ra chúng, qua quá trình chế
Trang 35biến trong hệ công nghiệp, đến người tiêu thụ và cuối cùng thải bỏ Trao đổi chất công nghiệp cung cấp cho chúng ta khái niệm cơ bản về quá trình chuyển hóa hệ thống sản xuất và tiêu thụ sản phẩm hiện tại theo hướng phát triển bền vững Đây là cơ sở cho việc phân tích dòng vật chất, xác định và đánh giá các nguồn phát thải cũng như các tác động của chúng đến môi trường
II.1.3 Quá trình trao đổi chất công nghiệp so với quá trình trao đổi chất sinh học
Quá trình trao đổi chất sinh học đã có từ khi xuất hiện khoa học sinh học Khái niệm này được sử dụng để mô tả các quá trình chuyển hóa trong cơ thể sinh vật sống Trao đổi chất sinh học được sử dụng để mô tả các quá trình hóa sinh xảy ra luân phiên trong các phân tử sinh học
Sự giống nhau giữa quá trình trao đổi chất sinh học và trao đổi chất công nghiệp là: "Các quá trình trao đổi chất có thể được chia thành 2 nhóm chính: quá trình đồng hóa và quá trình dị hóa Cũng như thế, một hệ STCN tổng hợp vật chất, hay thực hiện quá trình đồng hóa, và phân hủy vật chất, tức
là thực hiện quá trình tương tự như quá trình dị hóa sinh học" Trong một hệ sinh học, quá trình trao đổi chất xảy ra ở tế bào, ở các cơ quan riêng biệt cũng như trong toàn bộ cơ thể sinh vật Tương tự như vậy, quá trình trao đổi chất công nghiệp cũng có thể xảy ra trong từng cơ sở sản xuất riêng biệt, trong từng ngành công nghiệp và ở mức toàn cầu Mặc dù có một số điểm khác biệt giữa một sinh vật sống và một cơ sở sản xuất (bảng 2.1), nhưng khái niệm trao đổi chất công nghiệp có thể áp dụng đối với các cơ sở sản xuất Điểm cốt yếu là phải xác định rő phạm vi mà dòng vật chất và năng lượng tham gia vào quá trình chuyển hóa
Trang 36Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa sinh vật sống và cơ sở sản xuất
Sinh vật có khả năng tái sản
sinh ra chúng Sinh vật có tính đặc
trưng và không thể thay đổi đặc tính
của chúng trừ khi trải qua quá trình
tiến hóa lâu dài
Cơ sở sản xuất chỉ tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ phục vụ Cơ sở sản xuất có thể thay đổi từ mặt hàng sản xuất cũng như dịch vụ thương mại từ dạng này sang dạng khác Một
cơ sở sản xuất chuyển hóa nguyên liệu, bao gồm cả nhiên liệu và năng lượng, thành sản phẩm, phế phẩm và chất thải
(Nguồn: Ayres, 1994)
Trao đổi chất sinh học là quá trình tự điều chỉnh Đối với từng sinh vật, quá trình này được thực hiện bởi những cơ chế sinh học chung Ở mức hệ sinh thái, quá trình này xảy ra thông qua sự đấu tranh sinh tồn giữa các sinh vật Một hệ STCN cũng là một hệ tự điều chỉnh Tuy nhiên, trong trường hợp này,
cơ chế chính của quá trình là hệ kinh tế được vận hành theo quy luật cung - cầu" Một cách tổng quát, những điểm giống và khác nhau giữa quá trình trao đổi chất của hệ sinh thái tự nhiên và hệ công nghiệp được trình bày tóm tắt trong bảng 2.2
Trong hệ sinh thái tự nhiên, chu trình sinh học của vật liệu được duy trì bởi 3 nhóm chính: sản xuất, tiêu thụ và phân hủy Nhóm sản xuất có thể là cây trồng và một số vi khuẩn có khả năng tự tạo ra nguồn thức ăn cần thiết cho bản thân chúng nhờ quá trình quang hợp hoặc để cung cấp năng lượng và protein cần thiết cho cơ thể chúng Nhóm phân hủy có thể là nấm và vi khuẩn Nhóm này có khả năng chuyển hóa các chất hữu cơ thành nguồn thức ăn cần thiết cho nhóm sản xuất Do đó, nhóm phân hủy cũng đóng vai trò của cơ sở
Trang 37tái chế Với nguồn năng lượng là ánh nắng mặt trời, thế giới tự nhiên có khả năng duy trì chu trình sản xuất - tiêu thụ- phân hủy một cách vô hạn Hay nói cách khác, một thực thể tồn tại độc lập nhỏ nhất cũng là một hệ sinh thái
Bảng 2.2 Đặc điểm quá trình trao đổi chất của hệ sinh thái tự nhiên và
hệ công nghiệp hiện tại
(Nguồn: Manahan, 1999)
Trong các hệ công nghiệp, hoạt động sản xuất bao gồm tạo ra năng lượng và những sản phẩm khác Nhóm tiêu thụ sản phẩm có thể là những nhà máy khác, con người (thị trường) và động vật Quá trình phân hủy bao gồm
xử lý, thu hồi và tái chế chất thải Tuy nhiên, khác với hệ sinh thái tự nhiên,
hệ công nghiệp không thể dựa vào nhóm phân hủy để tái sản sinh hoàn toàn vật liệu đã sử dụng trong quá trình sản xuất Hiện tại, hệ công nghiệp vẫn thiếu nhóm phân hủy và tái chế hiệu quả Đó là lý do tại sao những vật liệu không mong muốn (cả chất thải và phế phẩm) được thải ra môi trường xung quanh Xét theo khía cạnh này, hệ công nghiệp là một hệ thống không hoặc ít
Đặc tính Hệ sinh thái tự nhiên Hệ công nghiệp hiện tại
Dòng vật chất Hệ khép kín Chủ yếu là biến đổi theo một chiều Tái sử dụng Hầu như hoàn toàn Thường rất thấp
Vật liệu Có khuynh hướng cô
đặc, chẳng hạn CO2 trong không khí được chuyển hóa thành sinh khối qua quá trình quang
hợp
Hầu như được sử dụng một cách phung phí để chế tạo ra vật liệu khác, vật liệu bị pha loãng quá mức
có thể tái sử dụng, nhưng lại bị cô đặc đủ để gây ô nhiễm
Quá trình tái tạo Một trong những chức
năng chính của sinh vật
là sự tự sinh sản
Sản xuất ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ là mục đích chủ yếu của hệ công nghiệp nhưng tái sản xuất không phải là bản chất của hệ công nghiệp
Trang 38khép kín Để đạt tiêu chuẩn của một hệ STCN, các sản phẩm phụ và chất thải phải được tái sử dụng và tái chế
Chu trình vật chất: Dòng vật chất và năng lượng là hai yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi chất công nghiệp Trong hệ công nghiệp hiện tại, có hai hình thức sử dụng nguyên liệu Dạng thứ nhất gọi là hệ trao đổi chất một chiều Trong hệ thống này không có sự liên hệ giữa nguyên vật liệu cung cấp cho hệ thống và sản phẩm tạo thành (hình 2.1) Quá trình sản xuất,
sử dụng và thải bỏ vật chất xảy ra không đi kèm theo hoạt động tái sử dụng hoặc thu hồi năng lượng và nguyên liệu
Hình 2.1 Hình thức thứ nhất của hệ công nghiệp (Lowenthal and Kastenberg, 1998; Krrishnamohan and Heart, 2000)
Dạng thứ hai có đặc tính tái sử dụng tối đa dòng vật chất trong chu trình sản xuất nhưng vẫn cần cung cấp nguyên vật liệu và vẫn tạo ra chất thải cần thải bỏ (hình 2.2) Trên cơ sở hiểu biết quá trình trao đổi chất công nghiệp, chúng ta có thể tối ưu hóa hệ công nghiệp để tăng đến mức tối đa hiệu quả sản xuất, giảm thiểu chất thải và hạn chế đến mức thấp nhất ô nhiễm môi trường bằng cách tự tạo chu trình vật chất khép kín Điều đó có nghĩa là chu trình vật chất có thể được khép kín càng nhiều càng tốt theo phương thức mà vật liệu không cần thiết phải di chuyển quá xa đến nơi sử dụng/tái sử dụng
Trang 39Như vậy, thị trường tiêu thụ phế phẩm/phế liệu/ chất thải tại địa phương cần được phát triển để chuyển hóa những vật liệu thải này thành sản phẩm có giá trị hơn
Hình 2.2 Hình thức thứ hai của hệ công nghiệp (Lowenthal and Kastenberg, 1998; Krrishnamohan and Heart, 2000)
Hệ thống thích hợp nhất là mô hình cải tiến, tạo dòng vật chất khép kín trong hệ công nghiệp nhằm đạt hiệu quả sản xuất cao nhất Điều này có thể đạt được bằng các phương thức trao đổi, tái sinh, tái chế nguyên liệu và năng lượng giữa các cơ sở sản xuất khác nhau trong hệ STCN
II.1.4 Hệ sinh thái công nghiệp
a Các thành phần chính của hệ STCN
Hệ STCN được tạo thành từ tất cả các khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ, kết hợp cả sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Bốn thành phần chính của hệ STCN bao gồm: (1) cơ sở sản xuất nguyên vật liệu và năng lượng ban đầu, (2) nhà máy chế biến nguyên liệu, (3) nhà máy xử lý/tái chế chất thải và (4) tiêu thụ thành phẩm (hình 2.3) Cơ sở sản xuất nguyên liệu và năng lượng ban đầu
có thể gồm một hoặc nhiều nhà máy cung cấp nguyên liệu ổn định cho hệ STCN Qua nhiều quá trình chế biến, ví dụ trích ly, cô đặc, phân loại, tinh chế, các nguyên liệu thô sẽ được chuyển hóa thành nguyên liệu cũng đóng
Trang 40vai trò quan trọng trong việc tái sinh tái chế (trong chính dây chuyền sản xuất hiện tại của nhà máy hoặc ở những nhà máy khác) Sản phẩm, phế phẩm, sản phẩm phụ, sẽ được chuyển đến người tiêu dùng Trong tất cả các trường hợp, sản phẩm sau khi sử dụng sẽ được thải bỏ hoặc tái chế Cuối cùng, nhà máy xử lý chất thải sẽ thực hiện công tác thu gom, phân loại và xử lý các vật liệu có khả năng tái chế cũng như chất thải