Nghiên cứu áp dụng 3R Giảm thiểu tái sử dụng tái chế trong quản lý chất thải rắn đô thị quận Ba Đình Thành phố Hà Nội Nghiên cứu áp dụng 3R Giảm thiểu tái sử dụng tái chế trong quản lý chất thải rắn đô thị quận Ba Đình Thành phố Hà Nội luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Phan Thị Thùy Trang
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG 3R ( GIẢM THIỂU, TÁI SỬ DỤNG, TÁI CHẾ ) TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ QUẬN BA ĐÌNH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Quản lý môi trường
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS Tưởng Thị Hội
Trang 2JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
PLCTTN Phân loại chất thải tại nguồn
QLCTRĐT Quản lý chất thải rắn đô thị
URENCO Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội
XNMTĐT Xí nghiệp môi trường đô thị
Trang 3M ỤC LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ GIẢM THIỂU, TÁI SỬ DỤNG, TÁI CHẾ 4
1.1 Tổng quan về chất thải rắn và giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải (3R) 4
1.1.1 Tổng quan về chất thải rắn (CTR) và quản lý CTR 4
1.1.3 Mục tiêu của Chiến lược 3R 12
1.1.4 Lợi ích của việc áp dụng 3R 13
1.2 Tình hình áp dụng giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế (3R) trong quản lý chất thải rắn trên thế giới, trong khu vực và ở Việt Nam 13
1.2.1 Tình hình áp dụng 3R trên thế giới và trong khu vực 13
1.2.2 Tình hình áp dụng 3R ở Việt Nam 17
1.2.3 Các tồn tại, thách thức và cơ hội khi áp dụng 3R ở Việt Nam 21
Chương 2 HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG GIẢM THIỂU, TÁI SỬ DỤNG VÀ 27
2.1 Vài nét về thành phố Hà Nội 27
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
2.1.2 Đặc điểm về xã hội 28
2.1.3 Đặc điểm về kinh tế 29
2.2 Hiện trạng quản lý CTR đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội 30
2.2.1 Khung thể chế và quy hoạch QLCTR của thành phố Hà Nội 30
2.2.2 Lượng và thành phần CTR đô thị trên địa bàn Hà Nội 31
2.2.3 Hệ thống quản lý CTR 33
2.3 Hiện trạng áp dụng giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải (3R) 35
2.3.1 Phân loại chất thải tại nguồn và Dự án 3R 35
2.3.2 Những tồn tại, thách thức và cơ hội khi áp dụng 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) trên địa bàn thành phố Hà Nội 45
Trang 4Chương 3 NGHIÊN CỨU VÀ TÍNH TOÁN ÁP DỤNG 3R CHO QUẬN BA
ĐÌNH CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 49
3.1 Đề xuất quy trình áp dụng 3R và thực hiện PLCTTN trên địa bàn quận Ba Đình 49
3.1.1 Lựa chọn địa bàn đặc trưng 49
3.1.2 Nghiên cứu khảo sát vị trí và đặc điểm của các địa bàn đặc trưng 50
3.1.3 Xây dựng mô hình PLCTTN tại các địa bàn đã chọn 51
3.1.4 Thực hiện và duy trì hoạt động PLCTTN 51
3.1.5 Tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện 52
3.2 Một số đề xuất áp dụng 3R và PLCTTN cho quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 52
3.2.3 Đề xuất các giải pháp áp dụng 3R và PLCTTN cho quận Ba Đình 82
3.3 Các giải pháp khác nhằm thúc đẩy 3R và PLCTTN 84
3.3.1 Giáo dục môi trường về 3R tại cộng đồng 84
3.3.2 Giáo dục môi trường về 3R trong trường học 85
3.4 Tính sơ bộ chi phí áp dụng 3R cho quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 86
3.4.1 Chi phí về nhân lực 86
3.4.2 Chi phí trang thiết bị phục vụ thu gom và vận chuyển rác 87
3.4.3 Chi phí về nhiên liệu, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị 87
3.5 Một số đề xuất nhằm thúc đẩy tiến trình áp dụng 3R và PLCTTN 89
3.5.1 Tăng cường hơn nữa sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan ban ngành liên quan 89
3.5.2 Ban hành các văn bản về quản lý CTR 90
3.5.3 Các biện pháp khuyến khích kinh tế 90
3.5.4 Các biện pháp nhằm tăng cường phối hợp quản lý 91
3.5.5 Các biện pháp tuyên truyền, giáo dục 91
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Kiến nghị 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 5DANH M ỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 5
Sơ đồ 1.2 Sơ đồ khái quát hệ thống quản lý chất thải rắn 7
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ tổ chức quản lý chất thải rắn 8
Sơ đồ 1.4 Các hình thức tái sử dụng, tái chế chất thải 12
Sơ đồ 2.1 Lượng rác thải phát sinh của thành phố Hà Nội 32
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu ngân sách quản lý Chất thải rắn của URENCO 33
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ lưu chuyển chất thải tại Hà Nội 34
Sơ đồ 2.4 Mối quan hệ của các bên liên quan trong thực hiện dự án 3R – HN 37
Sơ đồ 2.5 Hệ thống Cộng tác viên 3R tại Hà Nội 44
Sơ đồ 3.1 Các hoạt động của mô hình PLCTTN tại quận Ba Đình 50
Sơ đồ 3.2 Mô hình PLCTTN trên địa bàn quận Ba Đình 56
Sơ đồ 3.3 Sơ đồ biểu diễn 6 điểm đặt thùng thu gom 240 lít màu vàng và màu xanh ở dãy phố có số nhà lẻ 59
Sơ đồ 3.4 Sơ đồ biểu diễn số lượng và chủng loại thùng thu gom 240 lít được bố trí ở đầu hồi các nhà A2, A3, A7, A15, B4, B5 và C5, C6, C7 63
Sơ đồ 3.5 Sơ đồ biểu diễn số lượng và chủng loại thùng thu gom 240 lít được bố trí ở đầu hồi các nhà A4, A6, A15, B1, B2, B3, C8 và từ D3 đến D6 63
Sơ đồ 3.6 Sơ đồ biểu diễn số thùng thu gom màu vàng và màu xanh 240 lít được bố trí ở đầu hồi các nhà A1, A5, C4 và D2 63
Sơ đồ 3.7 Sơ đồ xe vận chuyển di chuyển qua các điểm rác tại khu vực KTT Giảng Võ 63
Sơ đồ 3.8 Sơ đồ xe gom di chuyển đi thu gom rác tại khu vực dân cư xóm, ngõ phường Ngọc Hà 67
Sơ đồ 3.9 Sơ đồ thu gom rác của Bệnh viện Phổi Trung ương 74
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của một số đô thị của Việt Nam 6
Bảng 1.2 Các chỉ tiêu chính trong Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 17
Bảng 2.1 Thành phần rác thải của thành phố Hà Nội năm 2009 32
Bảng 2.2 Khái quát mô hình thí điểm PLCTTN 38
Bảng 2.3 Hệ thống thu gom chất thải PLCTTN với khu vực ngõ sâu 39
Bảng 2.4 Kết quả thực hiện PLCTTN trên địa bàn 4 phường thí điểm của Dự án 3R-HN 40
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát địa bàn quận Ba Đình 54
Bảng 3.2 Bảng thống kê lượng rác cho từng khu vực đặc thù của quận Ba Đình 55
Bảng 3.3 Tổng hợp thiết bị thu gom và vận chuyển chất thải rắn 60
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp thiết bị thu gom và vận chuyển rác 64
cho các khu tập thể và chung cư trên địa bàn quận Ba Đình 64
Bảng 3.5 Tổng hợp thiết bị thu gom và vận chuyển chất thải cho 67
các cụm dân cư trong ngõ, xóm trên địa bàn quận Ba Đình 67
Bảng 3.6 Bảng tổng hợp thiết bị thu gom và vận chuyển chất thải rắn cho các chợ thuộc địa bàn quận Ba Đình 70
Bảng 3.7 Tổng hợp thiết bị thu gom chất thải cho các Đại sứ quán trên địa bàn quận Ba Đình 76
Bảng 3.8 Bảng tổng hợp thiết bị thu gom và vận chuyển chất thải rắn cho các công ty, xí nghiệp, trường học, khách sạn, nhà hàng lớn trên địa bàn quận Ba Đình 81
Trang 7JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
PLCTTN Phân loại chất thải tại nguồn
QLCTRĐT Quản lý chất thải rắn đô thị
URENCO Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội
XNMTĐT Xí nghiệp môi trường đô thị
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lời giới thiệu
Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững Trong đó, phát triển nhanh
gắn liền với phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong giai đoạn tới [1] Để đảm bảo việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ môi trường là một nội dung không thể thiếu Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước ta đã thông qua các chính sách về bảo vệ môi trường như: Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020; Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất
thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Luật môi trường (2005) và nhiều văn bản pháp quy khác Đây chính là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường được thực hiện một cách hoàn chỉnh
Trong Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025,
tầm nhìn đến năm 2050, một trong những quan điểm chính của Chiến lược là quản
lý chất thải rắn phải được thực hiện theo phương thức quản lý tổng hợp trong đó ưu tiên việc phòng ngừa, giảm thiểu, tăng cường tái sử dụng và tái chế chất thải rắn để
giảm thiểu tối đa lượng chất thải phải chôn lấp Chính vì vậy, việc thực hiện “Sáng
kiến 3R”, Giảm thiểu – Tái sử dụng – Tái chế chất thải rắn, là một vấn đề quan
trọng cần được quan tâm đúng mức
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của cả nước, trong
những năm gần đây thành phố đã đạt được những thành tựu lớn trong phát triển về
mọi mặt Tuy nhiên, với tốc độ đô thị hóa cao, dân số tăng nhanh thì vấn đề quản lý
chất thải, đặc biệt là chất thải rắn ngày càng trở nên bức xúc và được nhiều người quan tâm Thành phố đã đưa ra nhiều chính sách, áp dụng các biện pháp trong thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn nhưng lượng chất thải phát sinh ngày càng
lớn dẫn đến sự quá tải trong xử lý Các bãi chôn lấp của thành phố đang dần đầy,
quỹ đất dành cho xây dựng các bãi chôn lấp mới rất hạn hẹp Bên cạnh đó, do năng
lực thu gom rác thải chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế, ý thức người dân chưa
Trang 9cao nên lượng chất thải rắn không được thu gom, đổ ra đường, ao hồ và sông ngày càng lớn gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng ở nhiều nơi trong thành phố
Nhằm giảm thiểu ô nhiễm, gia tăng lượng rác thải được tái chế lên 70% vào năm 2020, với sự giúp đỡ của tổ chức Jica Nhật Bản thành phố Hà Nội đã thực hiện
dự án: ”Thực hiện Sáng kiến 3R (Reduce, Reuse, Recycle - giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) tại Hà Nội để góp phần Phát triển Xã hội Bền vững” (gọi tắt là 3R-HN) Dự
án 3R-HN nhằm xây dựng một hệ thống 3R cân bằng và độc đáo tập trung vào việc phân loại tại nguồn và tái chế chất thải, gắn kết với việc xây dựng một “xã hội tuần hoàn hợp lý” ở thành phố Hà Nội
Dự án 3R-HN đã triển khai thí điểm ở 4 phường trong khu vực nội thành Hà
Nội (Phan Chu Trinh, Nguyễn Du, Thành Công, Láng Hạ) từ năm 2006 đến năm
2009 đã đem lại nhiều kết quả khả quan như: lượng chất thải cần chôn lấp đã giảm 30% so với trước khi thực hiện dự án, chất lượng môi trường tại địa bàn triển khai
dự án được cải thiện [1] Đây là cơ sở để nhân rộng dự án này ra toàn thành phố
và trong cả nước Do đó, việc xem xét những hạn chế, phát huy những mặt đã làm được của dự án 3R-HN để mở rộng phạm vi thực hiện của dự án là việc làm cần thiết Chính vì vậy tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu áp dụng 3R (giảm thi ểu, tái sử dụng, tái chế) trong quản lý chất thải rắn đô thị quận Ba Đình, thành ph ố Hà Nội” để nghiên cứu việc áp dụng 3R cho quận Ba Đình trong giai
đoạn hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Khảo sát và đánh giá thực trạng áp dụng 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) chất thải rắn đô thị của thành phố Hà Nội
- Đưa ra đề xuất áp dụng 3R có hiệu quả cho quận Ba Đình của thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
Trang 103 Đối tượng và phạm vi áp dụng của đề tài
- Đối tượng áp dụng của đề tài: Vấn đề quản lý chất thải rắn đô thị dựa trên nguyên tắc giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải
- Phạm vi áp dụng: Quản lý CTR trên địa bàn quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Tổng quan về chất thải rắn đô thị và áp dụng 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế) cho chất thải rắn đô thị
- Hiện trạng quản lý chất thải rắn đô thị của thành phố Hà Nội
- Thực trạng áp dụng 3R trong QLCTR đô thị của thành phố Hà Nội
- Khảo sát hiện trạng quản lý chất thải rắn của quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
- Đề xuất áp dụng 3R trong QLCTR đô thị cho quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
- Phương pháp thu thập tài liệu, tổng hợp và kế thừa
- Phương pháp thống kê và một số phương pháp khác
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của cả nước, do đó việc tìm ra các giải pháp quản lý chất thải hiệu quả nhằm đảm bảo thành phố Hà Nội xanh, sạch, đẹp là việc làm cần thiết Trong thời gian qua, thành phố đã bước đầu thử nghiệm áp dụng 3R ở khâu phân loại rác thải tại nguồn với 4 phường thí điểm và bước đầu đưa nội dung giáo dục môi trường vào 3 trường tiểu học ở Hà Nội Quá trình thực hiện đã đạt được những thành công bước đầu nhưng cũng còn một số hạn chế nhất định Vì vậy, đề tài nghiên cứu quá trình áp dụng 3R trong QLCTR của quận Ba Đình nhằm góp phần nhân rộng các kết quả nghiên cứu về 3R trước mắt cho quận Ba Đình và sau này cho toàn thành phố Hà Nội Những kết quả này cũng góp phần phát triển việc áp dụng 3R cho các đô thị trong toàn quốc để đạt các chỉ tiêu của chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR từ nay tới năm 2025
và tầm nhìn tới năm 2050
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VỀ GIẢM THIỂU, TÁI SỬ DỤNG, TÁI CHẾ
CHẤT THẢI (3R) TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
1.1 Tổng quan về chất thải rắn và giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải (3R)
1.1.1 Tổng quan về chất thải rắn (CTR) và quản lý CTR
1.1.1.1 Tổng quan về chất thải rắn
Ch ất thải rắn là chất thải ở thể rắn và bùn, được thải ra từ quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác Chất thải rắn bao gồm chất
thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại [9]
Ch ất thải rắn đô thị là vật chất mà người tạo ra, ban đầu vứt bỏ đi trong khu
vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó và chúng được xã
hội nhìn nhận như là một thứ mà thành phố có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy [11]
• Nguồn gốc tạo thành chất thải rắn đô thị
Chất thải rắn đô thị được sinh ra từ nhiều nguồn khác nhau như:
- Chất thải sinh hoạt: từ các khu dân cư, trung tâm thương mại (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ ), cơ quan, công sở (trường học, trung tâm nghiên cứu khoa học ), các khu công cộng (nhà ga, sân bay, công viên, khu vui chơi – giải trí ), các hệ thống thoát nước của thành phố và trạm xử lý nước thải (bùn thải, )
- Chất thải xây dựng: từ các hoạt động xây dựng đô thị
- Chất thải công nghiệp : từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp
- Chất thải nông nghiệp: từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi )
- Chất thải y tế: từ các bệnh viện, trạm y tế, các cơ sở khám chữa bệnh, nghiên cứu y sinh, dược phẩm
Trang 12Sơ đồ1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
• Thành phần chất thải rắn đô thị
Thành phần của chất thải rắn là một thuật ngữ dùng để mô tả tính chất và nguồn gốc các yếu tố riêng biệt cấu thành nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng phần trăm theo khối lượng
Mỗi một đô thị với những đặc điểm khác nhau về: chính sách quản lý chất thải, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mức độ đô thị hóa, dân số, mức sống thì
số lượng, thành phần chất thải rắn cũng khác nhau
Trang 13Bảng 1.1 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của một số đô thị của Việt Nam [6]
Ho ạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý,
đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người [9]
Hệ thống quản lý chất thải bao gồm nhiều khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau Trong đó, hệ thống quản lý CTR đô thị có vai trò quan trọng trong kiểm soát các vấn đề liên quan đến chất thải và đảm bảo môi trường đô thị xanh, sạch, đẹp
Trang 14Sơ đồ 1.2 Sơ đồ khái quát hệ thống quản lý chất thải rắn
Các Bộ, ban, ngành chức năng có vai trò và nhiệm vụ khác nhau trong hệ thống tổ chức quản lý chất thải rắn nhưng cùng phối hợp vì một mục tiêu cải thiện
chất lượng môi trường và đảm bảo sức khỏe cộng đồng Nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan chức năng trong quản lý chất thải rắn đã được quy định rõ trong Chiến lược
quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn như: Bộ Tài nguyên Môi trường vạch ra các chiến lược, tư vấn cho nhà nước đề ra các bộ luật, bộ tiêu chuẩn, các chính sách
và xây dựng các chương trình quản lý môi trường; Bộ Giáo dục và Đào tạo đào tạo các cán bộ chuyên trách về môi trường; Bộ xây dựng ban hành các tiêu chuẩn về
quản lý đô thị và các khu công nghiệp; Ủy ban nhân dân (tỉnh, thành phố, quận, huyện) đưa ra các quy chế, quy tắc, chiến lược quản lý môi trường của địa phương
Trang 15Sơ đồ 1.3 Sơ đồ tổ chức quản lý chất thải rắn [13]
1.1.2 Khái niệm về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải (3R)
Giảm thiểu (Reduce), tái sử dụng (Reuse) và tái chế (Recycle) là ba nội dung
tạo nên chiến lược “Sáng kiến 3R” Chiến lược này đã được Nhật Bản đề xuất lần đầu tiên lại Hội nghị Thượng đỉnh các nước công nghiệp phát triển G8 tại Mỹ vào tháng 6 năm 2004 Một năm sau, cũng tại Hội nghị này đã khẳng định Sáng kiến 3R
là một bước tiến quan trọng trong sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường Sáng kiến 3R chính là giải pháp để hướng tới một “xã hội tuần hoàn vật chất hợp lý” hay “một nền kinh tế quay vòng mà nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới”
Ở nước ta, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải đó được đề cập đến như một nội dung quan trọng về bảo vệ môi trường trong các chủ trương, đường lối
của Đảng và Nhà nước Trong Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm
2010, định hướng đến 2020 và Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải
r ắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã đề ra các mục tiêu, nội dung và giải
Bộ Tài nguyên
Môi trường
Cư dân thành phố, hoạt động công nghiệp, du khách
(nguồn tạo ra chất thải rắn)
quản lý chất thải
Trang 16pháp để bảo vệ môi trường, trong đó giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải là một trong những nội dung quan trọng nhằm kiểm soát ô nhiễm
Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã quy định đẩy mạnh tái chế, tái sử dụng và giảm thiểu chất thải là một trong những chính sách chính của nhà nước về bảo vệ môi trường, khuyến khích tiêu dùng các loại sản phẩm tái chế, sản phẩm thân thiện với môi trường đồng thời tăng cường trách nhiệm của các cơ sở sản xuất, kinh doanh đối với một số loại hình sản phẩm trong việc thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ sau
sử dụng
Giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải là các giải pháp chiến lược của quá trình quản lý tổng hợp chất thải, mang lại nhiều lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội
và trong bảo vệ môi trường
1.1.2.1 Khái niệm về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải (3R)
Giảm thiểu (Reduce) là sự tối ưu hóa quá trình sản xuất và tiêu dùng về mặt môi trường, tạo ra lượng sản phẩm lớn nhất, sử dụng hiệu quả nhất mà tiêu thụ ít tài nguyên và thải ra lượng chất thải thấp nhất Đây là nội dung hiệu quả nhất của Sáng
kiến 3R, nó giúp việc giảm lượng chất thải phát sinh tại nguồn
Tái sử dụng (Reuse) là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi
thọ sản phẩm Nếu như tái sử dụng theo nghĩa truyền thống để chỉ việc sản phẩm được sử dụng nhiều lần theo cùng chức năng gốc thì ngày nay, có thể hiểu thêm việc tái sử dụng còn là sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới
Tái chế (Recycle) là việc sử dụng các vật liệu thải làm nguyên liệu sản xuất
những sản phẩm mới Quá trình tái chế ban đầu có mục tiêu ngăn chặn lãng phí nguồn tài nguyên, giảm tiêu thụ nguyên liệu thô cũng như nhiên liệu sử dụng so với quá trình sản xuất cơ bản từ nguyên liệu thô Tái chế có thể chia thành hai dạng, tái
chế ngay tại nguồn từ quy trình sản xuất và tái chế nguyên liệu từ sản phẩm thải [7]
Trang 171.1.2.2 Các giải pháp chính giúp giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải
• Giải pháp về giảm thiểu chất thải (Reduce)
Với nguyên tắc phòng ngừa là chính, giảm thiểu chất thải là giải pháp quan trọng nhất trong các hoạt động 3R và phải được thực hiện ngay tại nguồn thải Giảm thiểu chất thải phát sinh tại nguồn là phương pháp hiệu quả nhất để giảm lượng chất
thải sinh ra trong quá trình sản xuất và tiêu dùng Giảm thiểu chất thải giúp tiết
kiệm tài nguyên, giảm chi phí sản xuất, chi phí thải bỏ đồng thời cũng giảm sức ép trong quản lý chất thải Để giảm thiểu chất thải tại nguồn cần áp dụng các biện pháp như:
- Giảm thiểu chất thải sinh hoạt
Thực hiện các biện pháp khuyến khích tiêu dùng bền vững, thay đổi hành vi, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường Nâng cấp, xây dựng và vận hành có hiệu quả cơ sở hạ tầng, trang thiết bị về xử lý CTR tại các đô thị Ngăn chặn các hành vi xả rác thải ra đường phố và các khu vực công cộng
- Giảm thiểu chất thải trong sản xuất
Áp dụng các giải pháp kỹ thuật hiện có tốt nhất “BATs” (best available techniques): là áp dụng kỹ thuật hiệu quả nhất, tiên tiến nhất trong việc tiến hành các hoạt động sản xuất trong giai đoạn hiện tại Phương pháp vận hành phù hợp với thực tế kỹ thuật để giảm lượng chất thải phát sinh trên một đơn vị sản phẩm, giảm phát tán chất ô nhiễm và giảm tác động tới môi trường ở mức tốt nhất
Áp dụng sản xuất sạch hơn trong các ngành công nghiệp và thực hiện thiết kế vì môi trường (DfE) trong thiết kế sản phẩm cũng là những biện pháp
hiệu quả góp phần giảm thiểu chất thải trong sản xuất
• Giải pháp về tái sử dụng chất thải (Reuse)
Tái sử dụng là giải pháp hiệu quả giúp hiệu quả và tiết kiệm tài nguyên, tài chính vì tận dụng được hết công năng sử dụng của sản phẩm sản xuất ra Bên
cạnh đó, hệ thống tái sử dụng còn góp phần tạo thêm việc làm cho người lao
Trang 18động Các sản phẩm thường được tái sử dụng theo các hình thức như:
- Sử dụng sản phẩm thêm lần nữa với cùng chức năng của như: tái sử dụng các
loại bao bì (chai lọ, vỏ lon, vỏ hộp ), tái sử dụng các đồ cũ (quần áo, máy
giặt, xe đạp, xe ô tô )
- Sử dụng sản phẩm hoặc một phần sản phẩm với chức năng khác như: dùng
chất thải xây dựng để lấp chỗ trũng, rải đường hay làm lớp phủ của bãi Tái sử dụng đã góp phần thay đổi nhận thức của người tiêu dùng về các sản
phẩm sử dụng nhiều lần Hoạt động tái sử dụng ngày càng mở rộng trên phạm vi toàn cầu, các sáng kiến tái sử dụng ngày càng nhiều và tái sử dụng đã dần trở thành thói quen trong sinh hoạt của nhiều người
• Giải pháp về tái chế chất thải
Tái chế chất thải là hoạt động diễn ra phổ biến, bên cạnh những lợi ích về
mặt môi trường nó còn mang lại lợi ích kinh tế rất lớn Các hoạt động tái chế
chất thải tiến hành dễ dàng bởi nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ, phong phú và được hưởng các chính sách khuyến khích trong tái chế chất thải
Hoạt động tái chế và thu hồi chất thải rắn thường được thực hiện thông qua
hệ thống qua hệ thống thu gom chất thải rắn theo mạng lưới ba cấp: Người thu gom - Những người thu mua lẻ - Những đại lý thu mua tập trung Các đại lý này
sẽ bán chất thải trực tiếp cho các nhà máy tái chế chất thải
Hiện nay, để thúc đẩy hoạt động tái chế chất thải cần khuyến khích các cơ sở
sản xuất thực hiện tái chế ngay trong các nhà máy như: thu hồi các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn để làm nguyên liệu hoặc sản xuất ra các sản phẩm phụ Tăng cường hợp tác đa ngành để thúc đẩy quá trình tuần hoàn vật chất giữa các ngành dựa trên cơ sở chất thải của ngành sản xuất này có thể sử dụng để làm nguyên, phụ liệu cho ngành sản xuất khác
Đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền trong cộng đồng nhằm thay đổi nhận thức người dân về chất thải và các sản phẩm tái chế, giúp người dân ý thức được rằng
chất thải là một nguồn tài nguyên
Trang 19Sơ đồ 1.4 Các hình thức tái sử dụng, tái chế chất thải
Ví dụ: Sơ đồ công nghệ tái chế giấy, chì, nhựa, dầu thải xem phụ lục I
1.1.3 Mục tiêu của Chiến lược 3R
Những mục tiêu chính của Chiến lược 3R là:
- Hình thành xã hội sản xuất và tiêu dùng bền vững trong đó giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để ngăn chặn sự gia tăng ô nhiễm, góp phần bảo vệ môi trường, bảo vệ và sử dụng tiết kiệm, hiệu
quả nguồn tài nguyên, nâng cao chất lượng cuộc sống
- Thúc đẩy giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải thông qua tầm nhìn rộng và chiến lược trong mọi ngành, mọi lĩnh vực
- Tăng cường hợp tác, xây dựng dòng hàng hoá và vật chất tuần hoàn trên thế giới trong mối quan hệ giữa tái chế, tái sử dụng và tái sản xuất
- Thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải
- Tăng cường mối liên kết giữa các quốc gia trong lĩnh vực giảm thiểu, tái sử dụng
Chất thải vườn, phân rác hữu cơ, chất thải
thực phẩm
Chất thải cao su, gỗ,
giấy, plastic, chất hữu
cơ, dầu thải
Chất thải xây dựng
Trang 20- Nâng cao nhận thức của cộng đồng về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải Hình thành lối sống thân thiện với môi trường, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng trong mỗi người
1.1.4 Lợi ích của việc áp dụng 3R
- Về mặt môi trường
o Áp dụng 3R giúp sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
do giảm được lượng nguyên nhiên liệu đầu vào và gia tăng giá trị sử dụng
của các tài nguyên thông qua tái sử dụng, tái chế
o Áp dụng 3R làm giảm khối lượng chất thải thải phát sinh, giảm khối lượng
chất thải phải xử lý, chôn lấp và giảm ô nhiễm môi trường Ngoài ra, áp dụng 3R còn giúp thu hồi nhiệt, thu hồi năng lượng, giảm thiểu phát thải khí nhà kính và các khí gây ô nhiễm khác
1.2.1 Tình hình áp dụng 3R trên thế giới và trong khu vực
Hiện nay, các vấn đề môi trường ngày càng trở nên bức xúc và mang tính toàn cầu đồng thời nguồn nguyên nhiên liệu trên thế giới đang có nguy cơ cạn kiện trong khi nhu cầu của con người ngày càng tăng Chính vì vậy, áp dụng giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải (3R) ngày càng được nhiều quốc gia quan tâm, coi đó là biện pháp trọng tâm trong quản lý chất thải
- Tại Nhật Bản [22]
Nhật Bản là nước đi tiên phong trong áp dụng 3R vào các hoạt động sản xuất và đời sống Từ năm 1991, Luật sử dụng hiệu quả tài nguyên đã được ban hành, sau đó
Trang 2150% chất thải đô thị và công nghiệp phải tái sử dụng, tái chế và áp dụng các phương pháp 3R trong thiết kế sản phẩm Năm 1995, nước này đã thông qua Luật tái chế tái chế bao bì và đồ đựng; năm 2000 ban hành Luật tái chế chất thải xây dựng và Luật tái chế thức ăn thừa
Dựa trên cơ sở pháp lý chặt chẽ này, từ năm 1997 đến 2010, các chỉ tiêu giảm thiểu và tái chế theo quy định của luật pháp Nhật Bản là: giảm thiểu 5% tổng lượng thải đô thị và dưới 12% tổng lượng thải công nghiệp Tỷ lệ tái chế tăng từ 11% đến 24% tổng lượng thải đô thị và 41 – 47% tổng lượng thải công nghiệp
Theo số liệu của Bộ Môi trường Nhật Bản,
hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác
thải, trong đó: Rác công nghiệp khoảng 397 triệu
tấn (chiếm 88% tổng lượng thải), rác gia đình 957
nghìn tấn Trong tổng số rác thải trên, chỉ có
khoảng 18% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên
38% được đưa đến các nhà máy để tái chế, số còn lại được xử lý bằng cách đốt Bên cạnh việc thực hiện 3R tại quốc gia mình, Nhật Bản còn xây dựng các chương trình hợp tác và hỗ trợ triển khai áp dụng 3R tại các quốc gia trong khu vực như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêsia, Việt Nam…
- Tại Đức [25]
Vào đầu những năm 1980, Cộng hòa Liên bang Đức coi giảm thiểu, tái sử dụng
và tái chế chất thải là khái niệm quản lý chất thải tổng hợp và sau đó trở thành nguyên tắc trong chính sách và luật pháp của Đức về quản lý chất thải Đạo luật Quản lý và khép kín vòng tuần hoàn chất thải (1996) của Đức quy định rõ các nghĩa
vụ quản lý và tái chế chất thải an toàn và hiệu quả cao Đức cũng đã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để giảm lượng phát sinh chất thải, như: chính sách thu hồi sản phẩm của các nhà máy, tiền cược bao bì (61% bao bì có thể tái sử dụng)
Trang 22Trong Đạo luật xe cộ thải loại của Đức ban hành năm 2002 quy định các hãng sản xuất ô tô phải thu hồi xe cũ trong cả nước Theo ước tính, có khoảng 85% lượng
xe cũ được thu hồi năm 2006 và tỷ lệ tái sử dụng, tái chế các vật liệu của xe cũ đạt 80% Đức cũng đặt mục tiêu tái chế, tái sử dụng vật liệu của xe cũ sẽ đạt 95% vào năm 2015
Hiện nay, Đức đã trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về tái chế rác thải Tỉ lệ tái chế đối với thủy tinh, kim loại, giấy tại quốc gia này là từ 80-90% Ngoài phân
loại và tái chế các loại chất thải của nước mình, hàng năm Đức còn nhập khẩu nhiều
loại phế liệu của các nước về để xử lý Ngành công nghiệp tái chế rác thải tại Đức
đã thu hút trên 250.000 nhân công và mang lại nguồn thu 50 tỉ Euro mỗi năm
- Tại Anh [26]
Tiêu thụ và sản xuất bền vững là một trong 4 ưu tiên
chính trong Chiến lược phát triển bền vững của quốc gia
này Chiến lược đặt mục tiêu lượng chất thải gia đình
được tái chế hoặc đem làm phân compost là 25% năm
2005, 30% năm 2010 và đạt 33% vào năm 2015; năm
2005 giảm lượng chất thải công nghiệp và thương mại
cần chôn lấp xuống 85% so với lượng chất thải chôn lấp
năm 1998; tỷ lệ thu hồi chất thải bao bì của các nhà sản xuất tăng từ 59% năm 2003 lên 60% năm 2008 và lượng bao bì được tái chế tăng từ 55% năm 2003 lên 80% năm 2008; giảm tỷ lệ chất thải dễ phân hủy sinh học đem chôn xuống còn 75% năm
2010, 50% năm 2013 và 35% năm 2020
- Tại Singapore [23]
Singapore là một đất nước nằm trong khu vực Đông Nam Á đã đạt những kết quả tích cực trong áp dụng 3R Năm 2002, Bộ Môi trường và Tài nguyên Singapore xây dựng Kế hoạch xanh 2012 của Singapore và đặt mục tiêu tăng tỷ lệ tái chế chất thải từ 44% năm 2002 lên 60% năm 2012
Trang 23Hiện nay, mỗi ngày nước này thải ra khoảng 5.970
tấn rác Trong đó rác thải sinh hoạt chiếm 58%, rác công
nghiệp và thương mại chiếm 42% Tỉ lệ rác được tái chế
là khoảng 56% (tương đương 3.340 tấn), 41% tổng
lượng rác (tương đương 2.630 tấn) được đưa vào 4 nhà
máy thiêu đốt để thành tro Và mỗi ngày, 1500 tấn tro
rác và 500 tấn rác không thể thiêu đốt được xà lan chở
đến chôn lấp ở đảo Semakau
Chính phủ Singapore đã thực thi nhiều chính sách khuyến khích và mở rộng tuyên truyền về 3R tới mọi người dân, các cơ quan, nhà máy như: tại các khu dân
cư, cơ sở sản xuất của Singapore đều cho đặt các thùng rác in các ký hiệu phân loại rác rõ ràng; phát động các chương trình tái chế trong các khu công nghiệp và thương mại nhằm khuyến khích tái chế gỗ, hộp giấy, nhựa tổng hợp và kim loại, xây dựng các chương trình giáo dục về 3R tại trường học Vì vậy, các loại rác thải
ở Singapore đều được phân loại tại nguồn tạo điều kiện thuận lợi cho các công đoạn
xử lý sau này
- Tại Thái Lan [24]
Thái Lan là quốc gia có diện tích 513.000km2 với dân số 64 triệu người, hàng năm lượng rác thải của nước này khoảng 15 triệu tấn nên vấn đề quản lý rác luôn được chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm Năm 2004, Thái Lan đã thông qua Chính sách Tài nguyên và Môi trường liên quan đến đến vấn đề chất thải, đây chính
là chính sách đóng vai trò then chốt trong quản lý chất thải tại quốc gia này Chính phủ Thái Lan chủ trương thực hiện hệ thống xử lý chất thải thân thiện với môi trường và nâng cao năng lực xử lý chất thải tại các địa phương Bên cạnh đó, Thái Lan cũng thông qua Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải trong đó tập trung vào giảm thiểu chất thải tại nguồn, nâng tỉ lệ tái chế chất thải lên 60% vào năm 2015
Ở Thái Lan, chất thải được phân thành 3 loại chính: những chất có thể tái sinh, thực phẩm và các chất độc hại Rác tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại rác để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái sản xuất Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà
Trang 24máy chế biến phân vi sinh Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử lý bằng phương pháp chôn lấp Tại các bãi chôn lấp rác thải, Thái Lan xây dựng mô hình xử lý khí bãi rác thành điện Với việc tận dụng tốt các công nghệ tái chế và thu hồi năng lượng, Thái Lan đã đạt được những thành công lớn trong quản lý chất thải
1.2.2 Tình hình áp dụng 3R ở Việt Nam
Quản lý chất thải rắn tổng hợp là một vấn đề được quan tâm hàng đầu ở Việt Nam, luật pháp nước ta đã ban hành nhiều văn bản tạo cơ sở pháp lý cho việc quản
lý CTR được thực hiện một cách hiệu quả hơn Việc thông qua Chiến lược quốc gia
hiện tầm nhìn và sự nhất quán trong quản lý CTR của nước ta Với quan điểm:
“Quản lý chất thải rắn phải được thực hiện theo phương thức tổng hợp, nhằm phòng
ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải tại nguồn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng chất thải phải chôn lấp” và trong chiến lược cũng đã đưa ra các chỉ tiêu chính về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế CTR như bảng 1.2
Bảng 1.2 Các chỉ tiêu chính trong Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp
- Tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng
2 Tỉ lệ chất thải rắn xây dựng được thu gom
3 Tỉ lệ đô thị có công trình tái chế chất thải rắn 50% 80% 100%
4 Tỉ lệ chất thải công nghiệp không nguy hại được
thu gom và xử lý
Trang 25Hiện nay việc áp dụng 3R đã được triển khai ở một số thành phố như: thành
phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình triển
khai đã đạt được những thành công bước đầu rất đáng khích lệ
- Tại Thành phố Hà Nội [7]
Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững và
thân thiện môi trường của Thành phố Hà Nội, Dự
án Thực hiện Sáng kiến 3R tại Thành phố Hà Nội
để Góp phần Phát triển Xã hội Bền vững (3R-HN)
đã được thành phố quyết định triển khai thực hiện trong ba năm, bắt đầu từ tháng 11 năm 2006 dựa trên cơ sở dự án hỗ trợ kỹ thuật giữa Chính phủ Việt Nam và Chính
phủ Nhật Bản Dự án 3R-HN tập trung thực hiện thí điểm các mô hình phân loại
chất thải tại nguồn (PLCTTN) trên địa bàn 4 phường: phường Phan Chu Trinh, phường Nguyễn Du, phường Thành Công và phường Láng Hạ của 4 quận trung tâm
nội thành thành phố Hà Nội
Dự án 3R-HN đã góp phần xây dựng “Xã hội tuần hoàn vật chất hợp lý” với
nền tảng ban đầu là tạo lập hệ thống 3R hài hòa dựa trên chương trình PLCTTN 3R-HN đã đạt được những kết quả nhất định: điều kiện vệ sinh môi trường tại khu
vực thí điểm được cải thiện, tỉ lệ lượng rác cần chôn lấp giảm 30% và nhận thức của người dân về PLCTTN được nâng cao rõ rệt Đây là bài học kinh nghiệm trong xây
dựng chiến lược và kế hoạch hành động cho việc mở rộng thực hiện PLCTTN và các hoạt động 3R trên địa bàn thành phố Hà Nội
Mặc dù dự án 3R-HN đã kết thúc vào tháng 11 năm 2009 nhưng các hoạt động
của chương trình 3R vẫn được tiếp tục duy trì và phát triển thông qua các câu lạc bộ 3R Với các hoạt động phong phú như: giáo dục môi trường tại các trường đại học, THCS, tiểu học và tại cộng đồng; tuyên truyền về phân loại rác, sản xuất các bài phát thanh về 3R, các phong trào tái chế, tổ chức ngày hội Mottainai… các câu lạc
bộ đã thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 268-lợi cho thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố đã có chủ trương thực hiện phân loại
chất thải rắn tại nguồn
Năm 2005, chương trình PLCTTN được triển khai thí điểm đợt 1 tại các quận 5
và 6 làm tiền đề nhân rộng cho các quận huyện trên toàn địa bàn thành phố Tháng 2 năm 2006, Chương trình triển khai thí điểm lần hai được thực hiện tại các quận 1,
quận 3, quận 7, quận 8, quận 9, quận 10, quận Bình Thạnh và quận Phú Nhuận Đây
là đợt triển khai có quy mô lớn, thành phố đã trích ngân sách để phát miễn phí túi
chứa rác có màu khác nhau cho các hộ gia đình phân loại rác vô cơ và rác hữu cơ
Từ năm 2008 đến nay, thành phố Hồ Chí Minh
đã thường xuyên tổ chức “Ngày hội tái chế” nhằm
nâng cao nhận thức của người dân về quản lý và xử
lý chất thải rắn Ngày hội tái chế lần thứ 4 được tổ
chức vào tháng 4 năm 2011, đã thu hút đông đảo
người dân tham gia
Trong quá trình triển khai PLCTTN trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh đã gặp nhiều điểm vướng mắc:
- Tỷ lệ hộ dân ủng hộ chương trình không cao (khoảng 44 -75%)
- Các khâu thu gom rác thiếu đồng bộ, thiết bị thu gom rác không có ngăn riêng biệt (dành riêng cho thu gom rác hữu cơ và rác vô cơ) nên dẫn tới tình
trạng sau khi phân loại rác lại được đổ chung với nhau
Trang 27- Các nhà máy tái chế rác của thành phố khi dự án triển khai vẫn đang trong giai đoạn đầu tư xây dựng nên rác thải đô thị sau thu gom vẫn được xử lý chủ
yếu bằng biện pháp chôn lấp
Bên cạnh những khó khăn nêu trên, thành phố Hồ Chí Minh lại có thị trường tái
chế phế liệu phát triển khá mạnh so với các tỉnh, thành trong cả nước Đến nay, thành phố Hồ Chí Minh là nơi duy nhất đã thành lập quỹ tái chế ở Việt Nam Toàn thành phố có khoảng 500 cơ sở tái chế vừa và nhỏ, hoạt động đa dạng như: tái chế
nhựa, giấy, thủy tinh, kim loại, cao su
Hiện nay, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã và đang xây dựng kế
hoạch phát triển ngành tái chế của thành phố như: phê duyệt kế hoạch mở rộng Khu liên hiệp xử lý chất thải rắn Phước Hiệp và Đồng Thạnh để xây dựng các cơ sở tái
chế Ngoài ra, Sở Tài nguyên Môi trường thành phố cũng đang xây dựng kế hoạch phân loại tại nguồn và dự kiến sẽ tiếp tục triển khai vào năm 2012
- Tại thành phố Đà Nẵng
Năm 2004, Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ Môi trường (thuộc Đại học Bách khoa Đà Nẵng) đã bước đầu nghiên cứu, khảo sát việc phân loại rác thải tại nguồn tại 67 hộ dân phường Thanh Bình
Năm 2003-2004, Hội liên hiệp phụ nữ quận Hải
Châu đã thực hiện dự án “ Nâng cao nhận thức về Môi
trường của phụ nữ trong thu gom, phân loại rác thải
sinh hoạt” tại 28 tổ dân phố trên địa bàn phường Nam
Dương, quận Hải Châu
Chương trình phân loại rác thải tại nguồn được triển khai thí điểm giai đoạn 1 trên địa bàn phường Nam Dương từ tháng 9 đến tháng 12 năm 2006, tổ chức triển khai thử nghiệm mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ rác thải sau khi phân loại
Rác thải từ các hộ gia đình được phân thành 2 loại: rác hữu cơ và rác vô cơ Trong
đó, rác vô cơ được thu gom cách ngày và mang đi chôn lấp, còn rác hữu cơ được
Trang 28thu gom hàng ngày để làm nguyên liệu cho việc sản xuất phân Compost Công suất của
mô hình sản xuất thử nghiệm là 2 tấn/mẻ với thời gian dự kiến là 2 đến 3 tháng
Sau một thời gian thực hiện chương trình đã xuất hiện một số bất cập: Đà Nẵng chưa có nhà máy sản xuất phân Compost và hệ thống thu gom chưa đồng bộ nên sau khi rác thải được phân loại tại nguồn lại đổ chung nhau khi thu gom và xử lí Hiện nay, dưới sự quan tâm chỉ đạo của UBND thành phố Đà Nẵng, chương trình phân loại rác tại Đà Nẵng vẫn đang được nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp đồng bộ và mang tính khả thi cao khi triển khai áp dụng trên địa bàn thành phố
Nhìn chung, các dự án áp dụng 3R ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn thí điểm, chúng ta mới chỉ tập trung vào rác thải sinh hoạt, chưa chú trọng đến việc
giảm thiểu chất thải trong các hoạt động sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng Trong quá trình triển khai các dự án 3R đã đạt được một số thành quả đáng khích lệ nhưng còn nhiều tồn tại mà ta cần nghiên cứu, đánh giá và rút kinh nghiệm Từ đó, chúng ta có thể đưa ra những giải pháp thích hợp để giúp nhân rộng mô hình này ra phạm vi cả nước
1.2.3 Các tồn tại, thách thức và cơ hội khi áp dụng 3R ở Việt Nam
1.2.3.1 Các tồn tại và thách thức
a Kh ối lượng, thành phần, chủng loại và tính độc hại của chất thải ngày càng gia tăng
Theo Tổng cục thống kê, tính đến tháng 7 năm 2011, Việt Nam là một trong 14 nước có dân số đông nhất thế giới với tỷ lệ gia tăng dân số cao đang là thách thức lớn cho quá trình phát triển, trong đó có thách thức về khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh
Mặt khác tốc độ phát triển của nền kinh tế tương đối cao, quá trình công nghiệp hoá hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ cũng đang làm gia tăng lượng
chất thải rắn công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Bên cạnh đó, do nhu cầu cuộc sống
hiện đại cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri
thức, các loại chất thải nguy hại như chất thải điện tử cũng gia tăng nhanh chóng Theo dự báo của Báo cáo hiện trạng môi trường 2010, tính đến năm 2008 tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở các đô thị Việt Nam đã đạt mức
Trang 291,45kg/người/ngày và tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh là khoảng 60.000
tấn/ngày Theo Dự báo của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường đến năm
2015 khối lượng CTR phát sinh trên cả nước ước đạt 44 triệu tấn/năm (121.000
tấn/ngày) Nếu không được giảm thiểu, thu gom và xử lý, lượng thải này sẽ tạo sức
ép lớn và ngày càng tăng không chỉ đối với các bãi chôn lấp mà còn cả đối với môi trường vì lượng thải gia tăng đồng thời với gia tăng thành phần khó phân huỷ và tính chất độc hại của chất thải
b Nh ận thức và ý thức trách nhiệm của cộng đồng về giảm thiểu, tái sử dụng và tái
ch ế chất thải còn thấp
Nhận thức và ý thức trách nhiệm của các cấp lãnh đạo, các doanh nghiệp và
cộng đồng về quản lý chất thải còn thấp Nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến
việc áp dụng các biện pháp giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải rắn Điều này
dẫn đến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây tác hại đến sức khoẻ của người dân
Các nội dung và các hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn chưa được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân Cộng đồng vẫn chưa nhìn thấy những lợi ích của việc phân loại chất thải rắn tại nguồn, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải để từ đó có những hoạt động thiết thực trong việc
giảm lượng thải Việc mua sắm hàng ngày của người tiêu dùng vẫn còn sử dụng các
loại bao bì bằng ni-lon tạo ra một lượng lớn chất thải khó phân huỷ
Công tác xã hội hóa hoạt động quản lý chất thải rắn chưa đạt được kết quả như mong đợi Chưa huy động được nguồn vốn, sự tham gia tích cực của cộng đồng dân
cư, cộng đồng doanh nghiệp vào các hoạt động quản lý và giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải ở mức cao nhất
c Cơ sở hạ tầng, công nghệ về xử lý chất thải rắn và áp dụng giảm thiểu, tái sử
d ụng, tái chế còn yếu kém
Do sự phát triển nóng của các đô thị, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật về
quản lý chất thải rắn còn yếu kém Tại hầu hết các thành phố lớn chưa có trang thiết
bị cung cấp cho các hộ gia đình để phân loại chất thải rắn tại nguồn, một công đoạn quan trọng trong quy trình tái sử dụng và tái chế Các điểm trung chuyển cũng như
Trang 30phương tiện vận chuyển chưa được xây dựng, trang bị đầy đủ và đồng bộ để đáp ứng yêu cầu vận chuyển, xử lý riêng từng loại chất thải rắn Các khu chôn lấp hầu
hết không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và không hợp vệ sinh Theo Báo cáo hiện trạng môi trường 2010, cả nước có 86 bãi chôn lấp rác thải, trong đó chỉ có 17 bãi chôn
lấp hợp vệ sinh Các cơ sở chế biến phân hữu cơ từ chất thải rắn sinh hoạt mới chỉ được xây dựng và vận hành tại một số thành phố lớn, không đủ đáp ứng nhu cầu tái
chế trong tương lai
Tại hầu hết các làng nghề tái chế, do sử dụng công nghệ cũ, thô sơ và lạc hậu, không có trang thiết bị xử lý nên đã xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề Ngành công nghiệp tái chế chưa phát triển do chưa được quan tâm đầu tư đúng
mức Việc nghiên cứu, phát triển các công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải, mặc
dù đã có một số kết quả trong thời gian qua, song còn ở mức độ lẻ tẻ, chưa được triển khai nhân rộng trên qui mô lớn Đây là một thách thức lớn đối việc áp dụng
giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải trong thời gian tới
d H ệ thống văn bản pháp luật về quản lý chất thải nói chung, giảm thiểu, tái sử
d ụng, tái chế nói riêng còn thiếu và yếu
Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường 2005 mới ra đời đã có nhiều cố gắng để khắc
phục những thiếu sót, song nhìn chung còn thiếu các văn bản pháp luật cụ thể về
quản lý chất thải bao gồm chất thải rắn, nước thải, khí thải và chất thải nguy hại Đặc biệt hầu như chưa có một văn bản cụ thể nào hướng dẫn thực hiện các qui định
về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế đối với bất cứ loại chất thải nào Các chính sách ưu đãi đối với việc áp dụng giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải chưa được nghiên cứu xây dựng Quy định về mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất trong việc thu gom, xử lý một số loại sản phẩm bị thải bỏ sau khi sử dụng cũng mới chỉ nằm trong kế hoạch được soạn thảo trong thời gian tới Các công cụ kinh tế như thuế, phí, đặt cọc-hoàn trả, v.v để khuyến khích phát triển tái sử dụng và tái chế chất
thải hầu như chưa có
Trang 311.2.3.2 Cơ hội đối với giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải
pháp lý v ững chắc về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải
Thời gian qua, cùng với tiến trình đổi mới và hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã quyết tâm đưa đất nước đi theo con đường phát triển bền vững Định hướng chiến lược phát triển bền vững Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21) và Nghị quyết 41/NQ-CT của Bộ Chính trị đã nêu cao chủ trương bảo vệ môi trường phải được kết
hợp chặt chẽ với phát triển kinh tế, phát triển xã hội trong đó có nội dung khuyến khích giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải
Luật Bảo vệ môi trường 2005 ra đời đã đưa ra những qui định về quản lý chất
thải, về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, những qui định khung về ưu đãi, khuyến khích cho hoạt động giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế Cùng với Chiến lược
bảo vệ môi trường quốc gia đến 2010 và định hướng đến 2020, Chiến lược quốc gia
về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050, sẽ tạo nên
một cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác bảo vệ môi trường nói chung, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải nói riêng trong 10-15 năm tới
b Ti ềm năng và nhu cầu to lớn về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải
Lượng chất thải công nghiệp, sinh hoạt và dịch vụ phát sinh ở nước ta đang ngày càng tăng, trong khi do quá trình đô thị hoá, quỹ đất dành cho chôn lấp chất thải ngày càng hạn hẹp, đặt ra yêu cầu giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải rắn như là một giải pháp cấp bách
Đối với chất thải rắn sinh hoạt, ngoài các thành phần có thể tái chế như giấy,
nhựa, thuỷ tinh và kim loại, còn có một lượng lớn chất thải hữu cơ có thể chế biến thành phân compost Uớc tính riêng chất thải rắn sinh hoạt có thể tái chế đến khoảng 55-60%, và nếu thực hiện tốt hoạt động này, chỉ phải chôn lấp, tiêu huỷ 40 - 45% khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh
Trong lĩnh vực công nghiệp tiềm năng tái chế chất thải là rất lớn, nếu như áp
dụng thành công sẽ đem nhiều lợi ích về kinh tế Một số ngành công nghiệp có khả
Trang 32năng tái sử dụng, tái chế tới 80% lượng chất thải Với số lượng cơ sở công nghiệp đang ngày càng tăng, đây thực sự là một tiềm năng lớn để triển khai áp dụng các
giải pháp sản xuất sạch hơn, nhằm giảm thiểu, tái sử dụng chất thải công nghiệp
Chất thải rắn xây dựng, một loại hình chất thải có tỷ lệ tái sử dụng, tái chế cao trên thực tế, cũng sẽ gia tăng trong thời gian tới do sự gia tăng trong hoạt động xây
dựng các công trình, dự án để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội tại các đô
thị, tạo ra một tiềm năng lớn để tái sử dụng loại chất thải đặc thù này
c Công ngh ệ tái chế đã bắt đầu được triển khai áp dụng
Mặc dù chưa được triển khai rộng rãi trên cả nước, thời gian qua, một số công nghệ tái chế chất thải rắn sinh hoạt nhập khẩu từ nước ngoài cũng như do nước ta tự nghiên cứu, chế tạo đã được áp dụng thành công Với giá thành rẻ, phù hợp với điều
kiện, thành phần chất thải rắn Việt Nam, các công nghệ trong nước chính là những điểm sáng, là nền tảng để phát triển ngành công nghiệp tái chế trong thời gian tới
Những điển hình này cần được tạo điều kiện để triển khai nhân rộng tới các đô thị trên cả nước
Ở một số đô thị như Hà Nội, Sơn Tây, Nam Định, Vinh, Huế, Ninh Thuận hiện đang có nhà máy chế biến phân compost từ chất thải sinh hoạt trong đó công nghệ truyền thống và công nghệ mới như SERAPHIN, ASC đang được triển khai áp
dụng với tỷ lệ tái chế có thể đạt tới hơn 90% và chỉ 10% chất thải mới phải chôn
lấp.Một số công nghệ xử lý CTR đang được triển khai ở Việt Nam xem phụ lục II
Mặt khác, một số dự án thí điểm, dự án đầu tư nước ngoài về phân loại chất thải
tại nguồn, giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải ở nước ta thời gian qua cũng
đã bước đầu được thực hiện, làm cơ sở cho việc nhân rộng trong thời gian tới
d H ội nhập và hợp tác quốc tế đang mở ra nhiều cơ hội
Nước ta đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), khẳng định chủ trương theo đuổi mục tiêu hội nhập sâu rộng với nền kinh
tế thế giới Gia nhập các tổ chức thế giới sẽ là một thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam, song cũng chính là một cơ hội để thúc đẩy các doanh nghiệp phải
Trang 33cam kết và thực hiện các nghĩa vụ bảo vệ môi trường với cộng đồng Để đáp ứng các yêu cầu về môi trường của các đối tác, các doanh nghiệp sẽ phải thực hiện các
biện pháp áp dụng các công cụ như sản xuất sạch hơn, áp dụng hệ thống quản lý môi trường ISO 14000 , từ đó sẽ thúc đẩy giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải
Hội nhập vào nền kinh tế thế giới cũng sẽ tạo ra những cơ hội to lớn đối với nước
ta trong việc chuyển giao, nhập khẩu công nghệ nhằm giảm thiểu, tái chế, tái sử
dụng chất thải từ nước ngoài Hội nhập cũng sẽ mang lại cơ hội hợp tác với các công ty đa quốc gia, thu hút đầu tư, thu hút được nguồn vốn từ nước ngoài cho các
hoạt động giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải
Trang 34C hương 2 HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG GIẢM THIỂU, TÁI SỬ DỤNG VÀ
TÁI CH Ế CHẤT THẢI (3R) Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Vài nét về thành phố Hà Nội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Hà Nội nằm ở đồng bằng Bắc bộ trù phú, tiếp giáp với các tỉnh:
- Phía bắc giáp tỉnh: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc
- Phía nam giáp tỉnh: Hà Nam và Hoà Bình
- Phía đông giáp tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên
- Phía tây giáp tỉnh: Hoà Bình và Phú Thọ
Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thế thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam
Với diện tích tự nhiên là 3344.6 km2, thành phố Hà Nội có 10 quận, 1 thị xã và
18 huyện
2.1.1.2 Địa hình [5]
Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Địa hình đồng
bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đông của Hà Tây
Trang 35(cũ), chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông Đà, hai bên sông
Hồng và chi lưu các sông Phần lớn địa hình đồi núi thuộc địa phận các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức Một số đỉnh núi cao như: Ba Vì 1.281m; Gia Dê 707m
Ở Hà Nội có nhiều hồ, đầm như : Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm; đầm Vân Trì Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội còn có các sông: Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tô Lịch, Kim Ngưu
2.1.1.3 Khí hậu [5]
Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc Bộ với đặc điểm của khí
hậu nhiệt đới gió mùa ấm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít Nằm trong vùng nhiệt đới, Hà Nội quanh nǎm tiếp nhận được lượng bức xạ mặt trời rất
dồi dào và có nhiệt độ cao Lượng bức xạ tổng cộng trung bình hàng nǎm ở Hà Nội
là 122,8 kcal/cm2 và nhiệt độ không khí trung bình hàng nǎm là 23,6ºC Do chịu ảnh hưởng của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn Ðộ ẩm tương đối trung bình hàng nǎm là 79% Lượng mưa trung bình hàng nǎm là 1.800mm và mỗi nǎm có khoảng 114 ngày mưa
Hà Nội có đủ bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông Phần địa hình của Hà Tây (cũ) sáp nhập với Hà Nội, có những đặc điểm riêng nên hình thành những tiểu vùng khí
hậu: vùng núi, vùng gò đồi và đồng bằng Nhưng nói chung sự khác biệt thời tiết và chênh lệch về nhiệt độ giữa các địa phương của Hà Nội hiện nay không lớn
2.1.2 Đặc điểm về xã hội [5]
- Dân s ố
Dân số Hà Nội có 6.661,9 nghìn người (năm 2010), chiếm 7,55% dân số cả nước Mức tăng dân số bình quân năm là 2,11% (cao hơn so với mức tăng bình quân của cả nước là 1,2%), do sự gia tăng cơ học chiếm tỉ lệ lớn Mật độ dân số chung toàn thành phố là 1.926 người/km2 (cao hơn 7,4 lần mật độ dân số cả nước
256 người/km2) và phân bố không đều giữa các quận, huyện, thị xã
Trang 36- Văn hóa
Hà Nội là trung tâm văn hóa của cả nước, nơi kết tinh những giá trị văn hóa của dân tộc Hà Nội có nhiều công trình kiến trúc văn hóa - nghệ thuật xây dựng qua nhiều thế hệ, những danh thắng tự nhiên đẹp, những làng nghề thủ công tồn tại hàng trăm năm, những lễ hội truyền thống và những nét văn hóa rất riêng của người Hà Thành đã tạo nên một đời sống tinh thần phong phú của Hà Nội Cùng với đất nước,
Hà Nội đã và đang phát triển năng động, trở thành một thành phố văn minh, hiện đại mà vẫn giữ được những nét riêng của mình
- Giáo d ục
Giáo dục Thủ đô trong những năm gần đây có nhiều bước phát triển lớn Hà Nội hiện có 2.363 trường học (tăng 63 trường so với năm học trước, chủ yếu là các trường ngoài công lập) Trong đó, 546 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 23,1% và tăng
52 trường so với năm học trước
2.1.3 Đặc điểm về kinh tế [16]
Hà Nội là trung tâm kinh tế lớn thứ hai cả nước Trong những năm gần đây,
mức tăng trưởng kinh tế của thành phố tương đối ổn định, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2006 – 2010 của thành phố đã đạt 10,7%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 37 triệu đồng (khoảng 1.950 USD) Hà Nội hiện đang tập trung nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ có mức phát triển cao như: ngành tự động hóa, công nghệ sinh học, bưu chính viễn thông, tài chính, ngân hàng, du lịch Tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 2010 tăng 11% so với năm 2009, trong đó ngành công nghiệp mở rộng tăng 11,6%, các ngành dịch vụ tăng 11,1%, ngành nông, lâm, thủy sản tăng 7,2%
Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố năm 2010 đạt gần 110 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so năm 2009
Hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội có 1160 làng nghề, trong đó số làng nghề tái chế chiếm tới hơn 40% đem lại thu nhập khá cho các hộ gia đình
Trang 37- Thương mại dịch vụ
Cả năm 2010, tổng mức và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng 30,5% so với năm 2009 (tổng mức bán lẻ tăng 31,2%) Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tăng 26,3% so với năm 2009
Du lịch: Cả năm 2010, khách quốc tế đến Hà Nội là 1.227,5 ngàn lượt khách, tăng 20,5% so cùng kỳ; khách nội địa là 7.392,4 ngàn lượt khách, tăng 10%
- Sản xuất nông nghiệp
Trồng trọt: So với cùng kỳ, năm 2010, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn Thành phố là 317.576 ha, tăng 12,8% Theo kết quả sơ bộ, sản lượng lương thực cả năm toàn thành phố thu được 1.239,6 ngàn tấn, tăng 0,84% so với năm 2009
Chăn nuôi: Theo kết quả điều tra chăn nuôi thời điểm 1/10/2010 so với cùng
kỳ, đàn trâu toàn thành phố hiện có 26.900 con, giảm 4,97% ; đàn bò 184.642 con, giảm 7,1%; tổng đàn lợn hiện có 1.625.165 con, giảm 3,38%; đàn gà, vịt, ngan, ngỗng hiện có 17.261 ngàn con, tăng 4,56%; sản lượng trứng gia cầm các loại đạt 583.520 ngàn quả, tăng 19,38%
2.2 Hiện trạng quản lý CTR đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội
2.2.1 Khung thể chế và quy hoạch QLCTR của thành phố Hà Nội
Trang 38- Quyết định số 11/2010/QD-UBND ngày 23 tháng 2 năm 2010 ban hành Quy định về rác thải rắn đô thị thông thường ở Hà Nội (Quyết định này thay thế Quyết định 3093/1996/QD-UBND ban hành năm 1996.)
- Quyết định số111/2007QD-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2007 về thu phí vệ sinh tại Hà Nội
- Quy hoạch về QLCTR
Hà Nội hiện chưa có Quy hoạch QLCTR Gần đây, quy hoạch thành phố về Hà
Nội mới đang được xây dựng và yếu tố QLCTR sẽ được đưa vào quy hoạch Bên
cạnh đó, quy hoạch cơ sở QLCTR do URENCO Hà Nội xây dựng được thể hiện tại
phụ lục III
Trong quy hoạch quản lý CTR của URENCO, phương pháp chôn lấp vẫn là
biện pháp xử lý CTR chủ yếu Ngoài các khu xử lý CTR hiện có như: Nam Sơn, Xuân Sơn, Kiêu Kỵ…, URENCO quy hoạch mở rộng khu xử lý CTR Nam Sơn lên quy mô 160ha, đồng thời xây dựng thêm các khu xử lý CTR Sơn Đà (quy mô 20ha), khu xử lý CTR Châu Can (quy mô 15ha), khu xử lý CTR Phù Đổng (quy mô 24ha,
sử dụng công nghệ đốt CTR sản xuất điện) và khu xử lý CTR liên tỉnh Tiến Sơn Bên cạnh đó, URENCO cũng quy hoạch xây dựng các trạm trung chuyển CTR Linh Sơn, Hữu Bằng với quy mô 0,5ha/trạm trung chuyển và xây dựng các bãi đổ CTR xây dựng như: bãi đổ xã Đại Thành (quy mô 10ha), bãi đổ Tả Thanh Oai (quy mô
dự kiến 25ha), bãi đổ Cự Khối (quy mô 7ha) và bãi đổ CTRXD xã Ninh Hiệp (quy
mô 17ha)
2.2.2 Lượng và thành phần CTR đô thị trên địa bàn Hà Nội
Hà Nội là thành phố đông dân, nơi tập trung phát triển của nhiều ngành kinh tế,
du lịch và dịch vụ nên lượng chất thải phát sinh lớn với thành phần phức tạp Theo Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội, 2010, lượng chất thải rắn thải ra trong thành
phố là khoảng 2 triệu tấn/năm Lượng chất thải rắn của thành phố Hà Nội dự tính tăng khoảng 10% mỗi năm Tổng lượng rác thải trên đầu người dự tính tăng khoảng 0,9kg/người/ngày vào năm 2010 và khoảng 1,3kg/người/ngày vào năm 2020 (Theo
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2008)
Trang 39Hiện nay, rác thải thuộc khu vực nội thành Hà Nội có khoảng 5.000 tấn/ngày và lượng rác thải của toàn thành phố lên đến 8.000 tấn/ngày, dự kiến đến năm 2020 lượng rác thải của Hà Nội sẽ lên 10.000 tấn rác/ngày
Sơ đồ 2.1 Lượng rác thải phát sinh của thành phố Hà Nội [6]
1693513
1861864 2049150
0 500000 1000000 1500000 2000000 2500000
Khối lượng
(tấn/năm)
Trong thành phần rác thải ở Hà Nội, chất thải hữu cơ chiếm tới trên 50%, chủ
yếu là thức ăn, rau, vỏ hoa quả, tỉ lệ chất hữu cơ này tương đối cao trong chất thải
và ở mức cao so với các thành phố khác Đây chính là nguồn nguyên liệu phong phú để sản xuất phân Compost hay tạo năng lượng bằng cách sử dụng khí sinh học (Biogas)
Bảng 2.1 Thành phần rác thải của thành phố Hà Nội năm 2009 [17]
Theo số liệu thống kê chất thải của Công ty CP Môi trường và công trình đô
thị Sơn Tây, lượng rác thải được thu gom tại địa bàn các khu vực quận huyện phía tây Hà Nội bao gồm: thị xã Sơn Tây, các huyện Ba Vì, Phúc Thọ, Đan Phượng,
Trang 40Thạch Thất, Chương Mỹ, Hoài Đức, quận Hà Đông và huyện Từ Liêm khoảng 385.000 tấn/năm (khoảng 1.055 tấn/ngày), xem phụ lục III
2.2.3 Hệ thống quản lý CTR
Việc thu gom và vận chuyển chất thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố đang ngày càng trở nên phức tạp và đòi hỏi nhiều công nghệ tiên tiến hơn với khối lượng ngày càng lớn, nhiều loại chất thải hơn Hiện có 18 công ty tham gia thu gom và vận chuyển QLCTRĐT tại Hà Nội xem phụ lục III
Về hệ thống thu gom hiện nay, Hà Nội đang trong quá trình thay đổi hệ
thống thu gom từ xe đẩy sang thu gom bằng thùng
- Xe đẩy rác : đây là hệ thống dịch vụ thu gom tại chỗ, công nhân đẩy xe đến khu dân cư và gõ kẻng thu rác (hệ thống gõ kẻng)
- Hệ thống thùng chứa rác: thùng chứa rác bằng nhựa (nhiều kích cỡ) được đặt ở khu dân cư để đựng rác
Về khía cạnh tài chính, chi phí quản lý CTR của Hà Nội cũng như các thành
phố khác trong cả nước chủ yếu được bao cấp từ ngân sách nhà nước Theo số liệu
của URENCO Hà Nội, ngân sách nhà nước hỗ trợ hơn 60% chi phí cho quản lý CTR Trong khi, phí vệ sinh từ các hộ gia đình chỉ đủ trang trải 10% chi phí, còn 30% chi phí quản lý CTR là thu từ các hộ sản xuất, kinh doanh và các dịch vụ khác
Sơ đồ 2.2 Cơ cấu ngân sách quản lý Chất thải rắn của URENCO [6]
Từ các dịch vụ khác Ngân sách nhà nước