1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lợi nhuận và sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp ttrong điều kiện hiện nay

25 481 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lợi nhuận và sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay
Chuyên ngành Kinh tế học
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 79,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, lợi nhuận là kết quả tàichính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và được xác định bằng khoảntiền chênh lệch giữa doanh thu với toàn bộ chi phí bỏ ra để có được doan

Trang 1

Lợi nhuận và sự cần thiết phấn đấu tăng lợi nhuận của các doanh nghiệp ttrong điều kiện hiện nay

1.1.lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp

1.1.1.Lợi nhuận

a) Khái niệm.

Nền kinh tế nước ta khi còn là nền kinh tế bao cấp, vai trò của lợi nhuận khôngđược chú ý đến, các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh theo kế hoạch củaNhà nước, việc lỗ lãi không ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.Nhưng từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhìn chung các doanh nghiệpđều tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận

Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là việc thực một số hoặc tất cảcác công đoạn của quá trình đầu, từ việc bỏ tiền ra mua sắm nguyên vật liẹu lẫn vật tưcần thiết khác phục vụ cho quá trình sản xuất, tiến hành sản xuất, tiêu thụ sản phẩmhoặc cung ứng trên thị trường Doanh nghiệp nào khi kết thúc kinh doanh đều thu vềmộtt khoản tiền nhất định gọi là doanh thu Với nức doanh thu này, doanh nghiệp trích

ra một khoản để bù đắp chi phí đã bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh Phần cònlại sau khi trừ đi các chi phí khác gọi là lợi nhuận Như vậy, lợi nhuận là kết quả tàichính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh và được xác định bằng khoảntiền chênh lệch giữa doanh thu với toàn bộ chi phí bỏ ra để có được doanh thu đó

b)Nội dung,phương pháp xác định lợi nhuận

Từ định nghĩa về lợi nhuận ta có thể khái quát phương pháp xác định lợi nhuậnnhư sau:

Lợi nhuận = Doanh thu - Thuế gián thu - Chi phí tương ứng

Trong đó, doanh thu là toàn bộ khoản tiền mà doanh nghiệp thu được khi kếtthúc mỗi quá trình kinh doanh, do các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp mang lại Thuế gián thu là các loại thuế được cấu thành trong giá bán sảnphẩm, doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước sau khi có được doanh thu bán hàng Cònchi phí là biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động vật hoá, lao động sống mà

Trang 2

doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh để tạo ra thu nhập tươngứng.

Tổng lợi nhuận doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinhdoanh và lợi nhuận từ hoạt động khác Nói cách khác lợi nhuận được tính riêng chotừng hoạt động

Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh

Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh là khoản chênh lệch giữa doanh thuhoạt động sản xuất kinh doanh với toàn bộ các khoản chi phí tương ứng trong việcthực hiện các hoạt động sản xuất có được doanh thu đó

Doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh có được thông qua công tác tiêu thụcòn gọi còn gọi là doanh thu bán hàng, bao gồm toàn bộ số tiền bán sản phẩm, hànghoá, cung ứng các lao vụ, dịch vụ cho khách hàng(dã được thực hiện) Đây là bộ phậnchủ yếu chiếm tỷ trọng lớn nhát trong tổng doanh thu của doanh nghiệp và có ý nghĩaquyết định đối với sự tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế

Doanh thu tiêu thụ trước hết được dùng để nộp thuế gián thu cho Nhà nước, sau

đó bù đắp các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra T rong đó,chi phí cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh,nói cách khác chính kà giá thành toàn bộ sản phẩm, baogồm 3 loại: Giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp

Giá vốn hàng bán phản ánh trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, laovụ, dịch vụxuất bán trong kỳ, bao gồm các chi phí:

+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí về nguyên, nhiên vật liệu được sửdụng trực tiếp để tạo ra sản phẩm hàng hoá, dịch vụ

+ Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công,các khoản trích nộpcủa công nhân sản xuất trực tiếp mà doanh nghiệp phải nộp theo quy định(BHXH,BHYT, KPCĐ)

+ Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí sử dụng chung cho hoạt động sản xuấtkinh doanh trực tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ

Trang 3

Chi phí bán hàng: Là toàn bộ các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ hàng hoádịch vụ, bao gồm các chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển, quảng cáo, giới thiệusản phẩm, tiền lương trả cho công nhân viên bán hàng.

Doanh nghiệp bán hàng sau khi trừ thuế gián thu và các khoản chi phíkể trên thìđược gọi là lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Như vậy, ta có công thức sau:Lợi nhuận từ

Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh

Bên cạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể có các hoạt độngtài chính, hoạt động bất thường

Lợi nhuận từ hoạt động tài chính.

Trong đó:

Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm các khoản thu từ các hoạt động tài chínhnhư thu về lãi tiền gửi ngân hàn, lãi về tiền cho vay, các khonả lãi do đầu tư mua bánchứng khoán ngắn và dài hạn, thu từ hoạt động liên doanh, liên kết,…

Chi phí hoạt động tài chính là các cho phí có liên quan đến hoạt động tài chínhnhư chi phí cho việc môi giới, mua bán chứng khoán kể cả các khoản tổn thất trongđầu tư(nếu có), chi phí cho việc liên doanh liên kết, chi phí lãi tiền vay…

Lợi nhuận từ hoạt động khác.

Trong đó:

Trang 4

Doanh thu khác của doanh nghiệp là các khoản thu không thường xuyên như thu

về nhường bán tài sản cố định, thanh lý tài sản, cho thuê tài sản cố định hoạt động, thu

về các khoản nợ khó đòi đã xử lý, xoá sổ, các khoản nợ không xác định được chủ….Chi phí khác là các khoản chi phí xảy ra không thường xuyên như chi phí thanh

lý, nhợng bán TSCĐ, các khoản thiệt hại về sản phẩm hỏng trong sản xuất do ngừngsản xuất bất thương…

Khi đó, tổng lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định bằng công thức:

c)Ý nghĩa của chỉ tiêu lợi nhuận.

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh,

là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của mỗidoanh nghiệp

Toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có được tiến hành mộtcách hợp lý, tiết kiệm hay khôngđều được phản ánh khá rõ nét qua chỉ tiêu lợi nhuận.Nừu doanh nghiệp biết tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả,tiết kiệm chi phí ở từng khâu một cách hợp lý, cải tiến các hoạt động sản xuất kinhdoanh sao cho sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp luôn đợc thị trường chấp nhận thì

sẽ dẫn tới tăng thu, giảm chi, làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Ngược lại, nếudoanh nghiệp quản lý yếu kém, lãng phí nguyên vật liệu, phương hướng sản suất kinhdoanh nói chung và chiến lược sản phẩm nói riêng không hướng tới thị trường thìchắc chắn chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tiêu thụ sẽ tăng cao, sản phẩmkhông phù hợp nhu cầu thị trường, sẽ ứ đọng, tình trạng tăng chi giảm thu tất yếu dẫntới quy mô lợi nhuận bị thu hẹp, chỉ tiêu lợi nhuận bị giảm sút

Trang 5

Thêm vào đó, lợi nhuận còn là chỉ tiêu phản ánhchính xác khả năng tái sản xuất

mở rộng doanh nghiệp vì trong nền kinh tế thị trường thì lợi nhuận là một nguồn bổsung vốn rất quan trọng rất quan trọng đối với doanh ngiệp Cho nên chỉ tiêu lợinhuận không chỉ đánh giá được quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh đã qua củadoanh nghiệp mà còn hé mở phần nào khả năng phát triển trong tương lai của doanhnghiệp đó

Tuy nhiên, chỉ tiêu lợi nhuận không phải là chỉ tiêu duy nhất để đánh giá chấtlượng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì có còn có những hạn chếnhất định

Trước hết, do tính chất tổng hợp của mình, chỉ tiêu lợi nhuận chỉ phản ánh kếtquả của tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh Scủa doanhnghiệp Nhưng kết quả này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố lại ảnh hưởng ngượcchiều nhau như sản lượng và giá thành, do đó chúng bù trừ cho nhau, che lấp lẫnnhau Kết quả là chúng ta vẫn chưa thể đánh giá chính xác sự tác động của từng yếu tốđến lợi nhuận thu được và do vậy chưa thể đánh giá chính xác hiệu quả cũng như trình

độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ

Mặt khác lợi nhuận là một chỉ tiêu tuyệt đối, nó chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi đượcxem xét trong một điều kiện cụ thể nhất định( của một doanh nghiệp cụ thể trong mộtthời kỳ cụ thể )

Chỉ tiêu này chưa phản ánh được toàn diện mối tương quan giã yếu tố đầu vào vàyếu tố đầu ra của quá trình sản xuất(tình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp) chưa thểdùng để so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các thời kỳkhác nhau hay so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp trongcùng một thời kỳ vì không có cùng mặt bằng so sánh về vốn, về điều kiện công nghệ,thiết bị sản xuất, thị trường tiêu thụ…

Do đó, đánh giá một cách toàn diện và chính xác vấn đề lợi nhuận mà rộng hơn

là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người ta còn xem xét các yếu tố

Trang 6

ảnh hưởng đến lợi nhuận và sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận hay còn gọi là doanhlợi.

1.1.2.Tỷ suất lợi nhuận.

Tỷ suất lợi nhuận, là một chỉ tiêu tương đối cho phép ta so sánh hiệu quả sảnxuất kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau trong một doanh nghiệp, giữa thực tế với

kế hoạch hoặc giữa các doanh nghiệp trong cùng một thời kỳ.Tỷ suất lợi nhuận càngcao càng chứng tỏ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh càng có hệu quả

Có nhiều cách xác định tỷ suất lợi nhuận, mỗi cách chứa đựng một nội dung kinh

tế khác nhau, thông thường các doanh nghiệp sử dụng các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuậnsau đây: Tỷ suất lợi nhuận vốn, tỷ suât lợi nhuận giá thành, tỷ suất lợi nhuận doanhthu tiêu thụ

Tỷ suất lợi nhuận vốn.

Tỷ suất lợi nhuận vốnlà quan hệ tỷ lệ giữa số lợi nhuận đạt được(lợi nhuận trướcthuế hoặc lợi nhuận ròng) với số vốn kinh doanh sử dụng bình quân trong kỳ Côngthức xác định như sau:

Tsv(%) = Vbq

P(Pr)

x100%

Trong đó:

Tsv : Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (doanh lợi vốn)

P(Pr):Lợi nhuận (lợi nhuận ròng) trong kỳ

Vbq : Tổng vốn kinh doanh sử dụng bình quân

Vbq = 2

Vck k

V +

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn lưu động:

Trang 7

Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất, thể hiện trình độ sử dụng tài sản, vật tư,tiền vốncủa doanh nghiệp, thông qua đó thúc đẩy doanh nghiệp tìm kiếm và phát huy nhữngkhả năng tiềm tàng của mình nhằm quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả cao.

Tỷ suất lợi nhuận giá thành.

Tỷ suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ (trước thuếhoặc sau thuế) so với giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ củadoanh nghiệp Nó có thể tính riêng cho từng loại sản phẩm hoặc tính chung cho toàn

Tsg : Tỷ suất lợi nhuận giá thành(doanh lợi giá thành)

P(Pr): Lợi nhuận(lợi nhuận ròng) trong kỳ

Zt : Giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá tiêu thụ trong kỳ

Chỉ tiêu này cho ta biết cứ một đồng chi phí bỏ ra cho sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm dịch vụ trong kỳ thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Thông qua đó, có thể thấy

Trang 8

rõ hiệu quả của việc bỏ chi phí vào sản xuất và tiêu thụ như thế nào Tỷ suất này càngcâo chứng tỏ việc đầu tư của doanh nghiệp càng có hiệu quả.

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu.

Tỷ suất lợi nhuận doanh thu là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước hoặc sau thuếvới doanh thu tiêu thụ sản phẩm dịch vụ, hàng hoá trong kỳ của doanh nghiệp

Công thức xác định như sau:

Tst(%) = Dt

P(Pr)

x 100%

Trong đó:

Tst(%) : Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng

P(Pr) : Lợi nhuận(lợi nhuận ròng) trong kỳ

Doanh thu : Doanh thu tiêu thụ sản phẩm dịch vụ trong kỳ

Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳmang lạibao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất này càng cao chứng tỏ hoạt động sản xuất kinhdoanh và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp càng có hiệu quả

Việc sử dụng các chỉ tiêu ở trên đã giúp thực hiện được sự so sánh về hiệu quảsản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp có mựt bằng sản xuất kinh doanh khácnhau, so sánh giữa chất lượng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với mức trungbình của nghành…Trên cơ sở đó, có thể đưa ra kết luận đúng đắnvề hiệu quả kinhdoanh của doanh nghiệp, từ đó tìm ra nguyên nhân và đề ra các giải pháp đúng đắn để

xử lý

Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu.

Là tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng và số vốn chủ sở hữu tham gia kinh doanh trong kỳ.Công thức xác định:

Trang 9

Tsh(%) = Vcsh

Pr

x 100%

Trong đó:

Tsh(%) : Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu

Vcsh : Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ

Pr : Lợi nhuận sau thuế

Đây là chỉ tiêu được các chủ sở hữu quan tâm nhất, nó thể hiện nếu bỏ một đồngvốn chủ sở hữu để kinh doanh thì sau cùng sẽ mang lại cho họ ba nhiêu đồng lợinhuận

Ngoài các chỉ tiêu doanh lợi(tỷ suất lợi nhuận) phổ biến kể trên, người ta còn cóthể sử dụng các chỉ tiêu doanh lợi khác như: Doanh lợi vốn đi vay, doanh lợi vốn cốđịn,h, doanh lợi vốn lưu động…để đánh giá và so sánh kết quả kinh doanh trongnhững năm cần thiết

1.2 Sự cần thiết phảI phấn đấu tăng lợi nhuận của doanh nghiệp trong đIều kiện hiện nay

1 2.1.Ý nghĩa, tầm quan trọng của lợi nhuận.

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh,

do vậy nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và toàn

bộ nền kinh tế quốc dân nói chung, ý nghĩa đó được thể hiện như sau

- Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh và là mục đích hoạt động kinh doanh của mộtdoanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinhdoanh không kể thuộc thành phần kinh tế nào, hoạt động trong lĩnh vực nào, khi tiếnhành các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có chung một mục đích là tìm kiếm lợinhuận Chỉ khi sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp mới thu được lợinhuận Do vậy, lợi nhuận chính là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả và mục đích hoạt độngcủa sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận ítđồng nghĩa với việc doanh nghiệp không đạt được mục tiêu kinh doanh của mình

Trang 10

- Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng sản xuất kinh doanh củamột doanh nghiệp Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu

và chi phí đã bỏ ra để thu được số doanh thu đó Mọi biện pháp để tăng doanh thu, tiếtkiệm chi phí sản xuất cuối cùng đều phản ánh ở quy mô của lợi nhuận của doanhnghiệp Vì vậy, thông qua xem xét chỉ tiêu lợi nhuận,ta có thể đánh giá được phần lớnchất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng để bù đắp các thiệt hại, rủi ro trongquá trình sản xuất kinh doanh Là nguồn tích luỹ để thực hiện tái sản xuất mở rộng ,

để thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước cũng như khuyến khích lợi ích vật chất đốivới người lao động trong doanh nghiệp

Lợi nhuận không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với từng doanh nghiệp mà nócòn có vai trò quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân Bởi vì đây cũng lànguồn thu quan trọng của Ngân sách nhà nước Hiện nay Nhà nước động viên lợinhuận của các doanh nghiệp vào ngân sách thông qua hình thức thuế thu nhập doanhnghiệp

1.2.2.Sự cần thiết phải phấn đấu tăng lợi nhuận.

Trước đây, nền kinh tế nước ta hoạt động trong cơ chế quản lý kế hạch hoá tậptrung, các doanh nghiệp được bao cấp hầu hết về vốn nên lợi nhuận không phát huyđược vai trò của mình bởi vì các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không hoàn toànquan tâm đến mục đích tìm kiếm lợi nhuận

Nhưng từ khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường vớinhiều thành phần kinh tế cùng song song tồn tại và có sự sạnh tranh mạnh mẽ thì lúcnày vai trò cũng như ý nghĩa của lợi nhuận được bộc lộ rõ nét và trở nên quan trọnghơn bao giờ hết

Việc doanh nghiệp luôn quan tâm đến vấn đề lợi nhuận và không ngừng phấnđấu tăng lợi nhuận xuất phát lý do sau :

Xuất phát từ vai trò của lợi nhuận đối với các doanh nghiệp

Trang 11

Lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ánh kết quả cuối cùng của toàn bộhoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , nó đóng vai trò vô cùng quan trọngđối với sự phát triển của doanh nghiệp nói riêng và sự tăng trưởng của toàn bộ nềnkinh tế xã hội nói chung

Trong thời kỳ bao cấp trước đây ,vai trò của lợi nhuận chưa được quan tâm đúngmức ,do đó nó chưa bộc lộ được tầm quan trọng của mình Vai trò của lợi nhuận chỉthực sự bộc lộ khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và lúc này chính lợinhuận sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Vai trò cũng như tầmquan trọng của lợi nhuận được thể hiện qua những điểm chủ yếu sau :

Trước hết lợi nhuận là thước đo, là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh chất lượng hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua chỉ tiêu lợi nhuận cho phépchúng ta có thể đánh giá nhiều mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

từ khâu cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất đến khâu trực tiếp sản xuất và tiêu thụsản phẩm cũng như trình độ tổ chức và quản lý lao động , quản lý và sử dụng vốn sảnxuất kinh doanh …

Bên cạnh đó lợi nhuận của doanh nghiệp còn là nguồn thu khá quan trọng củangân sách Nhà nước được thể hiện dưới hình thức thuế thu nhập doanh nghiệp Nếucác doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thu được lợi nhuận và lợi nhuận ngày càngcao thì nguồn thu ngân sách của Nhà nước theo đó cũng tăng lên, từ đó góp phần thúcđẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân

Ngoài ra lợi nhuận còn là nguồn tích luỹ quan trọng của doanh nghiệp dùng để

bổ sung vốn lưu động và vốn cố định, tạo thế và lực mới cho doanh nghiệp mở rộnghoạt động sản xuất kinh doanh Bởi vì chỉ có lợi nhuận thì doanh nghiệp mới có thểtrích lập các quỹ của doanh nghiệp, tạo ra nguồn vốn đáp ứng cho hoạt động sản xuất,đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho toàn thểcác bộ công nhân viên thông qua các khoản chi về phúc lợi xã hội, khen thưởng

Lợi nhuận còn là đòn bẩy kinh tế có hiệu lực nhất tác động đến mọi hoạt độngcủa doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay đòi hỏi các doanh

Trang 12

nghiệp phải thực hiện tốt nguyên tắc hạch toán kinh doanh.Yêu cầu của nguyên tắcnày là lấy thu bù chi và có lợi nhuận, nhất là lợi nhuận ròng Muốn vậy các doanhnghiệp cần phải tận dụng những nguồn dự trữ nội bộ, sử dụng lao động hợp lý cóhiệu quả, tiết kiệm nguồn vốn nhằm đem lại hiệu qủa kinh tế cao nhất.Hơn nữa lợinhuận còn có vai trò kích thích người lao động quan tâm hơn đến kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc sử dụng phần lợi nhuận để lạicho doanh nghiệp hình thành các quỹ khen thưởng, phúc lợi dành cho người lao độngmột cách hợp lý sẽ góp phần giải quyết mối quan hệ giữa ba lợi ích : lợi ích của ngườilao động, lợi ích của doanh nghiệp, lợi ích của Nhà nước.

Lợi nhuận của doanh nghiệp cao hay thấp sẽ tác động trực tiếp dến uy tín củadoanh nghiệp Một doanh nghiệp nếu làm ăn thua lỗ, khả năng thanh toán yếu kém sẽlàm mất uy tín doanh nghiệp, thậm trí mất khả năng thanh toán trong một thời gian dài

sẽ đẫn đến việc doanh nghiệp bị phá sản hay bị giải thể Ngược lai nếu doanh nghiệplàm ăn phát đạt có hiệu quả thu được lợi nhuận cao không những có khả năng thanhtoán ổn định mà còn nâng cao được uy tín của mình trên thương trường góp phần tạođiều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càngtăng trưởng

Thực tế đã chứng minh rằng bất cứ doanh nghiệp nào dù là doanh nghiệp Nhànước hay tư nhân, doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương mại khi đã tạo rađược thữ tín trên thương trường thì các hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng pháttriển , hoạt động có hiệu quả và lợi nhuận thu được ngày càng cao

Tóm lại, lợi nhuận có vai trò quan trọng đối với các doanh nghiệp nói riêng vàvới toàn bộ nền kinh tế xã hội nói chung ,vì vậy phấn đấu tăng lợi nhuận có ý nghĩađặc biệt quan trọng

Đối với các doanh nghiệp, phấn đáu tăn g lợi nhuận sẽ tạo cho doanh nghiệp cóđIều kiện mở rộng phát triển sản xuất, tăng vốn kinh doanh ,đổi mới máy móc thiết bị,

áp dụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất, từ đó không ngừng phát triển hoạtđộng sản xuất kinh doanh

Ngày đăng: 05/11/2013, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w