Tuy nhiên đối với mỗi một giải pháp ngoài việc đem lại hiệu quả nhất định thì cùng đều gặp phải những khó khăn riêng như: Doanh nghiệp chưa chủ động tiếp cận với các văn bản quy phạm phá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRÊN LÃNH THỔ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Công nghệ thực phẩm
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Vũ Hồng Sơn
Hà Nội – Năm 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng bản luận văn này là kết quả nghiên cứu do bản thân mình thực hiện với sự cộng tác của các đồng nghiệp hiện đang công tác tại Viện Tiêu chuẩn Anh (BSI) tại Việt Nam Những số liệu đưa ra là hoàn toàn trung thực
từ các báo cáo đánh giá chứng nhận, báo cáo đánh giá định kỳ, báo cáo đánh giá tái chứng nhận và không vi phạm bản quyền của bất kỳ tác giả nào khác
Tôi cũng xin trân thành cảm ơn các thấy cô giáo bộ môn Quản lý chất lượng, Viện Công nghệ Sinh học, các đồng nghiệp tại BSI đã tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thiện kết quả nghiên cứu của mình
Hà Nội, ngày 03 tháng 04 năm 2018
HỌC VIÊN
Trần Dũng Tiến
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 4
1.1 Lịch sử ra đời của hệ thống quản lý chất lượng ISO 4
1.1.1 Lịch sử ra đời hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 4
1.1.2 Lịch sử ra đời hệ thống quản lý chất lượng ISO 22000:2005 6
1.2 Lợi ích của việc áp dụng và đạt được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn theo ISO 9001:2008 VÀ ISO 22000:2005 8
1.3 Vấn đề gặp phải khi xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm theo ISO 9001: 2008 và ISO 22000:2005 11
1.3.1.Thiếu sự quan tâm của lãnh đạo cao nhất (Lý do dẫn đến thiếu sự quan tâm là 11
1.3.2 Thiếu sự tham gia đầy đủ của toàn tổ chức trong quá trình xây dựng và áp dụng HTQL 12
1.3.3 Hệ thống quản lý được xây dựng không thích hợp 12
1.3.4 HTQL thiếu sự liên kết và tích hợp với các lĩnh vực quản lý khác 13
1.3.5 HTQL không giúp cải thiện hiệu quả hoạt động 14
1.3.6 Tổ chức thiếu khả năng duy trì và cải tiến HTQL sau chứng nhận 15
1.3.7 Không hiểu các yêu cầu của tiêu chuẩn dẫn đến việc áp dụng còn rườm rà, nặng nề về mặt giấy tờ, không đạt được kết quả mong muốn 15
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Mục tiêu của đề tài 16
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 16
Trang 42.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 16
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 16
2.2.1 Nội dung nghiên cứu 16
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 17
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 19
3.2 Tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá ISO 9001:2008 20
3.3 Phân tích các phát hiện các phát hiện đánh giá của ISO 9001:2008 23
3.4 Tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá của ISO 22000:2005 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
4.1 Nhận xét chung về tình hình áp dụng hệ thống Quản lý chất lượng, chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm theo ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005 tại một số nhà máy sản xuất thực phẩm tại Việt Nam 88
4.2 Tổng kế những điểm còn tồn tại 88
4.3 Những đề xuất cần cải tiến 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 5VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
CLVSATTP Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
HTQL Hệ thống quản lý
HTQLCL Hệ thống quản lý chất lượng
HTQLATTP Hệ thống quản lý An toàn thực phẩm
ISO International Standards Organization: Tổ chức tiêu chuẩn hóa
Quốc tế HACCP Hazard Analysis Critical Control Points: Phân tích mối nguy
và kiểm soát những điểm trọng yếu (tới hạn) CCP Điểm kiểm soát trọng yếu (tới hạn)
GMP Thực hành sản xuất tốt
SSOP Hệ thống thực hành vệ sinh tốt
FSMS Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm
FDA Cục quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ
PRPS Các chương trình tiên quyết
CODEX Ủy ban tiêu chuẩn hóa thực phẩm
P-D-C-A Plan – Do – Check – Action: Lập kế hoạch – Thực hiện –
Kiểm tra – Đưa ra hành động
IAV1 1st Initial Assessment Visit: Đánh giá giai đoạn 1
IAV2 2nd Initial Assessment Visit: Đánh giá giai đoạn 2
RAV Re Assessment Visit: Đánh giá tái chứng nhận
CAV1 Continuing Assessment Visit: Đánh giá giám sát lần 1
EAV Extension assessment visit: Đánh giá mở rộng phạm vi
NC(Nonconformity) Điểm không phù hợp
OBS (Observation) Điểm lưu ý
OFI: Opportunity
for Improvement
Cơ hội, đề xuất cải tiến
BSI British Standard Intitute
CB Certification Body – Tổ chức chứng nhận
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH
Hình 1: Biểu đồ tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá của ISO 9001:2008 22
Hình 2: Biểu đồ tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá của ISO 22000:2005 59
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 1 Số lượng chứng chỉ được cấp tại Việt Nam trong năm 2014 và 2015 7
Bảng 2 Mô tả thông tin về số lượng báo cáo được nghiên cứu 19
Bảng 3: Tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá ISO 9001:2008 20
Bảng 4: Tần suất xuất hiện phát hiện đánh giá nhiều nhất của ISO 9001:2008 23
Bảng 5: Phân tích yêu cầu của các điều khoản trong ISO 9001:2008 23
Bảng 6: Tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá ISO 22000:2005 57
Bảng 7: Tần suất xuất hiện phát hiện đánh giá nhiều nhất của ISO 22000:2005 60
Bảng 8: Phân tích yêu cầu của các điều khoản trong ISO 22000:2005 60
Trang 71
MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề lớn được quan tâm hiện nay Theo báo cáo của Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội ngày 05.06.2017 về tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm cho thấy ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm diễn ra khá nghiêm trọng ở một số địa phương Trung bình có 167,8 vụ/năm với 5065,8 người mắc/năm
và 27,3 người chết do ngộ độc thực phẩm mỗi năm Việc kiểm soát ATTP theo chuỗi còn hạn chế Số lượng cơ sở thực phẩm được kiểm soát đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh chiếm tỷ lệ còn thấp Cũng theo báo cáo cho thấy nhiều cơ sở sản xuất thực phẩm chưa bảo đảm các điều kiện vệ sinh, chất lượng chưa được kiểm soát tốt dẫn đến các vụ mất an toàn thực phẩm vẫn xảy ra thường xuyên Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để kiểm soát được an toàn vệ sinh thực phẩm trong khi chất lượng cuộc sống ngày một nâng cao, mọi người chú trọng hơn đến chất lượng thực phẩm
mà họ sử dụng hàng ngày Hiện nay để quản lý và giải quyết vấn đề An toàn thực phẩm có thể có những giải pháp sau
1 Xây dựng và áp dụng hệ thống văn bản pháp luật: Thông qua việc tuân thủ luật, quyết định, thông tư hướng dẫn nhằm tăng cường việc kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm tại cơ sở
2 Cải tạo cơ sở vật chất: Chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh của sản phẩm chỉ được đảm bảo khi sản phẩm đó được sản xuất ở một cơ sở có thiết bị công nghệ hiện đại, có nhà xưởng được xây dựng phù hợp với những tiêu chuẩn quy định
để có thể ngăn ngừa, loại bỏ, giảm thiếu hoặc kiểm soát được những mối nguy mà
nó có thể ảnh hưởng đến an toàn vệ sinh của sản phẩm
3 Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm và chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn
Tuy nhiên đối với mỗi một giải pháp ngoài việc đem lại hiệu quả nhất định thì cùng đều gặp phải những khó khăn riêng như:
Doanh nghiệp chưa chủ động tiếp cận với các văn bản quy phạm pháp luật mà hiện nay chỉ dừng lại ở việc tiếp cập thụ động (có nghĩa là một tổ chức ngồi chờ
Trang 8những điều xảy ra đối với họ Tổ chức chỉ dựa trên thông tin phản hồi từ cơ quan quản lý, nhân viên và các thành viên của công chúng) hoặc tiếp cận phản ứng (có nghĩa là tổ chức chỉ hành động khi một tình huống không tuân thủ được đưa ra ánh sáng) và nhiều khi có được văn bản rồi cũng không biết phải thực hiện như thế nào Việc đầu tư cơ sở hạ tầng nhiều khi rất tốn kém nhưng lại không đem lại hiệu quả nhất định, nhiều nhà máy phải sửa đổi lại những phần cứng đã được xây dựng
để đảm bảo phù hợp với nhà máy sản xuất thực phẩm sau một thời gian hoạt động
Giải pháp cuối cùng là xây dựng hệ thống quản lý có lẽ cũng được nhiều doanh nghiệp xem xét lựa chọn vì giải pháp này mang tính “mềm” tức là doanh nghiệp có thể tự hoạch định và điều chỉnh Hệ thống quản lý sao cho phù hợp với mình nhằm đem lại hiệu quả và hiệu lực cao nhất Tưởng chừng như đơn giản nhất nhưng khi áp dụng vào thực tế, doanh nghiệp cũng vấp phải rất nhiều khó khăn, chưa kể có những doanh nghiệp còn gặp thất bại, phải bỏ cuộc giữa chừng Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại nhưng một trong những nguyên nhân đáng phải
kể đến là việc các doanh nghiệp chưa thực sự hiểu hết các yêu cầu của tiêu chuẩn
Là một người đã làm việc 14 năm liên quan đến ISO (bao gồm 2 năm làm tư vấn ISO, 12 năm chuyên gia đánh giá) với gần 1000 khách hàng và với hơn 2000 ngày công đánh giá tôi cũng đã hiểu được những nguyên nhân dẫn đến việc áp dụng ISO không thành công, gây tốn kém, lãng phí và đặc biệt là gây ra tâm lý chán nản Với hy vọng những kiến thức đã tích lũy trong hơn 10 năm làm nghề tôi muốn chia
sẽ những phần hiểu biết nhất định của mình xoay quanh việc phân tích rõ hơn các yêu cầu của tiêu chuẩn và mong muốn những chia sẻ này sẽ phần nào giúp các doanh nghiệp đã, đang và sẽ áp dụng ISO có cái nhìn rõ hơn và hiểu kỹ hơn về ISO
Trang 93
hiệu quả việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005 tại các doanh nghiệp
Luận văn bao gồm những nội dung chính như sau:
Tổng hợp số liệu từ các báo cáo đánh giá bao gồm đánh giá chứng nhận, tái chứng nhận, giám sát lần 1, lần 2, đánh giá mở rộng (nếu có) từ 2015 đến hết năm
2017 do Viện tiêu chuẩn Anh (BSI) đánh giá tại một số Doanh nghiệp sản xuất Thực phẩm trên lãnh thổ VN)
Tiến hành thống kê, phân tích để xác định các điểm hay bị sai lỗi so với các yêu cầu tiêu chuẩn và đưa ra các nguyên nhân sai lỗi
Phân tích bản chất yêu cầu của tiêu chuẩn và đề xuất một số giải pháp cải tiến
Trang 10CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ISO
1.1.1 Lịch sử ra đời hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008
ISO 9001:2008 là một tiêu chuẩn về hệ thống quản lý chất lượng đang được rất nhiều Doanh nghiệp/tổ chức trên khắp thế giới áp dụng Có hai luồng ý kiến khác nhau về hiệu quả mạng lại của tiêu chuẩn này, một luồng ý kiến cho rằng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 thực sự có ích cho Doanh nghiệp áp dụng, nhưng cũng có luồng ý kiến cho rằng ISO 9001:2008 không đem lại hiệu quả thậm chí còn làm cho hoạt động của Doanh nghiệp trở nên nặng nề, kém linh hoạt, …
Tuy nhiên có một thực tế rằng tiêu chuẩn ISO 9001 không phải chỉ do một nhóm người nghĩ ra, mà đó là cả một quá trình đúc kết kinh nghiệm của rất nhiều tổ chức trên toàn thế giới và hiện nay hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO được nhiều Doanh nghiệp tự nguyện áp dụng trên tất cả các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của mình, Nhiều khách hàng khi ký kết tiêu thụ sản phẩm cũng yêu cầu các công ty phải áp dụng hệ thống quản lý chất lượng này
- Năm 1955, Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương đưa ra các tiêu chuẩn về chất lượng cho tàu APOLO của Nasa, máy bay Concorde của Anh – Pháp
- Năm 1956, Bộ Quốc Phòng Mỹ thiết lập hệ thống MIL - Q9858, nó được thiết kế như là một chương trình quản trị chất lượng
- Năm 1968, NATO chấp nhận MIL-Q9858 (Allied Quality Assurance Publiacation 1- AQAP-1)
- Năm 1969, Anh, Pháp thừa nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn quốc phòng với các hệ
Trang 11a) ISO 9001:1994 với tên gọi: Hệ thống chất lượng - Mô hình đảm bảo chất lượng trong thiết kế/triển khai, sản xuất, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật
b) ISO 9002:1994 với tên gọi: Mô hình đảm bảo chất lượng trong sản xuất, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật
c) ISO 9003:1994 với tên gọi: Hệ thống chất lượng – mô hình đảm bảo chất lượng trong sản xuất, lắp đặt và dịch vụ kỹ thuật
- Năm 2000, tổ chức ISO hợp nhất 3 tiêu chuẩn ISO 9001:1994, ISO 9002:1994, ISO 9003:1994 thành một tiêu chuẩn ISO 9001:2000 Doanh nghiệp chỉ
áp dụng thủ tục thiết kế và phát triển khi trong thực tế Doanh nghiệp có tham gia thực hiện thiết kế sản phẩm mới Phiên bản ISO 9001:2000 đã thay đổi tư duy căn bản bằng cách đưa vào khái niệm “quản lý theo quá trình” và xem khái niệm này là trung tâm của tiêu chuẩn ISO 9001:2000 sử dụng kiểm soát quá trình để theo dõi,
đo lường và tối ưu các nhiệm vụ và hoạt động của Doanh nghiệp thay vì kiểm tra sản phẩm cuối cùng Phiên bản 2000 của ISO 9001 cũng yêu cầu sự tham gia của Lãnh đạo cao nhất, thông qua đó Lãnh đạo cao nhất sẽ tích hợp hệ thống quản lý
Trang 12chất lượng vào các hệ thống kinh doanh hiện tại, tránh trường hợp nhiều hệ thống chồng chéo cùng tồn tại trong một doanh nghiệp Mong đợi của tổ chức ISO đối với các Doanh nghiệp trong việc tăng cường cải tiến liên tục hệ thống và tăng sự hài lòng của khách hàng thông qua việc theo dõi và đo lường mức độ hài lòng của khách hàng cũng được thể hiện rõ ràng trong phiên bản này
Năm 2008, Tổ chức ISO lại một lần nữa nâng cấp phiên bản của tiêu chuẩn ISO 9001 có tên gọi đầy đủ là “ISO 9001:2008 Hệ thống quản lý chất lượng – Các yêu cầu” Hiện nay bộ Tiêu chuẩn ISO 9000 được áp dụng tại hơn 180 nước trên toàn thế giới Việt Nam là thành viên chính thức năm 1977 Tại Việt Nam,Tổng Cục Tiêu Chuẩn Đo lường Chất Lượng Việt Nam gọi tắt là STAMEQ (Directorate Management for Standards and Quality) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đưa tiêu chuẩn ISO 9000 vào hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam với mã hiệu là TCVN ISO 9001:2008
1.1.2 Lịch sử ra đời hệ thống quản lý chất lượng ISO 22000:2005
An toàn thực phẩm đã trở thành một vấn đề được quốc tế quan tâm trước sự bùng nổ về nhiễm độc thực phẩm Kết quả nghiên cứu khoa học cho thấy: “Dioxin, một hoá chất gây ung thư được phát hiện trong thịt gia súc, gia cầm và trứng Listeria là một loại trực khuẩn gây bệnh thường được phát hiện trong các sản phẩm tươi sống bao gồm các loại thịt nguội, pho mát và xúc xích” Năm 1999, sự kiện nhiễm khuẩn Listeria ở Mỹ đã gây ảnh hưởng tới hàng trăm người và 20 người chết
do ăn phải xúc xích Sau đó, Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA) và Ban kiểm tra và an toàn thực phẩm (FSIS) đã yêu cầu các nhà sản xuất thực phẩm
đồ nguội, đồ ăn nhanh phải đánh giá lại phương pháp quản lý an toàn thực phẩm Đồng thời, các nhà sản xuất phải tiến hành các hành động khắc phục cần thiết và
Trang 139001, https://www.iso.org/the-iso-story.html )
Theo Tổng cục thông kê hện nay trên lãnh thổ Việt Nam có khoảng 477.808 doanh nghiệp, trong đó có khoảng 8800 doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực thực phẩm, Đến năm 2015 đã có hơn 4000 doanh nghiệp sản xuất, chế biến kinh doanh thực phẩm đã triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2005 và ISO 22000 (bảng 1)
Bảng 1 Số lượng chứng chỉ được cấp tại Việt Nam trong năm 2014 và 2015 [1] (theo Quacert Việt Nam: http://www.quacert.gov.vn/vi/tin-tuc-noi-bat.nd149/khao-sat-cua-to-chuc-iso-ve-hoat-dong-chung-nhan-cac-tieu-chuan-he-thong-quan-ly-nam-2015.i477.html)
Tiêu chuẩn 2015 Mức tăng so với 2014
Trang 141.2 LỢI ÍCH CỦA VIỆC ÁP DỤNG VÀ ĐẠT ĐƯỢC CHỨNG NHẬN PHÙ HỢP TIÊU CHUẨN THEO ISO 9001:2008 VÀ ISO 22000:2005
1 Các quy trình vận hành được kiểm soát và có mức độ tin cậy cao – thông qua các việc tuân thủ các quy phạm thực hành sản xuất tốt, vệ sinh tốt (GMP, GHP, ) Các quy định, thao tác chuẩn đều được chuẩn hóa để đảm bảo nhân viên trong một tổ chức vận hành một cách thống nhất, nhất quán Tất cả các nhân viên có liên quan đều phải đọc và làm theo những quy trình/hướng dẫn công việc đó, đặc biệt là trong công việc có độ phức tạp cao và đòi hỏi sự làm việc nhóm của nhiều phòng/ban với nhau Kết quả là, các công việc sẽ có tính chuẩn hóa cao và tránh được những sai xót cả chủ quan lẫn khách quan Khi có vấn đề gì xảy ra việc truy tìm nguyên nhân và thực hiện các hành động khắc phục sẽ dễ dàng hơn
2 Mối quan hệ với các bên liên quan được cải thiện Áp dụng hệ thống cũng tạo nên sức mạnh nội bộ trong mỗi tổ chức, doanh nghiệp và thúc đẩy người lao động không ngừng cố gắng trong công việc Áp dụng ISO trong mỗi tổ chức mang lại sự khách quan, công bằng trong việc đánh giá người lao động, bởi vì tất cả đều có tiêu chí, chỉ số và công cụ rõ ràng Việc đánh giá kết quả trong công việc dựa trên việc hoàn thành các mục tiêu công việc đã đề ra thôn qua dữ liệu cụ thể (Quyết định dựa trên sự kiến)
3 Việc áp dụng ISO khiến người lao động hiểu được tầm quan trọng của công việc mà mình đang đảm nhận, đặc biệt là vai trò của họ trong sự phát triển chung của tổ chức Kết quả là, mỗi nhân viên sẽ cảm thấy có trách nhiệm hơn trong công việc Quan trọng hơn, khi áp dụng tiêu chuẩn ISO thì trách nhiệm và quyền hạn của mỗi nhân viên đều rất rõ ràng và được truyền thông công khai trong nội bộ
tổ chức, điều này giúp cho việc giải quyết công việc được trơn tru và tránh được
Trang 159
Việc áp dụng ISO cũng sẽ là giải pháp hiệu quả giúp chúng ta khắc phục điều này
Cụ thể, các vấn đề phát sinh trong công việc đều được ghi chép lại, sau đó mọi người cùng nhau bàn bạc, phân tích để đưa ra những biện pháp khắc phục nhằm giải quyết triệt để vấn đề Dần dần, những kinh nghiệm và cách xử lý công việc sẽ được chuyển hóa thành quy trình hướng dẫn công việc cụ thể cho nhân viên
4 Khả năng cạnh tranh cao hơn các doanh nghiệp khác - đặc biệt những thị trường đòi hỏi cao về an toàn vệ sinh thực phẩm Áp dụng tiêu chuẩn ISO sẽ giúp công việc được kiểm soát và quản lý chặt chẽ trong toàn bộ chuỗi cung ứng, năng lực của nhân viên đồng đều và không ngừng được nâng lên, do đó mà chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng được nâng cao hơn và ở mức độ ổn định hơn
5 Gia tăng giá trị thương hiệu của công ty Giữa một doanh nghiệp đã được cấp chứng nhận ISO với một doanh nghiệp chưa được cấp thì khách hàng và đối tác
có xu hướng lựa chọn đơn vị đã áp dụng tiêu chuẩn ISO vì trong tiềm thức của họ, đây là một đơn vị có phong cách làm việc chuyên nghiệp, đồng thời những sản phẩm và dịch vụ mà họ cung cấp ra thị trường đều có chất lượng rất tốt, ổn định
6 Cải tiến liên tục hệ thống chất lượng và cải tiến liên tục chất lượng sản phẩm Hiệu quả làm việc được cải thiện rõ rệt Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO cho các
tổ chức, doanh nghiệp thúc đẩy người lao động không ngừng nổ lực làm việc và cải thiện hiệu quả công việc để đáp ứng các mục tiêu đã đề ra Không chỉ có các đơn vị sản xuất và kinh doanh mới áp dụng ISO để cải thiện hiệu quả công việc của nhân viên Thực tế cho thấy, ngay cả những đơn vị hành chính sự nghiệp Nhà nước cũng
đã sử dụng tiêu chuẩn ISO 9001 và gặt hái được những thành công bước đầu
7 Tăng năng suất và giảm giá thành do kiểm soát được thời gian trong quá trình sản xuất Do quá trình sản xuất được kiểm soát tốt hơn, lúc này ban giám đốc
sẽ được "rảnh tay" một phần trong công tác quản lý bởi mọi thứ đã được vận hành theo một quy trình khoa học và hiệu quả Đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp từ đó sẽ
có thêm nhiều thời gian để tìm hiểu về thị trường, xây dựng các mối quan hệ trong kinh doanh với những doanh nhân khác trong cộng đồng Vì Ban giám đốc chính là những người mang về cho doanh nghiệp những hợp đồng có giá trị nên việc họ xây dựng mối quan hệ làm ăn bên ngoài sẽ làm tăng cơ hội ký được những hợp đồng lớn cho công ty Kết quả là, lợi nhuận sẽ tăng mà không cần phải bán được nhiều thêm
Trang 16sản phẩm Kết quả là, hiệu quả và năng suất làm việc sẽ trở lên tốt hơn Trong kinh
tế khi mà năng suất tăng đồng nghĩa với chi phí trên một sản phẩm sẽ giảm xuống, kéo theo đó thì lợi nhuận của công ty tăng lên
8 Cung cấp các phương tiện giúp cho mọi người thực hiện công việc đúng ngay từ đầu để giảm thiểu khối lượng công việc làm lại Các thiết bị sản xuất sẽ được cập nhật, theo dõi và thực hiện bảo trì bảo dưỡng một cách chủ động, hạn chế phải dừng sản xuất để sửa chữa thiết bị khi có sự cố Thiết bị theo dõi và đo lường cũng được hiệu chuẩn, kiểm tra xác nhận để ngăn ngừa tối đa các sai số, hay hậu quả do sự cố thiết bị đo đem lại
9 Giúp kiểm soát, giảm chi phí xử lý sản phẩm sai hỏng, giảm lãng phí
về thời gian, nguyên vật liệu, nhân lực và tiền bạc Khi các sai sót và rủi ro được hạn chế mức tối đa nhờ việc áp dụng ISO thì tổ chức, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được những khoản chi phí phát sinh giành cho việc sửa chữa, khắc phuc những sai lầm ấy
10 Giúp Doanh nghiệp xác định hiệu quả quá trình, phân tích, đánh giá sản phẩm, ra quyết định quản lý, cải tiến hiệu quả hoạt động, nâng cao sự thoả mãn khách hàng thông qua việc sử dụng những công cụ thống kê và các dữ liệu có ý nghĩa Cải thiện uy tín của tổ chức thông qua việc ngày càn nâng cao mức độ thỏa mãn của khách hàng Các tổ chức và doanh nghiệp đã áp dụng tiêu chuẩn ISO thường có xu hướng chủ động tìm hiểu nhu cầu mong đợi của khách hàng và cố gắng giải quyết một cách chủ động hơn so với các đơn vị chưa áp dụng ISO
11 Kiểm soát được chất lượng nguyên vật liệu đầu vào do kiểm soát được nhà cung cấp Các doanh nghiệp xây dựng và triển khai ISO 9001 buộc phải đánh giá một cách kỹ càng hơn nguồn nguyên liệu đầu vào khi nhập từ các nhà cung cấp
Trang 17Việc áp dụng các HTQL theo tiêu chuẩn quốc tế ISO như ISO 9001:2008, ISO 22000:2005, … được thừa nhận và đã chứng tỏ trên thực tế về khả năng mang lại những lợi ích to lớn cho các tổ chức trên các khía cạnh như thị trường, tác nghiệp, kiểm soát, và phát triển bền vững Điều này giải thích tại sao ngày càng có nhiều các doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác có mong muốn hoặc
đã triển khai áp dụng các HTQL này vào trong hoạt động của tổ chức mình Mặc dù vậy, không phải tổ chức nào cũng thành công trong việc áp dụng các HTQL nếu không nói rằng một tỷ lệ đáng kể các tổ chức đã không thành công trong việc áp dụng các HTQL Kinh nghiệm thực tế cho thấy các khó khăn này có thể được tổng hợp lại theo các nhóm vấn đề sau đây:
1 Thiếu sự quan tâm của lãnh đạo cao nhất
2 Thiếu sự tham gia đầy đủ của toàn tổ chức trong quá trình xây dựng và
áp dụng HTQL;
3 HTQL không thích hợp với thực tiễn của tổ chức;
4 HTQL thiếu sự liên kết và tích hợp với các lĩnh vực quản lý khác;
5 HTQL không giúp cải thiện hiệu lực, hiệu quả hoạt động
6 Tổ chức thiếu khả năng, kinh nghiệp trong việc xây dựng, duy trì và cải tiến HTQL sau chứng nhận
7 Không hiểu các yêu cầu của tiêu chuẩn dẫn đến việc áp dụng còn rườm
rà, nặng nề về mặt giấy tờ, không đạt được kết quả mong muốn
1.3.1 Thiếu sự quan tâm của lãnh đạo cao nhất (Lý do dẫn đến thiếu sự quan
tâm là:
1 Không hiểu rõ mục đích của việc xây dựng và áp dụng Hệ thống cũng như lợi ích của việc áp dụng Hệ thống
Trang 182 Không coi các Hệ thống Quản lý như là các công cụ để quản lý chất lượng, chất lượng An toàn thực phẩm giúp doanh nghiệp đạt được các chính sách và mục tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm
1.3.2 Thiếu sự tham gia đầy đủ của toàn tổ chức trong quá trình xây dựng và áp dụng HTQL
Nguyên nhân trực tiếp đầu tiên của vướng mắc này là sự thiếu đầy đủ và rõ ràng trong việc xác định vai trò, vị trí và trách nhiệm của lãnh đạo cấp cao, các cán
bộ quản lý, thường trực và thành viên Ban ISO, các nhân viên/công nhân trong việc triển khai dự án (Các đơn vị cho rằng việc thực hiện ISO là trách nhiệm của ban ISO) Điều này dẫn đến tình trạng thiếu tinh thần sở hữu và chịu trách nhiệm trong quá trình xây dựng, áp dụng HTQL Hậu quả thường thấy là ban ISO bị quá tải, chương trình bị chậm trễ, các biện pháp kiểm soát trong HTQL không thực sự phản ảnh yêu cầu quản lý và thực tiễn triển khai Để khắc phục vấn vấn đề này, các tổ chức cần sự tham vẫn và hỗ trợ của những đối tác có nhiều kinh nghiệm triển khai
dự án HTQL để ngay từ đầu có thể thiết lập một kế hoạch dự án với cơ cấu tổ chức thực hiện đầy đủ, rõ ràng và thích hợp với điều kiện thực tiễn của mình
Khi triển khai một HTQL mới bao giờ cũng mang lại những thay đổi nhất định ở khía cạnh tác nghiệp, quản lý hoặc hỗ trợ Các thay đổi này có thể ở mức lớn hay nhỏ tùy vào điều kiện quản lý, lĩnh vực liên quan, hiện trạng và nhu cầu của tổ chức Điều đáng tiếc là, trong phần lớn các trường hợp, việc chuẩn bị và thúc đẩy các thay đổi này trong quá trình triển khai chương trình không được thực hiện tốt Điều này dẫn đến tình trạng không tuân thủ, chống đối hoặc ít nhất cũng là sự căng thẳng không cần thiết trong nội bộ tổ chức Kinh nghiệm thực tế cho thấy, khi quản
Trang 1913
Một cách tổng quát, một HTQL được xây dựng là kết quả của quá trình phân tích, xem xét và ứng dụng một loạt các yếu tố, bao gồm: nhu cầu chiến lược, yêu cầu và thực tiễn quản lý, các thực hành tốt và những yêu cầu của tiêu chuẩn áp dụng
và các yêu câu liên quan khác Trong các yếu tố này thì "nhu cầu chiến lược" và
"yêu cầu và thực tiễn quản lý" là những điểm đặc thù riêng của từng tổ chức, làm cho HTQL mặc dù theo tiêu chuẩn quốc tế nhưng có những sự khác biệt trong từng trường hợp Sự thất bại trong xem xét đầy đủ hai yếu tố này sẽ tạo ra một HTQL, mặc dù có thể phù hợp với tiêu chuẩn, nhưng không thực sự thích hợp với tổ chức
Các yếu tố của HTQL cần phù hợp với thực trạng & nhu cầu quản lý của tổ chức Nguyên nhân của sự thất bại này thường gắn với tiếp cận và phương pháp triển khai HTQL của tổ chức Về mặt tiếp cận, có nhiều tổ chức tìm kiếm sự tuân thủ tiêu chuẩn với câu hỏi "yêu cầu của tiêu chuẩn như vậy thì chúng tôi phải làm gì
để đáp ứng" thay vì vận dụng tiêu chuẩn để giải quyết nhu cầu quản lý thông qua câu hỏi "thực tiễn và nhu cầu quản lý của chúng tôi như vậy thì yêu cầu của tiêu chuẩn nên được áp dụng như thế nào cho phù hợp và hiệu quả" Ngoài ra, một số tổ chức cho rằng, các thực hành đã được thực hiện và phù hợp ở một tổ chức khác hoàn toàn có thể được áp dụng và mang lại hiệu quả ở tổ chức của mình thông qua cách đặt vấn đề với đơn vị tư vấn hoặc hướng dẫn "Đơn vị A đã áp dụng thành công HTQL theo ISO rồi, hãy cung cấp cho chúng tôi một HTQL giống hệt như vậy để rút ngắn thời gian và đỡ tốn nguồn lực"
Cho dù với nguyên nhân nào, một HTQL được xây dựng không dựa trên thực trạng và những nhu cầu thực tế sẽ không thích hợp với hoạt động của tổ chức Việc miễn cưỡng áp đặt một cách "dập khuôn" HTQL vào tổ chức chắc chắn sẽ mang thất bại trong duy trì và cải tiến trong tương lai
1.3.4 HTQL thiếu sự liên kết và tích hợp với các lĩnh vực quản lý khác
HTQL thiếu sự liên kết và tích hợp với các lĩnh vực quản lý khác Các tiêu chuẩn về HTQL đưa ra các yêu cầu tạo thành một khuôn khổ hiệu quả cho việc quản lý lĩnh vực mục tiêu (như chất lượng, an toàn thực phẩm, … ), mà không phải
là mô hình TOÀN DIỆN cho một hệ thống quản trị doanh nghiệp Chính vì thế, khi
Trang 20triển khai bất kỳ HTQL theo ISO cũng sẽ phát sinh ra những đối tượng/quá trình/bộ phận trong phạm vi của HTQL và ngoài phạm vị của HTQL Thách thức khi đó đối với việc xây dựng HTQL là phải đảm bảo các biện pháp/yêu cầu kiểm soát được đưa ra để quản lý lĩnh vực mục tiêu phải được liên kết, tích hợp và nhất quán với các biện pháp/yêu cầu quản lý của các lĩnh vực khác; như vậy mới có thể vừa tránh được sự chống chéo, phát sinh thêm thủ tục giấy tờ, vừa giảm thiểu những mâu thuẫn trong quản lý tác nghiệp
1.3.5 HTQL không giúp cải thiện hiệu quả hoạt động
HTQL không giúp cải thiện hiệu quả hoạt động sau khi áp dụng Các tổ chức khi triển khai áp dụng một HTQL bao giờ cũng trông đợi một sự cải thiện trong kết quả hoạt động của lĩnh vực mục tiêu (chất lượng, môi trường, an toàn, an toàn thực phẩm, …) Tuy nhiên, sau khi HTQL đã được xây dựng và áp dụng, không phải tổ chức nào cũng có được những cải thiện này trong hoạt động của mình
Một trong những nguyên nhân lý giải tình trạng này là tiếp cận "Viết những
gì đang làm, Bổ sung theo tiêu chuẩn, Làm những gì đã viết, Duy trì hồ sơ" vẫn còn được nhìn nhận và áp dụng khá phổ biến trong các dự án triển khai HTQL theo ISO Tiếp cận này không giúp các tổ chức cải tiến hoạt động quản lý cho lĩnh vực mục tiêu của HTQL vì nó vừa tạo ra một vòng tròn kín luẩn quẩn, vừa chỉ hướng đến tính tuân thủ tiêu chuẩn Trong một số trường hợp, nếu những thực hành đang làm
là thực hành tiêu cực, gây hại về mặt quản lý (ngắn hạn hay dài hạn) thì việc tiêu chuẩn hóa các thực hành đó trong quá trình xây dựng HTQL sẽ gây ra những tổn hại lớn hơn so với trước
Ngoài ra, khi hoạch định các công cụ của HTQL, các yếu tố của vòng tròn
Trang 21P-15
P-D-C-A vào trong HTQL được xây dựng để làm cơ sở cho hoạt động cải tiến liên tục sau này
1.3.6 Tổ chức thiếu khả năng duy trì và cải tiến HTQL sau chứng nhận
Ở giai đoạn duy trì và cải tiến HTQL, năng lực cải tiến của HTQL (và sự đóng góp vào hiệu quả hoạt động của tổ chức) phụ thuộc vào sự vận dụng một cách
có hiệu lực các công cụ cải tiến mặc định trong các tiêu chuẩn (bao gồm: hoạch định và mục tiêu, xác định các quá trình cần thiết, thực hiện, theo dõi & đo lường, đánh giá và xem xét, hành động khắc phục và phòng ngừa, …) Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các công cụ cho mục đích được cải tiến này chỉ được thực hiện một cách hình thức và không có đóng góp đáng kể nào vào cải tiến liên tục HTQL
và đối tượng mục tiêu của HTQL Thực trạng này có thể là kết quả của một số nguyên nhân như:
- Sự thất bại trong "chuyển giao và phát triển năng lực" đối với những nhân sự chủ chốt của HTQL trong thực hiện dự án Trong trường hợp này, khi đối tác tư vấn/hướng dẫn rút đi thì tổ chức không có năng lực cần thiết để duy trì, cải tiến;
- Sau khi nhận được chứng chỉ, sự cam kết và quan tâm của lãnh đạo tổ chức dành cho HTQL không duy trì được như trong thời gian xây dựng và áp dụng cho đến khi đánh giá chứng nhận và đánh giá giám sát định kỳ
Chú ý rằng Hệ thống muốn duy trì được có hiệu lực, hiệu quả đòi hỏi phải có thêm nhiều các công cụ hỗ trợ khác Năng lực cải tiến hiệu quả của HTQL giảm cùng thời gian, bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, ngay cả khi các công cụ cải tiến được áp dụng có hiệu lực thì năng lực cải tiến của các HTQL nói chung đều
có xu hướng giảm theo thời gian (tùy từng trường hợp mà thời gian này có thể là 2 đến 4 năm) Khi đó tổ chức phải áp dụng bổ sung các công cụ cải tiến mới (về công nghệ, kỹ thuật thống kê, quản lý, …) để duy trì năng lực cải tiến liên tục của HTQL./
1.3.7 Không hiểu các yêu cầu của tiêu chuẩn dẫn đến việc áp dụng còn rườm
rà, nặng nề về mặt giấy tờ, không đạt được kết quả mong muốn Trong giới hạn
luận văn này, tác giả sẽ đi phân tích kỹ về các yêu cầu này
Trang 22CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005 tại các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm ở Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp nâng nhằm giúp các doanh nghiệp đã, đang và sẽ áp dụng ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005 đạt được hiệu lực và hiệu quả cao hơn khi
áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005 đang áp dụng tại các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm ở Việt Nam được chứng nhận bởi Viện Tiêu chuẩn Anh (BSI: British Standard Intituation)
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên lãnh thổ Việt Nam là khách hàng của BSI Việt Nam thông qua các báo cáo đánh giá chứng nhận, định kỳ
và báo cáo đánh giá tái chứng nhận trong 03 năm (2015; 2016 và 2017)
2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 22000:2005 tại các Doanh nghiệp
- Tổng hợp số liệu từ các báo cáo đánh giá bao gồm đánh giá chứng nhận, tái chứng nhận, giám sát lần 1, lần 2, đánh giá mở rộng (nếu có) trong vòng từ năm
Trang 2317
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Phương pháp lấy mẫu
- Chọn tất cả các báo cáo đánh giá giám sát định kỳ hàng năm, báo cáo đánh giá chứng nhận, tái chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 22000: 2005 được áp dụng tại 09 doanh nghiệp sản xuất thực phẩm tại Việt Nam do Viện Tiêu chuẩn Anh cấp chứng nhận từ năm 2015; 2016 và
2017
- Tổng hợp số liệu dựa trên báo cáo ISO 9001:2008 và báo cáo ISO 22000:2005
2.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
Thông tin được thống kê từ các bản báo cáo đánh giá giám sát, báo cáo đánh giá chứng nhận, tái chứng nhận theo (phụ lục) từ các khách hàng của BSI Việt Nam, bao gồm các thông tin sau:
- Các thông tin chung về doanh nghiệp, hệ thống tiêu chuẩn áp dụng
- Các điểm không phù hợp nặng, nhẹ và lưu ý theo yêu cầu tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và ISO 22000: 2005 được phát hiện trong các lần đánh giá chứng nhận, giám sát định kỳ hàng năm, từ 2015; 2016 và 2017
2.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý số liệu thông qua việc thống kê tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá và tập trung vào 08 điều khoản hay sai lỗi nhất
Trang 24CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 2 Mô tả thông tin về số lượng báo cáo được nghiên cứu
Quy mô sản xuất (từ 500 - 1000 lao động) 0 0
N: Số lượng báo cáo được thu thập để phân tích
Tổng số khách hàng nghiên cứu là 09 (giai đoạn từ 2015-2017) trong đó dựa trên:
- 17 Báo cáo ISO 9001:2008
- 16 Báo cáo ISO 22000:2005 (trong khoảng từ 2-3 năm)
- Tập trung vào 08 điều khoản hay bị sai lỗi nhất
Trang 253.2 Tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá ISO 9001:2008
Bảng 3: Tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá ISO 9001:2008
Số TT Mã số báo cáo
Điều khoản của tiêu chuẩn của ISO 9001:2008
Điều 4.1
Điều 4.2
Điều 5.4
Điều 5.5
Điều 5.6
Điều 6.4
6.2-Điều 7.1
Điều 7.2
Điều 7.4
Điều 7.5
Điều 7.6
Điều 8.2.1
Điều 8.2.2
Điều 8.2.3
Điều 8.2.4
Điều 8.3
Điều 8.4
Điều 8.5.2
Điều 8.5.3
1 Báo cáo đánh giá GN IAV2 9K
Trang 2614 Báo cáo đánh giá VF IAV2 9K
Trang 27Hình 1: Biểu đồ tần suất xuất hiện các phát hiện đánh giá của ISO 9001:2008
Trang 28Qua bảng tổng hợp tần suất xuất hiện cho ta thấy: Các điểm không phù hợp, lưu
ý tập trung vào các điều khoản 5.6, 6.2, 7.1, 7.4, 7.5, 7.6, 8.3, 8.5.2 của tiêu chuẩn ISO 9001:2008
Bảng 4: Tần suất xuất hiện phát hiện đánh giá nhiều nhất của ISO 9001:2008
3.3 Phân tích các phát hiện các phát hiện đánh giá của ISO 9001:2008
Bảng 5: Phân tích yêu cầu của các điều khoản trong ISO 9001:2008
Trang 29ngăn ngừa việc tái diễn Why) để tìm nguyên
nhân Khi loại bỏ được nguyên nhân thì mới có thể tránh được sự lặp lại Tức là cần chỉ ra được tại sao sản phẩm lại có dây cước và có từ
đâu
Điều 8.3
Trong quy định thu hồi các
sản phẩm NG cần làm rõ nội
dung phải tiến hành đánh
giá hậu quả tiềm ẩn của sự
không phù hợp trong trường
hợp sản phẩm đã được
chuyển giao hoặc bắt đầu sử
dụng
8.3.d tiến hành hành động thích hợp với những tác động hoặc hậu quả tiềm
ẩn của sự không phù hợp nếu sản phẩm không phù hợp được phát hiện sau khi chuyển giao hoặc đã bắt đầu sử dụng
Trong thực tế sản phẩm không phù hợp có thể được phát hiện ở bất kỳ đâu (Nguyên liệu đầu vào, trong quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển, chờ phân phối…) Tuy nhiên hiện nay các doanh nghiệp chủ yếu chỉ đề cập đến việc xử lý sản phẩm không phù hợp tại nhà máy mà chưa đề cập đến việc khi sản phẩm được phát hiện bên ngoài (đã chuyển giao) hoặc đã được sử dụng thì cần phải đánh giá hậu quả tiềm ẩn (có thể chưa xảy ra) để có những hành động tiếp
Trang 30Chỉ tiêu Cadimi cần được
kiểm tra đầy đủ theo quy
định tại bản công bố chất
lượng
05:2014/CBPHQD-TNX
Tổ chức phải lập và thực hiện các hoạt động kiểm tra hoặc các hoạt động khác cần thiết để đảm bảo rằng sản phẩm mua vào đáp ứng các yêu cầu mua hàng đã quy định
Rõ ràng việc yêu cầu mua hàng đã được quy định (tại QCVN 12-2011/BYT,
TNX…) do đó tổ chức phải cung cấp đầy đủ bằng chứng chứng tỏ bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm đáp ứng yêu cầu
05:2014/CBPHQD-Báo cáo đánh giá HNB CAV2 9K 22K.2016
Điều 7.6
Không có nhiệt kế theo dõi
nhiệt độ trong kho
Công bố hợp quy số
06.2013/CN-TTUD quy
định nhiệt độ trong kho bia
Tổ chức phải xác định việc theo dõi và đo lường cần thực hiện và các thiết
bị theo dõi, đo lường cần thiết để cung cấp bằng
Cần cung cấp đủ bằng chứng để chứng tỏ việc theo dõi và đo lường được thực hiện để cung cấp bằng chứng về sự phù hợp của sản phẩm với các yêu cầu liên quan đến điều kiện bảo quản Khi kết quả theo
Trang 31Điều 7.6
Nhiệt kế thủy ngân No
07/027/HC 2014 date
13.01.2015 cần được hiệu
chuẩn trong dải 12.5oC (tại
nhiệt độ lên men chính)
Tổ chức phải thiết lập các quá trình để đảm bảo rằng việc theo dõi và đo lường
có thể tiến hành và được tiến hành một cách nhất quán với các yêu cầu theo dõi và đo lường Khi cần đảm bảo kết quả đúng, thiết bị đo lường phải a) được hiệu chuẩn hoặc kiểm tra xác nhận, hoặc
cả hai, định kỳ hoặc trước khi sử dụng, dựa trên các chuẩn đo lường được liên kết với chuẩn đo lường quốc gia hay quốc tế; khi không có các chuẩn này thì căn cứ được sử dụng
để hiệu chuẩn hoặc kiểm tra xác nhận phải được lưu hồ sơ (xem 4.2.4);
Mục đích của việc hiệu chuẩn là trả lời câu hỏi
"Sai số của thiết bị đo hiện đang sử dụng là bao nhiêu? " Trong thực tế khi chúng ta sử dụng thiết bị đo lường ở dải đo nào thì khi hiệu chuẩn cũng nên tập trung vào những dải đo
đó Trong quá trình lên men chính nhiệt độ lên men thường dao động trong khoảng 12.5oC do
đó cần hiệu chuẩn tại giá trị đo này
Điều 7.5.1
Tiêu chuẩn về áp suất CO2
đầu vào và CO2 đuổi khí
(Áp suất CO2 đầu vào ngày
04.01.2013) quy định 1-2
bar, tuy nhiên trên thực tế là
6.5 bar, áp suất đuổi khí quy
định 1-2 bar, tuy nhiên trên
thực tế là 0.5 bar
Tổ chức phải lập kế hoạch, tiến hành sản xuất
và cung cấp dịch vụ trong điều kiện được kiểm soát
Cần phải tuân thủ đầy
đủ các chuẩn mực đã được hoạch định Khi kết quả theo dõi và đo lường cho thấy không đáp ứng các chuẩn mực
đề ra điều này được coi như 1 sự không phù hợp
và thực hiện theo 8.5.2/8.5.3
Trang 32Điều 5.6
Trong báo cáo hàng NG có
nhiều nội dung liên quan
đến chất lượng bia hơi, tuy
nhiên trong biên bản xem
xét của lãnh đạo không đề
cập gì đến nội dung này
Đầu vào của việc xem xét của lãnh đạo phải bao gồm thông tin về
c) việc thực hiện các quá trình và sự phù hợp của sản phẩm,
Đa số các doanh nghiệp tại Việt nam thực hiện hoạt động xem xét của lãnh đạo mang tính hình thức Nội dung đầu vào không đầy đủ, không phản ánh được đúng hiện trang đang hoạt động của tổ chức
Do đó các dữ liệu cho đầu vào xem xét cần xuất phát từ thực tiễn
Điều 5.6
Trong báo cáo đo lường
thỏa mãn của khách hàng có
02/21 phản ánh chất lượng
không đồng đều Tuy nhiên
trong biên bản xem xét của
b) việc cải tiến sản phẩm liên quan đến các yêu cầu
Đầu ra xem xét của lãnh đạo cần phải thể hiện thành các quyết định cụ thể để từ đó làm tiền đề cho các hành động cải tiến về sau Hiện nay trên thực tế các doanh nghiệp làm hình thức, đầu ra nhiều khi chỉ dừng lại ở các quyết định chung chung,
Trang 33malt ngày nhập ngày
09.01.2015 lô 41
Chưa duy trì bằng chứng
kiểm tra dư lượng bảo vệ
thực vật cho lô malt 41 nhập
ngày 09.01.2015 theo quy
định tại CL.01 a/KT
khác cần thiết để đảm bảo rằng sản phẩm mua vào đáp ứng các yêu cầu mua hàng đã quy định
a/KT.…) do đó tổ chức phải cung cấp đầy đủ bằng chứng chứng tỏ sản phẩm mua vào đáp ứng yêu cầu cần mua (phải có bằng chứng kiểm tra Beta Glucan và
dư lượng bảo vệ thực vật)
sự không phù hợp để ngăn ngừa việc tái diễn
Hiện nay doanh nghiệp của Việt Nam hầu hết chỉ dừng lại ở việc giải quyết sự vụ (sai đâu sửa đó) chưa chưa thực sự quan tâm đến bản chất của vấn đề Khi loại bỏ được nguyên nhân thì mới có thể tránh được
sự lặp lại
Báo cáo đánh giá HNB CAV1 9K 22K.2015 Điều 5.6
Nội dung xem xét của lãnh
đạo chưa đầy đủ yêu cầu
đầu vào tại mục 5.6.2 Cụ
thể trong báo cáo điều tra thị
và đưa ra các quyết định cải tiến liên quan
Đa số các doanh nghiệp tại Việt nam thực hiện hoạt động xem xét của lãnh đạo mang tính hình thức, không phản ánh được đúng hiện trang đang hoạt động của tổ chức
Do đó để thực hiện tốt,
Trang 34hiện hành động để tiêu thụ
bia theo đúng số lượng đã
đăng ký) Tuy nhiên không
thấy quyết định của lãnh đạo
các dữ liệu cho đầu vào xem xét cũng cần dựa vào các đề xuất của các đơn vị liên quan
Điều 8.5.2
Đối với các điểm không phù
hợp cần thực hiện hành
động khắc phục – cần tìm
nguyên nhân gốc rễ của sự
không phù hợp Hiện nay đa
số đang dừng lại ở việc sửa
sai (Sự khắc phục)
Tổ chức phải thực hiện hành động nhằm loại bỏ những nguyên nhân của
sự không phù hợp để ngăn ngừa việc tái diễn
Hiện nay doanh nghiệp của Việt Nam hầu hết chỉ dừng lại ở việc giải quyết sự vụ (sai đâu sửa đó) chưa chưa thực sự quan tâm đến bản chất của vấn đề Khi loại bỏ được nguyên nhân thì mới có thể tránh được
sự lặp lại
Điều 7.1
Cần xem xét lại tiêu chuẩn
về áp suất CO2 đầu vào và
CO2 đuổi khí (Áp suất CO2
đầu vào ngày 04.01.2013
quy định 1-2 bar, tuy nhiên
Tổ chức phải lập kế hoạch và triển khai các quá trình cần thiết đối với việc tạo sản phẩm Hoạch định việc tạo sản phẩm phải nhất quán với các
Trên thực tế hiện tượng này gặp khá nhiều (giữa thực tế và tài liệu nhiều khi không có sự nhất quán) Nguyên nhân chủ yếu là do việc kiểm soát thay đổi chưa tốt Khi có sự thay đổi về mặt công nghệ trên thực
Trang 35kiểm soát sự thay đổi trong đó nêu những việc cần phải thực hiện, cách thức và trách nhiệm thực hiện để tránh rủi ro nêu trên
Báo cáo đánh giá MSHD IAV1 PAS 99 9K 22K.2015
dự kiến Phải thiết lập một thủ tục dạng văn bản
để xác định việc kiểm soát và trách nhiệm, quyền hạn có liên quan đối với việc xử lý sản phẩm không phù hợp
Bản chất yêu cầu của tiêu chuẩn tại mục 8.3 chỉ yêu cầu về việc kiểm soát sản phẩm không phù hợp, không yêu cầu phải xác định
và loại bỏ nguyên nhân Thông thường việc xác định và loại bỏ nguyên nhân sẽ được mô tả trong thủ tục dạng văn bản khác là "Hành động khắc phục, phòng ngừa" theo điều 8.5.2, 85.3, tuy nhiên nhiều công ty vừa quy định thực hiện hành động khắc phục trong quy trình kiểm soát sản phẩm không phù hợp, vừa quy định quy trình Khắc phục phòng ngừa dẫn đến có
Trang 36sự chồng chéo, lúng túng khi áp dụng
Điều 7.4.1
Chưa duy trì đầy đủ bằng
chứng về việc đánh giá lựa
chọn nhà cung cấp vật tư
phụ (bao bì carton) theo
đúng quy định 6 tháng/lần
Tổ chức phải đảm bảo sản phẩm mua vào phù hợp với các yêu cầu mua sản phẩm đã quy định
Cách thức và mức độ kiểm soát áp dụng cho người cung ứng và sản phẩm mua vào phụ thuộc vào sự tác động của sản phẩm mua vào đối với việc tạo ra sản phẩm tiếp theo hay thành phẩm
Tiêu chuẩn chỉ yêu cầu
tổ chức phải đánh giá lựa chọn nhà cung cấp, không quy định phải đánh giá dựa trên tiêu chí gì và bao nhiêu lâu phải đánh giá/lần Tuy nhiên khi xây dựng các quy định về đánh giá lựa chọn nhà cung cấp doanh nghiệp thường quy định một cách máy móc về việc đánh giá nhà cung cấp mà không cân nhắc đến nội dung
"Cách thức và mức độ kiểm soát áp dụng cho người cung ứng và sản phẩm mua vào phụ thuộc vào sự tác động của sản phẩm mua vào đối với việc tạo ra sản
Trang 37Nên dựa vào kết quả thực hiện của các nhà cung cấp, dựa vào mức
độ tác động của sản phẩm mua vào đối với quá trình tạo sản phẩm tiếp theo để xác định các tiêu chí và tần suất đánh giá cho phù hợp
để tránh trường hợp mắc lỗi quy định nhưng không thực hiện
Trên thực tế nhiều doanh nghiệp khi mua hàng thường yêu cầu nhà cung cấp cung cấp bằng chứng rằng sản phẩm mua vào đáp các yêu cầu mua hàng đã quy định (thông qua việc gửi chứng nhận chất lượng CoA - Certificate of Analysis Tuy nhiên không xác định rõ khi nào nhà cung cấp phải gửi Ví
dụ 100% các lô nhập phải gửi, gửi định kỳ hàng tháng, quý, năm hay khi có yêu cầu
Trang 38Báo cáo đánh giá MSHD IAV2 PAS99 9K 22K.2015
Do không hiểu hết các yêu cầu của tiêu chuẩn
và các quy định liên quan đến hoạt động đánh giá Trên thực tế đánh giá được chia làm
03 loại (bên thứ nhất - đánh giá nội bộ, bên thứ
2 - đánh giá bởi khách hàng, bên thứ 3 - do 1
tổ chức độc lập thực hiện) tuy nhiên khi thực hiện xem xét hầu hết chỉ dừng lại ở việc xem xét đến kết quả đánh giá của bên thứ nhất đó là đánh giá nội bộ
Rõ ràng trong trường hợp này thông tin mua hàng đã được xác định Một trong những thông tin đó là: Hàm lượng
Trang 39perfingen dựa trên CoA
Tuy nhiên trên thực tế trong
một số CoA không thấy có
kết quả kiểm tra chỉ tiêu
này Ví dụ CoA tháng
08.2013
gửi CoA để chứng minh tuy nhiên khi nhận CoA không kiểm tra lại -> Cần kiểm tra các thông tin trong CoA của nhà cung cấp và so sánh với thông tin mua hàng
đã xác định để đảm bảo sản phẩm mua vào đáp ứng yêu cầu cần mua
Điều 7.6
Cần xem lại danh mục Quản
lý thiết bị đo, làm rõ nội
dung kiểm định và hiệu
chuẩn
Tổ chức phải thiết lập các quá trình để đảm bảo rằng việc theo dõi và đo lường
có thể tiến hành và được tiến hành một cách nhất quán với các yêu cầu theo dõi và đo lường Khi cần đảm bảo kết quả đúng, thiết bị đo lường phải a) được hiệu chuẩn hoặc kiểm tra xác nhận, hoặc
cả hai, định kỳ hoặc trước khi sử dụng, dựa trên các chuẩn đo lường được liên kết với chuẩn đo lường quốc gia hay quốc tế; khi không có các chuẩn này thì căn cứ được sử dụng
để hiệu chuẩn hoặc kiểm tra xác nhận phải được lưu hồ sơ (xem 4.2.4);
Không phân biệt được khái niệm hiệu chuẩn và kiểm tra xác nhận (kiểm định) dẫn đến việc thực hiện không đúng lúc thừa lúc thiếu -> Cần tham thảo thêm Luật Đo lường số 04/2011/QH13
và các thông tư kèm theo như 23/2013/TT-BKHCN - Quy định về
đo lường đối với phương tiện đo nhóm 2 -> Những yêu cầu có liên quan đến luật khi
áp dụng doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ các yêu cầu này trước khi hoạch định và thực hiện các quá trình cần thiết
Trang 40Điều 7.5.1
Công nhân ghi số liệu trước
thời gian quy định Ví dụ
cối 38 ngày 26.12.2013 line
3 – chưa trộn xong đã ghi
thời gian kết thúc
Tổ chức phải lập kế hoạch, tiến hành sản xuất
và cung cấp dịch vụ trong điều kiện được kiểm soát
Trên thực tế một phần cũng do nhận thức của công nhân chưa tốt, chưa thực sự hiểu được
ý nghĩa và tầm quan trọng của việc ghi báo cáo Ngoài việc yêu cầu tuân thủ đúng quy định cũng cần đào tạo thêm cho công nhân
Điều 7.1
Tần suất kiểm tra hấp nên
quy định 4h/lần thay cho 2
lần/ca
Tổ chức phải lập kế hoạch và triển khai các quá trình cần thiết đối với việc tạo sản phẩm Hoạch định việc tạo sản phẩm phải nhất quán với các yêu cầu của các quá trình khác của hệ thống quản lý
Để đảm bảo việc hoạch định mang tính nhất quán thì việc sử dụng các thuật ngữ, định nghĩa cũng cần phải đảm bảo tất cả mọi người hiểu một cách nhất quán Khi các định các chuẩn mực không nên sử dụng các khái niệm mang tính đa nghĩa ví dụ như 2 lần/ca (có nhiều cách hiểu 2