1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

17 209 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Lý Luận Tổ Chức Hạch Toán Chi Phí Sản Xuất Và Tính Giá Thành Sản Phẩm Trong Các Doanh Nghiệp Sản Xuất
Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 83,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại giá thành Giá thành kế hoạch căn cứ vào thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành, giá thành kế hoạch được tính trước khi sản xuất kinh doanh trên cơ sở giá thành thực

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT

I CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ PHÂN LOẠI CHI PHÍ SẢN XUẤT

1 Chi phí sản xuất:

1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các chi phí về lao động sống và lao động vật hoá cần thiết mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản về chi phí và chi phí lao động, chi phí về vật tư lao động và đối tượng lao động Sự tham gia của các yếu tố sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có sự khác nhau và nó hình thành các khoản chi phí tương ứng

Chi phí sản xuất gắn liền với sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn Vì thế, quản lý chi phí sản xuất thực chất là việc quản lý, việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm các loại tài sản, vật tư của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh Mặt khác, chi phí sản xuất là cơ sở tạo nên giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch

vụ hoàn thành nên quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất là mục tiêu hạ giá thành sản phẩm

Như vậy, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nền kinh tế hàng hoá thì biểu hiện bằng tiền của những hao phí lao động vật hoá và lao động sống cần thiết của doanh nghiệp phải chi ra trong một kỳ để tiến hành sản xuất kinh doanh được gọi là chi phí sản xuất Nội dung của nó bao gồm các yếu tố như: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

Do đó, việc tập hợp chi phí sản xuất cần phải được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định không phân biệt sản phẩm đã hoàn thành hay chưa Để quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được chặt chẽ, làm cơ sở cho việc phân tích quá trình phát sinh chi phí sản xuất hình thành giá thành sản phẩm cũng như kết cấu tỷ trọng của chi phí sản xuất, người ta cần tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo một số tiêu thức khác nhau

2 Phân loại chi phí sản xuất

Phân loại chi phí sản xuất là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác chi phí sản xuất, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm

Chi phí sản xuất kinh doanh có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau và tuỳ thuộc vào mục đích yêu cầu quản lý Tuy nhiên, về mặt hạch toán chi phí sản xuất thường được phân theo các tiêu thức khác nhau

2.1 Phân loại theo yếu tố chi phí

Theo quy định hiện hành, toàn bộ chi phí được chi thành 7 yếu tố chi phí sau:

- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu

Trang 2

- Yếu tố nhiên liệu, động lực

- Yếu tố tiền lương và các khoản phụ cấp lương

- Yếu tố BHXH, BHYT, KDCĐ

- Yếu tố khấu hao tài sản cố định

- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài

- Yếu tố chi phí bằng tiền khác

2.2 Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm

Để thuận lợi cho việc tính giá thành toàn bộ chi phí được phân theo khoản mục, cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) ở Việt Nam bao gồm 3 khoản mục chi phí: - Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

- Chi phí nhân công trực tiếp

- Chi phí sản xuất chung

Ngoài ra, khi tính chỉ tiêu giá thành toàn bộ (giá thành đầy đủ) thì chỉ tiêu giá thành còn bao gồm khoản mục chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng

2.3 Phân loại theo cách thức kết chuyển chi phí

Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ

- Chi phí sản phẩm: Là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua

- Chi phí thời kỳ: Là những chi phí làm giảm lợi tức trong một kỳ Nó không phải là một phần giá trị sản phẩm được sản xuất ra hoặc được mua nên được xem

là các phí tổn cần được khấu trừ ra từ lợi tức của thời kỳ mà chúng phát sinh (bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp)

2.4 Phân loại theo quan hệ của chi phí và khối lượng công việc sản phẩm hoàn thành

Để việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí thuận tiện đồng thời làm căn cứ để

ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được phân theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành Theo cách này chi phí được chia thành biến phí và định phí

- Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với công việc hoàn thành (chẳng hạn chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp) Tuy nhiên, các chi phí biến đổi nếu tính trên một đơn vị sản phẩm lại có tính cố định

- Định phí: Là những chi phí không đổi về tổng số, về tỷ lệ so với công việc hoàn thành (chẳng hạn chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh ) Các chi phí này nếu tính cho một đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu như số lượng sản phẩm thay đổi

II Giá thành sản phẩm

Trang 3

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm lao

vụ, dịch vụ đã hoàn thành

1 Phân loại giá thành

Giá thành kế hoạch căn cứ vào thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành, giá thành kế hoạch được tính trước khi sản xuất kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế của kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch

- Giá thành thực tế sản phẩm, dịch vụ là toàn bộ hao phí, của các yếu tố dùng để tạo ra sản phẩm, dịch vụ trong đó bao gồm quản lý NVLTT, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm dịch vụ hoàn thành

Giá thành sản phẩm sản xuất được tính:

Giá thành

sản xuất thực tế

của sản phẩm

sản xuất sản phẩm dở dang đầu kỳ

sản xuất phát sinh trong kỳ

- Chi phí sản xuất sản phẩm dở dang cuối kỳ

- Giá thành định mức: Là giá thành được xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm và được xây dựng trên cơ sở xác định mức chi phí hiện hành tại thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch thường vào ngày đầu tháng, giá thành định mức

có thể thay đổi do giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình sản xuất sản phẩm

- Giá thành toàn bộ: là chi phí thực tế của số sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ và chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp của một số sản phẩm dịch vụ đó

Công thức tính:

Giá thành

toàn bộ

= Giá thành sản xuất thực tế của sản phẩm dịch vụ

đã tiêu thụ

+ Chi phí bán hàng phân bổ cho sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ

+ Chi phí QLDN phân bổ cho sản phẩm, dịch

vụ đã tiêu thụ

2 Ý nghĩa của chỉ tiêu giá thành

Giá thành là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hoá, đó là một phạm trù kinh tế khách quan, đồng thời có đặc tính chủ quan trong một giới hạn nhất định Giá thành còn là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Để xem xét việc quản lý giá thành, người ta căn cứ chỉ tiêu mức hạ giá thành và tỷ lệ

hạ giá thành Thông qua hai chỉ tiêu này có thể thấy được trình độ sử dụng hợp lý, tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu, khả năng tận dụng công suất máy móc thiết bị sản xuất và mức độ trang bị áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến kết quả của việc sử dụng hợp lý sức lao động, tăng năng suất lao động và trình độ quản lý kinh tế - tài chính, trình độ hạch toán của doanh nghiệp

Trang 4

3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.

Về thực chất chi phí sản xuất và giá thành là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất Tất cả những khoản chi phí phát sinh và chi phí tính trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu toàn bộ khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra ở bất kể kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng công việc sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ

Sơ đồ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm

CPSX dở dang đầu kỳ

CPSX phát sinh trong kỳ

Tổng giá thành sản phẩm

hoàn thành

CPSX dở dang cuối

kỳ

Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD - CD

Tổng giá thành

sản phẩm

= CPSX dở dang

đầu kỳ

+ Chi phí sản xuất phát sinh trong

kỳ

- Chi phí sản xuất

dở dang cuối kỳ

Khi giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc các ngành sản xuất không có sản phẩm dở dang thì tổng giá thành sản phẩm bằng tổng chi phí phát sinh trong kỳ

4 Ý nghĩa của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Hạch toán chi phí sản xuất là một hình thức quản lý kinh tế có kế hoạch của doanh nghiệp Nó đòi hỏi phải dùng đến tiền tệ để đo lường, đánh giá kết quả hoạt động kinh tế, phải bù đắp được những chi phí bỏ ra bằng chính doanh thu của mình trên cơ sở tiết kiệm vốn và đảm bảo có lãi Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, đảm bảo tích luỹ, tạo điều kiện cho việc mở rộng không ngừng tái sản xuất mở rộng trên cơ sở áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng cao và nâng cao phúc lợi cho người lao động

5 Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Để đáp ứng được những yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

- Xác định đúng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm

- Tổ chức kế toán tập hợp các chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã xác định và phương pháp kế toán tập hợp chi phí thích hợp - Xác định chính xác chi phí về sản phẩm làm dở cuối kỳ

Trang 5

- Thực hiện tính giá thành sản phẩm kịp thời, chính xác theo đúng đối tượng tính giá thành và phương pháp tính giá thành hợp lý

Thực hiện phân tích tình hình thực hiện định mức, dự toán chi phí sản xuất, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm để có những kiến nghị đề suất cho lãnh đạo doanh nghiệp ra các quyết định thích hợp trước mắt cũng như lâu dài đối với sự phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

III Đối tượng, phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

1 Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất:

Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất ở doanh nghiệp được xác định tuỳ thuộc vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, vào yêu cầu của công tác quản lý giá thành Bởi thế, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất có thể là mới phát sinh chi phí như phân xưởng, tổ, đội sản xuất, giai đoạn công nghệ hoặc có thể là đối tượng chịu chi phí như chi tiết, bộ phận sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng Như vậy, xác định đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là việc xác định giới hạn tập hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi chi phí phát sinh và nơi chịu chi phí Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là công việc đầu tiên, định hướng cho toàn bộ công tác tập hợp chi phí sản xuất sau này Trên cơ sở xác định đúng, thích hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất mà tổ chức ghi chép ban đầu, tổ chức bộ sổ kế toán phù hợp để từ đó phân công công tác rõ ràng cho nhân viên kế toán theo dõi việc thực hiện công tác của mình theo đúng chế độ quy định

Có nhiều phương pháp hạch toán chi phí sản xuất khác nhau tuỳ theo đối tượng hạch toán ở từng doanh nghiệp Trong thực tế thường áp dụng một số phương pháp hạch toán chi phí sau:

- Hạch toán chi phí theo sản phẩm

- Hạch toán chi phí theo chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm

- Hạch toán chi phí theo nhóm sản phẩm - Hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng

2 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm

2.1 Đối tượng tính giá thành:

Việc xác định đối tượng tính giá thành được dựa trên các cơ sở sau:

* Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất:

- Với sản xuất giản đơn, đối tượng tính giá thành là sản phẩm cuối cùng

- Với sản xuất phức tạp, đối tượng tính giá thành là bán thành phần ở từng bước chế tạo hay thành phẩm ở bước chế tạo cuối cùng

* Loại hình sản xuất: Đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất hàng loạt với khối lượng lớn

- Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng tính giá thành sản phẩm của từng đơn

Trang 6

- Điều kiện sản xuất hàng loạt khối lượng lớn, đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng hay bán thành phẩm ở từng bước chế tạo

* Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh

- Với trình độ cao, có thể chi tiết đối tượng tính giá thành ở các góc độ khác nhau

- Với trình độ thấp, đối tượng tính giá thành có thể bị hạn chế và thu hẹp lại Nếu đặc điểm của doanh nghiệp cùng một quy trình sản xuất, cùng một loại vật liệu nhưng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau thì đối tượng tính giá thành

có thể quy về một loại sản phẩm gốc (sản phẩm tiêu chuẩn) để sau đó tính ra giá thành các loại sản phẩm khác Đối tượng tính giá thành là sản phẩm, bán thành phẩm, công việc hoặc lao vụ nhất định đòi hỏi phải xác định tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm Đơn vị giá thành của từng loại sản phẩm, lao vụ, dịch vụ phải thống nhất và phù hợp với thị trường

2.2 Phương pháp tính giá thành sản phẩm

Phương pháp tính giá thành là một phương pháp hay hệ thống phương pháp được sử dụng để tính tổng giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị sản phẩm

* Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn): Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại h ình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất và khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than, gỗ)

Giá thành sản phẩm theo phương pháp này được tính

Tổng giá thành

sản phẩm

= Tổng chi phí sản xuất thực tế phát sinh

trong kỳ

+ Chênh lệch giá trị SPDD đầu kỳ so với

cuối kỳ Giá thành đơn vị sản phẩm =

* Phương pháp tổng cộng chi phí: Được áp dụng đối với các doanh nghiệp

mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản xuất tạo nên thành phẩm

Giá thành sản phẩm = Z1 + Z2 + + Zn

Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp khai thác, dệt nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc

* Phương pháp hệ số:

Phương pháp này được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động

Trang 7

nhưng đồng thời thu được nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm mà phải tập trung cho cả quá trình sản xuất Theo phương pháp này, trước hết kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, rồi từ đó đưa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành sản phẩm đã được tập hợp để tính giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm

Giá thành đơn vị sản phẩm gốc =

Giá thành đơn vị

sản phẩm từng loại

= Giá thành đơn vị

sản phẩm gốc

x Hệ số quy đổi từng loại sản phẩm Trong đó:

Số lượng sản phẩm quy đổi =

Tổng giá thành

sản xuất của các

loại sản phẩm

= Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ

+ Tổng chi phí phát sinh trong

kỳ

- Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ

* Phương pháp tỷ lệ: Được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm chất khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo (dụng cụ, phụ tùng ) Để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại Căn

cứ vào tỷ lệ chi phí giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch (hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm từng loại

Giá thành thực tế

đơn vị sản phẩm từng

loại

= Giá thành kế hoạch

(hoặc định mức) đơn

vị sản phẩm từng loại

chi phí

Trong đó:

Tỷ lệ chi phí = x 100

Tổng giá thành

thực tế từng loại sản

phẩm

= Giá thành thực tế đơn vị sản phẩm từng

loại

x Số lượng sản

phẩm từng loại

* Phương pháp loại trừ sản phẩm phụ:

Đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính còn có thể thu được các sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường, rượu, bia ) để tính giá trị sản phẩm chính, kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm Giá trị sản phẩm phụ có thể xác định theo nhiều phương pháp như giá có thể sử dụng được, giá ước tính, giá kế hoạch, giá nguyên liệu ban đầu

Trang 8

giá thành

sản phẩm

chính

sản phẩm chính dở dang đầu kỳ

chi phí phát sinh trong kỳ

sản phẩm phụ thu hồi

sản phẩm chính dở dang cuối kỳ

* Phương pháp liên hợp: Là phương pháp áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như doanh nghiệp sản xuất hoá chất, dệt kim, đóng giầy, may mặc

Trên thực tế, kế toán có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ, hệ số với loại trừ sản phẩm phụ

* Phương pháp tính giá thành phân bước

Tính giá thành phân bước theo phương án hạch toán có bán thành phẩm: Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu cầu hạch toán kinh tế nội bộ cao hoặc bán thành phẩm ra ngoài Đặc điểm của phương

án hạch toán này là khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công nghệ, giá trị bán thành phẩm của các bước trước chuyển sang bước sau được tính theo giá thành thực tế và được phản ánh theo từng khoản mục chi phí gọi là kết chuyển tuần

tự Trình tự tập hợp chi phí và tính giá thành theo phương án này có thể phản ánh qua sơ đồ sau:

+ Có tính giá thành bán thành phẩm

Sơ đồ

+ Phương án không có bán thành phẩm

Theo phương án này, kế toán không cần tính giá thành bán thành phẩm trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách tổng cộng chi phí nguyên vật liệu chính và các chi phí chế biến khác trong giai đoạn công nghệ

Có thể phản ánh phương án này qua sơ đồ sau:

Chi phí nguyên vật liệu chính cho thành

phẩm

Tổng

giá

thành

sản

Trang 9

Chi phí bước 1 tính cho thành phẩm

Chi phí bước 2 tính cho thành phẩm

Chi phí bước tính cho thành phẩm

Chi phí bước n tính cho thành phẩm

4 Các hình thức sổ sách:

Với mỗi doanh nghiệp thì có một hình thức tổ chức sổ kế toán riêng phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ở Việt Nam hiện nay áp dụng cho các doanh nghiệp 1 trong 4 hình thức sổ kế toán sau: * Hình thức Nhật ký chung: Đặc trưng cơ bản của hình thức này là theo trình tự thời gian phát sinh và định khoản kế toán của nghiệp vụ đó Sau đó lấy số liệu từ Nhật ký chung để ghi vào sổ cái theo từng nghiệp vụ phát sinh Hình thức này gồm các loại sổ kế toán chủ yếu sau:

- Sổ Nhật ký chung

- Sổ Cái

- Các sổ, Thẻ kế toán chi tiết

* Hình thức Nhật ký - Sổ cái: Theo hình thức này các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế trên cơ

sở Nhật ký - Sổ cái Căn cứ để ghi Nhật ký - Sổ cái là chứng từ gốc hay bảng tổng hợp chứng từ gốc Hình thức này gồm các loại sổ kế toán sau:

- Sổ Nhật ký - Sổ cái

- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết

* Hình thức chứng từ - ghi sổ: Là hình thức sổ kế toán tổng hợp giữa ghi sổ theo thời gian trên sổ Đăng ký chứng từ Ghi sổ

- Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu liên tục trong từng tháng hoặc cả năm (theo số thứ tự trong sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ), và có chứng từ gốc đính kèm phải được kế toán trưởng duyệt trước khi ghi sổ kế toán Bao gồm:

- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ

- Sổ cái

- Các sổ, thẻ kế toán chi tiết

* Hình thức Nhật ký - Chứng từ: là hình thức tổ chức sổ kế toán chung để tập hợp và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo bên Có của các tài

Trang 10

khoản kết hợp với việc phân tích các nghiệp vụ theo bên Nợ của các tài khoản đối ứng Hình thức này bao gồm:

- Nhật ký chứng từ

- Bảng kê (số 4, 5, 6 và Nhật ký chứng từ số 07)

- Sổ cái

- Sổ, thẻ kế toán chi tiết 3 Phương pháp tập hợp chi phí

3.1 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp thực hiện kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên

a Hạch toán chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu được xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm

Đối với những vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, bộ phận sản xuất hoặc sản phẩm, loại sản phẩm lao vụ ) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó

Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, heo trọng lượng, số lượng sản phẩm

Chi phí vật liệu

phân bổ cho từng đối

tượng

= Tổng chi phí vật

liệu phân bổ

x Tỷ lệ (hay hệ số

phân bổ)

Tỷ lệ (hay hệ số phân bổ) =

* Tài khoản sử dụng:

Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng TK

621 - Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp

Tài khoản này được mở chi tiêu theo từng đối tượng tập hợp chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất)

Bên Nợ: Giá trị nguyên, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ

Bên có: - Giá trị nguyên, vật liệu xuất dùng không hết nhập kho hay chuyển

kỳ sau

- Kết chuyển chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp vào TK 154 - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang

TK 621 không có số dư cuối kỳ

* Phương pháp hạch toán

- Xuất kho nguyên vật liệu, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ Nợ TK 621 (chi tiết theo từng đối tượng)

Có TK 152 (chi tiết vật liệu): giá trị thực tế xuất dùng theo từng loại

- Trường hợp niên vật liệu về không nhập kho mà xuất dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm hay thực hiện lao vụ, dịch vụ Căn cứ vào giá thực tế xuất dùng,

kế toán ghi:

Nợ TK 621

Ngày đăng: 05/11/2013, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. - CƠ SỞ LÝ LUẬN TỔ CHỨC HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Sơ đồ m ối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm (Trang 4)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w