1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ truyền thông về di sản văn hoá vật thể địa phương trên báo chí cà mau (khảo sát trên loại hình báo in và báo điện tử từ tháng 06 2019 đến tháng 06 2020)​

165 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 140,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng đối với lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, Nhànước đã có nhiều văn bản pháp lý về lĩnh vực bảo tồn di sản văn hoá, theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương V khóa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN

VĂN

C à Mau, năm 2020

PHẠM QUỐC RIN

TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HOÁ VẬTTHỂ

ĐỊA PHƯƠNG TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU

(Kh ả o s át tr ê n 1 o ạ i hì n h b á o i n và b á o đi ệ n t ử

t ừ t h á n g 06/2019 đ ế n t h á n g 06/2020)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN

VĂN

C à Mau, năm 2020

PHẠM QUỐC RIN

TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HOÁ VẬTTHỂ

ĐỊA PHƯƠNG TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU

(Kh ả o s át tr ê n 1 o ạ i hì n h b á o i n V à b á o đi ệ n tử

t ừ t h á n g 06/2019 đ ế n t h á n g 06/2020)

Chuyên ngành: Báo chí học định hướng ứng dụng

Mã số: 8320101.01(UD)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

C hủ tịch Hội đồ ng Người hướng dẫn khoa học

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam kết, đây là luận văn do tôi tự nghiên cứu, chưa được công bố ởbất cứ công trình khoa học nào Mọi luận cứ trong luận văn là xác thực Tôixin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung của luận văn

T ác g iả luậ n vă n

P hạ m Quốc Rin

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Thái

- Người hướng dẫn đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!

Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của các chuyên gia, nhà quản lý,lãnh đạo các ngành và các đơn vị có liên quan; sự giúp đỡ của các nhà báo,biên tập viên, phóng viên, bạn bè đồng nghiệp, công chúng báo chí đã dànhthời gian tham gia trả lời câu hỏi điều tra; các thầy cô ở Viện Đào tạo Báo chí

& Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia HàNội đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

T á c giả luậ n vă n

Ph ạm Quốc Rin

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 15

6 Đóng góp của luận văn 16

7 Bố cục của luận văn 17

C hươn g 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 18

1.1 H ệ t hố n g kh á i n iệm li ê n q ua n đế n đề tà i 18

1.1.1 Các khái niệm báo chí được sử dụng trong luận văn: 18

1.1.2 Một số khái niệm về văn hoá được sử dụng: 22

1.2 Hệ thố ng di s ản vă n ho á ở C à Mau 25

1.2.1 Hệ thống di sản văn hoá vật thể ở Cà Mau 25

1.2.2 Hệ thống Di sản văn hoá phi vật thể tại Cà Mau 25

1.2.3 Vài nét về quá trình hình thành của hệ thống di sản văn hoá Cà Mau 26 1.2.4 Quan điểm về truyền thông di sản văn hoá vật thể địa phương tại Cà Mau 28

1.3 Vai trò của báo chí Cà Mau trong truy ền thông về di sả n văn ho á vật thể địa p h ươn g 30

1.3.1 Lý do lựa chọn loại hình báo in và báo điện tử để khảo sát 32

1.3.2 Ưu thế của loại hình báo in và báo điện tử địa phương trong bảo tồn và phát hu giá tr di s n văn hoá vật th C M u 34

Trang 7

2.1.1 Báo Cà Mau 38

2.2 T hực t rạng truyền thô ng về b ảo tồ n và phát h uy d i sả n văn ho á vật th ể địa p hương t rên b á o ch í C à Mau 40

2.2.1 Tiêu chí chọn tác phẩm báo chí khảo sát 40

2.2.2 Số lượng tin bài của tờ báo in Báo Cà Mau, Báo Ảnh Đất Mũi và Báo Cà Mau điện tử truyền thông về di sản văn hoá vật thể tại địa phương (6/2019/6/2020) 41

2.2.3 Nội dung các tác phẩm báo chí truyền thông về di sản văn hoá vật thể địa phương trên báo chí Cà Mau từ tháng 06/2019 đến 06/2020 (Báo in và Báo điện tử) 43

2.2.4 Hình thức thể hiện các tin bài trên báo chí Cà Mau về di sản văn hoá vật thể của địa phương 59

2.3 Nguy ên n hâ n của những hạ n chế của b áo chí C à Mau khi t ruyền th ô ng về d i sả n văn hoá vật th ể địa phươn g 67

2.3.1 Nguyên nhân khách quan 67

2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 68

T iểu kết c hươn g 2 71

Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG VỀ DI SẢN VĂN HOÁ VẬT THỂ ĐỊA PHƯƠNG TRÊN BÁO CHÍ CÀ MAU 73

3.1 Gi ả i p h áp n â n g ca o c h ất lượn g t ruy ề n th ô n g 73

3.1.1 Đối v ới cơ quan quản lý nhà nước và chuyên môn về Di sản văn hoá vật thể địa phương 73

3.1.2 Đối vớ cơ quan quản lý báo chí và cơ quan báo chí địa phương 75

3.2 Chiến lược và chiến thuật truy ền thông của cơ q uan b áo ch í địa p h ươn g C à Mau 77

3.3 Kỹ năng tác nghiệp và mô hình truyền thông của báo chí địa phương

Trang 8

3.3.1 Kỹ năng tác nghiệp 80 3.3.2 Đề xuất mô hình truyền thông 85

Trang 9

T iểu kết c hươn g 3 87

KẾT LUẬN 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 95

Trang 10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

5 VH-TT&DL Văn hoá, Thể thao và Du lịch

Trang 11

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Bảng Thống kê tin, bài trên báo in Báo Cà Mau, Báo Ảnh Đất Mũi

và Báo Cà Mau điện tử có nội dung thông tin về di sản văn hoá vật thể địaphương (6/2019-6/2020) 41Bảng 2.2: Bảng Thống kê tỷ lệ tin bài trên chí Cà Mau viết về di sản văn hoávật thể địa phương 42Bảng 2.3: Bảng thống kê hình thức thể hiện tin bài về di tích LS - VH trênbáo chí Cà Mau 59

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 T inh cấp thiết của đề tài

Hoạt động báo chí về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyềnthống, trong đó có hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, được Đảng

và Nhà nước, các cơ quan báo chí đặc biệt quan tâm, từ đó góp phần phục vụtốt nhu cầu tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu của công chúng Theo đó, truyềnthông về di sản văn hoá trên báo chí đã có những thay đổi tích cực cả về đềtài, tần suất, thể loại và chất lượng

Riêng đối với lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá, Nhànước đã có nhiều văn bản pháp lý về lĩnh vực bảo tồn di sản văn hoá, theo

tinh thần của Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã xác định ‘'văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ”, Nghị quyết đã chỉ rõ một trong những nhiệm vụ quan trọng là “bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa dân tộc, các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh ” mà báo chí cũng là một thành tố không thể thay thế để

hiện thực hoá tinh thần ấy Đặc biệt là Luật di sản văn hóa được Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông quangày 29 tháng 6 năm 2001 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2002 vàLuật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa năm 2009, đây làmột bước ngoặt thay đổi rất lớn trong sự nghiệp văn hóa

Di sản văn hoá là tài sản vô cùng quý giá của mọi dân tộc, nó chứađựng những giá trị thuộc về truyền thống tốt đẹp, phản ánh đầy đủ phẩm chất

và trí tuệ của con người trong quá trình thích ứng, cải biến thiên nhiên và cáchứng xử với các mối quan hệ xã hội theo chiều dài lịch sử Với Di sản văn hoávật thể, có thể hiểu nôm na là những gì hiện hữu có thể cầm, nắm, cảm nhậnbằng tất cả các giác quan của con người Từ chuyện ăn, mặc, ở, đi lại cho đến

Trang 13

những công trình kiến trúc tâm linh, tôn giáo hay các di sản văn

Cà Mau là tỉnh có vị trí ở cực Nam của Tổ quốc, có rừng đước và rừngtràm U Minh bạt ngàn Nơi đây lưu dấu nhiều thăng trầm của lịch sử khẩnhoang, mở cõi Nam Bộ của các bậc tiền nhân Là nơi khởi phát và sản sinhnhững địa danh, di tích, cá nhân ưu tú mà tiếng thơm đã vang xa khắp cõi.Đây cũng là địa chỉ đỏ trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ Cà Mau là nơi được Đảng chọn làm căn cứ địa cáchmạng, các cơ quan chủ chốt của Đảng từng hoạt động tại vùng đất này như:

Xứ uỷ Nam bộ; Trung ương cục miền Nam; Liên Tỉnh uỷ Hậu Giang; Tỉnh uỷBạc Liêu

Cà Mau nằm trong vùng văn hoá Nam Bộ, một trong 6 vùng văn hóacủa không gian văn hóa Việt Nam: Tây Bắc, Việt Bắc, Bắc Bộ, Trung Bộ,Tây Nguyên và Nam Bộ, (theo cách phân vùng được coi là hợp lí và kháchquan hơn cả của Giáo sư Trần Quốc Vượng) Trong vùng văn hoá Nam Bộ,

Cà Mau thuộc tiểu vùng văn hoá Tây Nam Bộ với cả những đặc trưng chung

và những nét riêng độc đáo của khu vực Tây Nam Bộ Đây là khu vực văn

Trang 14

hoá với các chủ thể văn hoá là người Kinh, người Hoa và người

vùng đất này.

Tỉnh Cà Mau được thành lập năm 1997 (từ tỉnh Minh Hải tách thànhhai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu) Di sản văn hoá của địa phương Cà Mau kháphong phú, bao gồm cả di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể

Di sản văn hoá nổi bật nhất phải kể đến loại hình Đờn ca tài tử đã đượcUNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại baogồm 21 tỉnh, thành phố phía Nam của Việt Nam (trong đó có Cà Mau) vàonăm 2013 Ngoài ra, tỉnh Cà Mau có 40 di sản văn hoá phi vật thể đượcUBND tỉnh Cà Mau công nhận là di sản văn hoá cấp tỉnh Mới đây nhất, vàotháng 12/2019, tỉnh Cà Mau có 02 Di sản văn hoá phi vật thể đầu tiên được

công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia là “Nghề gác kèo ong” và

“Nghề muối ba khía”.

Di sản văn hoá vật thể địa phương là bộ phận quan trọng cấu thành nênbản sắc văn hoá đặc trưng của Cà Mau Trong đó, hệ thống di tích LS - VHđóng vai trò chủ đạo, có tính đại diện cho di sản văn hoá vật thể của địaphương Hiện nay, tỉnh Cà Mau đã có 12 di sản văn hoá vật thể được côngnhận danh hiệu di tích LS - VH Quốc gia và 31 di tích LS - VH cấp tỉnh.Trong hệ thống di sản văn hoá vật thể, ngoài di tích kiến trúc nghệ thuật ChùaPhật tổ (Quan Âm cổ tự), còn lại là các di tích LS - VH của thời kỳ khángchiến chống Pháp và chống Mỹ Các di tích này có vị trí rất xa trung tâmthành phố Cà Mau, giao thông đi đến các di tích gặp nhiều khó khăn, nên sựquản lý còn hạn chế, tình trạng di tích bị người dân, cơ quan, đơn vị lấn chiếmvẫn xảy ra

Trang 15

Hơn nữa, một số di tích dù đã được công nhận là di tích Quốc gia hoặc ditích cấp tỉnh, song chỉ là trên giấy tờ, thủ tục, thực tế vẫn chưa được đầu tưxây dựng về cơ sở hạ tầng Thời gian qua, các cơ quan báo chí dù đã nỗ lựcthông tin, truyền thông trên lĩnh vực báo chí các vấn đề liên quan đến bảo tồn,phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, tuy nhiên vẫn còn vướng rất nhiềuhạn chế cả về số lượng, tần suất và chất lượng.

Trải qua thời gian dài, trước những tác động của tự nhiên, sự lão hóacủa nguyên vật liệu kiến trúc, nhiều di tích đã xuống cấp, cần được tu bổ, tôntạo và đây là những vấn đề lớn đặt ra thách thức mang tính sống còn với các

di sản văn hoá vật thể

Thời gian qua, do bị hạn chế về các chuyên trang, chuyên mục, chuyên

đề nên các cơ quan báo chí tại địa phương Cà Mau hầu hết thực hiện công tácthông tin, truyền thông một cách rời rạc, manh mún, thiếu những tuyến bài tạo

ra sự liên kết, chuyên sâu, dẫn đến một kênh thông tin hiệu quả cho xã hộichưa được tận dụng và phát huy đúng mức Đây cũng là một trong nhữngnguyên nhân khiến hiểu biết, sự quan tâm của các cấp, các ngành và đặc biệt

là nhân dân trong tỉnh về di sản vật thể còn nhiều hạn chế, bất cập

Không chỉ vậy, đội ngũ phóng viên, biên tập viên và đội ngũ quản lý cơquan báo chí của địa phương Cà Mau c ng chưa đạt được hiệu quả mongmuốn trong công tác truyền thông báo chí đối với việc gìn giữ, bảo tồn, pháthuy các giá trị văn hoá truyền thống Lực lượng phóng viên tác nghiệp ởmảng văn hoá - xã hội còn mỏng, chưa có am hiểu chuyên sâu về lịch sử, vănhoá, địa lý dẫn đến chất lượng thông tin tuyên truyền chưa đáp ứng được nhucầu của công chúng độc giả

Những giá trị lịch sử - văn hóa của di sản văn hoá vật thể là đối tượngnghiên cứu, tham quan của đông đảo du khách trong và ngoài nước Hơn baogiờ hết, công tác truyền thông báo chí nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản vănhoá vật thể đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh cần được tăng cường và nâng

Trang 16

cao hiệu quả hoạt động để các di tích ngày càng được phát huy giá

văn hoá đặc sắc của vùng đất trẻ Cà Mau.

Là một phóng viên văn hoá - xã hội công tác trong lĩnh vực báo chí,bản thân xác định rõ tầm quan trọng cũng như vị trí, vai trò của từng di sảnvăn hoá vật thể trên địa bàn tỉnh Cà Mau Công tác truyền thông trên cácphương tiện thông tin đại chúng về bảo tồn và phát huy các giá trị của di sảnvăn hoá vật thể được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Cà Mau cần có tính địnhhướng lâu dài, tính khoa học, đúng hướng với điều kiện hiện nay, nên việctruyền thông về các hoạt động quản lý hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị ditích LS - VH là rất cần thiết Mặt khác, là học viên cao học chuyên ngành Báochí học theo định hướng ứng dụng, nên việc lựa chọn đề tài luận văn cũng cầnphải có tính ứng dụng vào vị trí công tác, góp phần thực hiện nhiệm vụ đượcgiao tại cơ quan Nhận thức được tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của

vấn đề nêu trên, học viên chọn đề tài “T ruy ền th ô n g về d i s ả n văn ho á

Trang 17

cận Trong đó, liên quan đến việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể,

đáng chú ý là Luận án Báo chí với việc bảo tồn và phát huy văn hóa vật thề của Hà Nội của Đào Xuân Hưng do Vũ Duy Thông hướng dẫn [20] Luận án

đã có đóng góp, bổ sung nhất định vào việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 18

xây dựng và phát triển văn hoá vật thể Hà Nội nói riêng và giá trị

trị văn hoá vật thể Hà Nội.

Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế, bất cập của báo chí Từ

đó, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động báochí về bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá vật thể Hà Nội, xây dựng hệthống báo chí ở nước ta ngày càng phát triển vững mạnh, hiện đại Luận áncũng là nguồn tài liệu tham khảo cho quá trình học tập, nghiên cứu và giảngdạy đối với sinh viên các chuyên ngành báo chí, cho các học viên cao học,nghiên cứu sinh và những ai quan tâm đến vấn đề này

Ngoài ra, có thể kể đến Luận văn thạc sĩ Báo chí học: Đào Thị Minh

Nguyệt, Báo chí với việc giới thiệu và góp phần bảo tồn di sản văn hoá ở Hà Nội do do GS, TS Hà Minh Đức hướng dẫn [24]; Đỗ Thị Như Quỳnh, Vẩn đề quảng bá di dản văn hóa phi vật thể Việt Nam qua kênh đổi ngoại VTC10 (Khảo sát bản tin “Văn hóa Việt” và “Người Việt 5 Châu” từ 1/2016 đến 3/2017) do PGS, TS Dương Xuân Sơn hướng dẫn [27]; Phan Lạc Trung, Báo chí Hà Nội với vẩn đề bảo tồn phổ cổ hiện nay do PGS, TS Đinh Văn Hường hướng dẫn [38]; Nguyễn Thanh Huyền, Vẩn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử

do PGS, TS Nguyễn Thị Minh Thái hướng dẫn [19]; Lý Thị Dinh, Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trên chương trình truyền hình tiếng Mông

Trang 19

kênh VTV5 do PGS, TS Nguyễn Thành Hưng hướng dẫn [7]; Hoàng Thị Hiền,

Trang 20

Báo chí Bắc Ninh với công tác bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ

TS Nguyễn Linh Khiếu hướng dẫn [18]

Riêng luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Huyền, Vẩn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thề được UNESCO công nhận tại Việt Nam trên báo điện tử có một số nét tương đồng với vấn đề mà luận văn này

tập trung nghiên cứu Đóng góp của luận văn nêu trên có giá trị về phươngpháp thực tiễn và mô hình truyền thông đối với di sản văn hoá vật thể nóichung Tuy nhiên, luận văn nêu trên chỉ đi sâu vào một đối tượng là di sảnvăn hoá vật thể đã được tổ chức UNESCO công nhận, mà chưa đánh giá,khảo sát và lưu tâm đến vai trò, giá trị của di sản văn hoá vật thể được côngnhận ở tầm quốc gia và địa phương Luận văn chưa coi những đối tượng nàynhư là một chủ thể tiềm năng để có thể xây dựng, nâng cấp và tiến đến mụctiêu được công nhận ở mức độ cao hơn, tức được thừa nhận là di sản của nhânloại do tổ chức UESCO công nhận

Tỉnh Cà Mau với 12 di tích LS - VH được Bộ VH,TT&DL xếp hạng ditích quốc gia và 31 di tích LS - VH được UBND Cà Mau xếp hạng di tích cấptỉnh Các nghiên cứu về mối liên hệ giữa truyền thông báo chí với các vấn đềvăn hoá xuất hiện trong thời gian gần đây với tần suất ngày một nhiều chothấy mối quan tâm lớn của giới nghiên cứu báo chí dành cho khách thể vănhoá Điều này đã trả lại cho văn hoá một vị trí vốn dĩ mà ngay từ đầu nó đã cótrong đời sống báo chí Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, các công trình sách

lý luận báo chí vẫn còn đề cập một cách chung chung về lĩnh vực truyềnthông văn hoá, hoặc nếu có đề cập đến thì chỉ ở trong một giới hạn nhất định.Các luận án, luận văn tập trung nghiên cứu sâu vào một khía cạnh của vấn đề,khu biệt ở không gian và thời gian trong phạm vi nghiên cứu Hơn nữa, cácnghiên cứu, luận án, luận văn tập trung vào vấn đề truyền thông báo chí ở lĩnhvực văn hoá của các vùng văn hoá có bề dày lịch sử như khu vực Bắc Bộ mà

Trang 21

chưa có nhiều đề tài đề cập đến các vùng văn hoá khác, trong đó

văn hoá Nam Bộ, tiểu vùng văn hoá Tây Nam Bộ.

Tại Cà Mau, cho đến hiện nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu, luậnvăn, luận án thuộc lĩnh vực báo chí đề cập đến vấn đề truyền thông văn hoá,trong đó có bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể Dù là vùng đất mới,song Cà Mau có những nét độc đáo về văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần

Hệ thống di sản văn hoá vật thể và phi vật thể có tính đại diện tiêu biểu củavăn hoá Cà Mau trong quá trình hình thành, phát triển Luận văn này đề cậpđến vấn đề truyền thông về di sản văn hoá vật thể địa phương trên báo chí địaphương với mong muốn mở ra ở một cách tiếp cận mới mẻ, thiết thực và đềxuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả truyền thông của báo chí địa phương

về di sản văn hoá địa phương nói chung Do đó, khi giải quyết được vấn đềluận văn đặt ra sẽ có ý nghĩa thực tiễn rất lớn trong việc bảo tồn và phát huy

di sản văn hoá vật thể nói riêng và hệ thống di sản văn hoá nói chung của địaphương trong tương lai

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp cụ thể, góp phần nâng cao hiệu quả công táctruyền thông của báo chí địa phương đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị disản văn hoá vật thể nói riêng và di sản văn hoá nói chung tại Cà Mau

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện nhiệm vụ sauđây:

Trang 22

- Làm rõ những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài, đặc biệt là lýthuyết truyền thông báo chí; các cơ sở lí thuyết, phương pháp luận và cơ sởthực tiễn của sự cần thiết nghiên cứu việc bảo tồn, phát huy di sản văn hoá vậtthể trên báo chí, đặc biệt là báo in và báo điện tử.

- Điều tra xã hội học bằng bảng hỏi/ trưng cầu ý kiến các nhóm côngchúng Cà Mau đối với vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể Mẫunghiên cứu được tiến hành trên 300 người (300 phiếu điều tra)

- Phỏng vấn sâu các lãnh đạo quản lý văn hoá địa phương, quản lý báochí địa phương, các phóng viên, biên tập viên đang hoạt động nghề nghiệp tại

Cà Mau

- Chỉ rõ sự tác động của hoạt động báo chí truyền thông đối với bảo tồn

và phát huy gía trị di sản văn hoá vật thể đối với sự phát triển của trình độ dântrí, phát triển văn hoá, kinh tế của địa phương

- Đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng hoạt động báochí địa phương, nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu công chúng địa phươnggắn với nhiệm vụ bảo tồn, phát huy di sản văn hoá vật thể của Cà Mau

4 Đố i tượng và p h ạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn đi sâu nghiên cứu công tác truyền thông báo chí trên báo in

và báo điện tử của địa phương về vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoávật thể trên địa bàn tỉnh Cà Mau

Trang 23

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian' Luận văn tập trung nghiên cứu công tác truyền

thông báo chí trên báo in và báo điện tử Cà Mau trong việc thông tin về vấn

đề bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể giới hạn trong phạm vi 12 ditích LS - VH được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia

và 31 di tích lịch sử - văn hóa được Uỷ ban nhân dân tỉnh Cà Mau xếp hạng ditích cấp tỉnh

Cuối năm 2019, tỉnh Cà Mau tổ chức chuỗi sự kiện văn hoá với chủ đề

“Tuần Văn hoá - Du lịch Mũi Cà Mau”, đây được coi là cao điểm truyềnthông hiếm hoi về các giá trị văn hoá truyền thống của Cà Mau, trong đó có disản văn hoá vật thể

Thêm nữa, c ng trong năm 2019, diện mạo và các quyết định, dự ánđầu tư về di sản văn hoá vật thể của Cà Mau đã định hình tương đối rõ ràng,

có đủ căn cứ pháp lý và cứ liệu khoa học để khảo sát, phân tích và đánh giátrong luận văn

5 P hương phá p luận và p hương p h áp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lí luận

Luận văn dựa trên cơ sở những quan điểm Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về báo chí, văn hoá Hệ thống lýluận của Báo chí học và các bộ môn khoa học liên ngành

Trang 24

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng tổng hợp các phươngpháp sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: nhằm mục đích tìm cơ sở

cho việc xây dựng hệ thống lí thuyết về truyền thông báo chí các vấn đề vănhoá, trong đó có việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá vật thể Cà Mau.Đồng thời tiến hành một số cuộc điều tra hữu ích cho việc đối chiếu và thamkhảo về vấn đề nghiên cứu việc truyền thông bảo tồn và phát huy di sản vănhoá vật thể, nằm trong khuôn khổ công trình nghiên cứu, tạo lập cơ sở choviệc so sánh đánh giá các kết quả khảo sát, tìm ra những giải pháp khoa họccho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp điều tra xã hội học (bảng hỏi anket): Mục tiêu của

phương pháp này là thu nhận sự đánh giá của công chúng tỉnh Cà Mau quacác nhóm công chúng được lựa chọn

- Phương pháp phỏng vẩn sâu: Tác giả thực hiện 8 phỏng vấn sâu:

phỏng vấn nhà quản lí báo in, báo điện tử; phỏng vấn nhà quản lý ngành vănhoá, di tích; phỏng vấn các biên tập viên và phóng viên chuyên mảng văn hoá

- xã hội của các đơn vị báo chí Cà Mau

- Các phương pháp: Phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp, đối chiếu nêu trên đều có tác động tích cực và hiệu quả vào kết quả nghiên cứu

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Ỷ nghĩa lý luận

Việc giải quyết vấn đề đặt ra của luận văn sẽ góp phần bổ sung, pháttriển và làm rõ thêm vai trò của báo chí trong việc bảo tồn và phát huy các giátrị văn hoá truyền thống Mặt khác, luận văn đi sâu vào việc thay đổi nhậnthức và sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị disản văn hoá vật thể tại một địa phương cụ thể là Cà Mau trên báo chí, sẽ gópphần tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn chung của các địa phương khác

Trang 25

trong vấn đề truyền thông báo chí về văn hoá một cách khoa học,

- Cải thiện hiệu quả, chất lượng và phương thức truyền thông báo chí

về các vấn đề văn hoá tại địa phương Cà Mau

- Góp phần bảo tồn và phát huy được tài sản di sản văn hoá vật thể đãđược xếp hạng của địa phương, từ đó tạo tiền đề cho sự phát triển văn hoá,kinh tế, xây dựng được các giá trị cốt lõi, phẩm chất tốt đẹp của con người CàMau trong tương lai

- Góp phần phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo trong công tácquản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Cà Mau, có thể làm tài liệutrong việc giảng dạy, học tập đối với những người muốn tìm hiểu về công tácquản lý di tích lịch sử - văn hóa của tỉnh Cà Mau Gợi mở những hướng pháttriển báo chí của địa phương trong lĩnh vực tuyên truyền các vấn đề liên quanđến bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống

7 Bố cục của luận vă n

Luận văn, ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,nội dung của luận văn được chia thành 03 chương:

C hươn g 1: Cơ s ở lý th uy ết của đề tà i

C hươn g 2: Báo chí Cà Mau truy ề n th ô n g về d i s ả n vă n h 0 á

Trang 26

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong chương 1 này, chúng tôi tập trung để làm rõ khung lý thuyết

và một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn Chương này cũng sẽ chỉ ramối quan hệ giữa báo chí địa phương với truyền thông về di sản văn hoá vậtthể địa phương Làm rõ thêm việc lựa chọn thời gian và chọn loại hình báo in,báo điện tử để khảo sát Trên cơ sở đó, tạo nền tảng để các chương tiếp theogiải quyết những vấn đề đặt ra của luận văn

1.1 H ệ t hố n g kh á i n iệm li ê n q ua n đế n đề tà i

1.1.1 Các khái niệm báo chí được sử dụng trong luận văn:

Khái niệm về truyền thông: Theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững: “Truyền

thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm , chia sẻ kỹnăng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biếtlẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thau đổi nhận thức,tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cánhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triểnbền vững”[13, tr 15] Theo đó, truyền thông mang bản chất xã hội bởi truyềnthông là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội; là phương tiện và phương thứcliên kết xã hội; là phương tiện và phương thức can thiệp xã hội

Trong giáo trình Cơ sở lý luận báo chí truyền thông của Trường Đại học

Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) có định nghĩa: “Truyền thông làmột quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kĩ năng nhằmtạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức”[21, tr 24]

Như tác giả Mai Quỳnh Nam đã nói: “Hoạt động truyền thông chỉ có ýnghĩa khi nó kích thích được lợi ích của đối tượng tiếp nhận, thuyết phục họ

về mặt nhận thức, tạo cho họ hành động chung Từ ý nghĩa đó, người ta nhận

Trang 27

thấy khả năng truyền bá rộng lớn của hoạt động truyền thông trong

hiện các mục tiêu phát triển” [19, tr 9 - 14].

PGS TS Dương Xuân Sơn trong chuyên khảo về Các loại hình báo chítruyền thông đã nêu khái niệm về truyền thông như sau: “Truyền thông là mộtquá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kinh nghiệm, kỹnăng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi vànhận thức” [17, tr 15]

Khái niệm truyền thông đại chúng: “Truyền thông đại chúng có thể

được hiểu là hệ thống (hoặc mạng lưới) các phương tiện truyền thông hướngtác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước,khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin, chia sẻ, nhằm lôi kéo và tậphợp, giáo dục thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội và nhândân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - văn hoá - xã hội đã vàđang đặt ra” [13, tr 40]

Thuật ngữ truyền thông đại chúng (TTĐC) trong tiếng Anh là “massmedia” hay “mass communication” Từ góc nhìn xã hội học, nhà nghiên cứuMai Quỳnh Nam cho rằng: “TTĐC là toàn bộ những phương tiện lan truyềnthông tin như báo chí, truyền hình, phát thanh.tới những nhóm công chúnglớn” [19, tr 3]

Cũng theo PGS TS Nguyễn Văn Dững, “Trong truyền thông và truyềnthông đại chúng, báo chí có vị trí trung tâm và vai trò nền tảng trong việcquyết định sức mạnh, bản chất và khuynh hướng chính của truyền thông nóichung” [13, tr 50]

Bản chất của báo chí truyền thông “là hoạt động thông tin - giao tiếp xãhội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã hội hữuhiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mốiquan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợiích, với các nước trong khu vực và quốc tế.” [13, tr 61]

Trang 28

PGS TS Dương Xuân Sơn đưa ra khái niệm về truyền thông đại chúngnhư sau: “Truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống hoặc mạnglưới các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng

xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) đểthông tin chia sẻ, nhằm lôi kéo và tập hợp giáo dục, thuyết phục và tổ chứcđông đảo công chúng xã hội nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn

đề kinh tế, văn hoá xã hội đã và đang đặt ra” [17, tr 34]

Như vậy, truyền thông không chỉ có báo chí, mà còn có rất nhiều loạihình, phương thức, dạng thức khác nhau Tuy nhiên, báo chí đóng vai tròtrung tâm, nền tảng Trong phạm vi khảo sát của luận văn, truyền thông đượchiểu là truyền thông báo chí và không bàn tới các loại hình, dạng thức, cáchthức truyền thông khác Từ những luận điểm các nhà nghiên cứu đã nêu,

chúng ta thấy rằng TTĐC là quá trình xã hội mà các nhà truyền thông chuyển tải thông điệp qua các PTTTĐC để liên kết công chúng nhằm giải quyết các vẩn đề xã hội đặt ra Cách hiểu này nhấn mạnh TTĐC là một quá trình xã hội

có mối liên hệ với các phương tiện TTĐC như báo, sách, phát thanh, truyềnhình, quảng cáo gọi là kênh Để quá trình truyền thông hiệu quả, tổ chứctruyền thông cần nghiên cứu kỹ về ưu - nhược điểm của các kênh để có sự lựachọn phù hợp

Khái niệm Báo in: “ Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, bằng ký

hiệu chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự kiện

và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định” [13, tr 101] Báo in là loạihình báo chí ra đời sớm nhất trong lịch sử nhân loại Nhờ vận dụng nhữngthành tựu khoa học kỹ thuật mới đã giúp cho báo in có những bước tiến trongcông nghệ như quy trình làm báo Đồng thời báo in c ng ngày càng phongphú, chất lượng hơn về nội dung thông tin và hình thức trình bày

Trang 29

-Báo in được thực hiện dưới nhiều hình thức: nhật báo, tuần báo, bánnguyệt san, nguyệt san, lưỡng nguyệt san Riêng ở các nước phát triển thì cóbáo buổi sáng, báo buổi chiều, báo bình dân, báo quốc gia, báo địa phương,nhật báo đặc biệt Mỗi loại báo in như vừa nêu có trình bày, nội dung phảnánh, đối tượng độc giả khác nhau, thời gian phát hành khác nhau.

Quan điểm về khái niệm báo in khá đồng nhất, có thể kể đến khái niệmbáo in mà PGS TS Hà Huy Phượng, “Báo in là thuật ngữ chỉ một loại hìnhbáo chí định kỳ thông tin thời sự các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hộithông qua việc sử dụng ngôn ngữ chữ viết và kỹ thuật in ấn để chuyển tảithông tin” [23, tr 25]

Khái niệm Báo điện tử: PGS TS Nguyễn Văn Dững dùng thuật ngữ

“báo mạng điện tử” để gọi tên loại hình báo chí này Theo đó, đây là “loạihình báo chí - truyền thông tồn tại, phát triển trên mạng internet toàn cầu Làkênh truyền thông đặc thù ra đời sau, báo mạng điện tử đã hội tụ được nhiều

ưu điểm nổi trội của các kênh truyền thông trước đó, đồng thời cũng bộc lộnhững bất cập” [13, tr 123] Báo điện tử chỉ tồn tại, phát triển và quảng bátrên mạng internet

Trong Điều 3, Chương 1 của Luật số 12/1999/QH10 ngày 12/6/1999 về

Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí được Quốc hội nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/12/1989 cũng có ghi thuật ngữ

“Báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt,tiếng dân tộc thiểu số và tiếng nước ngoài” để chỉ về loại hình báo chí này.Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máytính, tuy chỉ vừa mới xuất hiện trong thời gian gần đây nhưng đã có một chỗđứng nhất định trong lòng độc giả Sự xuất hiện của báo mạng điện tử đã gây

ra những xáo trộn đối với các loại hình báo chí khác khi tạo nên cuộc cạnh

Trang 30

tranh với truyền hình, phát thanh, báo in và báo điện tử đang chiếm

1.1.2 Một số khái niệm về văn hoá được sử dụng:

Khái niệm Di sản văn hoá

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [24,

tr 254] Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã địnhnghĩa: “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao chothế hệ hiện nay và những gì mà các nhóm người quan trọng trong xã hội hiệnnay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” [29, tr 20]

Như vậy, di sản văn hoá được hiểu như là tài sản, báu vật của thế hệtrước để lại cho thế hệ sau Di sản văn hoá là các tài sản văn hóa như các tácphẩm nghệ thuật dân gian, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc,các tác phẩm văn học mà các thế hệ trước để lại cho hậu thế mai sau

Luật di sản văn hóa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xácđịnh:

Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vậtthể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, đượclưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam [3, tr 17]

Sự ra đời của Luật di sản văn hóa năm 2001 cùng các văn bản hướngdẫn đi kèm đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường nhận thức

và hành động cho toàn xã hội, tăng cường sự hiểu biết về di sản và quá trình

Trang 31

bảo vệ, phát huy kho tàng di sản văn hóa của dân tộc.

Trang 32

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng và Nhànước ta đã ban hành nhiều chủ trương đường lối, chính sách bảo vệ và pháthuy giá trị di sản văn hoá nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân,góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước Di sản văn hoá Việt Nam khiđược bảo tồn, kế thừa và phát huy sẽ có tác dụng tích cực trong xây dựng vàphát triển văn hóa Việt Nam đương đại, kết hợp với quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Di sản văn hoá phi vật thể: Khoản 1 Điều 1 Luật di sản văn hóa sửa

đổi 2009 nêu rõ, Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn vớicộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trịlịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừngđược tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyềnmiệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác

Di sản văn hoá vật thể: Điều 4 Luật di sản văn hóa 2001 định nghĩa:

“Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoahọc, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật,bảo vật quốc gia”

Trong giới hạn của đề tài và đối chiếu với điều kiện thực tế tại Cà Mau,chúng tôi đề xuất phạm vi của đề tài là đối tượng sau đây:

Di tích LS - VH: Được gọi là di tích LS - VH vì chúng được tạo ra bởi

con người (tập thể hoặc cá nhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử,văn hóa của con người Văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất và vănhóa tinh thần

Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm quy định về di tích LS - VH,

thông thường nhất, theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Di tích là các loại dẩu V ết của quá khứ, là đổi tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học Di tích là di sản Văn hóa - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [26, tr 667].

Trang 33

Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng nhà nước, nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 31/3/1984 về bảo vệ và sử

dụng di tích LS VH và danh lam thắng cảnh quy định rõ: “Di tích lịch sử văn

-hoá là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có

lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị văn hóa khác hoặc có liên quan

đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội ” [31, tr 3].

Luật di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật di sản văn hóa năm 2009, quy định: “Di tích LS - VH là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [11, tr 33].

Từ khi Luật Di sản ra đời vào năm 2001 đã có vai trò to lớn trong cả

nhận thức, hành động và hoàn thiện hệ thống pháp lý làm căn cứ cho việc bảotồn, phát huy giá trị của di sản văn hoá vật thể nói riêng và các giá trị di sản

văn hoá Việt Nam nói chung Trong Luật Di sản nêu rõ: “Bảo tồn là bảo vệ

và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là giữ lại, không để mẩt đi, không để bị thay đổi, biến hoá hay biến thái ”.

Phát huy được hiểu là quá trình làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt lan toảtác dụng và liên tục phát triển từ ít đến nhiều, từ phạm vi hẹp sang phạm virộng, từ đơn giản đến phức tạp Có thể nói, phát huy chính là hiệu quả khaithác, sử dụng một sản phẩm nào đó đạt đến mức tối ưu

Mục tiêu hướng đến của quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị của disản văn hoá vật thể nói riêng là làm cho các tinh hoa văn hoá tốt đẹp của dântộc được bảo lưu, tồn tại, kế thừa và lan toả vào cộng động, tiếp tục duy trìsức sống và giá trị của di sản văn hoá vật thể vào tiến trình phát triển chungcủa xã hội

Trang 34

Bảo tồn và phát huy luôn có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng, là 2 quátrình song hành có tác động tương hỗ lẫn nhau Chỉ khi nào bảo tồn thànhcông thì quá trình phát huy mới có điều kiện, cơ sở thực hiện, và ngược lại,

Trang 35

chỉ khi nào phát huy tốt các giá trị vốn có của di sản văn hoá vật

1.2.1. Hệ thống di sản văn hoá vật thể ở Cà Mau

Năm 2012, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tham mưu cho Uỷ banNhân dân tỉnh Cà Mau thành lập Ban Quản lý Di tích trực thuộc Sở, nhưngviệc phân công chưa vào ổn định, việc thực hiện hồ sơ di tích, phụ tráchchuyên môn giao cho Bảo tàng tỉnh Cà Mau thực hiện, Ban Quản lý Di tíchchỉ chịu trách nhiệm tham mưu trùng tu, tôn tạo di tích

Tỉnh Cà Mau có 12 di tích LS - VH và danh thắng được Bộ TT&DL xếp hạng di tích quốc gia, 31 di tích LS - VH được UBND Cà Mauxếp hạng di tích cấp tỉnh Trong những năm qua, Sở VH, TT&DL đã xâydựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê,bảo tồn và phát huy giá trị di tích theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩmquyền duyệt nhưng do nguồn nhân lực còn thiếu nên việc triển khai gặp nhiềukhó khăn, kết quả trong những năm qua đã tổ chức quy hoạch trên 60% số

VH-lượng các di tích, sưu tầm trên 500 hiện vật (theo báo cáo của Bảo tàng tỉnh

Cà Mau).

1.2.2. Hệ thống Di sản văn hoá phi vật thể tại Cà Mau

Tỉnh Cà Mau đã công bố danh mục 40 di sản văn hoá phi vật thể trênđịa bàn tỉnh để các ngành, địa phương bảo tồn, phát huy các giá trị và thựchiện quản lý theo quy định của pháp luật

Theo đó, 40 di sản văn hoá phi vật thể được công bố có 6 loại hình gồmNgữ văn dân gian gồm: Giai thoại Bác Ba Phi; nói thơ Bạc Liêu

Nghệ thuật trình diễn dân gian gồm: Cải lương; múa lân; hát Quảng,hát Tiều; đờn ca tài tử Nam Bộ; dù kê (Khmer); nhạc ngũ âm (Khmer)

Trang 36

Tập quán xã hội gồm: Thờ Bà Thiên Hậu; thờ Bà Chúa Xứ; thờ NgũHành nương nương; lễ hạ điền; cúng tổ nghề; lễ mừng thọ; cúng cô hồn; thờÔng Bổn (Hoa); thờ cúng gia tiên.

Lễ hội truyền thống gồm: Lễ hội Nghinh Ông Sông Đốc; lễ Seldolta; lễChol Chnam Thmay; lễ Ok Om Bok; lễ vía Bà Thiên Hậu; lễ hội Đền Hùng;

lễ Kỳ Yên; lễ vía Bà Thuỷ Long

Nghề thủ công truyền thống gồm: Làm mắm; dệt chiếu; muối ba khía(Rạch Gốc); gác kèo ong (U Minh Hạ); làm tôm khô (Rạch Gốc); nấu rượu;hầm than; đan lát; rèn; làm bún; mộc

Tri thức dân gian gồm: Trị bệnh Đông y (bằng thuốc Nam); trị rắn, rết,chó

cắn; trị trật khớp (tay, chân ); trị bệnh bằng “mẹo” (mắc xương cá, dời ăn )

Đặc biệt, năm 2013, nghệ thuật đờn ca tài tử được UNESCO vinh danh

là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện nhân loại và tháng 12/2019, nghề gác

và muối ba khía được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia

1.2.3. Vài nét về quá trình hình thành của hệ thống di sản văn hoá Cà Mau

Cà Mau là vùng đất trẻ mới được mở mang khai khẩn cách đây khoảngtrên 300 năm Trước thế kỷ XVII, đây là một vùng ẩm thấp sình lầy, hoang du(theo báo cáo tổng quát của tham biện đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu Lamothe deCarrier gửi Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers tháng 12 năm 1882, vùngBạc Liêu - Cà Mau đồng cỏ bao la che kín trời Cùng thời điểm này, lịch sửkhai hoang miền Nam ghi: Vùng Mũi Cà Mau, tức huyện Long Xuyên thời

Tự Đức với rừng đước rừng tràm, phần lớn đất thấp như phía Nam Rạch Giá,nhưng Cà Mau là vùng đất mới) [2, T1, tr 12]

Vào những năm cuối thế kỷ XVII, hưởng ứng sự chiêu mộ của MạcCửu (Mạc Cửu theo nhiều sử liệu ghi lại, tháng tám năm Mậu Tý 1708, trấn

Hà Tiên được thành lập, Mạc Cửu được chúa Nguyễn Phúc Chu cử làm Tổng

Trang 37

binh vùng Cà Mau - Long Xuyên thuộc trấn Hà Tiên Sau năm 1778, xã CàMau thuộc trấn Hà Tiên c ng chịu ảnh hưởng cuộc chiến tranh, việc khẩn

Trang 38

hoang và thương mại chậm phát triển nhưng ý thức về chiến đấu

chúa sưu dịch, chống ngoại xâm (năm Tân Mão 1771) với quân Xiêm do Quốc Vương Phi-a-tếc xua đại quân xâm lược Hà Tiên, con người Cà Mau được rèn luyện nung nấu trong một bối cảnh lịch sử hết sức dữ dội,

Đất Cà Mau vào thế kỷ XVII, XVIII về cơ bản vẫn còn hoang dã, sìnhlầy, rừng thiên nước độc, cá sấu, muỗi mồng, rắn rết khung cảnh thiênnhiên cây côi sầm uất, nguy hiểm, nơi đã từng được hình tượng hóa bằngnhững câu “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”; “Muỗi kêu như sáo thổi,đỉa lềnh tựa bánh canh”; “xuống sông hốt trứng sấu, lên bờ xĩa răng cọp”

Vào nửa sau thế kỷ XIX, với chính sách của thực dân Pháp là nhanhchống biến vùng đất phì nhiêu này thành nơi cung cấp nguồn nông sản hànghóa chủ yếu để xuất khẩu và sự ra đời các kênh đào rộng lớn chảy qua vùngnày như kênh Xà No từ sông Cái Lớn tới Cần Thơ, kênh Cà Mau - BạcLiêu công cuộc khai khẩn đất đai diễn ra với tốc độ nhanh Chỉ trong vòng

42 năm, từ năm 1888 đến năm 1930, vùng Cà Mau - Bạc Liêu đã có tới311.015 ha đất hoang trở thành ruộng lúa, phần lớn ở Cà Mau và dọc hai bêncon kênh từ Bạc Liêu đến Cà Mau

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Cà Mau c ng là nơi có nhiềutôn giáo Hai tôn giáo ra đời sớm và có đông tín đồ nhất là Phật giáo và ThiênChúa giáo Còn các tôn giáo khác ra đời muộn hơn, trong đó có đạo Cao Đài.Đạo Cao Đài và Phật giáo lại phân chia thành nhiều phái Ở Cà Mau có các

Trang 39

phái chính như Cao Đài Minh Chơn đạo, Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Tiên

Thiên, Thiền Lâm Phật giáo, Ni giới Việt Nam Nói chung, tín đồ các tôn giáo phần đông đều là những nông dân nghèo khổ và có tinh thần yêu nước,

vừa lo phần đạo vừa làm tròn phận sự đối với dân tộc và tin tưởng vào Đảng

Cộng sản Việt Nam, hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh, căm thù quân giặc xâm

lược, ủng hộ và tham gia kháng chiến nhiều giáo sĩ và tín đồ lập thành tích

xuất sắc được Đảng và Chính phủ khen tặng [2, T1, tr 25-26].

Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giương cao ngọn cờ giải phóngdân tộc, giải phóng gia cấp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ ChíMinh, nhân dân Cà Mau hết lòng, hết dạ trung thành với sự nghiệp cáchmạng, xả thân chiến đấu, lập nên biết bao kỳ tích anh hùng hơn nữa thế kỷqua, góp phần cùng cả nước giành độc lập, tự do và tiến lên xây dựng mộtnước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu đẹp văn minh [2, T1, tr 28-29]

1.2.4 Quan điểm về truyền thông di sản văn hoá vật thể địa phưong tại Cà Ma u

Trong những năm gần đây, tỉnh Cà Mau liên tiếp triển khai nhiều kếhoạch, chương trình hành động nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hộilần thứ XV của Đảng và Nghị quyết Đảng bộ tỉnh

Năm 2004, tỉnh Cà Mau đã tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết TW 5(khóa VIII) Đây là điều kiện thuận lợi hết sức cơ bản để ngành Văn hóa -Thông tin (nay là ngành VH-TT&DL), soi rọi những mặt làm được và chưađược theo nội dung của Nghị quyết đã đề ra, từ đó đúc kết những bài học kinhnghiệm trong quá trình thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tuyêntruyền và luôn giữ vững môi trường văn hóa lành mạnh

Công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch đãkhông ngừng được củng cố, thể hiện tốt nhiệm vụ tham mưu cho UBND tỉnhcác văn bản quy phạm pháp luật đối với việc quản lý Nhà nước trên lĩnh vựcvăn hóa, thể thao và du lịch, báo chí xuất bản, dịch vụ văn hóa, sự xâm hạiđến di tích LS - VH Về công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra xử lý các vụ

Trang 40

việc vi phạm trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch, dịch vụ văn hóa, sựxâm hại đến di tích LS - VH luôn được tăng cường, kịp thời xử lý nghiêm đốivới các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực ngành quản lý.

Hoạt động phục vụ công tác tuyên truyền là một trong các nội dung cơbản của hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch, luôn chú trọng đến kế hoạchtuyên truyền phục vụ các sự kiện chính trị của địa phương và các ngày lễ lớncủa đất nước Luôn quan tâm theo sát tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị số27/CT-TW và Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg về thực hiện nếp sống văn minhtrong việc cưới, tang, lễ hội bên cạnh đó công tác xây dựng đời sống vănhóa ở cơ sở và phát triển sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch Cà Mau cũng

có nhiều chuyển biến tích cực Đã thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kếtxây dựng đời sống văn hóa tốt Đặc biệt là trú trọng, quan tâm đến công táclập hồ sơ di tích, trùng tu, tôn tạo các di tích đã xuống cấp, từng bước cũng cốcông tác tuyên truyền và giới thiệu, phát huy giá trị của các di tích lịch sử -văn hóa trên địa bàn tỉnh Cà Mau [5, tr 20]

Tháng 12/2019, tỉnh Cà Mau tổ chức sự kiện Tuần lễ Văn hoá - Du lịchĐất Mũi đã đẩy mạnh việc truyền thông về hình ảnh đất và người Cà Mau,trong đó có việc đẩy mạnh truyền thông về di sản văn hoá nói chung và di sảnvăn hoá vật thể nói riêng

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XV cũng đã nêu rõ, xácđịnh Du lịch sẽ là hướng phát triển đột phá, trong đó có các loại hình du lịchdựa vào cộng đồng, sinh thái, tâm linh.mà di sản văn hoá vật thể là mộtnguồn lực vô cùng quan trọng Do đó, tỉnh Cà Mau đẩy mạnh công tác quảng

bá, truyền thông về di sản văn hoá trên tất cả các loại hình, phương thức,trong đó báo chí địa phương đóng vai trò trung tâm, quan trọng

Ngày đăng: 22/02/2021, 09:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2005), Nghiên cứu văn hóa và ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn hóa và ngữ văn
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
2. Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di tích lịch sử - vănhóa
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1993
3. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2006), Truyền thông - lí thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Lí luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - lí thuyết và kỹ năngcơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Lí luận chính trị
Năm: 2006
4. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao Động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao Động
Năm: 2012
5. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên, 2017), Báo chí - Truyền thông, những điểm nhìn từ thực tiễn (tập 3), Nxb Đại học Quốc giá Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí - Truyền thông, nhữngđiểm nhìn từ thực tiễn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giá Hà Nội
6. Hà Minh Đức (chủ biên) (1994) (1996), Báo chí - những vẩn đề lí luận thực ti n, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí - những vẩn đề lí luậnthực ti n
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên) (1994)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
7. Lý Thị Dinh (2015), Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trên chương trình truyền hình tiếng Mông kênh VTV5, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy văn hoá dân tộc Mông trênchương trình truyền hình tiếng Mông kênh VTV5
Tác giả: Lý Thị Dinh
Năm: 2015
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
9. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứXI (2010), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứXI
Tác giả: Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứXI
Nhà XB: Nhà xuấtbản Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
10.Đảng Cộng sản Việt Nam (1998) Văn kiện Hội nghị Trung ương Đảng lần th 5 khó VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương Đảnglần th 5 khó VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
11. Luật Di sản văn hóa và văn bản hưởng dân thi hành (2003), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Di sản văn hóa và văn bản hưởng dân thi hành
Tác giả: Luật Di sản văn hóa và văn bản hưởng dân thi hành
Nhà XB: Nhà xuấtbản Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
12.Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau (2004), Lị ch sử Đảng bộ tỉnh Cà Mau, Nxb Phương Đông, Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lị ch sử Đảng bộ tỉnh CàMau
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2004
13.Nguyễn Thị Bích Đào (2007), Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa Khu di tích nhà tù Côn Đảo, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - vănhóa Khu di tích nhà tù Côn Đảo
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Đào
Năm: 2007

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w