TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI ---o0o---NÔNG THÀNH TUYÊN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG TRONG QUÁ TRÌNH Đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-o0o -NÔNG THÀNH TUYÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-o0o -NÔNG THÀNH TUYÊN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PSG.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tế và dưới sự dẫn dắt khoa học của Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Huyền – Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn gốc
rõ ràng, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm công tác Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được tác giả công bố dưới bất hình thức nào
Tác giả luận văn
Nông Thành Tuyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô của trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô Viện Kinh tế và quản lý của trường đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập ở trường Và em cũng xin chân thành cảm ơn Cô Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Huyền – Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân Đã nhiệt tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Trong quá trình làm luận văn, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN .6
1.1 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn .6
1.1.1 Khái niệm lao động nông nghiệp, nông thôn 6
1.1.2 Vai trò của lao động nông nghiệp, nông thôn 7
1.1.3 Những đặc điểm và yêu cầu về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn 8
1.2 Nhu cầu về việc làm trong nông nghiệp, nông thôn 12
1.2.1 Nội dung nhu cầu về việc làm trong nông nghiệp, nông thôn 12
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá nhu cầu về việc làm trong nông nghiệp, nông thôn 13
1.2.3 Hậu quả của thất nghiệp và thiếu việc làm 14
Hậu quả về kinh tế 14
1.3 Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm ở nông thôn trong quá trình đô thị hóa 15
1.3.1 Tính tất yếu và phổ biến của đô thị hóa 15
1.3.2 Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa 16
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa 16
1.4.1 Các yếu tố vĩ mô 16
1.4.2 Các yếu tố vi mô 21
1.4.3 Các yếu tố nội tại của mỗi địa phương 22
1.5 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu 24
1.5.1 Trên thế giới 24
Trang 61.5.2 Tại Việt Nam 26
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG 27
2.1- Khái quát chung về huyện Hàm Yên 28
2.1.1 Giới thiệu chung về huyện Hàm Yên 28
2.1.2.Các đặc điểm kinh tế-xã hội của huyện Hàm Yên 33
2.2 Khái quát tình hình và kết quả triển khai thực hiện chính sách tạo việc làm ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 38
2.3 Phân tích các chỉ chỉ tiêu đánh giá tạo việc làm ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2015-2017 43
2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm ở huyện Hàm Yên 52
2.5 Đánh giá chung công tác tạo việc làm ở huyện Hàm Yên 67
2.5.1 Những kết quả đạt được 67
2.5.2 Những hạn chế tồn tại 69
2.5.3 Nguyên nhân của hạn chế tồn tại 70
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN ĐẾN 2020 74
3.1 Định hướng phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh Tuyên Quang 74
3.2 Định hướng phát triển kinh tế xã hội và giải quyết vấn đề lao động, việc làm của huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 74
3.3 Một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn đến 2020 79
3.3.1 Giải pháp đào tạo nghề 79
3.3.2 Khuyến khích phát triển mọi thành phần kinh tế 85
3.3.3 Đầu tư xây dựng các khu công nghiệp vừa và nhỏ 89
3.3.4 Quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung .90
3.3.5 Phát triển hệ thống tư vấn và giới thiệu việc làm .90
3.3.6.Tạo điều kiện để phát triển các làng nghề truyền thống và các ngành nghề mới ở nông thôn .93
Trang 73.3.7 Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nông thôn.
94
3.3.8 Các giải pháp hỗ trợ khác 96
3.4 Một số kiến nghị với các cơ quan chức năng 98
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Hàm Yên 34
Bảng 2.2 Số trường, lớp, giáo viên và học sinh phổ thông ở 36
huyện Hàm Yên 36
Bảng 2.3 Cơ cấu tuổi của lực lượng lao động năm 2017 37
Bảng 2.4 Việc làm chia theo thành phần kinh tế 39
Bảng 2.5.Trình độ văn hóa của lao động huyện Hàm Yên 44
Bảng 2.6 Trình độ chuyên môn kỹ thuật 44
Bảng 2.7 Cơ cấu làm việc theo nhóm ngành 47
Bảng 2.8: Phân nhóm thời gian lao động của huyện 48
Bảng 2.9 : Tỷ suất sử dụng thời gian lao động qua các tháng trong năm .49
Bảng 2.10: Cơ cấu thu nhập của lao động huyện .50
Bảng 2.11: Bảng phân tổ thu nhập của lao động huyện 51
Bảng 2.12 : Ảnh hưởng của yếu tố ngành nghề đến thời gian làm việc của lao động .52
Bảng 2.13: Ảnh hưởng của yếu tố diện tích canh tác đến thời gian làm việc của lao động .55
Bảng 2.14: Ảnh hưởng của mức đầu tư đến thời gian làm việc của lao động .57
Bảng 2.15 : Ảnh hưởng của độ đến thời gian lao động .59
Bảng 2.16 Ảnh hưởng cấu cơ cấu ngành nghề đến thu nhập của lao động .61
Bảng 2.17 : Ảnh hưởng của diện tích canh tác đến thu nhập của người lao động .63
Bảng 2.18: Ảnh hưởng của mức vốn đầu tư bình quân một lao động đến thu nhập lao động trong vùng 65
Bảng 2.19: Tình hình thu nhập của lao động phân theo độ tuổi .66
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài: Xuất phát từ những lý do sau
- Tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp giảm mạnh, dẫn đến lao động nông nghiệp mất đất không có việc làm tăng nhanh
- Trình độ dân trí cao hơn so với các vùng khác song vẫn còn thấp so với yêu cầu của phát triển Trình độ lao động còn thấp, số lao động chưa qua đào tạo nghề còn chiếm tỷ trọng lớn
- Dân số tăng nhanh, đặc biệt là tỷ lệ tăng cơ học tăng cao tạo nên một
áp lực lớn đối với việc làm của lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn của huyện Hàm Yên
Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm ở nông thôn trong quá trình đô
thị hóa
* Tính tất yếu và phổ biến của đô thị hóa
Thực tiễn trên thế giới cho thấy các nước có nền kinh tế phát triển đều phải trải qua quá trình công nghiệp hóa đất nước Về cơ bản có thể xem công nghiệp hóa là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở vật chất của ngành công nghiệp, của các ngành sản xuất khác và các ngành thương mại, dịch vụ, đồng thời đó cũng là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và phục vụ yêu cầu nâng cao đời sống về mọi mặt của dân cư Công nghiệp hóa dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp, chuyển dịch cơ bản dân số về lao động và từ
đó sẽ hình thành các khu đô thị mới
Quá trình công nghiệp hóa ở mỗi quốc gia là sự hình thành hệ thống cơ
sở vật chất của các ngành kinh tế quốc dân mà trước hết là các ngành công nghiệp Kết quả chính của quá trình này còn bao gồm hệ thống kết cầu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trên phạm vi cả nước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của nhân dân
Trang 10- Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa
Đô thị hóa với nội dung cơ bản được trình bày ở trên, ở một góc độ nào
đó có thể hiểu là quá trình hình thành các đô thị mới và mở rộng các đô thị đã
có do việc xây dựng và phát triển các khu thương nghiệp, dịch vụ và các khu dân cư mới
Trong thực tế các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các khu dân
cư mới được xây dựng và phát triển trong quá trình công nghiệp hóa hầu như được xây dựng trên các vùng đất được sử dụng vào mục đích phát triển sản xuất nông nghiệp trước đây Điều này có nghĩa là trong quá trình đô thị hóa một bộ phận đất nông nghiệp được chuyển thành đất đô thị
Việc chuyển một bộ phận đất nông nghiệp thành đất đô thị như đã nói trên dẫn tới hiện tượng là những người nông dân vốn sinh sống trên bộ phận ruộng đất này không còn tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông dân để đảm bảo cuộc sống của gia đình như trước đây nữa Điều này đòi hỏi nhà nước phải có chủ trương và các biện pháp giải quyết việc làm cho những người lao động nông nghiệp bị mất đất do quá trình đô thị hóa Đây là một vấn đề kinh
tế - xã hội luôn được đặt ra hàng đầu và đòi hỏi phải được đồng thời giải quyết trong quá trình công nghiệp hóa ở các nước
2- Mục tiêu nghiên cứu:
Đề xuất một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trong quá trình đô thị hóa
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng: Lao động nông nghiệp, nông thôn
Phạm vi nghiên cứu không gian: huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
Phạm vi nghiên cứu thời gian: nghiên cứu giai đoạn đến 2017
Đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến 2020
4- Nội dung nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn;
Trang 114.2 Nghiên cứu thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông thôn của huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
4.3 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang;
4.4 Nghiên cứu đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho lao động nông thôn tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát
- Dùng phương pháp phân vùng nghiên cứu;
- Chọn xã nghiên cứu: Huyện có18 xã, thị trấn, chọn những xã mang tính đặc trưng nhất của vùng (6 đến 8 xã)
- Chọn hộ nghiên cứu: Chọn hộ điều tra trong xã và mang tính đặc trưng
5.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Kế thừa chọn lọc các số liệu và kết quả nghiên cứu được công bố, sử dụng;
- Thu thập và tính toán từ những số liệu của các cơ quan thống kê;
- Các báo cáo chuyên ngành và những báo cáo khoa học đã được công
bố, thông tin bài viết từ tạp chí, báo, tài liệu và các trang web liên quan đến vấn đề về chính sách tạo việc việc làm cho lao động nông thôn;
- Tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội ở tỉnh Tuyên Quang, huyện Hàm Yên ;
- Các tài liệu do các cơ quan tỉnh Tuyên Quang cung cấp (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục thống kê); của huyện và các xã trong địa bàn nghiên cứu (Những số liệu này chủ yếu được thu thập ở phòng Thống kê, Phòng Nông nghiệp, phòng Nội vụ, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên và Môi trường)
5.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
Trang 12- Điều tra, phỏng vấn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên với phiếu câu hỏi được soạn sẵn:
+ Chọn khoảng 50 hộ và 130 lao động đại diện cho các nhóm hộ của các
xã trên địa bàn huyện Hàm Yên, trong đó tỷ lệ tôn giáo, tỷ lệ lao động có việc làm, không có việc làm trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ; các hộ điều tra đại diện cho cả huyện theo tỷ lệ hộ giàu, trung bình, hộ nghèo và hộ thuần nông, hộ nông nghiệp kiêm ngành nghề, hộ ngành nghề chuyên kiêm dịch vụ buôn bán, hộ nông nghiệp kiêm dịch vụ buôn bán;
+ Chọn 8 doanh nghiệp trong nông nghiệp và phi nông nghiệp có sử dụng lao động thuê;
+ Các tổ chức chính quyền, đoàn thể trên địa bàn huyện Hàm Yên
Phương pháp xử lý số liệu
- Đối với thông tin thứ cấp: Số liệu được phân nhóm theo nội dung của
đề tài, từ đó tính toán các chỉ tiêu tùy theo mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đối với thông tin sơ cấp:
+ Phương pháp thống kê mô tả: Để mô tả thực trạng triển khai thực hiện chính sách tạo việc làm ở nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên;
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng lao động việc làm của người lao động tại vùng nghiên cứu
Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu thô và lập bảng phân phối tần số Tần số là số lần thực hiện của một quan sát, tần số của một tổ là số quan sát rơi vào giới hạn của tổ đó, thí
dụ như thống kê theo nhóm tuổi, trình độ học vấn,…
Bảng thống kê là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết quả nghiên cứu
+ Phương pháp hồi qui tương quan: Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng
đến chính sách tạo việc làm ở nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên;
Trang 13Phương pháp này được thực hiện với mục đích tổng hợp các yếu tố từ bên trong và các yếu tố bên ngoài của chính sách tạo việc làm ở nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên, từ đó có thể nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện trên nhiều khía cạnh Từ đó có cơ sở để hoàn thiện chính sách tạo việc làm ở nông thôn trên địa bàn huyện Hàm Yên
+ Nghiên cứu các trường hợp mang tính phổ biến và đặc thù của huyện Hàm Yên để chứng minh mức khác nhau của triển khai thực hiện chính sách tạo việc làm trên địa bàn huyện Hàm Yên
+ Phân tích so sánh giữa các chủ thể tạo việc làm trong cùng một điều kiện của việc triển khai thực hiện chính sách để làm rõ ảnh hưởng của chính sách tạo việc làm trên địa bàn huyện Hàm Yên
+ Tổng hợp các kết quả nghiên cứu để hình thành các đề xuất, kiến nghị cho luận văn
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải quyết việc làm ở nông
thôn
Chương 2: Phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nông
thôn của huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp giải quyết việc làm cho lao động
nông thôn tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn đến 2020
Trang 14CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN
1.1 Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn
1.1.1 Khái niệm lao động nông nghiệp, nông thôn
a Khái niệm lao động
Theo C.Mac thì: Lao động là hoạt động có mục đích để sáng tạo ra những giá trị sử dụng và lao động là sự kết hợp giữa sức lao động của con người và tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động
Theo giáo trình tổ chức lao động khoa học: Lao động là hoạt động có mục đích của con người, nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của mình, là
điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Lao động là hành động của con người diễn ra giữa người với tự nhiên Trong quá trình lao động, con người vận dụng sức tiềm tàng trong thân thể tác động vào giới tự nhiên chiếm giữ những vật chất trong giới tự nhiên, biến đổi những vật chất đó làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của mình Như C.Mac đã nói: “ Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên"
b Khái niệm về nguồn lao động
Nguồn lao động là phạm trù phản ánh lực lượng quan trọng nhất của nền sản xuất xã hội Theo từ điển thống kê: “ Nguồn lao động xã hội là toàn thể những thành viên trong xã hội có khả năng tham gia lao động, bao gồm: những người theo quy định của Nhà nước ở trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người theo quy định của Nhà nước ở ngoài độ tuổi quy định nhưng thực tế tham gia lao động”
Như vậy, nguồn lao động xã hội là tổng thể lao động xã hội được xem xét trong khoảng thời gian nhất định
Trang 15- Số lượng lao động : Bao gồm toàn thể những người lao động trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi nhưng có khả năng tham gia lao động Lao động trong tuổi quy định là những người trong độ tuổi nhất định theo quy định của Nhà nước, có nghĩa vụ và quyền lợi đem sức lao động của mình và cho xã hội, chịu sự điều động phân công của Nhà nước để làm các công việc chung của xã hội Theo quy định chung, ở Việt Nam độ tuổi lao động tính từ 16 đến 60 đối với nam, 16 đến 55 đối với nữ
- Chất lượng nguồn lao động: đây là phạm trù phản ánh trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, thể lực và trí lực… của người lao động Trong từng quốc gia khác nhau, từng lãnh thổ khác nhau, từng vùng khác nhau thì chất lượng của nguồn lao động cũng khác nhau Chất lượng nguồn lao động được thể hiện trên các mặt: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, trình độ tổ chức cuộc sống, các yếu tố về tâm lý, tập quán, phẩm chất đạo đức, trình độ và ý thức pháp luật, trạng thái tâm lý, năng lực tư duy, sáng tạo, trình độ sức khỏe…
Như vậy chất lượng nguồn lao động chủ yếu biểu hiện ở mặt thể lực và trí lực của người lao động
1.1.2 Vai trò của lao động nông nghiệp, nông thôn
a Nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn tham gia vào quá trình phát triển các ngành trong nền kinh tế quốc dân
Nguồn lao động nông thôn đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển các ngành nghề trong nền kinh tế Để nền kinh tế phát triển mạnh đòi hỏi phải có một nguồn lao động phù hợp cả về số lượng và chất lượng Trong mỗi thời kỳ khác nhau thì sự phù hợp này cũng được biểu hiện khác nhau và diễn biến theo xu hướng có tính quy luật
Về mặt số lượng: Thời kỳ đầu công nghiệp hóa số lượng nguồn lao động nông nghiệp đông và chiếm tỷ trọng cao trong tổng lao động xã hội Song xu hướng ngày càng giảm dần cả về số tương đối lẫn tuyệt đối trong quá trình phát triển xã hội
Trang 16Sở dĩ có tính quy luật trên là vì: Lao động nông nghiệp thuộc loại lao
động tất yếu của xã hội
b Nguồn lao động nông thôn tham gia vào sản xuất lương thực, thực phẩm
Như chúng ta đều biết, nguồn lương thực, thực phẩm phần lớn được cung cấp từ khu vực nông thôn, ngoại thành các thành phố lớn Các nguồn này vì thế mà do chính nguồn lao động nông thôn sản xuất ra Không chỉ quá trình gia tăng dân số hàng năm mà quá trình đô thị hóa đất nước và thu nhập của người dân tăng lên đòi hỏi khối lượng lương thực, thực phẩm hàng hóa ngày càng lớn, chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư
c Nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn tham gia vào sản xuất nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản
Cùng với quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản cũng ngày càng lớn mạnh.Việc phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản với các quy trình công nghệ, quy mô khác nhau là một nội dung của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với một cơ cấu kinh tế nông nghiệp-công nghiệp-dịch vụ như Việt Nam hiện nay, ngành công nghiệp chế biến phát triển sẽ tạo đà cho phát triển một nền kinh tế vững chắc, đồng thời tạo sự chuyển dịch cơ cầu kinh tế theo hướng Công nghiệp - Nông nghiệp - Dịch vụ Tuy nhiên, không thể phát triển được ngành Công nghiệp chế biến nếu như không cung cấp đủ nguồn nguyên liệu đầu vào Các nguồn nguyên liệu của công nghiệp chế biến chủ yếu được cung cấp bởi sản phẩm nông nghiệp
1.1.3 Những đặc điểm và yêu cầu về việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn
a Khái niệm về việc làm trong nông nghiệp, nông thôn
Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội
và nhân khẩu, nó thuộc những vấn đề chủ yếu của toàn bộ đời sống xã hội
Trang 17Điều 13 Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “ Việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm”
Khía cạnh thu nhập ở đây muốn đề cập tới việc đảm bảo cuộc sống khi
họ làm việc, lao động mà không có thu nhập thì không thể xem là làm việc, nhưng thu nhập bao nhiêu thì được gọi là làm việc Về mặt pháp lý được quy định ở một giới hạn nhất định Giới hạn này phụ thuộc vào điều kiện kinh tế -
xã hội chẳng hạn ít nhất bằng mức lương tối thiểu
Người có việc làm là người làm việc trong mọi lĩnh vực ngành nghề, dạng hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm mang lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội
Ngưòi lao động có việc làm là người trong độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân với thời gian làm việc không ít hơn mức chuẩn quy định cho người lao động có việc làm trong tuần lễ điều tra Tùy theo tình hình kinh tế xã hội và đặc điểm của từng nhóm ngành nghề, Nhà nước quy định mức thời gian làm việc chuẩn để được coi là có việc làm
- Khái niệm thất nghiệp và thiếu việc làm
Thất nghiệp là tình trạng một bộ phận trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức tiền công không thấp hơn mức lương tối thiểu hiện hành
Thất nghiệp là do cung về lao động vượt quá hoặc không phù hợp về cơ cấu với cầu về lao động, làm cho bộ phận người lao động không tìm được việc làm
Người lao động chưa có việc làm là người lao động có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm hoặc đang làm việc nhưng với mức thời gian thấp hơn mức thời gian chuẩn do Nhà nước quy định
Người lao động thất nghiệp bao gồm thất nghiệp dài hạn và người thất nghiệp ngắn hạn Người thất nghiệp dài hạn là người thất nghiệp liên tục từ
12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp, hoặc từ tuần lễ điều tra trở
Trang 18về trước Người thất nghiệp ngắn hạn là người thất nghiệp dưới 12 tháng tính
từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc tính từ tuần lễ điều tra trở về trước
c Đặc điểm việc làm trong nông nghiệp, nông thôn
Bên cạnh những đặc điểm chung của việc làm, việc làm nông nghiệp và nông thôn còn có những thuộc tính chung
- Năng suất lao động thấp dẫn đến thu nhập của người lao động thấp
Thị trường lao động ở nông thôn thực tế đã có từ lâu nhưng kém phát triển Hình thức trao đổi sức lao động diễn ra tự phát theo quan hệ truyền thống trong cộng đồng, thiếu một cơ chế điều tiết thống nhất và không được pháp chế hóa Vì vậy, giá trị công lao động thường được đánh giá theo thỏa thuận dân sự, trực tiếp, việc thanh toán kết hợp với giá trị và hiện vật Quan
hệ thuê mướn dựa trên mối quan hệ thân quen là chủ yếu, vừa kết hợp làm thuê chuyên nghiệp, vừa theo thời vụ, lao động thủ công cơ bắp là chính Một
số nơi do chưa phát triển được ngành nghề, dẫn đến dư thừa lao động, nhất là vào thời vụ nông nhàn, người lao động phải đi làm thuê ở vùng khác, xã khác hoặc ra các thành phố để tìm việc làm
- Điều kiện làm việc của lao động nông nghiệp, nông thôn khó khăn
Lao động trong nông thôn có việc làm không ổn định và rất đa dạng: hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra trên phạm vi không gian rộng lớn lại luôn phụ thuộc vào các yếu tố điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và các dịch vụ sản xuất Bởi vậy rủi ro có thể xảy ra đối với họ bất cứ lúc nào Do đó, mà công việc của người lao động thường không ổn định và rất bấp bênh Có lúc thì thừa việc làm song có lúc lại thiếu việc làm
- Việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn mang tính chất đa
dạng
Đô thị hóa là xu hướng có tính quy luật với tốc độ ngày càng cao khi trình độ kinh tế phát triển Đô thị hóa gắn liền với quá trình hình thành các khu đô thị, khu công nghiệp và dân cư mới Đó cũng là quá trình nông nghiệp mất đất sản xuất phục vụ cho nhu cầu đô thị hóa Quá trình đó sẽ thu hút
Trang 19những lao động trẻ, khỏe, có trình độ chuyên môn cao vào các hoạt động kinh
tế xã hội trong các khu công nghiệp và đô thị, nhưng sẽ đẩy một bộ phận nông dân với độ tuổi cao và những người có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn thấp ra khỏi quá trình lao động, trở thành những người không có việc làm
- Việc làm của lao động nông nghiệp, nông thôn có thể không cho thu nhập trực tiếp
Lao động nông thôn mang tính thời vụ: sản xuất nông nghiệp luôn chịu
sự tác động và bị chi phối mạnh mẽ của các quy luật sinh học và các điều kiện
tự nhiên cụ thể của từng vùng, tiểu vùng Quá trình sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất cao, cho nên có thời kỳ cần hoặc cần rất ít lao động song cũng có thời kỳ cần rất nhiều lao động Do đó, khả năng thu hút lao động trong nông nghiệp, nông thôn là không đều, khác nhau trong từng giai đoạn sản xuất Đối với ngành trồng trọt việc làm chỉ tập trung chủ yếu vào thời điểm gieo trồng và thu hoạch, thời gian còn lại là rỗi rãi, đó là lao động nông nhàn trong nông thôn Trong thời kỳ nông nhàn, một bộ phận lao động nông thôn thường chuyển sang làm các công việc phi nông nghiệp hoặc đi sang các địa phương khác hành nghề để tăng thu nhập Tình trạng thời gian nông nhàn cùng với thu nhập thấp trong sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân đầu tiên gây nên hiện tượng di chuyển lao động nông thôn từ vùng này sang vùng khác, từ nông thôn ra thành thị
- Người lao động làm việc trong ngành nông nghiệp phải có đức tính chịu thương, chịu khó
Việc làm trong nông nghiệp, nông thôn thường là những việc làm giản đơn, thủ công, ít đòi hỏi tay nghề cao, tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và tư liệu cầm tay, dễ học hỏi, dễ chia sẻ Vì vậy, khả năng thu dụng lao động cao, nhưng sản phẩm làm ra chất lượng thấp và mẫu mã thường đơn điệu, năng suất lao động thấp nên thu nhập bình quân của lao động nông thôn nói chung không cao, tỷ lệ đói nghèo ở nông thôn còn khá cao so với khu vực đô thị Ở
Trang 20nông thôn, có một số lượng công việc khá lớn ở nhà không định thời gian như: trông nhà, trông con cháu, nội trợ Có tác dụng hỗ trợ tích cực tăng thêm thu nhập cho gia đình, đã có những nghiên cứu thống kê cho thấy 1/3 quỹ thời gian lao động làm các việc phụ mang tính hỗ trợ cho kinh tế gia đình Thực chất đây cũng là việc làm có khả năng tạo thu nhập và lợi ích đáng
kể cho người lao động
- Việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn không đòi hỏi người lao động phải thật chuyên sâu về chuyên môn kỹ thuật nhưng lại yêu cầu phải
có những kiến thức, kỹ năng mang tính tổng hợp, đa dạng
Với những đặc điểm đặc trưng kể trên đã làm tăng thêm tính trầm trọng của nguồn lao động nông nghiệp với số lượng dồi dào, chất lượng thấp Tất cả những cái đó không chỉ đặt ra vấn đề khách quan về sự cần thiết phải tạo việc làm cho lao động nông nghiệp
1.2 Nhu cầu về việc làm trong nông nghiệp, nông thôn
1.2.1 Nội dung nhu cầu về việc làm trong nông nghiệp, nông thôn
Việc làm thường xuyên thoát li khỏi sản xuất nông nghiệp
Qua những phân tích về tính chất của nguồn lao động nông nghiệp ta thấy lao động trong lĩnh vực nông nghiệp không phải cố định mà nó luôn luôn biến đổi Sự biến đổi của lao động nông nghiệp do tác động của các nhân tố:
Tự nhiên và cơ học Nhân tố tự nhiên cho thấy lao động nông nghiệp có xu hướng tăng lên do dân số tăng Nhân tố cơ học cho thấy lao động nông nghiệp
có xu hướng giảm xuống do chuyển lao động nông nghiệp sang một số ngành nghề dịch vụ thuộc các ngành kinh tế quốc dân
Tóm lại, sản xuất nông nghiệp là lình vực tạo việc làm truyền thống và thu hút nhiều lao động của nông dân tại các vùng nông thôn, nhưng diện tích đất đai canh tác giảm đã hạn chế khả năng giải quyết việc làm tỏng nông thôn Hiện nay, những việc làm tỏng nông thôn chủ yếu là những công việc đơn giản, thủ công, ít đòi hỏi tay nghề cao với tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai
và công cụ cầm tay, dễ dàng sử dụng, học hỏi và chia sẻ Vì thế mà khả năng
Trang 21thu hút lao động cao, tuy nhiều sản phẩm được làm ra với chất lượng thấp, mẫu mã không mát mắt người tiêu dùng, năng suất lao động thấp từ đó đã làm cho thu nhập bình quân của lao động tại các vùng nông thôn thấp, dẫn đến tỷ
lệ đói nghèo cao so với khu vực thành thị
Việc làm thời vụ không thoát li khỏi sản xuất nông nghiệp
Việc sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó có: Đất đai, cơ sở hạ tầng (giao thông, thủy lợi, các hoạt dộng cung ứng giống, phân bón, phòng trừ sâu bệnh…) Hoạt động dịch vụ nông thôn bao gồm các hoạt động đầu vào cho hoạt động sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp – ngư nghiệp và các mặt hàng nhu yếu phẩm cho đời sống dân cư nông thôn, là khu thu hút đáng kể lao động nông thôn và tạo ra thu nhập cao cho lao động
Ở nông thôn, có một lớn công việc không định trước được thời gian như: Trông nhà, trông con, cháu, nội trợ, làm vườn… có tác dụng hỗ trợ tích cực trong việc tăng thêm thu nhập cho gia đình Thực chất đây cũng là việc làm có khả năng tạo thu nhập và lợi ích đáng kể cho người lao động
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá nhu cầu về việc làm trong nông nghiệp, nông thôn
-Tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong
năm
Tỷ suất sử dụng thời gian làm việc của lao động trong năm là tỷ số giữa số ngày lao động bình quân của một lao động đã sử dụng vào sản xuất so với tổng số ngày người lao động có thể làm việc được trong năm ( tính bình quân cho một lao động nông thôn)
Tỷ suất sử dụng thời gian lao động được tính theo công thức sau :
Tq = x 100
Trong đó :
Trang 22Tq : tỷ suất sử dụng quỹ thời gian làm việc của lao động nông thôn trong năm (%)
1.2.3 Hậu quả của thất nghiệp và thiếu việc làm
Hậu quả về kinh tế
Thất nghiệp và thiếu việc làm dẫn đến tình trạng giảm sút thu nhập của
hộ gia đình Ở nước ta chưa tiến hành các cuộc điều tra về thu nhập của các
hộ có người thất nghiệp nhưng chắc chắn rằng dù ít hay nhiều nó cũng ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của họ
Trang 23Hậu quả về tâm lý- xã hội của thất nghiệp
Tình trạng thất nghiệp ngày càng gia tăng đang trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội Nó không chỉ làm suy giảm nền kinh tế xã hội mà kéo theo
đó là sự suy giảm trong đời sống vật chất và tinh thần người lao động
Thất nghiệp kéo dài dẫn đến vô vọng và buông xuôi số phận Họ mặc cảm với chính mình, tự ti với bản thân, suy giảm về tinh thần và trí lực Đây chính là nguyên nhân và điều kiện dẫn đến các tệ nạn xã hội như: Cờ bạc, rượu chè, cướp của, giết người, mại dâm…
Những hậu quả trên đây làm suy kiệt nền kinh tế của một quốc gia mà bất cứ nước nào cũng phải quan tâm để giải quyết theo những phương thức triệt để nhất
1.3 Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm ở nông thôn trong quá trình đô thị hóa
1.3.1 Tính tất yếu và phổ biến của đô thị hóa
Về cơ bản có thể xem công nghiệp hóa là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở vật chất của ngành công nghiệp, của các ngành sản xuất khác và các ngành thương mại, dịch vụ, đồng thời đó cũng là quá trình xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
và phục vụ yêu cầu nâng cao đời sống về mọi mặt của dân cư Công nghiệp hóa dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp, chuyển dịch cơ bản dân số về lao động và từ đó sẽ hình thành các khu đô thị mới Do ảnh hưởng của quy luật phát triển không đều và các điều kiện chủ quan, khách quan tác động khác nhau mà quá trình công nghiệp hóa ở các nước diễn ra khác nhau Sự khác nhau của quá trình này ở các nước thể hiện rõ nét ở thời gian diễn ra, ở quy mô, phương thức và tiến độ phát triển của công nghiệp hóa trong mỗi nước
Như vậy, sự hình thành các đô thị mới và mở rộng các đô thị đã có bắt nguồn từ sự tác động của quá trình công nghiệp hóa và diễn ra song song với quá trình công nghiệp hóa Nói cách khác quá trình đô thị hóa là một quá trình
Trang 24bắt nguồn từ quá trình công nghiệp hóa và gắn liền với quá trình công nghiệp hóa Do vậy có thể khẳng định rằng đô thị hóa là một quá trình mang tính tất yếu và phổ biến của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển
1.3.2 Vấn đề việc làm và giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa
Trong thực tế các khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các khu dân
cư mới được xây dựng và phát triển trong quá trình công nghiệp hóa hầu như được xây dựng trên các vùng đất được sử dụng vào mục đích phát triển sản xuất nông nghiệp trước đây Điều này có nghĩa là trong quá trình đô thị hóa một bộ phận đất nông nghiệp được chuyển thành đất đô thị
Việc chuyển một bộ phận đất nông nghiệp thành đất đô thị như đã nói trên dẫn tới hiện tượng là những người nông dân vốn sinh sống trên bộ phận ruộng đất này không còn tư liệu sản xuất chủ yếu của người nông để đảm bảo cuộc sống của gia đình như trước đây nữa Điều này đòi hỏi nhà nước phải có chủ trương và các biện pháp giải quyết việc làm cho những người lao động nông nghiệp bị mất đất do quá trình đô thị hóa Đây là một vấn đề kinh tế - xã hội luôn được đặt ra hàng đầu và đòi hỏi phải được đồng thời giải quyết trong quá trình công nghiệp hóa ở các nước
Thực tế vấn đề này ở các nước cho thấy hướng giải quyết chủ yếu là chuyển những lao động nông nghiệp này sang các hoạt động phi nông nghiệp Nhưng để người nông dân sinh sống bằng các nghề sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thì tất yếu đòi hỏi Nhà nước phải có sự hướng dẫn
họ lựa chọn nghề nghiệp mới, phải tổ chức đào tạo nghề cho họ và phải có các hình thức hỗ trợ một cách thích đáng để giúp cho họ có một nghề nghiệp
nhất định, đáp ứng được yêu cầu của khu đô thị
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm trong quá trình đô thị hóa
1.4.1 Các yếu tố vĩ mô
Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái
Nếu nơi nào đó có điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái thuận lợi, sẽ
Trang 25có nhiều dự án, nhiều chương trình kinh tế - xã hội được đầu tư và như vậy nơi đó sẽ có điều kiện hơn trong giải quyết việc làm cho người lao động Ngược lại, không thể có sự thuận lợi trong giải quyết việc làm tại chỗ đối với người lao động sống ở những nơi điều kiện tự nhiên bất lợi (sa mạc, vùng băng giá, vùng núi cao, hải đảo )
Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc, vừa là chiến lược lâu dài Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm cho môi trường nhân tạo hoà hợp với môi trường thiên nhiên, coi đây là một mục tiêu chính quan trọng trong giải quyết việc làm, đồng thời phải có giải pháp khắc phục tác động với thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường sinh thái nước ta Vấn đề này cần được xuyên suốt trong toàn bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được môi trường sống của mình hoặc hạn chế được đến mức thấp nhất những tác động xấu của biến động môi trường Như vậy, bảo vệ và cải thiện môi trường không chỉ là mục tiêu trong giải quyết việc làm mà còn là điều kiện để phát triển bền vững
Nhân tố về dân số
Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến
sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung cấp nguồn nhân lực vô giá Tuy nhiên, nếu dân
số phát triển quá nhanh, quy mô phát triển lớn, vượt quá khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực mà lại
là gánh nặng cho nền kinh tế
Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô của lực lượng lao động Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhan h chóng số lượng người trong độ tuổi lao động trong tương lai,
Ngoài ra, vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra đô thị gây ra các áp lực kinh tế-xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn
so với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh chóng Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả
Trang 26trực tiếp đến vấn đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc Một vấn đề khác là chất lượng của số lao động này về học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc trong khu đô thị Do đó, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ tăng lên
Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, việc khống chế mức tăng dân
số được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm Vấn đề dân số thường được gắn với vấn đề sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm Nhìn chung, giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ và các dịch vụ xã hội
Ở nước ta, nhân tố dân số đã được Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong
kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội từng thời kỳ, đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển xã hội, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển Tuy nhiên, khi nguồn lực này tăng quá nhanh vừa chưa
sử dụng hết lại là lực cản, gây sức ép về đời sống và việc làm
Nhân tố về chính sách vĩ mô:
Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là nhà nước phải tạo các điều kiện và môi trường thuật lợi để người lao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể Có thể có rất nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
+ Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức
và vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực phi kết cấu, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách khôi phục và phát
Trang 27triển làng nghề
+ Nhóm chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công và chính sách xã hội đặc biệt khác như: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người tàn tật, đối tượng xã hội
+ Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhưng phương thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế đồng thời liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như: Tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm
Nhân tố liên quan đến giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ: + Về giáo dục đào tạo
Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học, công nghệ của đất nước đó Trình độ khoa học công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục Giáo dục - đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc, người lao động qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp
Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội Giáo dục và đào tạo nhằm vào định hướng phát triển, trước hết cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
+ Về Khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ đã làm biến đổi cơ cấu đội ngũ lao động Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã xuất hiện những ngành nghề mới và cùng với nó là xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc
Trong nền kinh tế phát triển, người lao động muốn thích ứng với các
Trang 28công việc mà xã hội yêu cầu, trước hết họ phải là những người được trang bị Một kiến thức nhất định về khoa học công nghệ Tuy nhiên, trong thực tế ở những nước sản xuất kém phát triển thường có mâu thuẫn: Nếu công nghệ sản xuất tiên tiến với các dây chuyền sản xuất tự động hoá, chuyên môn hoá cao thì trình độ người lao động chưa bắt kịp dễ dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh Vì thế, bên cạnh công việc đào tạo nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động, vấn đề lựa chọn áp dụng mức độ công nghệ nào trong dây chuyền kinh doanh phải tính toán thận trọng, bởi vì chính sách khoa học công nghệ có tác động mạnh mẽ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động
tế
Toàn cầu hoá đặt ra những thách thức và những nguy cơ lớn đối với tình trạng việc làm ở tất cả các nước trên thế giới Số lượng việc làm ở khu vực này có thể tăng lên nhưng lại giảm đi ở khu vực khác, một số loại việc làm sẽ mất đi nhưng một số loại việc làm mới xuất hiện
Những biến đổi về quy mô và cơ cấu việc làm như vậy sẽ gây không ít khó khăn và những chi phí lớn của cá nhân gia đình và toàn xã hội do mất việc làm, phải tìm chỗ làm việc mới, phải học tập những kiến thức và kỹ năng mới, phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác để tìm việc làm, phải thích nghi với những điều kiện sống luôn thay đổi Gây gánh nặng về đào tạo lại, trợ cấp
xã hội, trợ cấp thất nghiệp do Chính phủ phải gánh chịu
Trong điều kiện thế giới ngày nay, để khai thác và sử dụng tốt các yếu
tố bên ngoài, đồng thời phải phát huy tối đa nội lực, kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp trong giải quyết việc làm một cách năng động, hiệu quả, bền vững, tránh được những rủi ro Cần có những nghiên cứu, mang tính hệ thống về tình hình thế giới, khu vực và các mối quan hệ giữa các điều Kiện bên trong và bên ngoài, nhận thức và vận dụng đúng đắn quan hệ đó khi xây dựng chiến lược việc làm
Trang 291.4.2 Các yếu tố vi mô
Thị trường
Thị trường là yếu tố quan trọng, quyết định đến mở rộng việc làm và tăng thu nhập của người lao động ở khu vực nông thôn Tuy nhiên, thị trường sản phẩm nông nghiệp nước ta còn phải đối đầu với không ít khó khăn và thách thức Khó khăn do chất lượng nông sản phẩm kém, trong khi đó công nghiệp bảo quản phát triển chậm so với tốc độ tăng trưởng của sản xuất Khó khăn trong việc trồng quá nhiều nông sản mà sức mua của thị trường có hạn nên dẫn đến dư thừa sản phẩm Khó khăn nữa kiến thức và thông tin thị trường nước ta thấp Nông dân nhiều vùng không xuất phát từ thị trường, điều này dẫn đế tình trạng cung vượt quá cầu, sản phẩm tiêu thụ khó khăn với giá
rẻ Vì vậy, để ổn định thu nhập và việc làm cho người dân vai trò nhà nước là cực kỳ quan trọng trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, phát triển công nghiệp chế biến và đặc biệt là định hướng cho nông dân phát triển nông sản hàng hóa nhằm tạo ra nhiều việc làm giảm bớt lao động nông thôn
Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn
Chính sách nông nghiệp nông thôn là tổng thể các biện pháp kinh tế phi kinh tế của nhà nước có liên quan đến nông nghiệp nông thôn nhằm tác động vào nông nghiệp nông thôn theo những mục tiêu nhất định trong một thời hạn nhất định
Ở Việt Nam từ những năm 1980 trở lại đây Đảng và nhà nước áp dụng hàng loạt chính sách nông nghiệp nông thôn: Chính sách giao quyền sử dụng đất ổn định và lâu dài đến hộ nông dân đã tạo ra sự yên tâm phấn khởi, khuyến khích người nông dân đầu tư lâu dài vào sản xuất Quyền tự chủ tính sáng tạo của nông dân được phát huy
Các chính sách cho vay vốn đến các hộ nông dân vay vốn theo dự án, vay vốn tính chất thông qua hội đồng nông dân, hội phụ nữ, Đoàn thanh niên
đã tạo điều kiện mở rộng nghành nghề tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao
Trang 30thu nhập cho người dân Nhờ đó đời sống nhân dân nhiều hộ đã đi lên, tỷ lệ
hộ nghèo đã và đang giảm
Các chính sách đầu tư với phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” đã huy động nguồn vốn của trung ương và địa phương nhất là nguồn vốn trong nhân dân vào xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn hệ thống điện, các công trình thủy lợi tưới tiêu, vì thế năng suất cây trồng vật nuôi được nâng cao
Như vậy, chính sách nông nghiệp đóng vai trò quan trọng và là yếu tố bao trùm tác động mạnh mẽ, bảo đảm sự thành công của chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn
giá cả nông sản
Giá cả nông sản là nhân tố quyết định đến thu nhập của lao động nông nghieepj khi khối lượng sản xuất như nhau.Tính chất mùa vụ và tính vùng của sản phẩm nông nghiệp ảnh hưởng cực lớn đến cung nông sản làm cho giá cả của chúng thường bấp bênh.Vì vậy, xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như đường xá giao thông ,hệ thống thông tin liên lạc,cơ sở chế biến nông sản tại chỗ sẽ góp phần ổn định giá cả hàng hóa ,ổn định thu nhập cho người nông dân
1.4.3 Các yếu tố nội tại của mỗi địa phương
Ruộng đất ở nông thôn
Trong nông nghiệp, nhất là trong trồng trọt, đất đai có vị trí rất quan trọng Đất đai không chỉ là chỗ dựa, chỗ đứng của lao động như ở các nghành khác mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồngvà thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho nghành chăn nuôi phát triển Do đó, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng không thể thay thế được của sản xuất nông nghiệp Nếu con người biết sử dụng đất đai hơp lý và có hiệu quả thì sẽ làm tăng sức sản xuất của đất đai từ đó làm tăng năng suất của cây tròng vật nuôi Đất đai được sử dụng một cách manh mún, phân tán không những gây khó
Trang 31khăncho sản xuất nông nghệp mà còn ảnh hưởng tới việc làm của lao động nông thôn
Dân số và lao động
Dân số và sự phát triển xã hội là những yếu tố vận động theo những quy luật khác nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội nhưng lại có quan hệ hữu cơ với nhau Một trong những mối quan hệ quan trọng giữa dân số và lao động là vấn đề tăng trưởng lao động và cơ hội tạo việc làm phù hợp71.89% dân số lao động nông thôn (tổng cục thống kê năm 2008) Tốc độ tăng dân số
tự nhiên ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị nhưng đất đai có hạn làm cho diện tích bình quân đầu người nói chung có xu hướng giảm xuống Ở nhiều vùng nông thôn, nông dân đã cố gắng thay đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện tốt việc luân canh tăng vụ, mở rộng diện tích gieo trồng nhân hệ số sử dụng ruộng đất lên 2-3 lần/năm Tuy nhiên, thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp rất thấp và nghành nghề dịch vụ bắt đầu phát triển cũng làm cho đời sống của nông dân gặp khó khăn Do đó việc làm ở nông thôn sẽ rất thiếu, vì vậy đã diễn ra hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành thị để kiếm việc làm Một vấn
đề cấp thiết hiện nay là tạo ra nhiều việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn
Vốn đầu tƣ, cơ sở vật chất kỹ thuật,ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp
Vốn là nhân tố quan trọng để đầu tư mở rộng sản xuất Vốn được đầu
tư vào sản xuất và dùng vào mục đích khác nhau như nhu cầu sinh sống trước mắt, nếu vốn được sử dụng có hiệu quả sẽ thu hút nhiều lao động, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nguời dân
Muốn có việc làm với năng suất lao động và thu nhập cao thì phải có
kỹ thuật máy móc thiết bị công cụ lao động, công nghệ tiên tiến Việc sử dụng máy móc sẽ thay thế được nhiều lao động thủ công giảm nhẹ cường độ làm việc Việc đầu tư máy móc thiết bị một mặt làm tăng năng suất lao động nhưng mặt khác làm giảm khả năng thu hút lao động Ở điều kiện nguồn lao
Trang 32động dồi dào, dư thừa, người ta chỉ nghĩ đến cơ khí hóa khi đã tìm được các giải pháp khả dĩ giải quyết số lao động dư ra do máy móc thay thế
1.5 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu
1.5.1 Trên thế giới
* Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới với 1,2 tỷ người, trong đó 70% sống ở nông thôn Hàng năm, có 10 triệu người bước vào độ tuổi lao động và có nhu cầu tìm việc làm Chính phủ Trung Quốc đã coi phát triển công nghiệp nghiệp nông thôn như một giải pháp quan trọng để giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn – chìa khóa để giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc khác Trong những năm vừa qua, mặc dù vẫn còn tình trạng di cư đến các đô thị lớn, nhưng với các biện pháp hữu hiệu, Trung Quốc đã đạt được những thành công trong việc hạn chế sức ép về việc làm đô thị trong quá trình đô thị hóa Sau đây là một số giải pháp quan trọng
mà Trung Quốc đã áp dụng để giảm sức ép về việc làm đô thị
- Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút việc làm, giảm sức ép
đô thị
Công cuộc đổi mới nền kinh tế theo định hướng thị trường ở nông thôn Trung Quốc được tiến hành từ đầu những năm 1980 Các chính sách khuyến khích phát triển các xí nghiệp địa phương đã làm cho công cuộc đổi mới kinh
tế của Trung Quốc diễn ra sâu rộng hơn Quá trình phát triển của các xí nghiệp địa phương Trung Quốc được chia là bốn giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu tiên là từ khi tiến hành đổi mới đến năm 1984
+ Giai đoạn thứ hai từ năm 1985 đến năm 1988, khi sản xuất nông nghiệp có những biến động lớn và có sự giảm sút thì các xí nghiệp địa phương lại rất phát triển giúp cho kinh tế nông thôn phát triển một cách mạnh
mẽ và toàn diện
Trang 33+ Giai đoạn thứ ba từ năm 1989 đến năm 1991: đây là giai đoạn có nhiều thăng trầm trong sự phát triển của các xí nghiệp địa phương Nhờ vào các chính sách mở cửa của Trung Quốc
+ Giai đoạn thứ tư bắt đầu từ đầu năm 1992 Trong giai đoạn này, các chính sách về cải cách và mở cửa ra bên ngoài được thúc đẩy, tạo ra một nền kinh tế hướng ngoại trên toàn quốc
- Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư
ở các thành phố lớn
Sự phát triển các đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn cùng với công nghiệp hóa nông thôn sẽ là một giải pháp để thu hút lao động dư thừa, góp phần tối đa hóa việc phân bổ các nguồn lực ở các khu vực và thu hẹp khoảng cách giữa các thành phố và vùng nông thôn
Các đô thị mới được thành lập ở các vùng nông thôn thúc đẩy nhu cầu
về phát triển công nghiệp nông thôn và là nền tảng cho quá trình chuyển đổi
bộ mặt xã hội của nông thôn Vai trò của các thành phố nhỏ là phân bổ các sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm phụ, trong vòng 10 năm trở lại đây, các đô thị nhỏ đã trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, giải trí cũng như giáo dục và thông tin Do vậy, người nông dân không còn phải quan tâm nhiều đến quy mô của đô thị là lớn hay nhỏ như trước kia
Kinh nghiệm của một số nước ASEAN
Như nhiều quốc gia khác trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa, Malaysia đã phải đối đầu với tình trạng dư thừa lao động ở nông thôn Trong chừng mực nhất định, hiện nay, Malaysia phải nhập khẩu lao động nước ngoài để đáp ứng nhu cầu trong nước Một số biện pháp mà nước này đã áp dụng là:
- Phát triển nông nghiệp nhằm thu hút nhiều lao động tại chỗ ở nông thôn
Trang 34- Khuyến khích đầu tư trong nước, kêu gọi đầu tư nước ngoài, trước hết
là công nghiệp chế biến nông sản nhằm nâng cao giá trị hàng hóa, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp dịch vụ
- Hỗ trợ đầu tư cho xây dựng cơ sở chế biến nông sản
- Quan hệ chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu khoa học và công nghệ
để áp dụng vào sản xuất
Ở Thái Lan, chính phủ đã ban hành các chính sách và biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo tín dụng cho người lao động nông thôn Bằng cách thiết lập hệ thống tín dụng nông thôn, từng bước giúp người lao động tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức để khuyến khích đầu tư phát triển các nghề phi nông nghiệp và nghề truyền thống ở nông thôn Đồng thời chương trình cho vay vốn tối thiểu từ nguồn tài trợ của Chính phủ được thực hiện nhằm cơ hội cho người lao động tự tạo việc làm
Ở Inđônêxia, chủ trương phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nhà nước đã làm tăng số lượng các doanh nghiệp này một cách nhanh chóng Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Inđônêxia được xem là cầu nối liên kết với các ngành công nghiệp hiện đại trong việc đào tạo kỹ năng cho công nhân
và doanh nhân, góp phần tạo nên mạng lưới kinh doanh doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nhiều lĩnh vực như: cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, hỗ trợ nguồn vốn
1.5.2 Tại Việt Nam
Qua thực tiễn giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn của các nước nói trên, ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam như sau:
+ Trước hết cần xác định đúng vị trí của nền kinh tế trong xu thế phát triển để từ đó đề ra các chính sách thích hợp
+ Một trong những nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn là sự quan tâm của các cấp chính quyền đặc biệt trong việc tạo môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích phát triển
Trang 35nông thôn Cần đẩy mạnh các chính sách hỗ trợ, đào tạo nghề cho người lao động nông nghiệp, nông thôn
+ Tiếp tục hoàn thiện các chính sách đất đai, giao quyền sử dụng đất lâu dài cho người nông dân và đồng thời với việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ cho sự nghiệp đô thị hóa phải giải quyết việc làm cho số lao động thiếu việc làm do mất đất
+ Phát triển nông nghiệp, nông thôn trước hết phải nhằm mục đích xóa đói, giảm nghèo Cần có sự phối hợp giữa địa phương với các chương trình,
dự án cấp quốc gia về xóa đói giảm nghèo
+ Khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương phát triển, đặc biệt là phát triển các làng nghề tiểu thủ công nghiệp ở địa phương
+ Tăng cường hoàn thiện hệ thống qũy tín dụng nhằm cung cấp nguồn vốn
cho người nông dân sản xuất
Trang 36CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA HUYỆN HÀM YÊN,
TỈNH TUYÊN QUANG
2.1- Khái quát chung về huyện Hàm Yên
2.1.1 Giới thiệu chung về huyện Hàm Yên
- Các đặc điểm tự nhiên của huyện Hàm Yên
- Phía Bắc giáp huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang
- Phía Nam giáp huyện Yên Sơn
- Phía Đông giáp huyện Chiêm Hóa
- Phía Tây giáp huyện Yên Bình và huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái
Nằm trong khu vực Tây Bắc Bộ, trung điểm cách thành phố Tuyên Quang 42 km, cách Hà Nội 200km, cách thành phố Hà Giang 110km, cách cửa khẩu Thanh Thuỷ giáp với Trung Quốc 130 km
Tổng diện tích tự nhiên của huyện theo số liệu điều chỉnh kết quả kiểm
kê đất đai năm 2012 là 90.054,60 ha, bao gồm 18 đơn vị hành chính cấp xã (01 thị trấn và 17 xã) Vị trí trải dài theo dọc Quốc lộ 2 (tuyến quốc lộ có vị trí chiến lược quan trọng của tỉnh Tuyên Quang nói riêng và vùng Trung du miền núi phía Bắc nói chung) với chiều dài 50,2 km tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Yếu tố vị trí như trên là điều kiện để tạo giao thương và thuận tiện cho các nhà đầu tư và Doanh nghiệp đến với huyện Tạo cho huyện có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển sản xuất hàng hoá, tiếp thu nhanh khoa học kỹ
Trang 37thuật, phát triển nhanh những ngành kinh tế mũi nhọn, sớm hoà nhập xu thế chung của cả tỉnh
+ Địa hình
Huyện Hàm Yên có địa hình phức tạp, hầu hết diện tích đất tự nhiên là đồi núi thấp, có độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh, độ cao trung bình 500 - 600 m, cao nhất là núi Cham Chu có độ cao 1.591 m, thấp nhất ở khu vực phía Nam
có độ cao 300 m so với mực nước biển Nhìn tổng thể, địa hình của huyện có hướng thấp dần từ Tây Nam sang Đông Bắc được chia làm 3 vùng chính:
- Khu vực trung tâm và các xã phía Bắc của huyện: Bao gồm các xã
Yên Lâm, Yên Phú, và thị trấn Tân Yên đây là khu vực có độ cao trung bình trên 300 m, chủ yếu là đồi có độ dốc trên 25 độ, là nơi có điều kiện thuận lợi cho phát triển trồng rừng
- Vùng phía nam của huyện: Bao gồm các xã: Thái Hoà, Đức Ninh,
Hùng Đức, Thành Long, Thái Sơn, Bằng Cốc, Nhân Mục Đây là khu vực có
độ cao trung bình 300m, xen giữa những núi thấp là những dải đồng bằng khá rộng, màu mỡ Đây là vùng chủ yếu sản xuất cây công nghiệp và cây lương thực trọng điểm của huyện
- Khu vực các xã bên Sông Lô: Bao gồm các xã: Yên Thuận, Bạch Xa,
Minh Khương, Minh Dân, Phù Lưu, Tân Thành, Minh Hương, Bình Xa, đây
là khu vực có địa hình khá phức tạp gồm các dãy núi kéo dài liên tiếp nhau,
có độ cao từ 500 - 1.000 m Hầu hết các dãy núi của vùng được hình thành trên các khối đá mác ma, biến chất, trầm tích, có đỉnh nhọn, độ dốc hai bên sườn núi lớn, bị chia cắt mạnh; xen kẽ giữa các dãy núi chạy dọc theo các sông suối lớn có các thung lũng nhỏ hẹp dạng lòng máng nên thực vật phát triển rất đa dạng và phong phú, có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, cây ăn quả, và cây lương thực
+ Tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất: Kết quả nghiên cứu xây dựng bản đồ đất tỉnh Tuyên
Quang cho thấy trên địa bàn huyện Hàm Yên có các loại đất chủ yếu sau:
Trang 38- Đất phù sa ngòi suối (Py): Phân bố chủ yếu ở các xã: Minh Hương,
Tân Thành, Đức Ninh, Hùng Đức Đất có thành phần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ, độ dày tầng đất trên 120 cm Phần lớn loại đất này được sử dụng trồng 1
vụ lúa hoặc 2 vụ lúa, năng suất trung bình thấp
- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): Phân bố ở xã Nhân Mục
Đất có thành phần cát pha, độ dày tầng đất trên 120 cm Do điều kiện tưới khó khăn nên loại đất này chỉ gieo trồng được 1 vụ lúa mùa
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Phân bố ở các xã: Phù Lưu, Tân
Thành và Bình Xa (dọc theo sông Lô) Đất có thành phần cơ giới cát pha, độ
dày tầng đất trên 120 cm Đất này thường bị ngập vào mùa mưa lũ; mùa khô không được tưới nên hàng năm chỉ gieo trồng các cây màu ngắn ngày như ngô, lạc, đậu, đỗ năng suất đạt ở mức trung bình
- Đất phù sa không được bồi hàng năm (P): Phân bố trên nền địa hình
cao ở xã Thái Sơn và Đức Ninh, có thành phần cơ giới thịt nhẹ, độ dày tầng đất trên 120 cm Phần lớn trên đất này đã được trồng các loại cây ngắn ngày như lúa, hoa màu nhưng năng suất thấp
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Phân bố chủ yếu ở các xã: Thành
Long, Bằng Cốc, Bình Xa, Phù Lưu và Bạch Xa Đất được hình thành từ đá
mẹ sa thạch, có độ dày tầng đất từ dưới 50 cm đến trên 120 cm, có thành phần
có thể khai thác trồng cây ăn quả hoặc cây công nghiệp lâu năm
- Đất vàng đỏ trên đá Granit (Fa): Phân bố chủ yếu ở các xã: Yên
Lâm, Nhân Mục, Thành Long và Thái Hoà Đất có địa hình đồi dốc lớn, chia cắt xen kẽ với các đồi đá cát và phiến sét, khả năng khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp bị hạn chế
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Phân bố chủ yếu ở các xã: Thái
Sơn, Bình Xa và thị trấn Tân Yên Loại đất này thường được sử dụng trồng các loại cây như chè, cây ăn quả, mía nhưng do dễ bị mất nước nên đất chặt rắn
Trang 39- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): Phân bố chủ yếu ở các xã:
Phù Lưu, Tân Thành, Thái Sơn và Yên Thuận Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, độ dày tầng đất trên 120 cm Loại đất này thường được sử dụng trồng lúa và các cây trồng ngắn ngày khác, năng suất trung bình khá
- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Fs): Phân bố ở tất cả các xã,
thị trấn trên địa bàn huyện Đất được hình thành trên đá mẹ philit, gơnai và phiến thạch mica Loại đất này thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài
cần phải được bảo
vệ rừng và trồng rừng là chính
* Tài nguyên rừng và đất rừng: Theo kết quả kiểm kê đất đai năm
2012 đất lâm nghiệp của huyện có 64.751,94 ha, chiếm 84,83% diện tích tự nhiên của huyện và 14,83% đất lâm nghiệp trong toàn tỉnh, trong đó:
- Đất rừng sản xuất : 47.025,05 ha
- Đất rừng đặc dụng : 6.170,91 ha
* Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt của huyện khá lớn với diện tích
mặt nước, sông suối chiếm 2,55% diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là nguồn nước mặt từ sông Lô Ngoài các sông, suối hiện có trên địa bàn, cùng với nhiều ao, hồ chứa nước đã tạo cho huyện nguồn nước mặt khá phong phú
- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm dồi dào phân bố trên toàn địa
bàn của huyện với chất lượng tốt đủ tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt, mực nước ngầm không sâu và tương đối ổn định, thuận lợi cho khai thác, kể cả khai thác đơn giản trong sinh hoạt của người dân
* Nguồn tài nguyên khoáng sản
Qua điều tra khảo sát, trên địa bàn huyện Hàm Yên có các nguồn tài nguyên khoáng sản sau:
- Quặng sắt: Đã tìm thấy ở nhiều điểm trong huyện như tại Làng Mường (Phù Lưu) có hàm lượng Fe đến 43,2%, tại Bằng Cốc, Hùng Đức có
Trang 40hàm lượng Fe 42% Ngoài ra còn ở rải rác tại các xã Yên Phú, Yên Lâm và ở phía Bắc huyện giáp với tỉnh Hà Giang
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các hoạt động và sản phẩm văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc như: Hội chọi Trâu hàng năm, hội thi ném Còn, hội chợ Thụt (xã Phù Lưu), lễ hội Động Tiên được tổ chức hàng năm tại xã Yên Phú với các sản phẩm hàng thủ công truyền thống như: Mành cọ, dệt thổ cẩm… đáp ứng được nhu cầu về sản phẩm hàng hoá đem lại sức hấp dẫn đối với du khách
* Tài nguyên nhân văn
Trên địa bàn huyện Hàm Yên hiện có 12 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (chiếm tới 45,02%) dân số toàn huyện, dân tộc Tày chiếm 22,56%, dân tộc Dao chiếm 22,90%, dân tộc Cao Lan chiếm 5,7%, dân tộc Hoa chiếm 1,08%, dân tộc Mông chiếm 1,94%, còn lại là các dân tộc khác 0,80%, mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán sinh hoạt và kinh nghiệm sản xuất riêng đã tạo nên