Kiến thức căn bản môn Văn lớp 11, dành cho học sinh nắm bắt những tiết yếu quan trọng để thi THPT đạt điểm tối đa. Những bài quan trọng có thể dược nói tới trong bài thi THPT Quốc Gia năm 2021. Giúp học sinh 12 nắm bắt cốt yếu, phân tích trọng tâm vào từng câu thơ câu văn.
Trang 1- Là người thông minh, tính tình điềm đạm, trầm tĩnh và rất tinh tế
- Có quan niệm văn chương lành mạnh, tiến bộ và có biệt tài về truyện ngắn
2 Tác phẩm
- Tác phẩm chính: Gió đầu mùa, Nắng trong vườn, Sợi tóc, Hà Nội băm sáu phố phường
- Đặc điểm truyện ngắn Thạch Lam: Truyện không có cốt truyện mà man mác nhẹ nhàng như một bài thơ, 2 yếu tố hiện thực và thi vị trữ tình luôn đan cài xen kẽ lẫn nhau một cách nhuần nhuyễn
3.Truyện ngắn “Hai đứa trẻ”
- Xuất xứ: trích trong tập “Nắng trong vườn”, tác phẩm là sự hoà quyện hai yếu tố: hiện thực
và lãng mạn trữ tình
- Thể loại: Truyện ngắn trữ tình, cốt truyện rất đơn giản, gần như không có cốt truyện, đậm chất trữ tình, chất thơ thể hiện trong miêu tả cảm xúc, tâm trạng của nhân vật, cảnh vật thiên nhiên
- Một chiều êm ả như ru và thoảng qua gió mát…
Cảnh vật đẹp nhưng buồn, rất quen thuộc và lặng lẽ mang nét đặc trưng của miền quê xưa
Cảnh chợ tàn:
- Chợ đã vãn từ lâu, không một tiếng ồn ào, người cũng về hết, chỉ còn một vài người bán hàng về muộn đang thu xếp hàng hoá
- Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị và lá nhãn
- Mấy đứa trẻ con nhà nghèo nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ thứ gì của những người bán hàng để lại, cơ cực vì cuộc mưu sinh
- Một mùi âm ẩm bốc lên mùi riêng của miền đất vắng vẻ
Cảnh chợ tàn tiêu điều xơ xác của phố huyện nghèo ngày xưa
Cảnh đêm tối:
Bóng tối Ánh sáng
- Trời nhá nhem tối “cát lấp lánh từng chỗ,
đường mấp mô thêm ”
- Đường phố và các ngõ con dần dần chứa
- Đèn hoa kì leo lét, đèn dây sáng xanh…
- Một khe ánh sáng
- Vệt sáng của những con đom đóm…
Trang 2đầy bóng tối
- Tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông
sẫm đen hơn nữa
- Bóng tối đầy dần
Bóng tối át cả ánh sáng, một vài ánh sáng
nhỏ nhoi khiến bóng tối càng thêm dày đặc
chiếm lĩnh, ngập tràn áp đảo ánh sáng
- Quầng sáng thân mật chung quanh
- Một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối
- Thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa
Ánh sáng yếu ớt, le lói trong thế lụi tàn
dự báo một cảnh sống tù túng, buồn chán,
bế tắc
b Những cảnh đời tăm tối:
- Mẹ con chị Tí với cái chõng tre, vài chén nước chè, ngọn đèn dầu leo lét Ngày mò cua bắt tép, tối dọn hàng, hàng đã đơn sơ lại vắng khách nên “chả kiếm được bao nhiêu”(Hình ảnh ngọn đèn được nhắc đi nhắc lại nhiều lần) Cuộc sống hết sức cơ cực chỉ biết trông vào sự may rủi, hy vọng mơ hồ
- Gia đình bác Xẩm: nằm ngồi ngay trên chiếc chiếu rách trải trên mặt đất, thằng con nhỏ bò
ra đất, cái thau sắt trắng chờ tiền thưởng trống trơ trước mặt, chỉ có “mấy tiếng đàn bầu kêu lên bần bật…” Buồn tẻ, vất vưởng cùng sự lầm than, mỏi mòn
- Hình ảnh bà cụ Thi hơi điên với cuộc sống hơi bí hiểm nhân chứng sống cho sự gục ngã của con người trước sức nặng của cuộc đời
- Bác phở Siêu: cuộc sống có khá hơn nhưng cũng nguy cơ nhiều hơn vì những món hàng của bác với mọi người nơi đây là xa xỉ
Tiếng thở dài đầy thương tâm của Thạch Lam đối với những cảnh đời, những thân phận
Họ như những kiếp người tàn mòn mỏi trong không khí tù hãm, chết lặng Họ là chiếc bóng thầm trong ao đời bằng phẳng
Tâm trạng chị em Liên và An:
- Cảnh nhà sa sút, bố mất việc, cả nhà bỏ Ha Nội về quê, mẹ làm hàng sáo
- Chị em Liên được mẹ giao cho trông nom một cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu Hàng bán chẳng
ăn thua gì, Liên thương mấy đứa trẻ con nhà nghèo ven chợ nhưng chị cũng chẳng có tiền để cho chúng
- Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, cô thấy “Lòng buồn man mác”, đôi mắt
“Bóng tối ngập đầy dần”và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của
cô
- Càng về khuya “Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”
Tóm lại: Chừng ấy người trong bóng tối ngày này qua ngày khác sống quẩn quanh, tù túng trong cái “ao đời bằng phẳng”(Xuân Diệu).Mỗi người một cảnh nhưng họ đều có chung
sự buồn chán, mỏi mòn Tất cả được hiện ra qua cái nhìn xót thương của Thạch Lam
Giá trị nhân đạo
- Đối với chị em Liên, chuyến tàu đêm còn gợi nhớ về những kỉ niệm của ngày xưa sung sướng, của Hà Nội xa xăm, Hà Nội rực sáng và huyên náo
- Sau khi con tàu đi qua, phố huyện lại chìm vào yên tĩnh, tịch mịch nhưng nó như một cái phao tinh thần để họ ngoi lên, không phải chìm ngập trong ao đời bằng phẳng
Trang 3 Chuyến tàu đêm “như đã đem một thế giới khác đi qua”đoàn tàu đến và đi như một lịch trình nhưng hình ảnh đoàn tàu sáng trưng cũng tạo một thoáng vui, một niềm an ủi, một nỗi khao khát mơ hồ, một mơ ước không bao giờ tắt, một chút tươi sáng cho sự sống nghèo khổ, đơn điệu, tẻ nhạt hàng ngày của họ khao khát đổi đời Tác giả không chỉ mang đến niềm
an ủi cho hai đứa trẻ mà còn muốn cứu vớt những tâm hồn non nớt ngây thơ không để cho cuộc sống nhọc nhằn làm cho cằn cỗi, khô héo đi
6 Chủ đề: Câu chuyện thể hiện thắm thiết niềm xót thương đối với những kiếp người cơ
cực ở phố huyện nghèo trước cách mạng Đồng thời trân trọng ước mong vươn tới cuộc sống
tốt đẹp của họ
7 Kết luận
- Thạch Lam đã miêu tả bức tranh phố huyện nghèo bằng những cảnh, những người, những chi tiết rất chân thật và cảm động Ông đã giành cho con người quê hương, những con người nghèo khổ trong bóng tối một sự cảm thông và xót thương nồng hậu Cảnh phố huyện nghèo vừa hiện thực vừa chứa chan tinh thần nhân đạo
CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - Nguyễn Tuân
1 Tác giả:
- Nguyễn Tuân (1910 – 1987), sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn
- Quê ở làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội
- Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung ở Nam Định, sau đó về Hà Nội viết văn và làm báo
- Cách mạng tháng Tám thành công, ông đến với cách mạng và tự nguyện dùng ngòi
bút phục vụ hai cuộc kháng chiến của dân tộc
- Từ 1948 đến 1958 ông là tổng thư kí hội văn nghệ Việt Nam
Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp Ông có nhiều đóng góp to lớn cho nền văn học hiện đại Việt Nam, đem đến cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách tài hoa và độc đáo
2 Sự nghiệp văn chương
a Các tác phẩm tiêu biểu:
- Một chuyến đi (1938)
- Vang bóng một thời (1940)
- Thiếu quê hương (1940)
- Chiếc lư đồng mắt cua (1941)
- Đường vui (1949)
- Tình chiến dịch (1950)
- Sông đà (1960)
- Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972)…
b Tập truyện “Vang bóng một thời”:
- In lần đầu 1940, gồm 11 truyện ngắn viết về một thời đã xa, nay chỉ còn “vang bóng”
- Nhân vật chính trong tập truyện là những nho sĩ cuối mùa cố giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn” giữa thời buổi “Tây Tàu nhố nhăng”
c Truyện ngắn “Chữ người tử tù”:
- Xuất xứ: Lúc đầu có tên là “Dòng chữ cuối cùng”, in năm 1939 trên tạp chí Tao Đàn, sau
đó được tuyển in trong tập truyện ngắn “Vang bóng một thời” và đổi tên thành “Chữ người
tử tù”
Trang 4+ Vào một buổi chiều lạnh, hiểu được nỗi lòng và sở nguyện của quản ngục, Huấn Cao đồng
ý cho chữ và khuyên ngục quan bỏ nghề, về quê và giữ lấy thiên lương cho lành vững
3 Tình huống truyện
- Gặp nhau nơi tù ngục
- Trong tình thế éo le:
+ Viên quản ngục - đại diện cho bạo lực đen tối nhưng có sở thích yêu cái đẹp
+ Huấn Cao - người tử tù, cầm đầu cuộc nổi loạn, đại diện cho cái đẹp
Xét trên bình diện xã hội: Họ là những kẻ đối địch
Xét trên bình diện nghệ thuật: Họ là tri kỷ, tri âm đều yêu cái đẹp
4 Nhân vật Huấn Cao
Một vài nét về nghệ thuật thư pháp:
- Thư pháp là nghệ thuật viết chữ đẹp
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, thư pháp là phép viết chữ của người Trung
Hoa và người Ả Rập được nâng lên thành một nghệ thuật Về gốc Hán Việt, thư pháp có nghĩa là phép viết chữ Nhưng không đơn giản chỉ với cách hiểu là phép viết chữ sao cho đẹp, thư pháp, hay thư đạo trong hàm nghĩa sâu xa còn là phương tiện để biểu hiện tâm, ý, khí, lực của người dụng bút
- Tại Việt Nam, nghệ thuật thư pháp thường theo phong cách thư pháp Trung Hoa, dùng bút lông và mực tàu
a Một nho sĩ tài hoa
- “tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”
- “ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục”
- “Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm”
- “có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu trên đời ”
- “nét chữ vuông tươi tắn nó nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người”
Con người tài hoa hiếm có
b Thiên lương trong sáng
+ “Tính ông vốn khoảnh, trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ ” chính trực, trọng nghĩa khinh lợi
+ “không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối” khinh lợi, sống thanh cao, trọng nghĩa
+ Vì “cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của viên quản ngục Huấn Cao cảm động, phá
lệ “khoảnh” cho chữ cho chữ những người biết trân trọng cái tài và yêu quý cái đẹp
c Khí phách hiên ngang
+ “Đến cái cảnh chết chém ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này” không sợ chết, xem thường, khinh bỉ giai cấp thống trị
Trang 5+ “Huấn Cao lạnh lùng chúc mũi gông… thuỳnh một cái” Thái độ phớt đời, ngạo mạn + Lúc được biệt đãi: thản nhiên không lấy làm trọng
+ “Ta muốn người đừng đặt chân vào đây” dũng cảm miệt thị kẻ có quyền
Nhân vật lý tưởng có sự kết hợp hài hòa giữa tâm - tài, đẹp - thiện
Qua việc yêu mến, ca ngợi, tiếc nuối những người như ông Huấn, người “kết tinh”, lưu giữ vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc, đã cho thấy được lòng yêu nước kín đáo của nhà văn
5 Viên quản ngục
- Làm nghề coi ngục (Cái xấu và cái ác) nhưng lại là người có tâm hồn nghệ sĩ, coi trọng cái đẹp, có tấm lòng “Biệt nhỡn liên tài”
- Say mê kính trọng tài hoa và nhân cách anh hùng của Huấn Cao
- Dám bất chấp luật pháp, làm đảo lộn trật tự trong nhà tù, biến một kẻ tử tù thành thần tượng để tôn thờ
Ngục quan có những phẩm chất khiến Huấn Cao cảm kích coi là “một tấm lòng trong thiên hạ” và tác giả coi đó là “một thanh âm trong trẻo ”
6 Cảnh cho chữ
Bối cảnh, thời gian, không gian:
- Bối cảnh: người tử tù cho chữ
- Thời gian: Đêm khuya tĩnh mịch
- Không gian: Căn buồng tối chật hẹp
- Địa điểm: Nhà giam
Việc cho chữ vốn là một việc thanh cao, một sáng tạo nghệ thuật lại diễn ra trong một căn buồng tối tăm, chật hẹp
Cái đẹp lại được sáng tạo giữa chốn hôi hám, nhơ bẩn; thiên lương cao cả lại toả sáng ở chính nơi bóng tối và cái ác đang ngự trị
- Tình huống truyện độc đáo, đặc sắc
- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, có tính tạo hình, vừa cổ kính vừa hiện đại
- Xây dựng thành công nhân vật Huấn Cao - Con người hội tụ nhiều vẻ đẹp
- Sử dụng thành công thủ pháp đối lập, tương phản
9 Ý nghĩa văn bản:
- Chữ người tử tù khẳng định và tôn vinh sự chiến thắng của ánh sáng, cái đẹp, cái thiện và
Trang 6nhân cách cao cả của con người đồng thời bộc lộ lòng yêu nước thầm kín của nhà văn
HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA - Vũ Trọng Phụng
1 Tác giả
- Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939), sinh ra tại Hà Nội, trong một gia đình nghèo
- Quê quán: làng Hảo, huyện Mĩ Hào, tỉnh Hưng Yên
- Sau khi tốt nghiệp tiểu học, Vũ Trọng Phụng đi làm kiếm sống, nhưng chẳng được bao lâu thì mất việc Từ đó ông sống chật vật, bấp bênh bằng nghề viết báo
- Từ 1937 – 1938 ông mắc bệnh lao, nhưng không có điều kiện chạy chữa, sau đó mất tại Hà Nội
- Bắt đầu có truyện đăng báo từ năm 1930 Không đầy mười năm viết văn nhưng lại có sự nghiệp sáng tác đồ sộ, được mệnh danh là “Ông vua phóng sự đất Bắc”
- Tác phẩm tiêu biểu: Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934), Cơm thầy cơm cô (1936), Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê (1936)…
- Sáng tác của ông toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội đen tối thối nát đương thời được thể hiện bằng phong cách nghệ thuật độc đáo
Ông là một trong những nhà văn hiện thực lớn, có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại
2 Tác phẩm “Số đỏ”
- Tiểu thuyết “Số đỏ” được đăng ở “Hà Nội báo” từ số 40 ngày 7 – 10 – 1936 và in thành sách lần đầu năm 1938
- Tóm tắt: SGK
- Giá trị nội dung và nghệ thuật:
+ Nội dung: Tác phẩm đả kích sâu cay cái xã hội tư sản thành thị đang chạy theo lối sống nhố nhăng đồi bại đương thời mà thực chất thối nát nhất là các phong trào âu hóa, thể thao được bọn thống trị khuyến khích Từ đó dẫn đến lối sống hư hỏng, phi đạo đức
+ Nghệ thuật:
Sử dụng bút pháp châm biếm sắc sảo
Nghệ thuật trào phúng, đả kích về các phương diện: chân dung, hành vi, ngôn ngữ, giọng điệu
Tác phẩm đạt trình độ tiểu thuyết già dặn, có bút pháp châm biếm sắc sảo
3 Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”:
- Xuất xứ: chương XV thuộc tiểu thuyết “Số đỏ”
- Chủ đề: Qua đám tang của cụ cố tổ tác giả đã vạch trần sự giả dối, bịp bợm, lố lăng, vô đạo đức của một lớp người được coi là thượng lưu, trí thức của xã hội đương thời
Hạnh phúc của một gia đình vô phúc, niềm vui của một lũ con cháu đại bất hiếu
- Phản ánh đúng một sự thật mỉa mai, hài hước: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, hạnh phúc khi cụ cố tổ chết
Trang 7 Tình huống trào phúng chính yếu của toàn bộ chương truyện
5 Thái độ của đám con cháu trước cái chết cụ Tổ:
- Cụ cố Hồng (con trai cả): Sung sướng vì lần đầu tiên được diễn trò già yếu trước đám đông
cụ “nhắm nghiền mắt lại để mơ màng ”
Điển hình cho loại người háo danh, sĩ diện hão
- Văn Minh (cháu nội): Thích thú vì cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa
Hám của, tính toán, tán tận lương tâm
- Vợ Văn Minh (cháu dâu): mừng rỡ vì được dịp lăng xê những mốt y phục táo bạo nhất
Cơ hội quảng cáo hàng để kiếm tiền
- Cậu Tú Tân (cháu nội): Sướng điên người lên vì được dùng đến cái máy ảnh mới mua, cơ hội hiếm có để cậu giải trí và chứng tỏ tài nghệ chụp ảnh của mình
Thiếu trách nhiệm, vô văn hóa
- Cô Tuyết (cháu gái): Được dịp mặc bộ y phục ngây thơ
Lẳng lơ, hư hỏng, che đậy sự xấu xa
Gia đình đại bất hiếu, chỉ vì hám danh lợi mà đánh mất lương tâm
6 Cảnh đám tang:
Cảnh đám ma như đám rước:
- Đám ma to chưa từng thấy ở đất Hà Thành, có đủ kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, vài ba trăm câu đối… vài ba trăm người đi đưa đám, tiếng kèn huyên náo tổ chức theo cả ta, tàu, tây
Khoe sang, khoe giàu một cách lố bịch và hợm hĩnh
- Người đi đưa đám giả dối, lố bịch… Dân phố hai bên đường đổ xô ra xem như xem một sự
lạ
Cảnh hạ huyệt:
- Cậu Tú Tân biểu diễn chụp ảnh, Xuân tóc đỏ cầm mũ nghiêm trang một cách giả vờ
- Cụ cố Hồng ho khạc, mếu máo và ngất đi
- Ông Phán mọc sừng cứ oặt người đi khóc to bằng những âm thanh lạ:
“Hứt! Hứt! Hứt! ”
Đám tang diễn ra như một tấn đại hài kịch nói lên sự lố lăng, đồi bại của xã hội tư sản thượng lưu thời trước cách mạng Quả thực đó là một đám ma gương mẫu cho sự giả dối, hợm hĩnh, háo danh của một gia đình giàu sang mà bất hiếu, bất nghĩa
7 Giá trị nghệ thuật
- Nghệ thuật trào phúng bậc thầy: từ một tình huống trào phúng cơ bản nhà văn triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau tạo nên một màn đại hài kịch phong phú và rất biến hoá
- Chọn những chi tiết đối lập nhau gay gắt nhưng cùng tồn tại trong một sự vật, một con người bật lên tiếng cười
- Thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa… được sử dụng linh hoạt mang lại hiệu quả nghệ thuật cao
CHÍ PHÈO - Nam Cao PHẦN MỘT: TÁC GIẢ
1 Tiểu sử
Trang 8- Nam Cao (1917 – 1951) tên khai sinh là Trần Hữu Tri Quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao
Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
- Học hết bậc thành chung, Nam Cao vào Sài Gòn kiếm sống và băt đầu sáng tác Sau hơn ba năm, vì ốm đau ông phải trở về quê, khi làm ông giáo trường tư, khi viết văn, làm gia sư
- Tham gia hội văn hóa cứu quốc năm 1943, là người tận tụy phục vụ cho cách mạng và kháng chiến
+ 1947 tham gia chiến dịch Việt Bắc
+ 1950, tham gia chiến dịch biên giới
+ 1951, trên đường vào công tác vùng địch hậu liên khu III, Nam Cao bị phục kích và bị sát hại Cái chết của Nam Cao là sự hy sinh vẻ vang của một nhà văn - chiến sĩ, là tấm gương đẹp trong văn nghệ sĩ
2 Con người
- Nam Cao có bề ngoài lạnh lùng, ít nói nhưng có đời sống nội tâm khá phong phú
+ Luôn nghiêm khắc đối với bản thân để thoát khỏi lối sống tầm thường nhỏ hẹp, vươn tới một cuộc sống cao đẹp
+ Nam Cao thường hổ thẹn về những việc làm, ý nghĩ mà ông cảm thấy tầm thường thấp kém của mình
- Ông có tấm lòng đôn hậu, chan chứa tình thương, đặc biệt có sự gắn bó sâu nặng với quê hương và những người nông dân nghèo khổ bị áp bức và khinh miệt trong xã hội cũ Điều đó thể hiện rõ qua một số tác phẩm tự truyện: Sống mòn, Đời thừa
3 Quan điểm nghệ thuật
- Sáng tác để phục vụ cuộc sống, phục vụ con người Đối với Nam Cao - một tác phảm văn chương chân chính có giá trị khi tác phẩm đó chứa đựng tinh thần nhân đạo Nhà văn không nên chạy theo cái đẹp, sự thơ mộng mà quay lưng với hiện thực rồi viết ra những điều giả dối Phải vươn tới cuộc sống nhân ái công bằng, phải làm cho người gần người hơn
- Lao động nghệ thuật là lao động nghiêm túc, nhà văn cần phải khám phá tìm hiểu, đào sâu,
đi theo lối đi riêng, phải thể hiện tinh thần sáng tạo, không rập khuôn, cẩu thả Nhà văn phải
có lương tâm, có nhân cách xứng đáng với nghề nghiệp của mình
4 Các đề tài chính: Chủ yếu tập trung vào hai đề tài:
a Người trí thức nghèo:
- Nhân vật chính: Nhà văn nghèo, những viên chức, những giáo khổ trường tư Họ mang những hoài bão đẹp, khát khao được phát triển nhân cách, được đóng góp cho XH, được khẳng định trước cuộc đời Nhưng họ gặp XH bất công, cuộc sống đói nghèo ghì sát đất, mộng ước tan tành, họ bị vùi dập phũ phàng
- Giá trị nổi bật ở đề tài này:
+ Phản ánh chân thật thực trạng buồn thảm, cơ cực của những trí thức tiểu tư sản nghèo + Phác họa được bức tranh đen tối của XHVN trước CM
+ Thông qua bi kịch tinh thần của người trí thức tiểu tư sản, Nam Cao kết tội XH vô nhân đạo đã đẩy con người vào tình trạng sống mòn
b Người nông dân nghèo:
- Nhân vật chính: NC lấy nguyên mẫu từ những người quen biết, thân thuộc trong làng Đại Hoàng lam lũ: Lão Hạc, dì Hảo, Chí Phèo…
- Nét nổi bật ở đề tài này:
+ Phản ánh chân thực cuộc sống tối tăm, cực nhục của người nông dân, những người thấp cổ
bé họng, những người bị áp bức nặng nề cùng với sự bất công ở nông thôn VN trước CM
Trang 9+ Phát hiện sâu sắc XH tàn bạo đã hủy diệt cả thể xác lẫn tâm hồn người nông thôn lương thiện, đẩy họ vào cuộc sống không lối thoát
+ Với cây bút hiện thực nghiêm ngặt, Nam Cao không ngần ngại chỉ ra những thói hư tật xấu của người nông dân Tất cả đều chứng tỏ chiều sâu hiện thực và nhân đạo của Nam Cao
5 Phong cách nghệ thuật
- Có biệt tài diễn tả, phân tích độc đáo tâm lý nhân vật
- Tạo được những đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm sinh động, chân thật
- Phá vỡ lối kết cấu theo trình tự thời gian truyền thống
- Từ những việc nhỏ nhặt hàng ngày, nêu được những triết lý sâu sắc
- Có giọng điệu riêng: tự sự lạnh lùng đến trữ tình sôi nổi
PHẦN 2: TÁC PHẨM
1 Xuất xứ: Ra đời năm 1941,tiêu biểu cho sáng tác của Nam Cao về đề tài người nông
thôn, là một kiệt tác trong văn xuôi Việt Nam hiện đại
2 Nhan đề:
- Cái lò gạch cũ: sự luẩn quẩn, bế tắc, là biểu tượng về sự xuất hiện tất yếu của hiện tượng Chí Phèo, gắn liền với chủ đề chính của tác phẩm
- Đôi lứa xứng đôi: nhấn mạnh mối tình Chí Phèo - Thị Nở, cách đặt tên này tạo được sự tò
mò phù hợp với thị hiếu của một lớp công chúng bấy giờ
- Chí Phèo: nhấn mạnh nhân vật Chí Phèo
Cơ sở của truyện: “Chí Phèo” là chuyện về người thật, việc thật ở làng Đại Hoàng, quê tác giả
đè nén, áp bức
- Mâu thuẫn giai cấp gay gắt, âm thầm mà quyết liệt, không khí tăm tối, ngột ngạt
Hình ảnh thu nhỏ của nông thôn Việt Nam trước cách mạng
4 Nhân vật Bá Kiến
- Bốn đời làm tổng lí “Uy thế nghiêng trời”
- Diện mạo bên ngoài: tiếng quát “rất sang”, “cái cười Tào Tháo”, giọng nói “ngọt nhạt” những nét khiến người đọc khó quên
- Là người có nhiều kinh nghiệm trong việc dùng người, trị dân với nhiều thủ đoạn tinh vi: + Mềm nắn rắn buông
+ Thứ nhất sợ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân
Trang 10- Nhân vật độc thoại phơi ra những suy nghĩ, tính toán thuộc về phương châm chính sách cùng những âm mưu thâm độc trong việc đàn áp thống trị nhân dân của một lão cường hào cáo già khôn róc đời
- Bản chất gian hùng thể hiện đầy đủ nhất trong cái cách hắn đối xử với Chí Phèo
- Là một lão già háo sắc và ghen tuông đến thảm hại
Bá Kiến tiêu biểu cho giai cấp thống trị: có quyền lực, gian hùng, nham hiểm
5 Hình tượng nhân vật Chí Phèo
a Chí Phèo lương thiện
- Hoàn cảnh xuất thân: không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dùi, đi ở hết nhà này đến nhà khác Cày thuê cuốc mướn để kiếm sống
- Bản chất hiền lành thật thà
- Từng mơ ước: một ngôi nhà nho nhỏ
- Năm 20 tuổi: đi ở cho nhà Bá Kiến Bị bà ba Bá Kiến gọi lên đấm lưng, bóp chân xoa bụng Chí chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì biết phân biệt tình yêu chân chính và thói dâm dục xấu xa
20 năm đầu của cuộc đời Chí Phèo là một anh canh điền hiền lành, chất phác, có lòng tự trọng nhưng vì ghen tuông Bá Kiến đã đẩy anh canh điền hiền lành và chất phác ấy vào nhà
tù
b Chí Phèo lưu manh: Sau khi đi biệt 7, 8 năm Chí Phèo trở về trông khác hẳn:
- Nhân hình: Đầu trọc lóc, mặt cơn cơn, răng cạo trắng hớn, ngực đầy những nét chạm trổ
- Nhân tính: Uống rượu, say sưa, đập phá
Chí Phèo bị vùi dập cả thể xác lẫn linh hồn, nhà tù thực dân đã tiếp tay lão cường hào thâm độc giết chết phần người trông con người Chí
+ Tiếng chửi: Chửi trời Đời làng Vũ Đại những ai không chửi nhau với hắn người sinh ra hắn
Nỗi thống khổ trong tâm hồn, sự khắc khoải đau đớn, nỗi khao khát được giao tiếp, được mọi người đón nhận
+ Hành động: Đập phá, rạch mặt ăn vạ, kêu làng kêu xóm, phá bao nhiêu cảnh yên vui của dân làng Hắn hành động trong lúc say, cả cuộc đời là cơn say dài triền miên u mê tâm tối trong tâm hồn
Trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại: không còn là khuôn mặt người, hắn đã bán linh hồn cho quỷ dữ
Hiện tượng bi thảm ấy khá phổ biến và có tính qui luật trong xã hội đương thời Nhà văn
đã nêu ra một vấn đề mới trong số phận tăm tối của người nông dân: bị tàn phá về tâm hồn,
bị huỷ diệt cả nhân tính Giá trị hiện thực sâu sắc
c Chí Phèo với khát vọng làm người lương thiện
Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở Tâm trạng nhiều biến đổi:
+ Cảm nhận được cuộc sống xung quanh mình: Ánh nắng, tiếng chim, tiếng cười nói
+ Cảm nhận về bản thân: già, cô độc, ốm đau
Trang 11- Hắn thấy thèm lương thiện, muốn làm hoà với mọi người biết bao…
Bản chất con người Chí Phèo đã trở về
- Uống rượu, càng uống càng tỉnh
- Khóc rưng rức ý thức nỗi đau tột cùng về thân phận
- Chí Phèo đến nhà Bá Kiến, giết chết Bá Kiến và sau đó chỉ còn một cách là tự sát khi ý thức trở về Chí Phèo không bằng lòng trở lại cuộc sống thú vật như trước nữa và Chí Phèo
đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống
Tình trạng xung đột giai cấp ở nông thôn hết sức gay gắt không gì có thể xoa dịu dược
Bi kịch bị cự tuyệt, không được làm người lương thiện: Giá trị nhân đạo
Hình ảnh chiếc lò gạch cũ như một ám ảnh về sự bế tắc
6 Nét đặc sắc nghệ thuật
- Cách xây dựng nhân vật điển hình, vừa có cá tính, vừa có nét chung
- Sở trường miêu tả và phân tích diễn biến tâm lí nhân vật
- Ngôn ngữ tự nhiên, sống động, mộc mạc nhưng giàu tính triết lý Ngôn ngữ kể chuyện vừa
là ngôn ngữ tác giả vừa là ngôn ngữ nhân vật
- Kết cấu linh hoạt, sáng tạo, dựng truyện không theo trật tự thời gian
7 Chủ đề:
- Tác phẩm lên án xã hội thực dân nửa phong kiến đã hủy hoại, tàn phá tâm hồn con người, đồng thời thể hiện khát vọng được sống, được làm người của những nạn nhân trong xã hội
đó
VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI - Nguyễn Huy Tưởng
1 Tác giả: Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960)
- Quê quán: làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh, nay thuộc xã Dục Tú huyện Đông Anh,
- Văn phong giản dị, trong sáng, đôn hậu, thâm trầm, sâu sắc
3 Những mâu thuẫn xung đột cơ bản
- Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than với bọn hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng sống xa hoa truỵ lạc Mâu thuẫn này vốn có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây Cửu trùng đài thì nó biến thành xung đột căng thẳng, gay gắt
- Mâu thuẫn thứ hai: Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời
và lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân
4 Tính cách và diễn biến tâm trạng của Vũ như Tô
Trang 12- Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân cho niềm khát khao say mê sáng tạo cái đẹp: Một thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một”, “chỉ vẩy bút là chim hoa đã hiện lên” có thể “sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây dựng lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ”
- Là một nghệ sĩ có nhân cách lớn, có hoài bão lớn, có lí tưởng nghệ thuật cao cả Mặc dù bị
Lê Tương Dực doạ giết Vũ như Tô vẫn kiên quyết từ chối xây Cửu trùng đài Ông cũng không phải là người hám lợi (Khi được vua ban thưởng lụa là, vàng bạc ông đã đem chia hết cho thợ) Lí tưởng, ước mơ xây một toà đài cao cả, nguy nga, tráng lệ thật đẹp đẽ và chân chính nhưng lại cao siêu, thuần tuý hoàn toàn thoát li khỏi hoàn cảnh lịch sử xã hội của đất nước, xa rời đời sống nhân dân
- Tâm trạng bi kịch đầy căng thẳng của ông: xây Cửu trùng đài là đúng hay sai? là có công hay có tội?
Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch bởi đã mang trong mình không chỉ những say mê khát vọng lớn lao mà còn cả những làm lạc trong suy nghĩ và hành động Khi ông và Đan Thiềm
bị bắt, Cửu trùng đài bị đập phá, thiêu huỷ thì ông mới bừng tỉnh xiết bao đau đớn, kinh hoàng
5 Nhân vật Đan Thiềm
- Là người đam mê cái tài, tài sáng tạo ra cái đẹp
- “Bệnh Đan Thiềm” là mê đắm tài hoa siêu việt của người sáng tạo nghệ thuật, sáng tạo ra cái đẹp
- Vì đam mê tài năng mà nàng luôn khích lệ Vũ Như Tô xây cửu trùng đài, sẵn sàng quên mình để bảo vệ cái tài ấy
- Là người luôn tỉnh táo trong mọi trường hợp Biết chắc đài lớn không thành, tâm trí nàng giờ đây chỉ còn tập trung bảo vệ tính mạng cho Vũ Như Tô, nàng khẩn khoản khuyên Vũ Như Tô trốn đi nhưng không được
Kẻ tri âm, liên tài có thể chết, sẵn sàng chết vì đài cao, tài lớn, vì người tri âm
Diễn biến tâm trạng của hai nhân vật thể hiện tính bi kịch của mỗi người, cũng như
những gì được xem là đồng bệnh ở họ, góp phần khơi sâu chủ đề của tác phẩm Chứng đồng bệnh ở Đan Thiềm và Vũ Như Tô là sự đồng điệu trong mộng ước, đồng điệu trong nỗi đau, xuất phát từ ý thức sâu xa giữa bi kịch tài và sắc