1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH

30 436 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng công tác quản lý thu thuế TNDN đối với các DNNN trên địa bàn tỉnh Nam Định
Trường học Trường Đại Học Nam Định
Thể loại Bài tiểu luận
Thành phố Nam Định
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 86,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy DNNN là một loại hình doanh nghiệp có quy mô rất lớn trên địa bàntỉnh Nam Định: với số lượng lao động ngày càng đông đảo, số vốn đầu tư vào đâyngày càng nhiều đang ngày càng khẳn

Trang 1

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC

DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH.

2.1 Khái quát về các Doanh nghiệp nhà nước( DNNN) trên địa bàn tỉnh Nam Định.

2.1.1Số lượng doanh nghiệp và lực lượng lao động của các DNNN trên địa bàn tỉnh Nam Định.

Theo số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/2004, trên địa bàn tỉnh Nam Định có

214 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có tới 137 DNNN còn mại là các loại hìnhdoanh nghiệp khác Trong số các DNNN thì có 94 doanh nghiệp do trung ương quản

lý và có 43 doanh nghiệp do địa phương quản lý

Qua số liệu thống kê trên ta thấy DNNN là loại hình doanh nghiệp hoạt động chủyếu trên địa bàn tỉnh Nam Định: số lượng DNNN chiêm tới 64,02% trong tổng sốdoanh nghiệp hoạt động trên địa bàn Không những chiếm lệ lớn về số lượng mà lựclượng lao đông lam việc trong các DNNN cung chiêm đa số trong tổng số lao độngđang làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn cụ thể là: số lượng lao động đang làmviệc tại các doanh nghiệp trên địa bàn là 124.000 lao động thì trong đó có tới 83.000lao động đang làm việc tại các DNNN, với tỷ trọng là 66,93% trong tổng số lao độngđang làm việc tai các doanh nghiệp trên địa bàn

Như vậy DNNN là một loại hình doanh nghiệp có quy mô rất lớn trên địa bàntỉnh Nam Định: với số lượng lao động ngày càng đông đảo, số vốn đầu tư vào đâyngày càng nhiều đang ngày càng khẳng định vị trí quan trọng của DNNN đối với giátrị sản xuất kinh tế trên địa bàn tỉnh Nam Định, bên cạnh đó việc cổ phần hoá cácDNNN tại Nam Định đang diễn ra rất mạnh mẽ, những doanh nghiệp đang làm ănthua lỗ sau khi có thêm vốn do cổ phần hoá thì cũng đã thoát khỏi tình trạng khó khăn,ngày càng ổn định trong sản xuất kinh doanh

Những năm qua là thời gian mà các DNNN hoạt động trên địa bàn tỉnh NamĐịnh đã thay đổi rất nhiều từ những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trong thời gian dài,ngày càng thu hẹp sản xuất, lực lượng lao động bị thất nghiệp rất lớn, đến nay thì nhìn

Trang 2

chung các DNNN này đã ổn định được sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế,tạo nhiều việc làm cho người lao động, và thực hiện tốt nghĩa vụ của mình đối vớiNSNN cụ thể như : công ty Dệt Nam Định ở năm 1994 làm ăn thua lỗ, người lao độngphải bỏ việc nhiếu nợ ngân sách Nhà nước đến gần 400 tỷ đồng, nay đã bắt đầu ổnđịnh sản xuất kinh doanh, ngày càng phục hồi lại ngành Dệt một ngành sản xuất đã rấtphát triển tại Nam Định trong những năm của thập kỷ 80.

Nhìn chung DNNN trên địa bàn tỉnh Nam Định đã có những bước phát triển sảnxuất mới, đạt được nhiêu kết quả cao trong những năm qua như đẩy mạnh sản xuấtkinh doanh, mở rộng quy mô và đạt được hiệu quả kinh tế cao Nhưng tình trang thua

lỗ tại các DNNN trên địa bàn tỉnh Nam Định vẫn còn tồn tại ở nhiều doanh nghiệp,điều này ảnh hưởng rất lớn đến tình hình phát triển kinh tế chung của toàn tỉnh và sựđầu tư của nhà nước vào các doanh nghiệp này và các doanh nghiệp khác trên địa bàn

Vì là loại hình doanh nghiệp chủ yếu sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh Nam Địnhnên tình trạng của các DNNN cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc thu của NSNN thôngqua việc thu thuế TNDN đối với loại hình doanh nghiệp này

2.1.2Giá trị sản xuất của DNNN trên địa bàn.

Cũng như tình hình chung của nước ta hiện nay, DNNN vẫn, loại hình doanhnghiệp hoạt động chủ yêu, với giá trị sản xuất lớn Giá trị sản xuất của DNNN ở nước

ta trong năm 2003 là gần 450000 tỷ đồng, còn ở Nam Định tuy chưa phải là một tỉnh cógiá trị kinh tế cao ở Nước ta, nhưng giá trị sản xuất của toàn tỉnh cũng khá lớn đạt gần

557 tỷ đồng, trong đó giá trị sản xuất của các DNNN vẫn chiếm đa số so với tổng sảnxuất trên toàn tỉnh đạt gần 324 tỷ đồng chiếm gần 60% giá trị sản xuất trên toàn tỉnh Bảng1 – Giá trị sản xuất của các khu vực kinh tế trên địa bàn tỉnh Nam Định trong 2năm 2002 và 2003.( đơn vị tỷ đồng)

STT Khu vực kinh tế 2002 2003

1 Khu vực kinh tế trong nước 417 482

2 Khu vực kinh tế vốn đầu tư

nước ngoài 95 155

3 Tổng cộng 512 637

Trang 3

Qua số liệu trên ta thấy tại Nam Định thì giá trị sản xuất của khu vực kinh tế trongnước với chủ yếu là giá trị sản xuất của loại hình DNNN chiếm tỷ trọng lờn nhất trongtổng số giá trị sản xuất của toàn tỉnh Như vậy ta thấy được vai trò chủ đạo của các DNNNtrên địa bàn cũng như nhiệm vụ và vai trò của nó trong việc thúc đẩy nền kinh tế của toàntỉnh đi lên.

Nhưng qua đây ta cũng biết được thực tế của việc gía trị sản xuất của khu vực kinh

tế nước ngoài còn rất thấp Như vậy tỉnh Nam Định vẫn chưa thu hút được nhiều vốn đầu

tư nước ngoài

Như vậy tuy chưa phải là một tỉnh có giá trị sản xuất lớn, có đóng góp nhiều vàoNSNN, cũng không phải là trung tâm kinh tế như Hà Nội, Hải Phòng…

Nhưng những năm qua kinh tế tỉnh Nam Định đã đạt được những thành công đángghi nhận, giá trị sản xuât đạt được khá cao đặc biệt là giá trị sản xuất của các DNNN trênđịa bàn là rất lớn Với một lực lượng lao động rất đông đảo về số lượng và cao về chấtlượng, với doanh thu lớn và đóng góp vào NSNN một phần không nhỏ Vì vậy Nam Địnhcần tiếp tục phát huy tốt những thành quả đã đạt được và ngày càng quản lý tốt các khuvực kinh tế trong tỉnh, cũng như công tác quản lý thuế TNDN ở các DNNN Để ngày càngphát huy được tiềm năng của tỉnh Nam Định

2.2 Khái quát kêt quả của việc quản lý thu thuế TNDN đối với DNNN tại Cục thuế Nam Định.

2.2.1 Kết quả của việc quản lý thu thuế TNDN đối với DNNN tại Cục thuế Nam Định.

Trong những năm qua nganh thuế Nam Định đã thực hiện thành công nhiệm vụ trọngtâm đó là tổ chức chỉ đạo hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN Tổng thu NSNN tăng đều theocác năm, năm sau cao hơn năm trước

Bảng 2:Tình hình thu thuế của Cục thuế Nam Định trong 3 năm gần đây

Trang 4

Đạt được thành tích nói trên của Cục thuế Nam Định là do những nguyên nhân chủyếu là:

- Là sự nỗ lực không ngừng của ngành thuế Nam Định trong việc tổ chức, triển khai,cải tiến mang tính cải cách mạnh mẽ các biện pháp quản lý thu, hiện đại hoá quy trìnhthu, cải tiến công tác lập dự toán, tăng cường công tác đào tạo và nâng cao trình độ cán

bộ, thường xuyên tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức và tinhthần trách nhiệm công tác cho cán bộ của ngành

- Do có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ tài chính, của chính phủ mà trực tiếp là Bộtài chính, sở tài chính…đồng thời với sự nỗ lực và chủ động của ngành thuế Nam Địnhtrong việc xây dựng, đề xuất các biện pháp quản lý thu và tổ chức công tác triển khaiphối hợp hành động với các ngành, cơ quan đoàn thể liên quan…để ngành thuế NamĐịnh hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

- ý thức chấp hành pháp luật thuế, pháp lệnh về thuế của các doanh nghiệp đã nâng caohơn trước nhiều( nhất là các DNNN đã có ý thức hơn trong việc nộp thuế đúng hạn)

Trang 5

Phần lớn các doanh nghiệp đều đã nhận thức được trách nhiệm đóng góp của mình vàoNSNN và tự nguyện thực hiện.

- Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về thuế đã được triển khai mạnh mẽ vớinhiều hình thức phong phú đa dạng Ngành thuế Nam Định đã phối hợp với nhiềungành khác đặc biệt là ngành thông tin, tư pháp các cơ quan làm công tác tuyên truyềnvăn hoá tư tưởng cùng các cơ quan thông tin đại chúng, báo đài truyền hình để kịp thờithông tin các tin tức cần thiết,các văn bản luật mới ban hành và với khẩu hiệu là “ nộpthuế để xây dựng đất nước” Bản thân Cục thuế Nam Định cũng đã tổ chức tập huấn,phổ biến cho các đơn vị về các văn bản, thông tư mới về thuế để các doanh nghiệptránh khỏi những bỡ ngỡ ban đầu khi thực hiện

2.2.2 Việc quản lý thu thuế TNDN đối với DNNN tại phòng Quản lý DN số1- tại Cục thuế Nam Định.

Phòng quản lý doanh nghiệp (QLDN) số1- Cục thuế Nam Định là một phòng chứcnăng có nhiêm vụ quản lý thu thuế đối với các DNNN và một số doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài( trong đó có 137 DNNN và 5 doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài) Trong những năm qua phòng đã thực hiện được tốt nhiệm vụ của mình với sốthu khá lớn, năm sau cao hơn năm trước

2.2.2.1Tình hình thu thuế của phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định.

Tình hình thu thuế của phòng QLDN số1 được cụ thể là

Bảng 3- Số thu thuế của một số loại thuế tại phòng QLDN sô1

Trang 6

quan trọng nữa là số thu vê tât cả các loại thuế đều tăng dần, năm sau cao hơn nămtrước và điển hình là số thu thuế TNDN đối với các DNNN tăng khá rõ qua 3 năm, nếunăm 2002 chỉ thu được 28.641.676.531 đồng thì đến năm 2003 là 29.862.732.641 đồng

và đến cuối năm 2004 con số này là 30.056.247.580 đồng

Những số liệu nói trên đã thể hiện được thành tích đáng khích lệ mà phòng QLDN số1nói riêng và toàn Cục thuế Nam Định nói chung đã đạt được trong công tác quản lýthuế TNDN Có được kết quả này bắt nguồn từ rất nhiều các nguyên nhân trong đó có

cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan

- Nguyên nhân khách quan

+ Trước hết phảI kể đến những điều kiện thuận lợi mà các cấp chính quyền thành phố

đã tạo ra để khuyến khích các hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất trên địa bàn nhất làloại hình DNNN có vai trò chủ đạo, nhờ đó mà các DNNN trên địa bàn hoạt động ngàycàng hiệu quả, thu được lợi nhuận khá và thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế cho Nhànước Số thuế thu được từ khu vực quốc doanh thường chiếm khoảng 58% trong tổng

số thu về thuế của Cục thuế Nam Định

+ Luật thuế TNDN đã ngày càng tỏ ra phù hợp với thực tế, bao quát được nhiều khoảnthu nhập của doanh nghiệp, phát huy được khả năng điều tiết thu nhập, đảm bảo côngbằng giữa các doanh nghiệp

+ Do phòng QLDN số1 cũng đã được Cục thuế Nam Định hết sức tạo điều kiện đểthực hiện tốt nhiệm vụ của mình như trang bị đầy đủ về vật chất thiết bị để phục vụ chocông việc, luôn luôn quan tâm đến cán bộ trong phòng

- Nguyên nhân chủ quan

+ Về phía phòng QLDN số1, trong những năm qua phòng đã nỗ lực trong việc đổi mớicách thức làm việc, cán bộ trong phòng đã đi sâu vào đi sát hơn trong công việc nắmvững tình hình kinh doanh của các đơn vị do mình quản lý, các cán bộ trong phòngkhông ngừng học hỏi để nâng cao trình độ nghiệp vụ của mình…

+ Về phía doanh nghiệp các luật thuế mới ban hành đã dần phát huy hiệu quả trong đờisống kinh tế cũng như trong hoạt động của doanh nghiệp, quy trình quản lý thu thuế

Trang 7

mới đơn giản đi nhiều khâu do đó đối tượng nộp thuế có nhiều điều kiện trong việcthực hiện đúng các quy định của pháp luật thuế Nhờ sự tự giác về phía các doanhnghiệp mà công việc của cơ quan thuế cũng thuận lợi hơn đảm bảo thu đúng, thu đủ,kịp thời cho NSNN.

Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý thu thuế nói chung vàthuế TNDN nói riêng vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, nhiều vấn đề bất cập cần tiếp tụcđiều chỉnh Do vậy việc nâng cao hiệu quả hơn nữa của công tác quản lý thu thuếTNDN là việc hết sức cần thiết Để có thể đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao công tácquản lý thuế TNDN trước hết chúng ta cần đi sâu vào xen xét thực trạng của công tácquản lý thu thuế TNDN đối với các DNNN trên địa bàn tỉnh Nam Định tại Cục thuếNam Định

2.3Thực trạng công tác quản lý thu thuế TNDN của các DNNN trên địa bàn tỉnh Nam Định- tại Cục thuế Nam Định.

2.3.1 Vấn đề quản lý đối tượng nộp thuế của phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định.

Tính đến hết năm 2004 phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định quản lý thu thuế đốivới 142 đơn vị trong đó gồm:

+ Có 137 đơn vị là doanh nghiệp Nhà nước

+ Có 5 đơn vị là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Vì đối tượng nộp thuế do phòng QLDN số1 quản lý đa số là các DNNN ( với 137doanh nghiệp) nên số đơn vị đăng ký thuế qua các năm là tương đối ổn định, tăng giảmkhông đáng kể Nếu có tăng hoặc giảm chủ yếu do các công ty ở các tỉnh khác đăt thêmchi nhánh cơ sở sản xuất tại Nam Định Vì vậy các đối tượng nộp thuế do phòng quản

lý đều chấp hành tương đối đầy đủ các quy định về đăng ký thuế Nhờ đó mà công táccấp mã số thuế được tiến hành khẩn trương, thuận lợi

Thực tế cho thấy trong số các đối tượng nộp thuế là các DNNN có một bộ phậnkhông nhỏ là các chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị hạch toán phụ thuộc Nên theopháp luật thuế TNDN, số đối tượng có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, quyết toán thuếTNDN mà phòng QLDN số1 quản lý chỉ chiếm khoảng 80% trong tổng số đơn vị mà

Trang 8

phòng quản lý Dưới đây chúng ta sẽ xem xét việc chấp hành các quy định về thời hạnnộp tờ khai, chất lượng tờ khai và phân tích nguyên nhân của tình hình đó.

- Về thời hạn nộp tờ khai

Theo quy định của pháp luật thuế TNDN, cơ sở kinh doanh có trách nhiệm kê khai vànộp tờ khai thuế TNDN theo mẫu có sẵn( mẫu mới nhất là mẫu số 04/TNDN-31/12/2004) và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất vào ngày 25/01 hàngnăm

Theo thống kê cho thấy nếu như năm 2002 chỉ có 90% đối tượng nộp thuế nộp tờ khaicho cơ quan thuế thì đến năm 2003 và 2004 gần như hầu hết các đối tượng nộp thuếđều nộp tờ khai cho cơ quan thuế, tuy vẫn còn một số trường hợp nộp tờ khai chậm hơnthời gian quy định trong luật thuế TNDN song các đối tượng nộp thuế đó cũng đã có cốgắng nộp tờ khai cho phòng quản lý thu

Đây là một thành tích rất lớn của cán bộ trong phòng QLDN số1 đã tích cực tuyêntruyền, giải thích hướng dẫn, nhắc nhở, đôn đốc các đơn vị nộp tờ khai thuế TNDNđúng hạn

- Về chất lượng tờ khai

Căn cứ để kê khai thuế TNDN là kết quả sản xuất kinh doanh, dịch vụ năm trước vàkhả năng kinh doanh của năm tiếp theo Khi nhận được tờ khai, cán bộ thuế phải cótrách nhiệm kiểm tra tính chính xác của các chỉ tiêu trên tờ khai

Qua kết quả triểm tra trên tờ khai cho thấy, hiện nay chất lượng tờ khai thuế TNDN củacác đối tượng nộp thuế chưa được tốt lắm, các chỉ tiêu kê khai bị thiếu nhiều,đăc biệt lànhững chỉ tiêu đòi hỏi phải kê khai chi tiết theo từng khoản mục như: chi phí sản xuấtkinh doanh hợp lý, thu nhập chịu thuế khác, doanh thu…Đối với các chỉ tiêu chi phí sảnxuất kinh doanh ở một số đơn vị nhỏ do công tác xây dựng chưa tốt, trình độ cán bộ tàichính còn hạn chế dẫn đến tình trạng kê khai thiếu những khoản quan trọng, hoặckhông biết kê khai vào khoản mục nào Đây là nguyên nhân chủ quan thể hiện sự yếukém của bản thân doanh nghiệp cần phải được khắc phục kịp thời

Trang 9

Riêng ở chỉ tiêu thu nhập chịu thuế khác hầu như các đơn vị chỉ dự toàn và kê khaiđược các khoản lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, còn các khoản khác như: thu nợ khó đòinay đòi được, thu tiền phat vi phạm hợp đồng, các khoản nợ phải trả không có chủ, thunhập các năm trước còn bỏ sót, đa phần các doanh nghiệp không kê khai vì các khoảnnày là những thu nhập bất thường không có hoá đơn chứng từ cụ thể khó kiểm soátđược.

Nhìn chung những hạn chế của thiếu sót của đơn vị trong kê khai thuế TNDN đã đượccác cán bộ thuế quan tâm, hướng dẫn, giúp đỡ đơn vị sửa chữa kịp thời nhờ vậy màchất lượng tờ khai qua các năm đã được cải thiện đáng kể Đây là những biểu hiện đángmừng của công tác quản lý đối tượng kê khai nộp thuế Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còntồn tại một số doanh nghiệp nộp tờ khai không đúng hạn, cố tình kê khai chỉ tiêu khôngsát thực tế tạo ra hiện tượng lỗ giả lãi thật, lỗ thật lãi giả gây tổn hại cho ngân sách vànền kinh tế Hiện tượng tượng tiêu cực này cần được ngăn chăn sớm để đảm bảo thựchiện đúng pháp luật thuế và thu đủ cho NSNN Nhưng cũng cần phảI sửa đổi bổ sungmột số vấn đề trong luật cho phù hợp cho phù hợp với thực tế để hạn chế sai sót trongquá trình kê khai

2.3.2 Về quản lý doanh thu tính thuế thu nhập.

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến việc xácđịnh thu nhập chịu thuế và số thuế phải nộp Doanh thu của các đối tượng nộp thuế cóthể nhận được từ nhiều hoạt động kinh doanh khác nhau, từ nhiều chủ thể, từ nhiều địabàn khác nhau…do đó cơ quan thuế rất khó theo dõi, kiểm soát Để đảm bảo tính đúng

số thuế TNDN mà đơn vị phải nộp, cơ quan thuế phải lưu ý tới rất nhiều vấn đề trong

đó đặc biệt phải quan tâm quản lý chặt chẽ doanh thu tính thuế

Trong những năm gần đây, các DNNN trên địa bàn Nam Định đang từng bước hoạtđộng có hiệu quả, khai thác được những thế mạnh của mình, có nhiều biện pháp thúcđẩy phát triển sản xuất, mở rộng quy mô, đa dạng hoá ngành nghề và nâng cao chấtlượng sản phẩm…Do đó các doanh nghiệp này ngày càng có khả năng cạnh tranh cao,nâng cao uy tín của doanh nghiệp, doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng, xuất hiện nhiềuhình thức doanh thu mới Từ thực tế mới đặt ra những nhiệm vụ nặng nề cho công tácquản lý thuế TNDN của phòng QLDN số1 Có quản lý tốt doanh thu tính thuế thì mới

Trang 10

đảm bảo xác định đúng thu nhập chịu thuế của đơn vị từ đó tính đúng và thu đúng thuếTNDN cho NSNN.

Theo quy trình quản lý thu thuế TNDN hiện nay, khi lập tờ khai thuế TNDN đối tượngnộp thuế phải ước tính tổng doanh thu thực hiện trong năm, các khoản chi phí hợp lý và

kê khai theo mẫu quy định Kết thúc năm tài chính, đối tượng nộp thuế lập quyết toánthuế TNDN kèm theo tờ khai chi tiết doanh thu, chi phí, thu nhập khác trên cơ sở hoạtđộng thực tế diễn ra trong năm của đơn vị rồi gửi tới cơ quan thuế

Xét trên góc độ nào đó thì việc tự kê khai tính thuế đã có tác dụng đề cao ý thức và sự

tự giác của đối tượng nộp thuế, vì đối tượng nộp thuế hoàn toàn chịu trách nhiệm vềhoá đơn, doanh thu của chi nhánh báo về không chính xác… Tuy nhiên điều mà cán bộthuế cần quan tâm hơn cả là hiện tượng kê khai thiếu doanh thu của các đối tượng nộpthuế dẫn đến giảm số thuế TNDN phải nộp Căn cứ vào biên bản kiểm tra quyết toánthuế năm 2003 của phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định, có thể kể một số đơn vị kêkhai thiếu doanh thu so với doanh thu tực tế như sau

Bảng 4: tình hình khai thiếu doanh thu ở một số đơn vị năm 2003

Tên đơn vị Số liệu trên BCQT Số kiểm tra lại Chênh lệch

Công ty chế biến KD than

HNN

24.721.204.389 25.430.201.373 708.996.984

Xí nghiệp may Nam Hải 17.641.853.437 18.732.435.236 1.090.581.799

Nhà máy đóng tàu Nam Hà 15.894.780.642 16.423.547.631 528.766.989

Xí nghiệp công trình 75 14.124.763.650 14.843.271.645 730.795.280

Những vi phạm phổ biến thường gặp ở các đơn vị là: hạch toán sai, kê khai thiếu doanhthu từ một số nguồn, một số hoạt động, bỏ sót hoá đơn dẫn đến giảm doanh thu tính thunhập chịu thuế

Dưới đây chúng tôi xin đi sâu vào một số nguyên nhân

Trang 11

- Hạch toán sai:

+ Hạch toán sai doanh thu trong kỳ Hạch toán sai doanh thu trong kỳ là một nguyênnhân tương đối phổ biến dẫn đến giảm doanh thu trong kỳ của đơn vị Nhiều đơn vị viếthoá đơn bán hàng vào cuối tháng ảnh hưởng đến sự trung thực của số liệu Còn về cơquan thuế, để quản lý tốt doanh thu tính thuế, không chỉ đơn thuần dựa vào số liệu đã

kê khai của đơn vị mà cơ quan thuế phải lập kế hoạch và tổ chức thanh tra kiểm traquyết toán thuế tai cơ sở Căn cứ để kiểm tra doanh thu tính thuế là: báo cáo quyết toánthuế, báo cáo tài chính năm, thuyết minh tài chính, báo cáo luân chuyển tiền tệ, các hoáđơn chứng từ và sổ sách kế toán khác của đơn vị Trong quá trình kiểm tra, cán bộ thuếtiến hành đối chiếu giữa số trên hoá đơn chứng từ, sổ kế toán và báo cáo quyết toánnăm, số dư trên tài khoản kế toán để xem có phù hợp, ăn khớp với nhau không Từ đó

sẽ phát hiện những khoản hạch toán sai, bỏ sót, nhưngx khoản để ngoài doanh thu… Bảng 5: số liệu thanh tra, kiểm tra doanh thu tính thuế năm 2003 tại 10 đơn vị (đơn vị1000đ):

Tính chất Số đơnvị % Số liệu báo cáo Số kiểm tra lai Chênh lệch

Doanh thu khai đúng 5 50% 46.430.514 46.430.514 0

Doanh thu khai thừa 1 10% 16.743.256 16.258.382 - 484.874

Doanh thu khai thiếu 4 40% 28.834.740 30.484.765 1.650.025

Trong tổng số doanh thu khai thiếu của 4 đơn vị là 1.650.025 (1000đ), doanh thu khaithừa của một đơn vị là 484.874 (1000đ), như vậy qua công tác kiểm tra đã phát hiện và

bổ xung vào doanh thu tính thuế là 1.165.151 (1000đ) Đây là một vấn đề chứng tỏ ýthức của đối tượng nộp thuế vẫn chưa cao và công tác quản lý thu cũng chưa thật hiệuquả Ta thấy mới có 50% số đơn vị được thanh tra, kiểm tra là khai đúng doanh thu đểtính nộp thuế, còn lại là 40% doanh nghiệp đã kê khai thiếu doanh thu Những đơn vị

có doanh thu thực tế nhỏ hơn hoặc lớn hơn doanh thu kê khai chủ yếu xuất phát từ một

số nguyên nhân thường gặp là: hạch toán trùng, hoá đơn đã báo huỷ vẫn kê khai, bỏ sótdoanh thu, do đó đã làm giảm doanh thu và thu nhập chịu thuế của năm 2003, vi dụ: + Công ty chế biến kinh doanh than Hà Nam Ninh khai thiếu doanh thu là 708996987đồng

+ Xí nghiệp may Nam Hải là 1.090.581.799 đồng

Trang 12

+Nhà máy đóng tầu Nam Hà 528.766.989 đồng.

Đi vào tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của vấn đề, có thể nhận thấy việc đơn vị hạch toánsai doanh thu trong kỳ để làm giảm thu nhập chịu thuế trong năm, phân bổ một phần sốthuế phải nộp cho năm kế tiếp, thực chất là một cách nhằm trì hoãn việc nộp thuế, giảmbớt căng thẳng về vốn cho đơn vị, cán bộ thuế cần sớm tìm ra biện pháp để khắc phụcnó

+ Treo tài khoản công nợ

Treo tài khoản công nợ là việc hàng bán đã chấp nhận thanh toán nhưng đơn vị vẫntreo ở tài khoản công nợ 131 chưa ghi vào tài khoản doanh thu bán hàng 511

Hiện tượng trên có thể do các cán bộ kế toán của đơn vị có trình độ hạn chế dẫn đến ápdụng sai chế độ kế toán hiện hành, do cố tình áp dụng sai để trốn thuế Muốn loại bỏhiện tượng này, cách tốt nhất là phải xử phạt nghiêm minh các đơn vị cố tình làm sai vàtiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế TNDN để đối tượng nộp thuế không thể tìm ra kẽ hở

có thể giúp họ có thể lẩn tránh trách nhiệm của mình

+ áp dụng sai tỷ giá quy đổi

Trong trương hợp những cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ có doanh thu bằng ngoại tệthì theo luật thuế TNDN quy định: phải có sự quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo

tỷ giá giao dịch binh quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân Hàng NhàNước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu ngoại tệ Tuy nhiên trên thực

tế một số đơn vị áp dụng sai tỷ giá quy đổi để làm giảm doanh thu theo hướng có lợicho đơn vị

ví dụ: qua kiểm tra báo cáo quyết toán thuế năm 2003 của công ty Dệt Nam Định, đãphát hiện công ty áp dụng sai tỷ giá quy đổi với khoản thu bằng ngoại tệ đã làm chodoanh thu báo cáo giảm so với thực tế là 24 triệu đồng

Tóm lại các trường hợp hạch toán sai doanh thu tính thu nhập chịu thuế có thể bắt nguồn từ hai nguyên nhân chủ yếu: do đơn vị chưa nắm vững chế độ hạch toán kế toán hiện hành hoặc do đơn vị cố tình làm sai quy định để trốn thuế Yêu cầu này đặt ra đối với cán bộ thuế là cần tìm rõ nguyên nhân sai phạm của đơn vị Đối với những đơn vị

Trang 13

chưa nắm vững những chính sách, chế độ cán bộ thuế sẽ tăng cường kiểm tra, hướng dẫn nhắc nhở doanh nghiệp, đối với những doanh nghiệp vi phạm do cố ý cần có hình thức sử phạt nghiêm minh để lần sau không tái phạm và làm gương cho đơn vị khác.

- Kê khai thiếu doanh thu

Trong đời sông kinh tế chính trị hiện nay, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệpthường hoạt động hết sức đa dạng kinh doanh nhiều ngành nghề khác nhau nên cũng cónhiều hình thức thu nhập khác nhau Vì vậy việc kê khai doanh thu đối với nhữngtrường hợp này rất khó chính xác và việc kiểm soát thu nhập của các doanh nghiệp nàyrất khó, thế nên khi kê khai doanh thu tính thuế thu TNDN có rất nhiều doanh nghiệplại bỏ qua hoặc không kê khai những khoản đó

Ví dụ: Cảng Nam Định không kê khai doanh thu dịch vụ bốc xếp là 50 triệu đồng,

Xí nghiệp may Vị Hoàng không kê khai khoản thu từ việc cho thuê máy móc là 64triệu đồng

Ngoài ra, một số đơn vị không kê khai doanh thu tiêu thụ nội bộ như: công ty Dệt NamĐịnh, công ty May Nam Định

Theo quy định của luật thuế TNDN, đơn vị có trách nhiệm kê khai doanh thu tính thunhập chịu thuế đối với các sản phẩm dùng để trao đổi biếu tặng Mặc dù vậy, một sốdoanh nghiệp vẫn cố tình không biết để không kê khai doanh thu các sản phẩm hànghoá cho mục đích này như công ty May Nam Định có giá trị hàng đổi hàng là 84 triệuđồng không đưa vào doanh thu

Đối với các trường hợp kể trên, để quản lý chặt chẽ các khoản doanh thu tính thuế củacác doanh nghiệp, yêu cầu đặt ra cho các cán bộ thuế là phải theo dõi sát sao, nắm bắtkịp thời tình hình kinh doanh và tất cả các hoạt động khác của đơn vị mà mình quản lý.Trong điều kiện hiện nay, do bỏ chế độ chuyển quản, cán bộ thuế không có nhiều dịp

để trực tiếp xuống cơ sở như trước nữa, do đó đòi hỏi cán bộ thuế phải linh hoạt, thunhận thông tin về hoạt động của doanh nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau Đặc biệt đốivới các đối tượng nộp thuế có nhiêu chi nhánh nằm ở nhiều địa bàn khác nhau thì cần

có sự phối hợp tốt giữa các cơ quan thuế ở các địa phương để đảm bảo hiệu quả chocông tác quản lý doanh thu tính thuế

Trang 14

- Bỏ sót hoá đơn dẫn đến giảm doanh thu.

Trong quá trình kiểm tra báo cáo quyết toán thuế tại các đơn vị, hiện tượng bỏ sót nhiềuhoá đơn không kê khai là một hiện tượng khá phổ biến dẫn đến giảm doanh thu tính thunhập chịu thuế của đơn vị mà những hàng hoá bị bỏ sót hoá đơn thường là những hànghoá có giá trị lớn như: công ty khách sạn Giao Tế bỏ sót hoá đơn đa kê khai thiếu doanhthu năm 2003 là 87 triệu đồng…

Hiện tượng trên có thể do công tác quản lý hoá đơn, sổ sách kế toán của đơn vị chưatốt, hoặc cũng có thể do đơn vị cố ý bỏ sót một số hoá đơn không kê khai nhất là nhữnghoá đơn có số tiền nhỏ nhưng số lượng hoá đơn nhiều đã làm giảm doanh thu nhưng lại

đổ lỗi cho công tác hạch toán kế toán còn hạn chế Khi xuống kiểm tra quyết toán thuếtại đơn vị, cán bộ thuế phải kiểm tra một cách kỹ lưỡng để phát hiện ra chỗ sai và tìm ranguyên nhân sai

Tóm lại, những nguyên nhân chính dẫn đến doanh thu tính thuế thu nhập chịu thuế kêkhai nhỏ hơn doanh thu thực tế là:

+ Đối tượng nộp thuế chưa có ý thức tự giác cao trong việc chấp hành luật thuếTNDN, cố tình cung cấp số liệu không chính xác cho cơ quan thuế nhằm trốn thuế + Đối tượng nộp thuế chưa thực hiện tốt các quy định về chế độ kế toán hiện hành, dẫnđến hạch toán sai doanh thu tính thu nhập chịu thuế trong kỳ

+ Do kê khai thiếu doanh thu từ một số hoạt động, một số nguồn thu nhập khác

+ Đối tượng nộp thuế quản lý sử dụng hoá đơn, chứng từ chưa tốt dẫn đến hiện tượng

bỏ sót hoá khi kê khai làm giảm doanh thu

Đối với tất cả các trường hợp trên, yêu cầu đặt ra đối với các cán bộ thuế khi xuốngkiểm tra quyết toán thuế tại đơn vị là phải nắm vững nghiệp vụ để có thể phát hiện rasai phạm và sai phạm đó do nguyên nhân nào…để từ đó còn có biện pháp phù hợp đểtăng cường quản lý doanh thu tính thuế

Tuy nhiên quản lý doanh thu tính thuế chỉ là một phần của công tác quản lý thu thuếTNDN Một phần quan trọng nữa của công tác quản lý thu thuế TNDN chính là quản lýcác khoản chi phí hợp lý

Ngày đăng: 05/11/2013, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:Tình hình thu thuế của Cục thuế Nam Định trong 3 năm gần đây. - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
Bảng 2 Tình hình thu thuế của Cục thuế Nam Định trong 3 năm gần đây (Trang 3)
2.2.2.1Tình hình thu thuế của phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định.      Tình hình thu thuế của phòng QLDN số1 được cụ thể là. - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
2.2.2.1 Tình hình thu thuế của phòng QLDN số1- Cục thuế Nam Định. Tình hình thu thuế của phòng QLDN số1 được cụ thể là (Trang 5)
Bảng 4: tình hình khai thiếu doanh thu ở một số đơnvị năm 2003. - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
Bảng 4 tình hình khai thiếu doanh thu ở một số đơnvị năm 2003 (Trang 10)
Bảng 6: tổng hợp công tác kiểm tra chi phí hợp lý ở 10 đơn vị.                                                                             (đơn vị 1000đ)                                                                         - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
Bảng 6 tổng hợp công tác kiểm tra chi phí hợp lý ở 10 đơn vị. (đơn vị 1000đ) (Trang 16)
Bảng 8: Một số đơnvị nợ đọng thuế TNDN điển hình thuộc quản lý của phòng QLDN số1, 31/12/2003(đơn vị 1000đ) - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TNDN ĐỐI VỚI CÁC DNNN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
Bảng 8 Một số đơnvị nợ đọng thuế TNDN điển hình thuộc quản lý của phòng QLDN số1, 31/12/2003(đơn vị 1000đ) (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w