Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm cải thiện việc quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm cải thiện việc quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
VŨ ĐỨC ANH
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH HỢP NHẰM CẢI THIỆN VIỆC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
VŨ ĐỨC ANH
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH HỢP NHẰM CẢI THIỆN VIỆC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
TS ĐỖ TRỌNG MÙI
Hà Nội - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, được sự đồng
ý của Cục Quản lý Môi trường y tế theo quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Người cam đoan
Vũ Đức Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Sau 2 năm học tập, tận đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô giáoViện Khoa học và Công nghệ môi trường, Trường đại học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Với tất cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thầy hướng dẫn TS Đỗ Trọng Mùi, người đã giúp đỡ tôi từ khi xác định vấn đề nghiên cứu, viết
đề cương, chia sẻ thông tin và hoàn thành luận văn này Cùng với sự tận tình trong giảng dạy của các thầy, cô đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm qúy báu trong nghiên cứu khoa học
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Cục Quản lý môi trường y tế, các khoa phòng, đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, góp ý, hướng dẫn để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này
Xin cảm ơn các bậc sinh thành, bạn bè và đồng nghiệp luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và phấn đấu
Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn trong lớp cao học 2015A đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong 2 năm học qua
Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất cả các bạn đồng nghiệp nhất là những ai quan tâm đến lĩnh vực này
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2017
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC HÌNH iv
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I - TỔNG QUAN 3
1.1 Quản lý chất thải y tế 3
1.1.1 Các khái niệm 3
1.1.2 Phân loại chất thải y tế 4
1.1.3 Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 6
1.1.4 Quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT 7
1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe con người 9
1.1.6 Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 12
1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới 15
1.3 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 17
1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế 17
1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành trong quản lý chất thải rắn y tế 21
CHƯƠNG II - HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ 22
2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội 23
2.2 Hiện trạng thực hiện quy định hành chính trong quản lý chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội 28
2.3 Hiện trạng các hoạt động quản lý chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội 31
2.3.1 Hiện trạng trang thiết bị thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế 31
2.3.2 Hiện trạng các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế 35
2.3.3 Hiện trạng xử lý chất thải rắn y tế 41
Trang 6CHƯƠNG III - ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 44
3.1 Giải pháp cơ chế, chính sách nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội 44
3.2 Giải pháp kỹ thuật nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội 48
KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 64
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng I.1: Những ảnh hưởng của chất thải nhiễm khuẩn [19] 10
Bảng I.2: Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn [43] 11
Bảng I.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới [49] 17
Bảng I.4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới [49] 17
Bảng I.5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam 2009 19
Bảng II.1: Lượng chất thải rắn tế phát sinh trung bình tại 24
Bảng II.2: Lượng chất thải y tế phát sinh và thu gom tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội năm 2016 27
Bảng II.3: Dự báo lượng chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội đến năm 2030 27
Bảng II.3: Kết quả khảo sát việc thực hiện quy định hành chínhtrong quản lý chất thải y tế 28
Bảng II.4: Kết quả khảo sát trang thiết bị thu gom, vẫn chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội 32
Bảng II.5: Kết quả khảo sát nơi/nhà lưu giữ tạm thời chất thải rắn y tế 39
Bảng II.6: Tổng hợp công nghệ xử lý chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội 41
Bảng III.2: Thành phần chất thải rắn y tế và nhiệt trị 52
Bảng III.3: Năng lượng tạo thành khi xử lý chất thải y tế khu vực Hà Nội bằng phương pháp đốt 53
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình II.1: Tỷ lệ các hoạt động phân loại chất thải rắn y tế theo tuyến 35
Hình II.2: Tỷ lệ thực hiện các hoạt động thu gom chất thải rắn y tế 37
Hình II.3: Tỷ lệ các hoạt động vận chuyển chất thải rắn y tế trong khuôn viên bệnh viện khu vực Hà Nội 38
Hình II.4: Tỷ lệ các hoạt động về lưu giữ chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội 39
Hình III.1: Phương án cải thiện quy trình quản lý chất thải y tế 49
Hình III.2: Xử lý chất thải bằng công nghệ không đốt 55
Trang 9CTLN Chất thải lây nhiễm
CTNH Chất thải nguy hại
CTYT Chất thải y tế
CTYTNH Chất thải y tế nguy hại
IPCS Chương trình toàn cầu về an toàn hóa chất
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
ĐTPV Đối tượng phát vấn
HBV Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)
HCV Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)
HIV Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giảm miễn
dịch ở người) KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn
NVYT Nhân viên y tế
QLCT Quản lý chất thải
QLCT Quản lý chất thải
QLCTYT Quản lý chất thải y tế
QLCTRYT Quản lý chất thải rắn y tế
IRTPC Tổ chức đang ký toàn cầu về hóa chất độc tiềm tàng
TĐCM Trình độ chuyên môn
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 10MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, hệ thống y tế Việt Nam đã có nhiều chuyển đổi tiến bộ, các cơ sở y tế đã được củng cố và phát triển cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, sự phát triển của các cơ sở, dịch vụ khám chữa bệnh tuy đem lại lợi ích trong việc chăm sóc sức khỏe con người song việc kiểm soát xử lý chất thải từ các
cơ sở y tế đang là một vấn đề cần quan tâm Trong chất thải rắn y tế thường chứa một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm, các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các con đường lây nhiễm như qua da
do trầy xước, tổn thương , qua niêm mạc do giọt bắn , qua đường hô hấp ho c qua đường tiêu hoá Các chất thải là vật sắc nhọn c n có khả năng vừa gây tổn thương
do đâm xuyên, vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm cho các đối tượng phơi nhiễm nếu như không được quản lý đúng cách Tuy nhiên hiện nay, công tác quản lý và xử lý chất thải y tế còn chưa được quan tâm đúng mức
Theo số liệu Báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế – Bộ Y tế năm 2010 bình quân mỗi ngày các cơ sở y tế trên cả nước thải ra khoảng 380 tấn chất thải rắn, trong đó có khoảng 45 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại Năm 2015, lượng chất thải này tăng lên gần gấp đôi, khoảng 600 tấn/ngày và dự kiến đến năm 2020 là khoảng
800 tấn/ngày Tuy vậy, hiện mới có khoảng 44 các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế trong số đó nhiều hệ thống xử lý đã xuống cấp nghiêm trọng
Với thực trạng số liệu hỗ trợ công tác quản lý chất thải rắn y tế còn hạn chế
và chưa đầy đủ trong khi lượng chất thải loại này ngày một gia tăng, nhằm cung cấp các số liệu cập nhật, thiết thực về công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện, trên
cơ sở đó xác định và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện việc quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện Trong khả năng bản thân và được sự đồng ý của Cục Quản lý môi trường y tế cho phép sử dụng phiếu cung cấp thông tin của các bệnh
viện để thực hiện luận văn, đề tài: “ Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp thích hợp nhằm cải thiện việc quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội ” đã được lựa chọn
Trang 11Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường tính hiệu quả trong công tác
quản lý chất thải y tế
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Việc quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: 100% các bệnh viên công lập trên địa bàn thành phố
Hà Nội - tương ứng 53 bệnh viện sử dụng bộ phiếu phát vấn để thu thập thông tin Gửi đi 100 phiếu và thu về được 72% số phiếu (38 phiếu Phụ lục 2
Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội
- Phân tích đánh giá hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế thông qua các số liệu đã thu thập được
- Đề xuất các giải pháp cái thiện công tác quản lý thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra: Thu thập các tài liệu liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn y tế bằng cách gửi bộ phiếu phát vấn đến các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Phương pháp quan sát: Thực hiện quan sát thực tế công tác quản lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Phương pháp phân tích: số liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra và làm rõ những số liệu c n nghi ngờ Các số liệu định lượng sẽ được xử lý bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
Trang 12ăn m n ho c có tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [6]
Chất thải y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ
Chất thải y tế nằm trong Danh mục A của danh mục chất thải nguy hại và có
mã số A4020-Y1 [3]
Việc quản lý chất thải y tế cần tuân thủ các quy định có liên quan đến quản
lý chất thải nguy hại nói chung và quản lý chất thải y tế nói riêng [5]
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ chất thải
y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói
và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế
Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu huỷ
Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn ho c tiệt khuẩn các chất thải có nguy
cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ
ho c tiêu huỷ
Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức kho của con người và môi trường
Trang 13Cơ sở y tế bao gồm: cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trừ ph ng khám bác sĩ gia đình; ph ng chẩn trị y học cổ truyền; cơ sở dịch vụ đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; chăm sóc sức khỏe tại nhà; cơ sở dịch vụ hỗ trợ vận chuyển người bệnh trong nước và ra nước ngoài; cơ sở dịch vụ kính thuốc; cơ sở dịch vụ làm răng giả; bệnh xá; y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức ; cơ sở y tế dự ph ng; cơ sở đào tạo và cơ sở nghiên cứu có thực hiện các xét nghiệm về y học
1.1.2 Phân loại chất thải y tế
1.1.2.1 Phân loại chất thải y tế theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
Theo WHO, chất thải y tế được phân thành 8 loại [49]:
- Chất thải nhiễm trùng
Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm, bao gồm các loại:
+ Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm
+ Chất thải từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng
+ Chất thải từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng
+ Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm
+ Dụng cụ ho c vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm
- Chất thải sắc nhọn
Là chất thải có thể làm rách ho c tổn thương da bao gồm: bơm kim tiêm, dao
mổ, bộ tiêm truyền
- Thuốc thải loại
Là thuốc quá hạn, thuốc không dùng ho c các loại vaccin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng
- Chất thải có tính độc với tế bào
Là chất thải có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như các chất chống ung thư
- Hóa chất
Có thể dưới dạng rắn, lỏng ho c khí, bao gồm:
Trang 14- Các bình chứa khí nén: được dùng trong y tế dưới dạng khí như oxy, khí gây mê
- Chất phóng xạ: không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường gây ảnh
hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào như tia X, tia α, tia β [50]
1.1.2.2 Phân loại theo Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT
Đƣợc quy định tại Điều 4 của Thông tƣ:
“Điều 4 Phân định chất thải y tế
1 Chất thải lây nhiễm bao gồm:
a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt ho c xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật
d) Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
2 Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm:
a) Hóa chất thải bỏ bao gồm ho c có các thành phần nguy hại;
Trang 15b Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào ho c có cảnh báo nguy hại
từ nhà sản xuất;
c) Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại n ng;
d) Chất hàn răng amalgam thải bỏ;
đ Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
về quản lý chất thải nguy hại sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT)
3 Chất thải y tế thông thường bao gồm:
a) Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế;
b) Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại ho c thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều này nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại;
c) Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
4 Danh mục và mã chất thải y tế nguy hại bao gồm:
a) Danh mục và mã chất thải nguy hại quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT được quy định cụ thể cho chất thải y tế nguy hại tại Phụ lục số 01 A ban hành kèm theo Thông tư này;
b) Danh mục chất thải y tế thông thường được phép thu gom phục vụ mục đích tái chế quy định tại Phụ lục số 01 (B) ban hành kèm theo Thông tư này.”
1.1.3 Các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
Cùng với công tác khám chữa bệnh, công tác quản lý CTRYT được nhà nước quan tâm thông qua các điều luật, các quyết định, thông tư hướng dẫn về quản lý CTYT, đ c biệt trong khuôn khổ luận văn dựa vào một số văn bản sau:
- Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải y tế Thông tư này thay thế cho Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về quản
lý chất thải từ ngày 01 tháng 4 năm 2006 [8]
Trang 16- Sổ tay hướng dẫn Quản lý chất thải y tế trong bệnh viện Ban hành kèm theo Quyết định số 105/QĐ-MT ngày 03/7/2014 của Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế [9]
1.1.4 Quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT
* CTRYT đƣợc phân thành 3 nhóm:
- Chất thải lây nhiễm
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm
- Chất thải y tế thông thường
* Mã màu sắc
- Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm;
- Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm;
- Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế thông thường;
- Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế
* Phân loại chất thải y tế
- CTRYT phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh;
- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết
bị lưu chứa chất thải;
- Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đ t các bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế và có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải
* Thu gom chất thải y tế
- Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;
- Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, r rỉ chất thải trong quá trình thu gom;
Trang 17- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;
- Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày;
- Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế;
- Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng
* Lưu giữ chất thải y tế
- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại tại khu lưu giữ phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
+ Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ chất thải;
+ Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định;
+ Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín và chống được sự xâm nhập của các loài động vật
- CTYT nguy hại và CTYT thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
- CT lây nhiễm và CT nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ riêng trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý
- CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng
- Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm: Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày
Trang 18+ Có biểu tượng về loại chất thải lưu chứa theo quy định
+ Được lắp cố định ho c có thể tháo rời trên phương tiện vận chuyển và bảo đảm không bị rơi, đổ trong quá trình vận chuyển chất thải
+ Chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các thùng, hộp ho c túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ ho c phát tán chất thải trên đường vận chuyển
* Giảm thiểu chất thải y tế
- Lắp đ t, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế
- Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải y tế
- Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả
* Quản lý CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế
- Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm
- Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường
- Bao bì lưu chứa chất thải phải được buộc kín và có biểu tượng chất thải tái chế theo quy định [9]
1.1.5 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe con người
1.1.5.1 Ảnh hương của chất thải nhiễm khuẩn
Trang 19Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một lượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm [28], [29], [46]
Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các cách thức sau: qua da, qua các niêm mạc, qua đường hô hấp, qua đường tiêu hóa
Bảng I.1: Những ảnh hưởng của chất thải nhiễm khuẩn [19]
Các dạng nhiễm khuẩn Một số tác nhân gây bệnh Chất truyền bệnh
Nhiễm khuẩn đường tiêu
hóa
Các vi khuẩn đường tiêu hóa:
Samonella, Shigella, Vibrio cholera, trứng giun
đường sinh dục
Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể
1.1.5.2 Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn
Các vật sắc nhọn không những có nguy cơ gây thương tích cho những người phơi nhiễm mà qua đó c n có thể truyền bệnh nguy hiểm Theo số liệu thống kê tại Nhật Bản, nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn đâm xuyên qua da như sau: nhiễm HIV là 0,3%, nhiễm viêm gan B là 3%, viêm gan C là 3 – 5%
Trang 20Ở Hoa Kỳ, tháng 6/1994, Trung tâm kiểm soát bệnh tật CDC đã phát hiện được 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong đó có 32 trường hợp do bị kim tiêm nhiễm khuẩn đâm qua da; 1 trường hợp do dao mổ cắt qua da, 1 trường hợp bị tổn thương do vỏ của ống thủy tinh [45] Cũng theo nguồn số liệu của CDC tình trạng nhiễm virut viêm gan có liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn gây ra như sau:
Bảng I.2: Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn [43]
Nghề nghiệp Số ca tổn thương do vật
sắc nhọn (người/năm)
Số ca bị viêm gan (người/năm)
Nhân viên vệ sinh bệnh
Nhân viên phụ giúp nha sĩ
ở hai đối tượng: điều dưỡng viên và nhân viên vệ sinh bệnh viện
Trang 211.1.5.3 Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm
Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức khỏe con người do các tính chất: ăn m n, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc ho c ảnh hưởng đến di truyền Các chất thải này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn
có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa ho c hết tác dụng cần vứt bỏ Các chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất ho c dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp ho c qua đường tiêu hóa [50] [44] Việc tiếp xúc với các chất dễ cháy, dễ ăn m n, các chất gây phản ứng
có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt ho c niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương hay g p và phổ biến nhất là các vết bỏng
Các chất khử trùng là những thành phần đ c biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn m n Cũng cần phải lưu ý rằng, những loại hóa chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao [27]
1.1.6 Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế
a Thiêu đốt:
Là phương pháp sử dụng nhiệt độ cao trong các l đốt chuyên dụng có nhiệt
độ từ 800OC 1200O
C ho c lớn hơn để đốt CTRYT Phương pháp đốt có ưu điểm
là xử lý được đa số các loại CTRYT, làm giảm tối đa về m t thể tích của chất thải Tuy vậy nhược điểm của phương pháp đốt là nếu chế độ vận hành không chuẩn và không có hệ thống xử lý khí thải sẽ làm phát sinh các chất độc hại như Dioxin, Furan gây ô nhiễm môi trường thứ cấp; chi phí vận hành, bảo dưỡng và giám sát môi trường cao
Trang 22c Khử trùng bằng hóa chất:
Phương pháp này thích hợp đối với chất thải lỏng như: nước tiểu, phân, máu, nước thải BV Tuy nhiên, hóa chất cũng có thể áp dụng để xử lý CTR, thậm chí cho
cả chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao với một số lưu ý sau:
Một số loại chất thải phải cắt nghiền nhỏ trước khi khử trùng Đây cũng là nhược điểm trong phương pháp khử trùng bằng hóa chất, vì các máy cắt, nghiền chất thải hay g p sự cố về vấn đề cơ khí;
Bản thân hóa chất khử trùng là những chất độc hại, vì vậy những người sử dụng phải được đào tạo về quy trình sử dụng và được trang bị đầy đủ các trang thiết
bị bảo hộ an toàn;
Hiệu quả khử trùng phụ thuộc vào điều kiện vận hành;
Khử trùng chỉ có hiệu quả với bề m t của CTR
Phải kiểm soát dư lượng hóa chất, nếu cách xử lý không đúng có thể làm phát sinh các vấn đề môi trường sau xử lý như nước thải, hơi hóa chất phát tán vào môi trường không khí trong quá trình xử lý
d Phương pháp khử khuẩn bằng vi sóng:
Có hai phương pháp đó là sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện áp suất thường (có ho c không có bổ sung nước/hơi nước) và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão h a trong điều kiện nhiệt độ, áp suất cao Trong phương pháp này thường
đi kèm các thiết bị máy cắt, nghiền và máy ép để giảm thể tích chất thải Các loại CTLN có thể xử lý được: Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (có thấm máu, dịch sinh học và chất thải từ buồng cách ly), chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao và chất thải giải phẫu CTR sau khi khử khuẩn, giảm thể tích đạt tiêu chuẩn có thể xử lý, tái chế, tiêu hủy như chất thải thông thường
e Phương pháp chôn lấp an toàn:
Chỉ áp dụng tạm thời đối với các BV thuộc các tỉnh miền núi và trung du chưa có cơ sở xử lý CTYTNH đạt tiêu chuẩn tại địa phương Không chôn chất thải
Trang 23lây nhiễm lẫn với chất thải thông thường Chất thải lây nhiễm phải được khử khuẩn trước khi chôn lấp
Đối với chất thải sắc nhọn sử dụng các bể đóng kén là thích hợp Theo quy định quản lý CTNH: Bể đóng kén có ba dạng: Chìm dưới m t đất, nửa chìm nửa nổi, và nổi trên m t đất; Đ t tại khu vực có mực nước ngầm ở độ sâu phù hợp; Diện tích đáy của mỗi bể ≤ 100 m2
và chiều cao ≤ 5 m; Vách và đáy bằng bê tông chống thấm, kết cấu cốt thép bền vững, đ t trên nền đất được gia cố; Xung quanh vách (phần chìm dưới m t đất và dưới đáy bể có bổ sung lớp lót chống thấm; Có mái che kín nắng, mưa cho toàn bộ m t bể và biện pháp hạn chế gió trực tiếp vào trong bể; Sau khi đầy, phải đóng bể bằng nắp bê tông cốt thép chống thấm; nắp phải phủ
kín toàn bộ bề m t bể đảm bảo tuyệt đối không để nước rò rỉ, thẩm thấu
g Phương pháp đóng rắn (trơ hóa):
Chất thải cần đóng rắn được nghiền nhỏ, sau đó được đưa vào máy trộn theo từng m Các chất phụ gia như xi măng, cát và polymer được bổ sung vào để thực hiện quá trình hòa trộn khô, sau đó tiếp tục bổ sung nước vào để thực hiện quá trình hòa trộn ướt Sau 28 ngày bảo dưỡng khối rắn, quá trình đóng rắn diễn ra làm cho các thành phần ô nhiễm trong chất thải hoàn toàn bị cô lập Khối rắn sẽ được kiểm tra cường độ chịu nén, khả năng r rỉ và lưu giữ cẩn thận tại kho, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp an toàn Phương pháp đóng rắn đơn giản, dễ thực hiện, chi phí thấp Tỷ lệ phổ biến cho hỗn hợp là 65 CTYT, 15 vôi, 15 xi măng, 5 nước
h Bao gói:
Chất kết dính vô cơ thường dùng là ximăng, vôi, pozzolan, thạch cao, silicat Chất kết dính hữu cơ thường dùng là epoxy, polyester, nhựa asphalt, polyolefin, ure formaldehyt;… Chất thải thường là chất thải hóa chất ho c dược phẩm được đưa vào 3/4 thể tích các thùng bằng polyethylene ho c thùng kim loại Sau đó được điền đầy bằng các chất kết dính - để khô - dán niêm phong và đưa đi chôn lấp
Trang 241.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới
Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới,
đ c biệt là các nước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải y tế (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chất thải y tế và phòng chống tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng [17], [19], [37], [34] Gần đây, nghiên cứu về chất thải y tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh [45, 50]:
- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng
- Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịch trong và ngoài bệnh viện
- Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với chất thải y tế
- Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe
- Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom chất thải, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu gom chất thải, vệ sinh và cộng đồng
- Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC tổ chức đăng
ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng , IPCS chương trình toàn cầu về an toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng và quản lý các dữ liệu thông tin
về an toàn hoá chất
Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùng với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trên thế giới thường
áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý, sinh học, chôn lấp rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy, Nhật Bản là nước sử dụng
Trang 25phương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất 38 , sau đó đến Thụy Sỹ
33 , trong khi đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất 30 Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong xử lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%) và Tây Ban Nha (80%) [11], [25]
- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải
- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm
- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải nơi lưu giữ, màu sắc dụng cụ, đ c điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định )
- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và có các phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc
- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải
- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp
* Thực trạng phát sinh chất thải y tế
Khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc các yếu tố khách quan khác như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện, lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị, chăm sóc, số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân
Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng chất thải hàng năm thay đổi theo mức thu nhập như sau:
Trang 26Bảng I.3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới [49]
Mức thu nhập của
từng nước
Tổng lượng CTYT bệnh viện (kg/đầu người)
Lượng CTYT nguy hại (kg/đầu người)
Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện [21] Với sự dao động từ 0,5 – 12 kg/ngày đối với tổng lượng chất thải y tế và 0,1 – 1,6 kg/ngày đối với chất thải nguy hại (Bảng 4)
Bảng I.4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới [49]
Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT
1.3 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế
Đa số (81,25%) bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả Hoạt động phân loại chất thải còn tồn tại một số vấn đề như: chưa tách vật sắc nhọn ra khỏi chất thải
y tế, c n để lẫn nhiều chất thải thông thường với chất thải y tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đầy đủ và thống nhất Tình trạng nhiều bệnh viện 45 chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải
Trang 27rắn y tế đang làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số bệnh viện đã tách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn một số bệnh viện (11,4%) thu gom vật sắc nhọn vào các hộp chưa an toàn vẫn có khả năng đâm, xuyên), còn lại đa số các bệnh viện 88,6 thường đựng chất thải sắc nhọn vào các vật tự tạo như chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng [28]
Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy: tỷ lệ cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về cách thức phân loại chất thải thành 5 nhóm chưa cao, hiểu biết về mã màu sắc, dụng cụ đựng chất thải y tế chưa đầy đủ, bên cạnh đó công tác đào tạo, tập huấn của các bệnh viện chưa nhiều, do vậy hoạt động phân loại chất thải chưa đạt được kết quả như mong đợi [11], [19]
Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết quả nghiên cứu cho thấy thấy hầu hết dụng cụ đựng chất thải tại 2 bệnh viện đều không có đủ các mã màu sắc theo quy định, công tác phân loại, thu gom chất thải của cả 2 bệnh viện còn nhiều vấn đề tồn tại, chưa thực hiện đúng với các quy định của Bộ y tế [17]
Năm 2004, Dương Thị Hương và cộng sự nghiên cứu tình hình vệ sinh môi trường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng, kết quả nghiên cứu cho thấy: việc tổ chức phân loại, thu gom tập trung tại các bệnh viện đều chưa thực hiện tốt Hệ thống trang thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải không được cung cấp đầy
đủ, khu vực lưu giữ chất thải chưa đáp ứng được các quy định của BYT ban hành [21]
Năm 2007, Đào Ngọc Phong nghiên cứu tình hình quản lý chất thải tại các bệnh viện huyện thuộc 4 tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Cần Thơ, kết quả nghiên cứu đã đưa ra nhiều kết luận về thực trạng quản lý chất thải y tế, tình hình ô nhiễm môi trường của các bệnh viện gây ra và các kết quả áp dụng mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện [18]
Năm 2008 – 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu thực trạng môi trường và hoạt động quản lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyến trung
Trang 28ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: công tác quản lý, xử lý chất thải rắn y tế đã được các bệnh viện quan tâm và thực hiện nghiêm túc theo Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT, tuy nhiên còn phổ biến tình trạng thực hiện không đúng về m t kỹ thuật theo quy định của BYT, nguyên nhân chủ yếu được cho là thiếu kinh phí thực hiện
Năm 2011, Hoàng Giang nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu nghị Việt đức, kết quả cho thấy vẫn
c n 14,7 đến 64,7% các khoa phân loại chất thải sai, 3,1% nhân viên y tế phân loại chất thải sai với quy định [22]
Nghiên cứu của Hồ Thị Nga năm 2013 về Thực trạng quản lý chất thải rắn y
tế và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cho thấy công tác quản lý chất thải rắn y tế thực hiện khá tốt đáp ứng hầu hết các tiêu chí của Bộ y tế ban hành kèm theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT [24]
Kết quả từ một nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải ở 80 bệnh viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tăng dần từ bệnh viện tuyến huyện, đến tuyến tỉnh và cao nhất ở tuyến trung ương Bảng 5) [28]:
Bảng I.5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam 2009 Tuyến bệnh viện
(kg/giường bệnh/ngày)
Tổng lượng CTYT (kg/giường bệnh/ngày)
CTYT nguy hại (kg/giường bệnh/ngày)
Báo cáo thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện năm 2009 của Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho thấy: tổng lượng chất thải thông thường phát sinh trong một ngày của các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế là 104.227 kg, trung bình
là 0,76 kg/giường bệnh/ngày, tổng lượng chất thải lây nhiễm cần được xử lý trong 1
Trang 29ngày là 24.776 kg, trung bình là 0,18 kg/giường bệnh/ngày Ngoài ra còn có các loại chất thải y tế nguy hại khác: chất thải hóa học, chất thải phóng xạ, bình áp suất [26]
* Thu gom chất thải bệnh viện
Hầu hết các chất thải y tế đều được các bệnh viện thu gom, vận chuyển ngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên tỷ lệ thu gom chất thải đúng theo quy định chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [33] Phương tiện thu gom chất thải như túi, thùng,
xe vận chuyển chất thải của các bệnh viện hầu hết còn thiếu và chưa đạt chuẩn
Trong khi đó hiểu biết của nhân viên trong bệnh viện đ c biệt là của các nhân viên thu gom về hoạt động này chưa cao Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ các cán bộ y tế hiểu biết đầy đủ về tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bị ảnh hưởng của chất thải y tế không cao (24,6%), chính vì vậy hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa đảm bảo
an toàn và chưa đúng quy trình của BYT vẫn còn ở mức phổ biến [37]
Ngoài công tác đào tạo trang bị kiến thức, hiểu biết cho cán bộ nhân viên còn
ít, vấn đề trang bị các phương tiện bảo hộ cho các nhân viên trực tiếp tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa được quan tâm
* Lưu giữ chất thải bệnh viện
Hầu hết các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khu đất của bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung chất thải không có mái che, không có hàng rào bảo vệ, không có khóa vị trí ở khuất xa tầm kiểm soát của nhân viên nên các loại côn trùng, chuột, súc vật, người không có nhiệm vụ dễ xâm nhập Chỉ có ít bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải đạt tiêu chuẩn
quy định
* Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tế
Theo các báo cáo gửi về Cục Quản lý Khám chữa bệnh [26], hiện có 34/36 bệnh viện trực thuộc BYT thực hiện ký hợp đồng thuê công ty môi trường đô thị vận chuyển chất thải y tế thông thường ra ngoài các cơ sở y tế để xử lý Đối với chất thải y tế nguy hại, hiện có 8 bệnh viện có l đốt còn lại 28/36 bệnh viện hợp đồng
Trang 30thuê Công ty môi trường đô thị xử lý bằng l đốt tập trung của cơ sở thiêu hủy trên địa bàn Các bệnh viện ký hợp đồng với các công ty thu gom, vận chuyển chất thải
y tế là tương đối phổ biến (do số lượng các bệnh viện không có lò xử lý chất thải còn nhiều, kinh phí vận hành cho các lò hoạt động cao), tuy nhiên sự phối hợp liên ngành giữa hai bên chưa thực sự tốt Hầu hết các nhân viên y tế trong bệnh viện đều không biết các yêu cầu cần thiết của quy trình vận chuyển chất thải y tế ra ngoài bệnh viện đồng thời cũng không quan tâm đến việc xử lý chất thải bên ngoài ra sao [27]
1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành trong quản lý chất thải rắn y tế
Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chất thải y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết quả nghiên cứu cho thấy: chỉ có 9,4% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Nam và 22,0% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi có kiến thức đúng về phân loại chất thải rắn y tế [17]
Một đánh giá về tình hình quản lý CTYT trên địa bàn huyện Long Thành năm 2010 cho thấy chỉ có 54,5% nhân viên có kiến thức chung đúng, 51,6 nhân viên có thái độ chung đúng, 46 nhân viên có thái độ chung đúng về quản lý CTYT
Trong kết quả nghiên cứu của Hoàng Giang tại bệnh viện Việt Đức năm
2011, cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế trong quản lý CTRYT là khá tốt, hầu hết nhân viên y tế nhận thức đúng và có thực hành đúng về quản lý CTYT theo quy định của Bộ Y tế [22]
Cũng như trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thúy ở viện đa khoa Đông Anh cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải chưa cao, một số khâu tỷ lệ nhân viên trả lời đúng c n thấp, cụ thể: Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý chất thải là 86,8 trong đó hiểu biết của nhân viên y tế về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn thấp Kiến thức về vận chuyển chất thải cao nhất đạt 96,3%, thấp nhất là kiến thức về thu gom chất thải 48,5% [23]
Trang 31CHƯƠNG II - HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo công tác dân số- KHHGĐ Thành phố, Hà Nội
là Thành phố đông dân thứ hai cả nước sau TP Hồ Chí Minh với dân số ước tính đến 31/12/2015 là 7.558.965 người chiếm hơn 8 dân số cả nước Số bệnh viện công lập trong khu vực lên tới 53 bệnh viện 41 bệnh viện công lập trực thuộc Sở Y
tế và 12 bệnh viện tuyến Trung ương Việc có nhiều bệnh viện công lập chưa kể tới những bệnh viện tư nhân và các cơ sở khám chữa bệnh khác khiến cho lượng CTYT thải ra môi trường mỗi ngày là rất lớn
Ngoài áp lực từ việc lượng CTRYT phát sinh lớn, sự khác nhau giữa bệnh viện công lập và tư nhân trong cơ chế hoạt động cũng như nguồn tài chính cũng làm cho công tác quản lý CTYT g p rất nhiều khó khăn và thách thức Nếu như đối với bệnh viện tư nhân, việc phân cấp quản lý, bổ nhiệm cán bộ phụ trách công tác quản
lý CTRYT do Lãnh đạo bệnh viện trực tiếp bổ nhiệm thì đối với khối công lập, việc này trải qua rất nhiều bước và sự thông qua của các Bộ, Ban, Ngành dẫn tới việc áp dụng phương pháp quản lý mới hiệu quả hơn ho c tuyển chọn những người có năng lực đúng chuyên môn về quản lý CTRYT g p nhiều khó khăn Về nguồn đầu tư, các bệnh viện tư nhân muốn thu hút bệnh nhân phải nâng cao cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại, các phương tiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ CTRYT cũng đúng quy chuẩn và hiện đại hơn các bệnh viện công lập do nguồn tài chính đầu tư dồi dào và chỉ cần Ban Lãnh đạo bệnh viện thông qua Với các bệnh viện công lập,
cơ chế quản lý nguồn tài chính không được tự chủ như các bệnh viện tư nên muốn đầu tư trang thiết bị một cách toàn diện cần trải qua các quá trình đề xuất, lập dự toán, sau đó trải qua nhiều cấp phê duyệt trước khi nhận được tiền đầu tư, trong khoảng thời gian đó giá các thiết bị đã có sự thay đổi trên thị trường, để đảm bảo nguồn tiền không bị vượt quá dự toán có thể phải giảm số lượng mua theo đề xuất ban đầu ho c thay thế bằng các trang thiết bị với giá r hơn Thêm vào đó, tiền đầu
tư cho các bệnh viện khối công lập cũng hạn chế tuỳ thuộc nguồn Ngân sách Nhà nước hàng năm Do đó trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật trong đó có của công
Trang 32tác quản lý CTRYT thường thiếu và chất lượng kém hơn so với các bệnh viện ngoài công lập Tuy nhiên trong giai đoạn tới, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Kim Tiến khẳng định Bộ sẽ xây dựng Nghị định sửa đổi Nghị định 85/2012/NĐ-CP để phù hợp với Nghị định 16/2015/NĐ-CP và đ c thù của ngành y tế, đổi mới quản lý các đơn vị y tế công lập theo hướng giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm toàn diện cho đơn vị, từ đó chất lượng khối y tế công lập nói chung và việc quản lý CTRYT trong các bệnh viện công lập nói riêng chắc chắn sẽ có những chuyển biến tích cực
Từ những khó khăn trên, việc khảo sát công tác quản lý CTRYT tại các bệnh viện công lập trong khu vực Hà Nội giúp cung cấp nguồn số liệu phản ánh thực trạng quản lý CTRYT một cách tổng thể, nhắm vào đối tượng cụ thể là khối bệnh viện công lập Kết quả khảo sát thu được cho thấy công tác quản lý CTRYT vẫn còn nhiều hạn chế nhất là ở các bệnh viện tuyến huyện khi mà cơ sở hạ tầng và các phương tiện phục vụ cho quá trình quản lý và xử lý CTYT c n chưa đáp ứng được yêu cầu theo quy định hiện nay
2.1 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội
Nhìn chung, tổng lượng chất thải nguy hại cũng như thông thường đều được các bệnh viện quan tâm ghi lại đầy đủ Tuy nhiên, hầu hết các bệnh viện không theo dõi cụ thể lượng chất thải lây nhiễm, chất thải sắc nhọn, chất thải lây nhiễm không sắc nhọn, chất thải giải phẫu, chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh hàng ngày là bao nhiêu m c dù đây là việc làm cần thiết để quản lý lượng chất thải phát sinh ngay từ nơi phát sinh, góp phần thống kê lượng chất thải phát sinh Điều này cũng là dễ hiểu bởi việc xác định riêng khối lượng của 4 nhóm chất thải lây nhiễm rất khó thực hiện chính xác do sau khi thu gom, phân loại tại nguồn các nhóm chất thải này lại được dồn lẫn vận chuyển đi xử lý (trừ chất thải giải phẫu) Vì vậy, chỉ
có thể thống kê được lượng tổng chất thải rắn nguy hại Với số liệu có được từ 33/38 bệnh viện có số liệu báo cáo đầy đủ về cả lượng CTRNH và CTR thông thường, ta có được thống kê về lượng chất thải rắn y tế phát sinh theo từng tuyến trong khu vực Hà Nội (số giường bệnh theo kế hoạch và số giường bệnh thực tế theo Phụ lục 3)
Trang 33Bảng II.1: Lượng chất thải rắn tế phát sinh trung bình tại
01 giường bệnh/ngày theo tuyến khu vực Hà Nội năm 2016
GB thực tế
GB kế hoạch
GB thực tế
GB kế hoạch
GB thực tế
GB kế hoạch
GB thực tế Chất thải
Tuy nhiên cũng có nghịch lý về lượng CTRYT phát sinh/01 giường bệnh trong bảng II.2 khi tuyến huyện lại cao hơn nhiều so với tuyến tỉnh và TW, đồng thời tuyến TW lại là tuyến có lượng CTRYT phát sinh thấp nhất và thấp hơn nhiều
so với con số điều tra tại bảng I.5 Điều này cũng có thể lý giải được do lượng
Trang 34CTYT phát sinh tại các bệnh viện chưa được ghi nhận đầy đủ và khách quan, thông tin về tổng lượng CTRYT phát sinh cũng như tổng lượng CTYTNH phát sinh chỉ được một số bệnh viện trong tuyến ghi nhận, một số bệnh viện lớn như Bệnh viện Nhiệt đới TW, Bệnh viện Nội tiết Trung ương, Bệnh viện Răng-Hàm-M t TW chỉ ghi nhận được con số về CTRNH còn con số về lượng CTR thông thường thì không ghi nhận được nên đã không đưa vào để tính lượng CTRYT phát sinh tại tuyến TW
và trong khu vực, m c dù đây là những bệnh viện với lượng giường bệnh và bệnh nhân rất lớn, lượng phát sinh CTRNH cũng như CTR thông thường đều ở mức cao Điển hình như Bệnh viện Nhiệt đới TW, chỉ ghi nhận được lượng CTYTNH phát sinh là 17.205 kg/tháng, nếu tính ra thì lượng CTRNH phát sinh/01 giường bệnh/ngày theo kế hoạch tại bệnh viện này là 1,04 kg/giường bệnh/ngày, theo số lượng giường bệnh thực tế là 0,87 kg/giường bệnh/ngày Con số này cao hơn rất nhiều so với trung bình tại bệnh viện tuyến TW trong bảng I.5 về CTRNH là 0,16 kg/giường bệnh/ngày Với lượng CTRYT phát sinh lớn đ c biệt là lượng CTRNH ở các tuyến đều cao hơn nhiều so với các bệnh viện khác trên cả nước, công tác quản
lý CTRYT càng g p nhiều khó khăn
Tính toán lƣợng CTRYT phát sinh và thu gom tại các bệnh viện công lập trong khu vực Hà Nội
Các công thức xác định [44]:
+ Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh:
QpS =qO xG (3.1) Trong đó:
QpS: Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh kg/ngày; tấn/năm
qO: Tiêu chuẩn thải rác kg/giường/ngày), theo tính toán tại bảng II.2, qO = 0,86 kg/giường/ngày đối với tổng CTRYT
qO = 0,23 kg/giường/ngày đối với CTRNH
qO = 0,63 kg/giường/ngày đối với CTR thông thường G: Số giường bệnh giường
Trang 35+ Khối lượng chất thải rắn y tế thu gom:
Qtg = QpS xg (3.2) Trong đó:
Qtg: Khối lượng chất thải rắn y tế thu gom kg/ngày; tấn/năm
QpS: Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh kg/ngày; tấn/năm g: Tỷ lệ thu gom chất thải rắn y tế %)
Do số liệu báo cáo về lượng CTRYT không được ghi nhận đầy đủ tại tất cả các bệnh viện, nên chỉ có thể tính toán tổng lượng CTRYT phát sinh và thu gom trong khu vực Hà Nội
Theo số liệu về số giường bệnh công lập theo địa phương, thành phố Hà Nội năm 2016 có 10.980 giường bệnh trực thuộc Sở Y tế số liệu thống kê năm 2016 của Tổng Cục Thống kê , và theo báo cáo từ các bệnh viện gửi về có 9.753 giường bệnh tuyến TW, như vậy tổng cộng các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội có 20.733 giường bệnh
Theo Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia 2016 của Bộ Tài nguyên Môi trường: “Năm 2015, tỷ lệ CTR y tế được thu gom đạt trên 75 ” [1] Sở dĩ tỷ lệ thu gom CTRYT tại các bệnh viện chỉ đạt 75 do tại thời điểm năm 2015 vẫn đang thực hiện theo quy chế 43/2007/QĐ-BYT, trong đó quy định tần suất thu gom ít nhất 1 lần/ngày đối với tất các loại hình cơ sở y tế, và vì thế gây khó khăn cho nhiều đơn vị trong công tác thu gom khi lượng phát sinh thấp, c n đối các bệnh viện lớn lượng phát sinh lớn do nhiều yếu tố cũng chỉ thu gom được từ 1 đến 2 lần vào các thời điểm ít bệnh nhân trong ngày, các bệnh viện thường chấp nhận vi phạm chỉ tiêu thu gom theo quy chế 43 và vì thế tỷ lệ thu gom thấp vì c n tồn dư một lượng CTRYT chưa được thu gom tại các khoa, ph ng Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT đã khắc phục được nhược điểm của quy chế 43 trong công tác thu gom CTRYT, phù hợp với các loại hình cơ sở y tế với các quy mô khác nhau
Từ các số liệu trên, áp dụng và công thức 3.1 với G = 20.733 giường bệnh
và công thức 3.2 với g = 75 , tính toán được lượng CTRYT phát sinh và được thu gom theo bảng sau:
Trang 36Bảng II.2: Lƣợng chất thải y tế phát sinh và thu gom tại các bệnh viện công lập
khu vực Hà Nội năm 2016
Dự báo lƣợng chất thải rắn y tế phát sinh trong khu vực Hà Nội đến năm 2030
Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐND ngày 05/04/2012 của Hội đồng Nhân dân thành phố Hà Nội về việc thông qua quy hoạch phát triển hệ thống y tế Thành phố
Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 cũng nêu rõ: “Giai đoạn từ 2020: khởi công và xây mới 15 bệnh viện với số giường bệnh là 5.000 giường, tổng kinh phí 8.600 tỷ đồng với nhu cầu đất là 50,5ha Giai đoạn từ 2021 - 2030: thực hiện Quyết định số 1081/QĐ-TTg ngày 6/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ tại khu vực huyện Thường Tín và Chương Mỹ sẽ đầu tư xây dựng các Trung tâm y tế chuyên sâu phù hợp với quy hoạch chung của Thủ đô” Như vậy số lượng giường bệnh tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội sẽ vào khoảng 25.733 giường bệnh vào giai đoạn từ nay đến năm 2030 [43]
2016-Theo Quyết định số 609/QĐ-TTg ngày 25/04/2014 của Thủ tướng Chính phủ
về quy hoạch xử lý CTR Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
“Tỷ lệ thu gom là 100 Trong đó chất thải rắn nguy hại khoảng 20 , chất thải rắn thông thường khoảng 80 ” [40] Theo đó, lượng rác thải y tế phát sinh và được thu gom tại các bệnh viện công lập khu vực Hà Nội được dự báo theo bảng sau:
Bảng II.3: Dự báo lƣợng chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội đến năm 2030
Trang 37Theo những con số dự báo trên, với lượng chất thải y tế phát sinh tăng thêm khoảng hơn 4.000 kg/ngày, c n có rất nhiều thách thức , đ c biệt trong điều kiện thời điểm hiện tại vẫn c n bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác quản lý, nhân lực và
cả nguồn kinh phí đầu tư Tuy nhiên, với định hướng của thành phố, lượng CTRYT gia tăng xong thành phần CTRNH phát sinh sẽ giảm và vì thế công tác quản lý và
xử lý cũng có những thuận lợi lớn
2.2 Hiện trạng thực hiện quy định hành chính trong quản lý chất thải rắn y
tế khu vực Hà Nội
Bảng II.4: Kết quả khảo sát việc thực hiện quy định hành chínhtrong quản lý
chất thải y tế khu vực Hà Nội
Trang 38Thuê giám sát
Trang 39Khảo sát về báo cáo đánh giá tác động môi trường/cam kết bảo vệ môi trường/Đề án bảo vệ môi trường trong khu vực Hà Nội có 37 cơ sở trả lời khảo sát
và trong số này có 24 cơ sở có báo cáo đánh giá chiếm tỷ lệ 64,9 Cụ thể đối với từng tuyến, 06 bệnh viện tuyến huyện trả lời khảo sát có thì 100 đều có báo cáo đánh giá tác động môi trường/Cam kết bảo vệ môi trường/Đề án bảo vệ môi trường Trong khi đó con số này ở bệnh viện tuyến tỉnh là 10 bệnh viện trong tổng số 20 bệnh viện, chỉ chiếm 50 và ở tuyến TW là 8 trong tổng số 11 bệnh viện, chiếm 72,7% Kết quả này cho thấy vẫn c n nhiều bệnh viện ngay cả ở tuyến tỉnh và TW vẫn chỉ có cái nhìn một chiều khi chỉ cố gắng phát triển về m t kỹ thuật mà chưa thực sự quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững lâu dài giữa sự phát triển của bệnh viện, nâng cao chất lượng mà vẫn không tổn hại đến môi trường
Về kết quả khảo sát sổ đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại Việc đăng ký
sổ chủ nguồn thải giúp các nhà quản lý môi trường có thể nắm được toàn bộ quy trình xử lý rác thải nguy hại của các bệnh viện thông qua việc lập hồ sơ báo cáo lên các cơ quan chức năng có thẩm quyền về toàn bộ quy trình xử lý rác thải nguy hại của bệnh viện Qua kết quả khảo sát cho thấy các bệnh viện trong khu vực đã có sự quan tâm lớn đến vấn đề quản lý và xử lý rác thải nguy hại khi có tới 29/36 cơ sở trả lời khảo sát có sổ đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại chiếm 80,6 , nhất là ở tuyến tỉnh và TW trong khi đó tuyến huyện lại chưa thực sự có được sự quan tâm đúng mức tới chất thải nguy hại bằng chứng là trong 06 bệnh viện trả lời khảo sát ở tuyến này chỉ có 03 bệnh viện có sổ đăng ký, chiếm 50 Đối với tuyến tỉnh thì có tới 16/19 bệnh viện có sổ đăng ký chiếm tới 84,2 Cả 11 bệnh viện tuyến TW đều trả lời khảo sát và trong số đó chỉ có duy nhất 1 bệnh viện không có sổ đăng ký chủ nguồn chất thải nguy hại chỉ chiếm 10
Về khảo sát giám sát môi trường định kỳ tại các bệnh viện trong khu vực Hà Nội, kết quả cho thấy các bệnh viện đã quan tâm rất lớn tới vấn đề môi trường khi
có tới 28/36 bệnh viện có thực hiện giám sát môi trường định kỳ, chiếm tỷ lệ 77,8 , trong đó chủ yếu là thuê giám sát 19/28 bệnh viện Tại từng tuyến, tỷ lệ
Trang 40các bệnh viện có thực hiện giám sát môi trường định kỳ cao nhất là tuyến TW với 10/11 bệnh viện chiếm 90,9 , tiếp theo là tuyến huyện với 6/7 bệnh viện chiếm 85,7 và thấp nhất là tuyến tỉnh với 12/16 bệnh viện có thực hiện giám sát môi trường định kỳ chiếm 66,7
Khảo sát về sổ sách ghi chép CTRYT cho kết quả hầu hết các bệnh viện trong khu vực đều có số sách ghi chép về CTRYT Đ c biệt tuyến TW và tuyến tỉnh thì 100 bệnh viện có sổ sách ghi chép về CTRYT, tuyến huyện trong 6 đơn vị
có trả lời thì chỉ có 1 bệnh viện không có sổ sách ghi chép CTRYT Ngoài ra, đối với những bệnh viện có ghi chép thì 100 các bệnh viện đều ghi chép sổ sách thường xuyên Như vậy rõ ràng hoạt động quản lý CTRYT đang ngày được quan tâm tại tất cả các bệnh viện trong khu vực và được thực hiện tăng cường quản lý đồng bộ tại các tuyến từ tuyến huyện tới Trung ương
Một vấn đề quan trọng trong quản lý chất thải y tế đó là vấn đề quản lý giao nhận CTYTNH CTYT được xếp là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ,
xử lý, thải bỏ đ c biệt, có quy định riêng; bởi những tính chất đ c thù của bệnh viện
và của loại chất thải này mà việc quản lý thiếu ch t chẽ có thể gây ra sự phát tán ra môi trường ho c nguy hiểm hơn nếu để lọt ra ngoài tới những cơ sở tái chế thủ công thành những sản phẩm khác cho người dân sử dụng sẽ gây hại tới sức kho , an toàn môi trường Tuy nhiên, các bệnh viện trong khu vực Hà Nội đã quản lý khá tốt vấn
đề này khi có tới 31/32 bệnh viện trả lời có đầy đủ chứng từ giao nhận CTNH (96,9 bệnh viện
2.3 Hiện trạng các hoạt động quản lý chất thải rắn y tế khu vực Hà Nội
2.3.1 Hiện trạng trang thiết bị thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế
Về trang thiết bị thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT, dựa vào các tiêu chí đánh giá như: mã màu, số lượng và biểu tượng; túi đựng CTYT; dụng cụ/hộp đựng chất thải sắc nhọn, thùng thu gom CTYT, phương tiện vận chuyển CTYT Các tiêu chí này được đánh giá theo các tiêu chuẩn đã quy định trong Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về quy chế quản lý CTYT và cập nhật theo Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT