1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Những dấu ấn của tiểu thuyết mới trong văn chương đô thị miền Nam (1954-1975)

19 34 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết có thể giúp ích trong việc nhận thức các chuyển dịch tương đồng của tiến trình hiện đại hóa văn chương, phản ánh nhu cầu tất yếu của việc cách tân văn xuôi hiện đại thông qua trường hợp văn chương đô thị miền Nam (1954- 1975).

Trang 1

ISSN:

1859-3100 Website: http://journal.hcmue.edu.vn

Bài báo nghiên cứu *

NHỮNG DẤU ẤN CỦA TIỂU THUYẾT MỚI TRONG VĂN CHƯƠNG ĐÔ THỊ MIỀN NAM (1954-1975)

Võ Quốc Việt

Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang, Việt Nam Tác giả liên hệ: Võ Quốc Việt – Email: voquocviet.trietdinh@gmail.com Ngày nhận bài: 17-11-2020; ngày nhận bài sửa: 19-12-2020, ngày chấp nhận đăng: 27-01-2021

TÓM TẮT

Trước khi bàn về các dấu ấn để lại trong sinh hoạt văn chương đô thị miền Nam 1954-1975, chúng tôi cho rằng cần phải nhìn lại Tiểu thuyết mới như một trào lưu nổi bật của văn chương Pháp hậu thế chiến thứ II Con đường truy vấn khởi đi từ Tiểu thuyết mới trong văn chương Pháp đến tiểu thuyết mới trong sự tiếp nhận của giới văn chương miền Nam; từ đó, chúng tôi xem xét các đặc trưng của Tiểu thuyết mới trong hoạt động dịch thuật, phê bình và sáng tác để bước đầu xác định vấn đề

“Tiểu thuyết mới” của văn chương đô thị miền Nam Việt Nam Bài viết có thể giúp ích trong việc nhận thức các chuyển dịch tương đồng của tiến trình hiện đại hóa văn chương, phản ánh nhu cầu tất yếu của việc cách tân văn xuôi hiện đại thông qua trường hợp văn chương đô thị miền Nam (1954-1975)

Từ khóa: Alain-Robbe Grillet; Hoàng Ngọc Biên; Samuel Beckett; Thanh Tâm Tuyền; Tiểu

thuyết mới

1 Mở đầu

Trào lưu Tiểu thuyết mới (Nouveau Roman/ New Novel) (Elaho, 2016, p.2-20) nổi lên

ở Pháp với các đại diện tiêu biểu như Samuel Beckett, Alain Robbe-Grillet, Michel Butor, Claude Simon, Nathalie Sarraute, Pierre Bourdier…; xuất hiện khoảng thập niên 1950-1960 (tất nhiên, sự chuẩn bị và yếu tố thúc đẩy cho sự xuất hiện của nó đã hình thành từ trước) Giữa các đại diện này, đôi chỗ vẫn khác nhau về quan niệm sáng tác và thể loại nhưng đều khởi đi từ việc xác lập tư duy nghệ thuật mới trong địa hạt văn xuôi bắt đầu từ các mối quan

hệ giữa thế giới, người viết, văn bản và người đọc Do đó, có thể không hoàn toàn kết nối với nhau như một “văn đoàn” thống nhất, nhưng các tác giả này cùng vượt thoát khỏi phạm

vi mà họ gọi là “tiểu thuyết truyền thống”

Ở Việt Nam, chúng tôi muốn nhắc lại ý kiến của Doãn Quốc Sỹ với biên khảo Văn học

và tiểu thuyết (1973) Mặc dù Tiểu thuyết mới không phải là đối tượng chính của biên khảo

này nhưng quan điểm và cách nhìn nhận của ông, cũng như thời gian ấn hành có độ lùi cần thiết cho việc nhìn nhận bao quát Theo Doãn Quốc Sỹ, có ba tiêu chí để nhìn nhận, phân

Cite this article as: Vo Quoc Viet (2021) Imprints of new novel in the Southern Vietnamese urban literature

(1954-1975) Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, 18(1), 153-171

Trang 2

loại và xem xét quá trình phát triển của thể loại: cốt truyện, nhân vật và bối cảnh “Từ khoảng

1950 trở đi, một số nhà văn trẻ khai phá một phong trào tiểu thuyết mới mà sau này được mệnh danh là “tiền tiểu thuyết” (pré–roman) hay “phản tiểu thuyết” (anti-roman) Đợt sóng mới này gồm những S Beckett, J Cayrol, Nathalie Sarraute, và đặc biệt là Alain Robbe Grillet” (Doan, 1973, p.247) Ông còn cho rằng có lẽ F Kafka chính là thủy tổ của ý hướng tiểu thuyết mới

Sơ Dạ Hương trên tuần báo Nghệ thuật số 26 cũng nhắc đến S Beckett như là người

tiên phong của phong trào Tiểu thuyết mới với những suy nghĩ và sáng tác từ trước thế chiến

II Nên việc xác định sự phát triển của phong trào này trong thập niên 1950-1960 của thế kỉ trước e rằng cũng chưa thật thỏa đáng Có lẽ, phong trào Tiểu thuyết mới cần được xác định như một quá trình vận động lâu dài để chuyển biến lần hồi bằng những sáng tác cụ thể trải dài từ đầu cho đến giữa thế kỉ XX với những công trình dần dà định hình tư trào, lan rộng với nhiều đại diện, góp phần vào sinh hoạt văn học bấy giờ Từ đây, ta có thể xác định Tiểu thuyết mới về cơ bản là một ý hướng phản kháng lại lối tiểu thuyết quen thuộc với các chất điểm cố định (nhân vật, cốt truyện – tình tiết, bối cảnh)

Trở lại, chúng ta bắt gặp tâm thế cầm bút của nhiều cây viết trẻ miền Nam bấy giờ, đặc biệt trong nhóm Sáng Tạo, cũng ấp ủ ý hướng “tạo phản” văn xuôi tiền chiến (văn xuôi truyền thống) Theo Huỳnh Phan Anh:

Tiểu thuyết mới ở Việt-nam? Có lẽ nên hiểu đây là giòng tiểu thuyết li khai với truyền thống

cũ, thuộc Tự lực Văn Đoàn, và nói rộng hơn, thuộc giai đoạn tiền chiến Đi tìm tiểu thuyết mới

ở Việt-Nam tức là đi tìm những yếu tố mới, những khám phá mới của nhà văn Việt-Nam những năm gần đây (Huynh, 1967a, p.3-9)

Việc xác định dấu ấn tiểu thuyết mới có thể thực hiện trên hai phương diện Thứ nhất: những yếu tố mới mà văn sĩ đương thời tiếp thu từ phong trào Tiểu thuyết mới Pháp Thứ hai: những khám phá mới của giới cầm bút dựa trên những ảnh hưởng ấy Và cũng theo Huỳnh Phan Anh, chúng ta có thể dựa trên bốn căn cứ để phân định sự li khai của tiểu thuyết bấy giờ với tiểu thuyết tiền chiến; theo đó có thể lập định cây bút hoặc dấu ấn ấy khởi đi từ Tiểu thuyết mới Pháp quốc Bốn căn cứ: 1) li khai với tiểu thuyết cũ; 2) ngôn ngữ mới; 3) lối nhìn mới; 4) vũ trụ quan mới Đây là những gợi mở đáng giá, làm giềng mối trong quá trình khảo cứu về dấu ấn Tiểu thuyết mới tại Nam Việt Nam những năm 1954-1975

Từ căn cứ và mối băn khoăn như đã nói, chúng tôi bước vào cuộc khảo sát vết tích Tiểu thuyết mới trong không gian văn học đô thị miền Nam Và cuộc khảo sát này chủ yếu triển khai trên ba phương diện: dịch thuật, lí luận và sáng tác

2 Tiểu thuyết mới du nhập vào sinh hoạt văn chương đô thị miền Nam

Ở phần này, chúng tôi đi từ việc định vị các đại diện tiêu biểu của Tiểu thuyết mới được giới văn chương đô thị miền Nam quan tâm Trên phương diện dịch thuật, các tác giả như S Beckett, A R Grillet, N Sarraute, M Butor rất được chú ý Các bài viết được chuyển ngữ chủ yếu trình bày quan điểm nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết nói riêng Cụ thể:

Trang 3

Michel Butor (1965), Regard double sur Berlin (Hoàng Ngọc Biên dịch); Michel Butor (1965), Đối thoại (Hoàng Ngọc Biên dịch); Phan Lạc Phúc trình bày và giới thiệu (1965),

Alain Robbe Grillet và quan niệm viết tiểu thuyết (phỏng vấn của Jacqueline Piatier và

Madeleine Chapsal); Nathalie Sarraute (1965), Kỉ nguyên của nghi hoặc (Thu Hoa dịch); Michel Butor (1966), Tiểu thuyết như một tìm kiếm (Hoàng Ngọc Biên dịch năm 1963; Samuel Beckett (viết 1946, xuất bản 1955), L'Expulsé (do Hoàng Ngọc Biên dịch, 1966); Pierre Henri Simon (1966), Những bông thơm của một văn chương hoa mĩ buồn rầu (bài do

R M Albérès phỏng vấn, người dịch?); Michel Butor (1966), Ngữ thức và nhà văn (Hoàng Ngọc Biên dịch); Alain Robbe-Grillet (1967), Bãi cát (Hoàng Ngọc Biên dịch); Alain Robbe-Grillet (1967), Trên những hành lang đường xe điện hầm (Hoàng Ngọc Biên dịch); Guy Dumur (1969), Samuel Beckett – Kẻ ẩn danh vĩ đại (Hoàng Tuyết Sơn dịch)…

Trên phương diện khảo cứu - phê bình, giới cầm bút miền Nam chủ yếu xoay quanh các tác giả thời danh của trào lưu Tiểu thuyết mới Bài viết nhìn chung không hướng đến bao quát mà chỉ nhắm đến chỗ “đắc địa”/ “then chốt” trong đặc trưng nghệ thuật và tư duy sáng tạo của từng đại diện Đa số bài viết công bố trên báo, tạp chí Vài chuyên khảo chỉ nhắc đến (liên hệ tới) Tiểu thuyết mới như yếu tố trong quá trình vận động sinh hoạt văn chương Hoàng Ngọc Biên, có lẽ là người bỏ ra nhiều tâm huyết nghiên cứu trào lưu này cùng với những bạn văn đương thời như Nguyễn Quốc Trụ, Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật… Bên cạnh “Biên Butor”, còn có những cây viết đáng chú ý như:

Lý Hoàng Phong (1961), Cách mạng ngày nay với văn học; Nguyễn Văn Trung (1965), Xây

dựng tác phẩm tiểu thuyết (in lần thứ hai); Sơ Dạ Hương (1966), Samuel Beckett – kẻ tiên phong trong phong trào tiểu thuyết mới; Huỳnh Phan Anh (1967), Đi tìm tiểu thuyết mới ở Việt Nam; Nguyễn Quang Hiện (1967), Thực tại xã hội với tiểu thuyết mới; Huỳnh Phan Anh

(1967), Hiện hữu của tác phẩm văn chương; Nguyễn Quốc Trụ (1967), Vấn đề ngôn ngữ

trong văn chương; Huỳnh Phan Anh (1968), Văn chương và kinh nghiệm hư vô; Huỳnh Phan

Anh (1968), Tư duy chống lại tư tưởng; Huỳnh Phan Anh (1968), Mấy trang rời; Hoàng Ngọc Biên (1969), Ghi nhận về một chuyển biến trong văn chương Pháp; Huỳnh Phan Anh (1972), Đi tìm tác phẩm văn chương (tiểu luận/phê bình); Doãn Quốc Sỹ (1973), Văn học

và tiểu thuyết; Doãn Quốc Sỹ (1974), Bàn về tiểu thuyết kì 4 – Kĩ thuật cổ điển dựng truyện – Bút pháp sống động… Tất nhiên, phạm vi ảnh hưởng của trào lưu thường không có những

ranh giới tuyệt đối; nên chúng tôi dựa trên những bài viết tiêu biểu cho thấy cốt lõi vấn đề còn để lại dấu ấn trong địa hạt văn xuôi miền Nam

Một trong những tên tuổi trước tiên cần đề cập: Samuel Beckett (1906-1989) Nhắc

đến Beckett, độc giả thường nghĩ đến En attendant Godot (1952); nhưng kì thực, tầm vóc

đồ sộ của Beckett chính ở hai cuốn tiểu thuyết Murphy (1938) và Molloy (1951) Sở dĩ nhắc

lại hai tác phẩm này bởi vì thông qua đó có thể nhìn thấy tính chất “quá độ” của quá trình tưởng chừng vẫn còn đang hăm hở trên bước đường tiến triển của văn xuôi Âu châu Hay chặng đường văn chương tranh đấu gắn liền với hai đại diện tiêu biểu: J P Sartre và A

Trang 4

Camus Chính ở lúc cật lực “dấn thân” của văn chương tranh đấu, lúc nó đang phô trương thanh thế thì tiểu thuyết Pháp đã ngấm ngầm biến đổi Các mầm móng của một chặng đường văn chương mới đã nhen nhóm từ nhiều phía, nhiều chiều, nhiều nơi, nhiều người, nhiều biểu hiện khác nhau trong địa hạt văn xuôi Pháp quốc bấy giờ

Về phần Beckett, ông góp phần chuyển dịch về phía văn xuôi “tiên phong” “Hư vô tính chỉ là một chặng, một đoạn, một cách thế đặt vào trong ngoặc những ý nghĩa có tính cách truyền thống mà lịch sử đã làm những ý nghĩa đó bị thay đổi, biến thái Sartre dẫn đến một cuộc cách mạng, Camus đưa đến một sự nổi loạn, riêng Beckett chẳng dẫn đến đâu cả” (So, 1966, p.10-11) Tại sao văn chương cần hướng đến một chiều sâu tư tưởng nào đó? Văn chương không nhằm để lí sự với cuộc đời? Ai trao cho văn chương nhiệm vụ đó? Tại sao nó chẳng thể đứng vững bằng chính “nội lực” văn thể Trải nghiệm chữ nghĩa tự tạo tác sinh giới mà chính nó có thể gánh vác sức nặng hiện hữu Con chữ không cầu viện luận thuyết Điều này gợi nhắc thời kì mà văn thể phải “chuyên chở” hệ thống ý niệm bên ngoài, không nằm trong sự có mặt chữ nghĩa của nó Vì thế, Beckett mong muốn và cố công để văn chương

tự gánh lấy cuộc diện chữ nghĩa Nó “là thế” một cách thuần túy Nhưng điều này không có nghĩa, nó và chữ nghĩa tự trói buộc và tự sát trong hệ thống khép kín Ẩn chứa đằng sau con chữ có vẻ trống không là cõi giới “hồng nguyên”/ “thế giới ban sơ” Ở cương vực đó, người đọc dò dẫm bước đi trong làn sương mù chữ nghĩa, không phải để nhìn và thấu rõ mà là để

“cảm mà biết được” ẩn niệm siêu hình nào đó:

Không phải thứ siêu hình nằm trong những hệ thống triết lí muốn nói một lần là xong ý nghĩa sau cùng của đời sống, lịch sử Tính cách siêu hình ẩn náu trong tất cả những hình thái sinh hoạt hằng ngày, cái ám ảnh lớn nhất, sâu xa nhất, và cũng mơ hồ nhất đã dẫn dụ, điều khiển tất cả những việc làm của mọi người, và người ta đã cố gắng giải thích hoặc đặt tên cho nỗi

ám ảnh đó: vô thức muốn tham gia vào ý thức, hư vô muốn xâm nhập vào hữu thể cái tâm lí

về chiều sâu” (So, 1966, p.11)

Beckett đã trình bày trong tác phẩm của mình và Sơ Dạ Hương đã tinh ý phát hiện cái

ẩn niệm siêu hình trong tác phẩm dường như “trống huơ trống hoác” của văn sĩ Ái Nhĩ Lan

(Ireland) rất ư cô độc và có thói quen xa lánh mọi người Nhưng có lẽ để gọi tên cái ẩn niệm siêu hình mà chúng tôi nhắc đến bằng một liên hệ với S Freud thì có lẽ hơi vội vàng, hay liên hệ cái ẩn niệm siêu hình ấy với vô thức tập thể mà C Jung hay nói tới có lẽ cũng chưa thật xác đáng Vì vô thức gắn chặt với tâm lí nhân vật, trong khi Tiểu thuyết mới đã khước

từ nhân vật Nhân vật không là cái bệ đỡ đáng tin cậy và vững chắc cho tính truyện và sự lập thành câu chuyện nữa Do đó, nếu chúng ta trói buộc ẩn niệm siêu hình đó vào tâm lí nhân vật thì có lẽ đã ép uổng Tiểu thuyết mới vào cái nhìn truyền thống Nghĩa là muốn nhìn thấy cái mới nhưng ta lại sử dụng hệ quy chiếu cũ Có lẽ, đi tới ẩn niệm siêu hình, ta nên xác định trong mối quan hệ với không khí truyện Khi cốt truyện, tình tiết, cao trào, mâu thuẫn, tư tưởng, tâm lí và tính cách nhân vật đều bị xua đuổi/chối bỏ/từ khước, khi Thượng đế (kẻ viết) “băng hà” thì cái mà người viết tác tạo chính là không khí truyện bàng bạc khắp cõi mù

sa chữ nghĩa Và ẩn niệm siêu hình, theo đó, cũng chỉ có thể phảng phất len lỏi vào tâm niệm

Trang 5

kẻ đọc Chính không khí truyện “chộp lấy” người đọc Thế nên, ẩn niệm siêu hình phải chăng chính là cảm thức “siêu hình” bản nguyên bao trùm hữu khả thể và hữu tại thế (Heidegger,

1967, p.364) Từ nỗi cô đơn bản chất (Blanchot, 1989) của kẻ viết đến nỗi lạc loài của người đọc trong văn giới, chữ nghĩa đã tự tỏa ra “từ trường” ẩn niệm siêu hình, chộp lấy và thôi miên người đọc Sau rốt, chỉ còn hợp thể “siêu ý niệm” ngan ngát khắp sinh giới văn thể Chính ở đây, người ta lại cho rằng văn chương đang đi vào mê lộ và tự đào mồ chôn mình (ý của Sơ Dạ Hương), nhưng có phải như thế? Mê lộ – hẳn nhiên là mê lộ Tiểu thuyết mới,

bởi thèmes đã bôi xóa bóng hình nhân vật, thậm chí nhân vật đã tan biến Vì sự tan biến của nhân vật hay sự lên ngôi của thèmes, văn chương tác thành Bằng chính việc bức tử cốt

truyện và nhân vật, giữa huyệt mộ văn chương với xú khí tử thi tơ vò chữ nghĩa đã lập thành siêu hình ẩn niệm Cái chết của bệ đỡ văn xuôi truyền thống khiến người ta cho rằng văn chương cũng tàn lụi Nhưng ngay chỗ văn chương tử trận thì văn chương tái sinh Sự khai

tử đã khai sinh một cách thế văn chương Do đó, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng kẻ viết (ở

đây là S Beckett) đã “chơi khá đẹp” trong việc thừa nhận và lưu ý độc giả không nên tin hắn (kẻ viết), bằng cách xóa nhòa niềm tin vào không-thời gian của văn thể1 (So, 1966, p.11), từ

đó khiến niềm tin vào lời kể của kẻ viết cũng lung lay Điều này là cần thiết Bởi vì khi người viết xác lập cách thế văn chương khác thì việc lập định tâm thế tiếp nhận là tất yếu Lưu ý này còn có nghĩa người đọc không nên đọc để biết, mà để bị thôi miên Thế nên, tri nhận và niềm tin phương hại đến văn thể

Xét đến văn thể, Sơ Dạ Hương phát hiện ra đặc trưng nổi bật: “Thứ tiếng nói tạo nên câu chuyện đã bắt đầu nói trước đó sẽ tiếp tục nói sau này, và chẳng có một lí do nào để bắt

nó ngừng nói Nói đi nói lại hay ngừng nói, Setaire ou se répéter, hai sự kiện đó chỉ là một” (So, 1966, p.10-11) Tái lặp hay tái diễn, con đường đi từ ý hướng đến siêu ý thể Chúng ta

thử nhìn văn bản khác của Samuel Beckett – Kẻ bị trục xuất (Beckett, 1966) Câu chuyện kể

theo ngôi thứ nhất Nhân vật tôi liên tục lẩm nhẩm về đủ thứ chuyện: các bậc thềm, cái nón, người cha, mái tóc, cái búa kinh khủng bằng sắt… mọi thứ hết sức rời rạc, hoặc chỉ liên hệ với nhau bằng một trường liên tưởng lỏng lẻo và trí tưởng tượng lẩn quẩn, thậm chí hồ đồ Các nghĩ tưởng lộn xộn hầu như không xoay quanh một chủ đề nào và nhân vật hầu như không hiện lên với các đặc tính như tâm lí hay tính cách, chỉ là một loạt kinh nghiệm mà hắn (tôi) ngó thấy nhưng không tương tác Không gian, thời gian không có tính hợp lí “Tôi chẳng biết”, cụm từ quen thuộc, phủ quyết tri nhận của nhân vật chính là sự bất khả tri khởi

đi từ người viết diễn tiến vào người đọc Chẳng có gì xảy ra cả, chỉ là hắn (tôi) quanh quẩn

đi lên đi xuống mấy bậc thềm, nghĩ quàng xiên từ việc này sang việc nọ, một chuyến phiêu lưu nghĩ tưởng và người đọc cứ khoan thai thả lỏng thần trí cho việc trôi theo các suy nghĩ của kẻ viết Hoàn toàn không ràng buộc, người đọc hoàn toàn tự do trôi theo hướng mà hắn

1 Dẫn theo Sơ Dạ Hương: “Je suis dans la chambre de ma mère C'est moi qui y vit maintenant Je ne sais pas comment j'y suis arrivé Dans une ambulance peut-être, un véhicule quelconque certainement” (trích Molloy)

Trang 6

thả mình Nghĩa là nghĩ tưởng trôi nổi của kẻ viết chỉ là thứ mồi nhử cho nghĩ tưởng của kẻ đọc bột phát ra Do đó, từ ý hướng kẻ viết đặt vào con chữ; tự thân con chữ đã nảy ra như đá lửa Con chữ của loại tiểu thuyết này chỉ là một nửa con chữ Hòn đá lửa (kẻ viết) đã ở đó

để bật vào hòn đá lửa (người đọc) Mỗi nghĩ tưởng như một hòn sỏi lăn, nghĩa là động Sở

dĩ động vì sỏi nghĩ tưởng không bị ràng buộc bởi thói luận lí thông thường Vì thế diễn trình văn bản có khoảng không gian vừa đủ cho trí tưởng tượng của kẻ viết và người đọc linh động Đó là các nguyên tử tự do chực chờ di chuyển Ta cứ thấy S Beckett sử dụng cụm từ

“chẳng biết”, “chẳng rõ”

Bình minh hơi ló dạng Tôi không biết tôi đang ở đâu nữa Tôi theo phía mặt trời mọc đi tới, nhắm chừng qua loa thôi, để mau được sáng rõ Tôi muốn thấy chân trời ngoài khơi, hay trong

sa mạc hơn Buổi sáng khi tôi ở ngoài trời, tôi ra đón mặt trời, và buổi chiều, khi tôi ở ngoài trời, tôi đi theo nó, và theo đến tận thế giới của người chết Tôi không hiểu tại sao tôi đã kể câu chuyện này Tôi cũng có thể kể một chuyện khác lắm chứ Có lẽ một lần khác tôi sẽ có thể

kể một câu chuyện khác Hỡi các người sống trên trần gian, các người sẽ thấy là chuyện nào cũng giống nhau cả (Beckett, 1966, p.28)

Thế nên, Tiểu thuyết mới hồ như vũ trụ tĩnh lặng nhưng ẩn chứa bên trong một chân trời bát nháo tán loạn Hệ thẩm mĩ của kỉ nguyên mới khởi đi từ mĩ học Dionysus của Nietzsche mà hai chiều hướng này đã giao ứng trong trường hợp Thanh Tâm Tuyền (Thanh Tam Tuyen, 1973-a, p.64-71) Tất nhiên, sự giao ứng này không phải lí do để chúng ta gán cho Thanh Tâm Tuyền danh xưng nhà văn theo hướng Tiểu thuyết mới

Bên cạnh Samuel Beckett và Michel Butor, giới cầm bút miền Nam bấy giờ đặc biệt chú ý đến Alain Robbe Grillet2 (So, 1966, p.10) – cái tên thời danh, sáng chói của trào lưu Tiểu thuyết mới, không chỉ ở Pháp quốc mà giới văn chương miền Nam cũng rất quan tâm

Vì ông là tiếng nói mạnh mẽ, độc đáo hơn cả ở nhiều lĩnh vực (viết văn, phê bình, phát biểu, làm phim…) Cuộc đời ông nhuốm màu kì quặc như cách ông viết tiểu thuyết Ông có một ngôi nhà riêng ở vùng hẻo lánh Normandy Khi viết, ông thường trở lại đây như cách tách mình khỏi cuộc sống, có độ lùi vừa đủ cho ý thức sáng tạo Robbe-Grillet dường như vẫn luôn là một con người lẩn khuất, một dạng người bay biến, chìm lặng, đôi khi ồn ào nhưng sau rốt vẫn là người của sự biến mất Ông tự thấy mình không có tính cách trí thức như Sartre hay Camus, ông chỉ là kẻ sáng tạo kí ức, bởi kí ức đối với ông như một phát minh nghĩ tưởng (imagination) (Guppy, 1986) “Tiểu thuyết của Robbe-Grillet mang tính chất khám phá, tìm hiểu hay có khi tọc mạch, chất vấn để đi sâu vào sự kiện hơn là đặt vấn đề” (Vo, 2012) Nói khác đi, “Tiểu-thuyết-mới không lí giải ý nghĩa của thực tại, mà tìm ra được những ý nghĩa

2 Nhưng có lẽ chính A R Grillet lại là người chịu ảnh hưởng từ một tiếng nói khác Việc này Sơ Dạ Hương

có thuật lại: “Bài khảo luận đầu tiên của Alain Robbe Grillet, người mà bây giờ được kể là lí thuyết gia số một của nhóm tiểu thuyết mới, đã viết về kịch phẩm En attendant Godot của Beckett Chính vì đã đọc Beckett mà

R Grillet đã có can đảm mang bản thảo cuốn Les Gommes đến nhà xuất bản Les éditions de minuit”

Trang 7

riêng biệt của nó Không còn biên giới của sự thể, không băn khoăn về nội dung diễn tả, cũng chẳng cần đến quá khứ, chẳng siêu hình3, chẳng đạo đức và cũng chẳng cần đến thời gian và không gian mà cốt tủy là đem lại cho người đọc sống cùng với những diễn biến xảy

ra trong câu chuyện” (Vo, 2012) – trực diện ngã vào sự thể, không biện minh lí giải Thản nhiên khai mở và ở trong lòng thực tại, một lối trực ngôn không dài dòng, không khoa trương, không lí sự vòng quanh, cũng chẳng đặt ra vấn đề khắc họa hay mô tả Người viết bày ra sinh giới trong sự bề bộn của nó Và cái bề bộn đó đôi khi nằm chính ở chỗ sinh giới không

có đầu đuôi Bởi lí giải sẽ bóp cổ sinh giới, nghĩa là cầm tù sinh giới trong cái nhìn hạn hẹp

của chủ thể và như thế là cưỡng hiếp Cái nhìn rỗng, gột rửa thiên kiến, người chỉ có mặt

cùng với sinh giới Mặc dù Tiểu thuyết mới có vẻ là “thái độ” phủ nhận, nhưng chính ở đây Tiểu thuyết mới xác định cách thế và quan điểm siêu hình học Người viết bằng thờ ơ, thậm chí viết với thái độ mộng du và hoàn toàn tẩy trừ thiên kiến để tìm thấy kết liên mù khơi

mộng mị của thực tại, để dẫn lối vào thực tại khác Tiểu thuyết mới đi đến thực tại chân

không Và cái nhìn mà họ quẳng vào thực tại như cái nhìn trực giác rất ư Bergson và thái độ

hiện tượng cách thế rất ư Husserl Grillet xui khiến người đọc vào thăm thẳm sinh giới Ông không buồn biện minh, lí giải, khai sự bất cứ thể trạng sinh giới gì hết Viết như thể thực tại trào ra qua ngòi bút Cái nhìn hỗn độn (chaos) minh chứng cho việc tiến vào chặng đường hậu hiện đại (post-modernité) “Tôi tạo ra một thế giới tưởng tượng mà tôi không phán xét

nó, tôi không công nhận cũng như không kết án nó, nhưng tôi thu nhận sự hiện diện của nó theo như thực tại căn bản của nó Chính điều này đã tạo nên cá tính đặc thù của Robbe-Grillet đối với sự tiến triển của tiểu thuyết mới.” (Nguyen, 1967-a, p.18) Vậy nên, từ quan điểm của Grillet, chúng ta nhận thấy cách thế tương tác/tạo tác thế giới Cố nhiên, cách thế

đó bắt nguồn từ nhận thức nhất định về hiện hữu Nên tiểu thuyết mới không đơn thuần mang tính hình thức mà ẩn chứa một vũ trụ luận khác

Vì vậy, trong khi một số các nhà phê bình và một số công chúng chỉ thấy tiểu thuyết mới như một mớ kinh nghiệm hoàn toàn có tính cách hình thức, và trong nhiều trường hợp, như một toan tính vượt khỏi thực tại xã hội, thì trái lại, hai nhà văn tiêu biểu cho tiểu thuyết mới là Nathalie Sarraute và Alain Robbe-Grillet, đã chứng tỏ cho người ta thấy rằng, tác phẩm của

họ đã thoát thai từ một nỗ lực cũng rất gắt gao, và cũng rất có căn nguyên tới mức độ có thể được, để đạt tới và để nắm lấy thực tại xã hội của thời đại chúng ta trong cái phần tinh túy nhất của nó (Nguyen, 1967-a, p.11)

Một đặc trưng nữa mà giới cầm bút Nam Việt chú ý tới: tính chất vô nhân tính hóa

(déshumanisation) (Nguyen, 1967-a, p.14) Chúng tôi cho rằng nên hiểu là giải nhân tính

3 “Loin d’être le résultat d’une étude honnête, cette attitude trahit une métaphysique Ces pages auxquel-les l’écrivain a donné le jour comme à son insu, ces merveilles non concertées, ces mots perdus, révèlent l’existence de quelque force supérieure qui les a dictés Le romancier, plus qu’un créateur au sens propre, ne serait alors qu’un simple médiateur entre le commun des mortels et une puissance obscure, un au-delà de l’humanité, un esprit éternel, un dieu ” (Grillet, 1963, p.10-11)

Trang 8

hóa hay phản nhân tính hóa Bởi vì, tiểu thuyết cổ điển trong vòng vây đồ vật đã khoác lên

mình quá nhiều dấu vết người Cho nên, nhân vật của tiểu thuyết cổ điển bị tráo đổi đến mức tính chất bản nhiên/cố như của nó đã không còn nữa Qua đây, ta thấy rằng giới cầm bút Nam Việt có vẻ chú ý nhiều đến vấn đề phản ánh thế giới và nhân vật Đây là hai vấn đề khá

cơ bản của văn xuôi Bởi vậy, “lật đổ” nhân vật và phản ánh thế giới giúp họ kiến tạo vũ trụ luận văn xuôi hoàn toàn khác Điều này cũng tác động mạnh mẽ đến quan niệm văn chương Giải nhân tính hóa trong tiểu thuyết Grillet, hành động viết đẩy vũ trụ văn xuôi đến bước đường sụp đổ, bởi thể hiện một trật tự/sự thiết định về đời sống xã hội và tâm linh mà trật tự sinh hiện xuất lộ trong điệu bộ bấn loạn từ cuốn Les Gommes và Le Voyeur, một trật

tự hiện hình trong quá trình vận động, bồi đắp Nghĩa là nó không ngừng sạt lở bởi cá nhân tính và chính vì thế để giữ trật tự ổn định, nó phải bồi đắp (xóa tẩy) cá nhân tính đó Cục tẩy

là cơ chế phủ quyết cá nhân tính để bảo vệ trật tự Nhưng đằng sau đó, ta nhận thấy hỗn loạn vẫn luôn tồn tại, đe dọa trật tự sinh hiện Mối quan hệ giữa trật tự và hỗn loạn như mối tương liên giữa MA và ĐẠO, hay nói như Nietzsche chính là hai ý hướng căn cơ trong xã hội và nghệ thuật: Dionysos và Apollo Biểu hiện của nó trong đời sống xã hội hậu hiện đại (hậu công nghiệp) chính là hai luồng vận động; nói như Nathalie Sarraute là động hướng tính (Les Tropismes) Hai động hướng tính ấy chính là: 1) động hướng tính bảo toàn; 2) động hướng tính thui chột hay vô chính trị hóa (dépolitisation)4 Nghĩa là động hướng tính có xu hướng bảo giữ trật tự ổn định của xã hội và tinh thần, nó sẽ bôi xóa, che đậy hoặc triệt hạ các động thái ngoại biên để sự vận động tiếp tục triển khai theo chiều hướng vốn có Thứ nữa, động hướng tính có xu hướng tự triệt tiêu để trở thành kẻ quan sát thuần túy, nghĩa là một tri nhận đã chối bỏ hồi ứng5; tri nhận và hồi ứng vốn dĩ trong một quá trình diễn tiến của ý thức, nhưng bây giờ đã tự tan vỡ để chỉ còn tri nhận thuần túy mà thôi Đó là hai lớp người tan nhòa vào đồ vật Một đằng áp chế để tan nhòa vào đồ vật; một đằng tự nguyện hiến mình tan nhòa vào cõi đồ vật Chúng ta còn nhiều điều để nói về Alain Robbe Grillet

và “khí chất” chưa êm xuôi của ông Kiểu chướng ngại mà con người kính nể nhưng chẳng dám gần gũi Thành ra, Grillet là tác giả khá thời thượng trong văn chương Pháp quốc những năm 1950, 1960 nhưng giới phê bình ít khi đụng chạm Hay đây là thái độ “kính nhi viễn chi” đối với các nhà văn Tiểu thuyết mới mà Trần Thiện Đạo có nhắc đến trong cuộc nói chuyện với Thụy Khuê trên RFI ngày 20-8-2005 (Thuy Khue, 2005)

Tựu trung, chúng tôi cho rằng cần tóm lược lại một số vấn đề chính yếu mà giới cầm bút miền Nam (1954-1975) chú ý hơn cả:

- Không lí giải ý nghĩa của thực tại; Thế-giới-tự-nhiên và thế-giới-sự-vật; giữa hai thế giới đó không tạo thành một không gian khách quan mà là một không gian sống thực, không gian theo sự hiểu biết, cảm xúc của con người Con người và thế giới thừa nhận sự hiện diện

4 Theo cách dịch của Nguyễn Quang Hiện, có lẽ nên dịch là Giải chính trị hóa

5 Chúng ta có thể thấy rất nhiều tác phẩm có xu hướng này: Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Xuân Hoàng, Huỳnh Phan Anh

Trang 9

của nhau; xu hướng tiểu thuyết mới được thể hiện qua Cốt truyện hay dòng chảy của sự trải

ra, trôi qua – diễn trình của kinh nghiệm Xu hướng tiểu thuyết mới được thể hiện qua tính khách quan của diễn trình kinh nghiệm, không lí giải, không biện minh, lạnh lùng, vô cảm, trống trơn và trống rỗng; không lặp lại mà tái diễn;

- Nhân vật không rõ lí lịch, không tên tuổi, xuất xứ, hoàn cảnh; từ chỗ không còn chú trọng đến nhân vật, bố cục, cốt truyện đi đến nhấn mạnh về sự tiếp cận với thế giới vật thể Tiểu-thuyết-mới nhằm mô tả con người chưa tới giai đoạn hình thành và thế giới bên ngoài chưa hẳn tùy thuộc của con người; phản nhân vật (xu hướng tiểu thuyết mới được thể hiện qua đặc tính nhân vật) - Kiểu nhân vật vô nhân tính hóa6 (réification);

- Tính bất định về không gian và thời gian, tất cả rơi vào cõi vô định, hay thể tính văn chương hư hóa; tất cả là vô nghĩa, chẳng phải là “có lí” hay “vô lí”, chỉ có sự hiện hữu của con người đối diện với vật thể là chính yếu, chẳng phải thắc mắc giữa có và không, giữa vắng mặt và có mặt; xu hướng tiểu thuyết mới được thể hiện qua Đặc tính của thế giới xung quanh được khai triển – thế giới khách quan như chính nó trong tính chất tự tại – cái thực tại

hư ảo khách quan;

- Tiểu-thuyết-mới như một sáng tác vượt thoát ra khỏi mọi định kiến cố hữu, không còn biên giới giữa người viết và người đọc mà trọng tâm là tạo nên một không gian khách quan

để biến hình vào trong không gian nội tại (espace intérieur) đem lại cho người đọc sống cùng với những diễn biến xảy ra trong câu chuyện;

- Cái nhìn nội giới là cái nhìn sự vật như một nhận xét chi tiết chứ không phải cái nhìn thoáng qua mà phải có cái nhìn chiều sâu, tỉ mỉ và chú tâm về cái bên ngoài của sự vật bằng con mắt thật, cho nên có nhiều nhận định cho rằng Tiểu thuyết mới là vấn đề cái nhìn (trung tính, dung hòa, không thiên vị) hay Trường phái cái nhìn;

- Tiểu thuyết truyền thống bao giờ cũng khai thác chiều sâu, chiều sâu xã hội, chiều sâu tâm lí, triết lí Chủ đích Tiểu thuyết mới là phản kháng lại quan niệm thần thánh hóa tiểu thuyết, trong đó người và vật là nạn nhân của nhà văn;

- Cuộc tranh đấu giữa cái trật tự (l'ordre) và cái vô trật tự (le désordre) hay tính bất định

và tính hỗn loạn;

- Từ tính chất tự do, tẩy trừ thiên kiến, vô trách nhiệm (irresponsabilité) của người viết đến việc tiếp nhận theo cách thế phản tiểu thuyết

Đây là những tiền đề mà chúng tôi cho rằng đã ảnh hưởng ít nhiều đến hoạt động sáng tác trong địa hạt văn xuôi thời bấy giờ Theo đó, chúng tôi tiếp tục tìm hiểu dấu ấn của Tiểu thuyết mới trên địa hạt sáng tác

6 Theo cách dịch của Nguyễn Quang Hiện Nguồn gốc nghĩa là Thụ động hóa (theo từ điển Larousse), nhưng

sự thụ động hóa này mang ý nghĩa triệt tiêu, thui chột sự biểu hiện nhân tính của con người, cho nên dịch như Nguyễn Quang Hiện, chúng tôi cho là hợp lí

Trang 10

3 Tiểu thuyết mới hay những vấn đề mới cho văn xuôi

Đến đây chúng ta có thể nói rằng Tiểu thuyết mới thực sự là vấn đề đặt ra cho văn xuôi

đô thị miền Nam từ chính căn cơ của sự viết Từ bình diện dịch thuật, khảo cứu, phê bình, Tiểu thuyết mới đi vào sáng tác

Khuynh hướng “Tiểu thuyết mới” đã được một số nhà văn Pháp thuộc nhà xuất bản Éditions

de Minuit (Paris) chủ trì, ở Việt Nam thì có thể nói một nhóm nhà văn thuộc nhóm Đêm Trắng đứng đầu là Huỳnh Phan Anh sáng tác theo khuynh hướng này – Huỳnh Phan Anh trong hai

tập Người đồng hành (1969) và Những ngày mưa (1970) và tập Phía ngoài (1969) in chung

với Nguyễn Đình Toàn Hoàng Ngọc Biên đã viết theo “trường phái” tiểu thuyết mới này từ

1964 cũng là thời ban đầu xuất hiện ở miền Nam (Nguyen, 2019, p.78)

Từ trường hợp Samuel Beckett, Huỳnh Phan Anh đi đến sự phân biệt: “Chỗ phân li giữa tiểu thuyết cũ như một câu trả lời và tiểu thuyết mới như một câu hỏi” (Huynh, 1972, p.203) Như vậy, tiểu thuyết là cách thế để con người có thể truy vấn đến thể tính của hiện hữu Điều này làm cho văn chương gần với triết học và tiểu thuyết mới, là một cuộc dịch chuyển hệ hình nhận thức luận Truy vấn, truy vấn không ngừng, vì truy vấn nên dịch chuyển liên tục Một văn bản như thế chung quy không thể kết thúc, chỉ có thể khai triển mãi mãi

Vì lối truy vấn khách quan ấy nên bất cứ chi tiết/đồ vật nào cũng có thể khai triển thành ra một cuốn tiểu thuyết Phải chăng chính điều này cho chúng ta thấy dấu vết của Hiện tượng luận trong sáng tác tiểu thuyết mới Và cũng bởi Hiện tượng luận đã đi vào miền Nam thông qua ngõ trường quy thế nên càng tạo điều kiện cho việc tiếp thu Tiểu thuyết mới thêm dễ dàng

Bắt đầu với việc tiếp nhận một văn bản văn xuôi truyền thống, người đọc có thói quen theo dõi cốt truyện bằng cách nắm bắt tình tiết và đời sống nhân vật Song song với quá trình lật đổ quan niệm tiểu thuyết cũ (truyền thống) họ cũng “lật đổ” kiểu đọc cũ để thức tỉnh và hình thành một lớp người đọc tỉnh táo, không còn ù lì “Nếu ông ta nghĩ rằng một quyển tiểu thuyết không thể nào dẫn đến một cốt truyện cùng những nhân vật và nó phải tuyên bố “cái chết của nhân vật” đồng thời cũng tuyên bố luôn cái chết của các phạm trù tâm lí và triết lí (thời gian, không gian)” (Nadeau, 2002, p.206) Tiểu thuyết mới và các sáng tác của trào lưu này bắt đầu bằng cuộc đảo hoán như thế để xác lập không gian văn chương

Tuy nhiên, chúng ta không thể dựa trên đặc trưng văn thể của Grillet để quy kết tác phẩm nào mang dấu ấn Tiểu thuyết mới, hoặc dựa vào văn thể Michel Butor7, Claude Simon hay Nathalie Sarraute để dò xét dấu ấn Tiểu thuyết mới trong bất kì sáng tác nào Trong địa

7 Nguyễn Quốc Trụ (thành viên của nhóm Đêm trắng cùng với Huỳnh Phan Anh, Hoàng Ngọc Biên, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Hữu Trí) cho rằng ở miền Nam Việt Nam thời bấy giờ, có lẽ chỉ có Hoàng Ngọc Biên là cây viết mang dấu ấn tiểu thuyết mới Có lẽ Ông đã dựa trên văn thể của Grillet và Butor để xét định Phải chăng chúng ta cần xem xét tiểu thuyết mới một cách rộng rãi hơn, nghĩa

là nhìn sâu vào căn cơ khởi sinh tạo phát của Tiểu thuyết mới để lập thành cứ để nhìn lại văn xuôi đô thị miền Nam Nếu như vậy, chúng ta sẽ nhìn thấy diễn tiến đồng dạng, đòi hỏi bức bách tương đồng cho cả hai giai đoạn văn học, hai nền văn học, vốn có mối liên hệ phức tạp

Ngày đăng: 22/02/2021, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w