1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất một số giải pháp tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân thái học trong môi trường pháp lý mới

114 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng các quỹ tín dụng nhân dân đã gặp phải những khó khăn, thách thức trên con đường phát triển bền vững, đặc biệt hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân đã bộc lộ ra những nguy cơ có khả

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Hà Nội – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG MẠNH CƯỜNG

Hà Nội – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan các vấn đề nghiên cứu trong bản Luận văn này hoàn toàn được triển khai nghiên cứu và thực hiện từ những quan điểm của bản thân dưới sự hướng dẫn tận tình và khoa học của TS Dương Mạnh Cường Các dữ liệu được sử dụng để phân tích trong luận văn này là hoàn toàn có thực

Tác giả

Vũ Đình Hoành

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- Ban giám hiệu, các Thầy, Cô giáo Viện quản lý kinh tế, Viện đào tạo sau Đại học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp đỡ trong thời gian tác giả học tập và nghiên cứu tại trường

- Lãnh đạo và các bộ phận chuyên môn của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học

- Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy TS Dương Mạnh Cường, người trực tiếp hướng dẫn và dành thời gian công sức giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Mặc dù tác giả đã cố gắng và cẩn trọng trong việc lựa chọn nội dung cũng như trình bày Luận văn, tuy vậy vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả xin trân trọng và cảm ơn những đóng góp quý báu để đề tài hoàn thiện hơn

và ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn trong việc tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học trong môi trường pháp lý mới

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Vũ Đình Hoành

Trang 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA

1.1 Khái quát về quỹ tín dụng nhân dân 7

1.1.1 Khái niệm về quỹ tín dụng nhân dân 7

1.1.2 Mục tiêu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng

nhân dân

7

1.1.3 Vai trò, chức năng hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 12

1.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển của hệ thống quỹ tín

dụng nhân dân

13

Trang 6

1.2.1 Bối cảnh lịch sử hình thành quỹ tín dụng nhân dân 13

1.2.2 Sự ra đời của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân 15

1.2.3 Giai đoạn thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân

(1993-2000)

17

1.2.4 Giai đoạn củng cố, chấn chỉnh hoạt động (2001- 2004) 18

1.2.5 Giai đoạn hoàn thiện và phát triển của quỹ tín dụng nhân dân

(2005 - Nay)

18

1.3 Nội dung tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 19

1.3.1 Tổ chức của quỹ tín dụng nhân dân 19

1.3.2 Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 22

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của quỹ tín

dụng nhân dân

24

1.5 Một số kinh nghiệm và những thách thức trong hoạt động của

quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường pháp lý mới ở Việt Nam

28

1.5.1 Một số kinh nghiệm hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân 28

1.5.2 Môi trường pháp lý mới của quỹ tín dụng nhân dân 33

1.5.3 Những cơ hội và khó khăn, thách thức trong hoạt động của

quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường pháp lý mới

35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN THÁI HỌC 38

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của quỹ tín dụng nhân dân

Thái Học

38

2.1.1 Lịch sử hình thành quỹ tín dụng nhân dân Thái Học 38

2.1.2 Mô hình và tổ chức hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái

Học

40

2.2 Thực trạng hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học 45

2.2.1 Hoạt động huy động vốn của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học 45

2.2.2 Hoạt động cho vay của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học 56

Trang 7

2.2.3 Hoạt động cung ứng dịch vụ và các hoạt động nghiệp vụ khác

của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học

65

2.3 Ảnh hưởng của môi trường pháp lý mới đối với hoạt động của

quỹ tín dụng nhân dân Thái Học

2.3.3 Đối với quy định về tỷ lệ nhận tiền gửi và gửi tiền của quỹ tín

dụng nhân dân Thái Học

70

2.4 Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng

nhân dân Thái Học

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG

HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN THÁI HỌC

TRONG MÔI TRƯỜNG PHÁP LÝ MỚI

81

3.1 Cơ hội và thách thức đối với quỹ tín dụng nhân dân Thái Học 81

3.2 Định hướng phát triển của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học 83

3.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của quỹ tín

dụng nhân dân trong thời gian tới

83

3.2.2 Định hướng tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thái Học hiện nay

84

3.3 Mục tiêu, yêu cầu của việc tăng cường hoạt động đối với quỹ

tín dụng nhân dân Thái Học

88

Trang 8

3.4 Một số giải tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thái Học trong môi trường pháp lý mới

90

3.4.1 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 90

3.4.2 Giải nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống kiểm soát

nội bộ

92

3.4.3 Giải pháp nâng cao năng lực tài chính 94

3.4.4 Giải pháp tăng cường hoạt động cho vay và nâng cao chất

lượng cho vay

Trang 9

CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT

OSS Mức độ tự bền vững hoạt động

(Operational Self- Sustainability) FSS Mức độ bền vững về tài chính

(Financial Self- Sustainability)

ROA Tỷ suất lợi nhuận/ Tài sản bình quân

(Return on Average Asset)

ROE Tỷ suất lợi nhuận/ Vốn tự có

(Return on Average Equity)

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

STT Tên hình

vẽ

01 Hình 2.1 Mô hình tổ chức của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học 41

02 Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

01 Bảng 1.1 Sự khác biệt cơ bản giữa quỹ tín dụng nhân dân

với ngân hàng cổ phần thương mại

04 Bảng 2.3 Tình hình nguồn vốn hoạt động của quỹ tín dụng

nhân dân Thái Học (2015- 2017)

51

05 Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn vốn hoạt động của quỹ tín dụng

nhân dân Thái Học (2015- 2017)

52

06 Bảng 2.5 Dư nợ cho vay và tỷ lệ Dư nợ cho vay của quỹ tín

dụng nhân dân Thái Học (2012- 2014)

59

07 Bảng 2.6 Dư nợ cho vay và tỷ lệ Dư nợ cho vay của quỹ tín

dụng nhân dân Thái Học (2015- 2017)

Trang 12

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

01 Biểu đồ 2.1 Tình hình nguồn vốn hoạt động của quỹ tín dụng

nhân dân Thái Học (2012- 2014)

48

02 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn vốn hoạt động của quỹ tín dụng nhân

dân Thái Học (2012- 2014)

50

03 Biểu đồ 2.3 Tỷ trọng trung bình cơ cấu nguồn vốn của quỹ tín

dụng nhân dân Thái Học (2012- 2014)

50

04 Biểu đồ 2.4 Tình hình nguồn vốn hoạt động của quỹ tín dụng

nhân dân Thái Học (2015- 2017)

51

05 Biểu đồ 2.5 Cơ cấu nguồn vốn hoạt động của quỹ tín dụng nhân

dân Thái Học (2015- 2017)

53

06 Biểu đồ 2.6 Tỷ trọng trung bình cơ cấu nguồn vốn của quỹ tín

dụng nhân dân Thái Học (2015- 2017)

09 Biểu đồ 2.9 Tỷ trọng bình quân cơ cấu dư nợ cho vay của quỹ

tín dụng nhân dân Thái Học (2012- 2014)

12 Biểu đồ 2.12 Tỷ trọng bình quân cơ cấu dư nợ cho vay của quỹ

tín dụng nhân dân Thái Học (2015- 2017)

64

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do thực hiện đề tài

Ngày 27 tháng 7 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số: 390/QĐ-TTg về việc triển khai đề án thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân Sau gần 25 năm hoạt động hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đã góp phần giải quyết được nhu cầu bức thiết về vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phục vụ đời sống của người dân, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của thành viên và tích cực góp phần tạo thêm nhiều việc làm, vào việc chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và hạn chế nạn cho vay nặng lãi, nhất là khu vực địa bàn nông nghiệp, nông thôn Vì vậy việc xây dựng và phát triển quỹ tín dụng nhân dân là một trong những giải pháp quan trọng để góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông nghiệp và nông thôn Việt Nam hiện nay

Trong thực tế hiện nay (tính đến 31/12/2017) toàn quốc có 1.183 quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trong phạm vi cả nước, nhìn chung hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân đã đạt được những kết quả rất khả quan Song trước những khó khăn chung của nền kinh tế đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung, trong đó có các quỹ tín dụng nhân dân Riêng các quỹ tín dụng nhân dân đã gặp phải những khó khăn, thách thức trên con đường phát triển bền vững, đặc biệt hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân đã bộc lộ ra những nguy cơ có khả năng mất an toàn trong hoạt động, bởi vì có tình trạng một số quỹ tín dụng nhân dân có biểu hiện hoạt động chệch hướng, không đúng với tôn chỉ mục đích, chưa bám sát mục tiêu hoạt động của tổ chức tín dụng là hợp tác xã, biểu hiện chạy theo lợi nhuận đơn thuần, bỏ qua các quy định về an toàn trong hoạt động, quy chuẩn về kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm toán nội bộ chưa được coi trọng, vi phạm, không tuân thủ quy định dẫn đến dễ bị rủi ro, thất thoát tài sản gây nguy cơ đổ vỡ, phá sản, làm ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống và là nguyên nhân dẫn đến những bất ổn về an ninh, chính trị - xã hội tại các địa bàn có quỹ tín dụng nhân dân hoạt động (hiện tại toàn quốc có 26 quỹ tín dụng nhân dân đang trong tình trạng bị kiểm soát đặc biệt của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và 05 quỹ tín dụng nhân dân đang chờ giải thể (Theo số liệu báo cáo của Ngân hàng hợp tác

xã Việt Nam, năm 2017)

Trước thực trạng đó Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân, nên đã đồng thời chỉ đạo củng cố, chấn chỉnh và định hướng xây dựng, phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân hoạt động đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững trong giai đoạn tới Đồng thời để triển khai

Trang 14

Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010, Quyết định

số 254/QÐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật được xem là nền tảng pháp lý rất quan trọng đối với hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu dần hoàn thiện mô hình tổ chức tín dụng là hợp tác xã hoạt động đúng bản chất, mục tiêu, định hướng đã đặt ra và hoạt động theo đúng hành lang pháp luật, đảm bảo cho sự phát triển bền vững

Những văn bản pháp lý đó bao gồm: Ðầu tiên, phải kể đến Thông tư số 39/2011/TT- NHNN ngày 15/12/2011 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định

về kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Theo đó, các quỹ tín dụng nhân dân có tổng tài sản từ 50 (năm mươi) tỷ VND trở lên phải thực hiện tiến hành kiểm toán độc lập; Thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Trong đó, đã có những quy định riêng biệt áp dụng đối với các quỹ tín dụng nhân dân, dựa trên những đặc thù (về quy mô, trình độ, khả năng áp dụng) của các quỹ tín dụng nhân dân; Thông tư số 31/2012/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, quy định về Ngân hàng Hợp tác xã, đây là nền tảng pháp lý quan trọng cho sự ra đời Ngân hàng hợp tác xã, tổ chức đầu mối liên kết, hỗ trợ, chăm sóc hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân; Thông tư số 03/2014/TT- NHNN ngày 23/01/2014 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, quy định về quỹ bảo đảm an toàn

hệ thống quỹ tín dụng nhân dân; đặc biệt là Thông tư 04/2015/TT- NHNN ngày 31/3/2015 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định về quỹ tín dụng nhân dân Tất cả các văn bản pháp lý này bổ sung nhiều nội dung mới theo hướng chặt chẽ hơn, cơ cấu lại hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân theo quy định hướng tới mục tiêu củng cố các quỹ tín dụng nhân dân phải tăng cường công tác giám sát, kiểm soát nội bộ, qua đó tự nâng cao năng lực quản trị điều hành hoạt động, quản trị rủi

ro, an toàn hệ thống và từ đó góp phần ổn định thị trường tài chính Như vậy, với những quản lý chặt chẽ hơn cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi quỹ tín dụng nhân dân cần có những phương cách “làm mới mình” để thích ứng hoạt động trong môi trường pháp lý mới

Chính vì vậy, khi triển khai thực hiện hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học theo các quy định của văn bản pháp lý mới, bên cạnh những cơ hội thì những khó khăn và thách thức đòi hỏi quỹ tín dụng nhân dân Thái Học phải vượt qua, những hoạt động chủ yếu về huy động tiền gửi, cho vay thành viên và quản lý rủi ro đã được quản lý chặt chẽ hơn, bên cạnh đó là sự cạnh tranh gay gắt trong môi

Trang 15

trường kinh doanh hiện tại Nên đòi hỏi quỹ tín dụng nhân dân Thái Học cần phải

có những biện pháp và phương thức, cách làm mới phù hợp để thích ứng hoạt động trong môi trường pháp lý mới

Trước tình hình đó, việc nghiên cứu toàn diện về quỹ tín dụng nhân dân Thái Học khi hoạt động trong môi trường pháp lý mới, để thấy rõ thực trạng, những mâu thuẫn, những tồn tại và khám phá ra những thuộc tính bản chất, phát hiện ra những quy luật vận động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp để tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học trong môi trường pháp lý mới là hết sức cần thiết và cấp bách

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tôi đã chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất

một số giải pháp tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học trong môi trường pháp lý mới” để làm nội dung nghiên cứu

Là người trực tiếp tham gia quản trị, điều hành quỹ tín dụng Thái Học từ năm 2008 đến nay, tác giả đã có điều kiện được tiếp cận với cơ sở lý luận về quỹ tín dụng nhân dân, cùng một chút hiểu biết về hoạt động và kinh nghiệm quản lý đối với quỹ tín dụng nhân dân Vì vậy, thông qua việc thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả mong muốn đề xuất những giải pháp thiết thực, phù hợp với điều kiện thực tiễn và có tính khả thi cao nhằm góp phần tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường pháp lý mới trong thời gian tới

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong thực tế hiện nay lý luận về lĩnh vực quỹ tín dụng nhân dân còn khá mới mẻ và ít được phổ biến ở các trường học Việt Nam Đặc biệt lý thuyết về quỹ tín dụng nhân dân hầu như chưa được đề cập trong chương trình giảng dậy ở các trường Đại học Nhưng trong thời gian qua cũng có một số công trình khoa học nghiên cứu công bố dưới dạng đề tài cấp Bộ, ngành, luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ Những công trình đã nghiên cứu về hệ thống quỹ tín dụng nhân dân dưới những góc độ và phạm vi khác nhau Một số giải pháp cũng như đề xuất của các công trình này đã được vận dụng thành công thực tế, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như sau:

- Đề tài luận án Tiến sĩ kinh tế “Những giải pháp đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam” (bảo vệ năm 2003), tác giả Trần Quang Khánh đã tập trung nghiên cứu vấn đề bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống tín dụng nhân dân Việt Nam, trong đó chủ yếu là đối với các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở trong giai đoạn từ năm 1995-2002, từ đó đã đề xuất các giải

Trang 16

pháp giải quyết những vấn đề tồn tại nhằm nâng cao khả năng bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong những năm tiếp theo

- Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Đình Lưu với đề tài “Hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam” (bảo vệ năm 2008) tập trung hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam trong thời gian tới

- Luận văn cao học của tác giả Bùi Chính Hưng với đề tài “Giải pháp xây dựng quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam” (bảo vệ năm 2003) đã tập trung hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quỹ tín dụng nhân dân, phân tích, đánh giá thực trạng của các quỹ tín dụng nhân dân trong giai đoạn củng cố, chấn chỉnh và đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng và phát triển quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam

Ngoài ra, trong thời gian qua cũng có nhiều bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành đề cập đến các khía cạnh khác nhau của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân như:

“Mô hình tín dụng hợp tác kiểu mới xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” (Bùi Chính

Hưng, nhà xuất bản thống kê, Hà Nội – 2004); “Vì sự an toàn và phát triển bền vững của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân” (Nguyễn Đức Dũng, Tạp chí Ngân hàng

hợp tác xã Việt Nam, số đặc biệt 14+15 – 2016); “Phát triển hệ thống quỹ tín dụng

nhân dân – Giải pháp tài chính phù hợp cho khu vực nông nghiệp nông thôn Việt

Nam” (TS Lê Thanh Tâm, TS Trương Thị Hoài Linh, Tạp chí Ngân hàng, số

10/tháng 5/2013); “Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường pháp lý

mới” (ThS Võ Hoàng Nhi, Tạp chí Ngân hàng, số 19/2016); “Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống quỹ tín dụng nhân dân” (Ths Ngô Đức Duy, Tạp chí Tài chính,

kỳ II/ 2016); …

Tuy nhiên, theo tác giả thì các công trình này các tác giả đã khai thác ở các khía cạnh khác nhau nhưng tựu chung lại là nhằm mục đích nâng cao hiệu quả và tăng cường hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân qua các thời điểm cụ thể Đến nay bối cảnh kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam đã thay đổi rất nhiều, nhất là kể từ khi Ngân hàng nhà nước Việt

Trang 17

Nam có văn bản pháp luật (Thông tư 04/2015/TT-NHNN), quy định về hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, việc nghiên cứu để tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học trong môi trường pháp lý mới chưa có một tác giả nào nghiên cứu Với tinh thần tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trước đây, kết hợp với những kiến thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn công tác của bản thân trong những năm vừa qua, nên trong luận văn này, tác giả đặc biệt quan tâm đến việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học phù hợp với yêu cầu của môi trường pháp lý mới hiện nay và những năm tiếp theo

3 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu, trình bày một cách khoa học các cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân; đồng thời phân tích, đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn xây dựng, phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân qua các giai đoạn củng cố và chấn chỉnh

- Phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học trong thời gian qua để thấy rõ những yếu kém và các nguyên nhân; qua đó nêu bật tầm quan trọng của việc tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường pháp lý mới hiện nay

- Sử dụng các cơ sở lý luận để phân tích, đối chiếu và vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của các quỹ tín dụng nhân dân điển hình vào hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học phù hợp với điều kiện thực tiễn hiện nay Từ đó, đề xuất các giải pháp thiết thực, có tính khả thi và tính ứng dụng cao nhằm tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Ảnh hưởng của môi trường pháp lý mới đối với tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học

- Nghiên cứu về hoạt động huy động vốn, cho vay và quản lý rủi ro của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Quỹ tín dụng nhân dân Thái Học kể từ khi thành lập đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 18

Dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn gồm: phương pháp hệ thống hóa, so sánh, tổng hợp, đối chiếu, phân tích thống kê; phương án khảo sát thực tiễn và phương pháp quan sát; trong đó: Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng trong chương 1, nhằm khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường pháp lý mới; Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh đối chiếu được sử dụng chủ yếu ở chương 2, nhằm khái quát tình hình hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học, qua đó phân tích, tổng hợp thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học, thống kê số liệu các năm, so sánh, đối chiếu, đánh giá thực trạng hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học những mặt mạnh, những tồn tại hiện nay và so sánh với một số quỹ tín dụng nhân dân khác để đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các biện pháp tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo; Phương pháp hệ thống hóa, phân tích tổng hợp được sử dụng

ở chương 3 để xây dựng phương hướng, giải pháp cho việc tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học trong thời gian tới Bên cạnh đó, luận văn còn

sử dụng phương pháp tìm hiểu thông qua tiếp xúc với thành viên, khách hàng đang

có quan hệ giao dịch với quỹ tín dụng nhân dân Thái Học và quan sát tình hình giao dịch khách hàng tại các nơi giao dịch của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học; tham khảo ý kiến của các bộ phận chuyên môn, nghiệp vụ liên quan để có thêm căn cứ đánh giá đối tượng nghiên cứu đúng và đầy đủ hơn

5.2 Số liệu phục vụ cho nghiên cứu:

Số liệu được lấy từ một số báo cáo tổng kết của Ngân hàng nhà nước Việt Nam chi nhánh Hải Dương; báo cáo thường niên của Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam; báo cáo tổng kết và báo cáo tài chính của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương được sắp xếp có quan hệ mật thiết với nhau đi từ cơ sở lý luận đến cơ sở thực tiễn và giải pháp

Chương 1 Cơ sở lý luận chung về hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Chương 2 Thực trạng về tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thái Học trong môi trường pháp lý mới

Chương 3 Một số giải pháp để tăng cường hoạt động của quỹ tín dụng nhân

dân Thái Học trong môi trường pháp lý mới

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA

QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN

1.1 Khái quát về quỹ tín dụng nhân dân

1.1.1 Khái niệm về quỹ tín dụng nhân dân

Quỹ tín dụng nhân dân là tên gọi của loại hình Hợp tác xã kiểu mới ở Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 390/QĐ- TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai đề án thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân

Theo Nghị định số 48/2011/NĐ- CP ngày 13/8/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, khái niệm về quỹ tín dụng nhân dân được diễn đạt như sau:

Quỹ tín dụng nhân dân là một loại hình tổ chức tín dụng hợp tác, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng, dịch vụ Ngân hàng, được thành lập chủ yếu bởi các

cá nhân, pháp nhân và hộ gia đình Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện mục tiêu chủ yếu tương trợ giữa các thành viên, nhằm phát huy tinh thần tập thể và từng thành viên giúp nhau thực hiện có hiệu quả các phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ cải thiện đời sống, tương trợ cộng đồng và vì sự phát triển bền vững của các thành viên

Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân không vì mục tiêu lợi nhuận, nhưng phải đảm bảo bù đắp chi phí để duy trì hoạt động và có tích lũy để phát triển

Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khái niệm về tổ chức tín dụng là hợp tác xã được diễn đạt như sau:

Tổ chức tín dụng là hợp tác xã là loại hình tổ chức tín dụng được tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống Tổ chức tín dụng là hợp tác xã gồm ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân

1.1.2 Mục tiêu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

1.1.2.1 Mục tiêu hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Cũng là một loại hình doanh nghiệp, thông thường thì mọi doanh nghiệp đều lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động Song hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân lại không lấy lợi nhuận làm mục tiêu chủ yếu, điều đó được lý giải bởi căn nguyên

Trang 20

sự hình thành quỹ tín dụng nhân dân, đó là: Quỹ tín dụng nhân dân ra đời vì mục tiêu tương trợ giữa các thành viên và góp phần phát triển cộng đồng

Có thể nói quỹ tín dụng nhân dân hoạt động không vì lợi nhuận tối đa, lợi nhuận không phải là mục tiêu cuối cùng, nhưng quỹ tín dụng nhân dân phải kinh doanh, phải tự hạch toán để bù đắp chi phí, đảm bảo có lãi để một phần trả lợi tức cho thành viên góp vốn, một phần tích luỹ nâng cao nguồn vốn để duy trì hoạt động

và thúc đẩy phát triển

Trong khi các loại hình tổ chức tín dụng khác, nhất là các Ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận cao nhất có thể để trả cho các cổ đông tham gia góp vốn, thì các quỹ tín dụng nhân dân lại hoạt động chủ yếu

ở nông thôn với mục tiêu chủ yếu là nhằm huy động vốn tại chỗ để cho vay tại chỗ,

hỗ trợ các thành viên của mình nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh

và cải thiện đời sống; điều đó cũng có nghĩa rằng quỹ tín dụng nhân dân tìm kiếm lợi nhuận không phải để chia lợi tức cao hơn cho thành viên, mà nhằm mục đích phục vụ thành viên tốt hơn, cung cấp cho các thành viên những dịch vụ tiện ích tốt hơn, với giá cả hợp lý hơn Tất nhiên quỹ tín dụng nhân dân vẫn phải luôn quan tâm đến hiệu quả trong hoạt động kinh doanh để nâng cao năng lực tài chính, để nâng cao khả năng thu hút việc góp vốn và gia nhập thành viên ngày càng cao hơn Có như vậy thì quỹ tín dụng nhân dân mới mở rộng được quy mô hoạt động và nâng cao sức cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác hoạt động cùng trên địa bàn

Mục tiêu tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng là hết sức quan trọng bởi vì đây là sự sống còn của quỹ tín dụng nhân dân Nếu rời xa mục tiêu đó quỹ tín dụng nhân dân sẽ chạy theo mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần, tất yếu sẽ xảy

ra một số tình trạng sau:

- Thứ nhất, để đạt được lợi nhuận cao nhất quỹ tín dụng nhân dân sẽ mạo

hiểm hơn trong các khoản đầu tư, bỏ qua các nguyên tắc quản lý dân chủ bình đẳng

và các quy định bảo đảm an toàn trong hoạt động dẫn đến rủi ro có thể xảy ra và nguy cơ đổ vỡ, phá sản của quỹ tín dụng nhân dân là rất cao;

- Thứ hai, khi chạy theo lợi nhuận thì quỹ tín dụng nhân dân sẽ so sánh chi

phí mà mình bỏ ra, nên sẽ dần rời xa các đối tượng truyền thống là các thành viên của mình, bởi đây là những khách hàng nhỏ lẻ, chi phí cho vay lớn, hiệu quả thấp;

- Thứ ba, khi chạy theo lợi nhuận quỹ tín dụng nhân dân sẽ dần rời xa mục

tiêu tương trợ thành viên và tương trợ cộng đồng, quỹ tín dụng nhân dân sẽ không còn phát huy được những ưu thế là một tổ chức tín dụng hợp tác nên khó có thể cạnh tranh được với các tổ chức tín dụng khác (các tổ chức tín dụng lớn có truyền thống lâu đời, có độ bao phủ rộng khắp) để mà tồn tại;

Trang 21

Vì vậy, có thể nói quỹ tín dụng nhân dân: “Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, chủ yếu nhằm tương trợ thành viên và phát triển cộng đồng” là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình hoạt động và thúc đẩy sự phát triển bền vững đối với quỹ tín dụng nhân dân

1.1.2.2 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

- Một là, nguyên tắc tự nguyện:

+ Mọi công dân, hộ gia đình, tổ chức và các đối tượng khác có đủ điều kiện theo quy định đều có thể trở thành thành viên của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Gia nhập quỹ tín dụng nhân dân nghĩa là thành viên phải có một số quyền

và nghĩa vụ nhất định với quỹ tín dụng nhân dân;

+ Thành viên có quyền ra khỏi danh sách thành viên của quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của pháp luật và Điều lệ của chính quỹ tín dụng nhân dân đó;

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng và nó thể hiện tính ưu việt của quỹ tín dụng nhân dân

- Hai là, quản lý dân chủ và bình đẳng:

+ Mọi thành viên đều được tham gia vào việc quản lý quỹ tín dụng nhân dân, thông qua: Dự các hội nghị hoặc Đại hội thành viên để bàn bạc và biểu quyết thông qua các vấn đề quan trọng liên quan đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Được tham gia ứng cử, bầu cử vào bộ máy quản trị điều hành, ban kiểm soát của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Được cung cấp mọi thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Các thành viên của quỹ tín dụng nhân dân có quyền ngang nhau trong biểu quyết, không phân biệt số vốn góp nhiều hay ít vào quỹ tín dụng nhân dân

Đây là điểm khác biệt cơ bản của quỹ tín dụng nhân dân so với các tổ chức tín dụng khác

- Ba là, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi:

+ Quỹ tín dụng nhân dân tự hạch toán độc lập và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình;

+ Tự quyết định phân phối thu nhập của mình đảm bảo sự hài hoà và cùng có lợi giữa quỹ tín dụng nhân dân và thành viên

- Bốn là, chia lãi lợi tức vốn góp:

+ Để đảm bảo hài hoà cho việc thu hút đông đảo thành viên gia nhập quỹ tín dụng nhân dân và khuyến khích tinh thần hợp tác tương trợ cộng đồng thì việc vận dụng cho hài hoà giữa lợi ích của thành viên và quỹ tín dụng nhân dân là hết sức cần thiết;

Trang 22

+ Lợi nhuận của quỹ tín dụng nhân dân có thể được sử dụng nhiều mục đích khác nhau như: Trả lãi vốn góp, trả thưởng theo mức độ sử dụng sản phẩm, dịch vụ, trích lập các quỹ theo quy định và có thể sử dụng phần lợi nhuận còn lại để đáp ứng cho nhu cầu giáo dục, tập huấn, cung cấp thông tin cho thành viên

- Năm là, hợp tác và phát triển cộng đồng:

Các thành viên của quỹ tín dụng nhân dân cần phải phát huy tinh thần tập thể, ý thức nâng cao tinh thần hợp tác trong nội bộ từng quỹ tín dụng nhân dân và trong cộng đồng xã hội ở địa phương Đây cũng là một yếu tố rất quan trọng góp phần cho quỹ tín dụng nhân dân phát triển bền vững

Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay các nguyên tắc hoạt động chưa được áp dụng triệt để, nhiều khi còn bị thực hiện sai hoặc cố tình hiểu sai trong khi thực hiện, cụ thể như:

+ Sự tham gia của các thành viên còn thiếu tính tự nguyện, theo phong trào, chưa được giải thích, thuyết phục một cách thấu đáo;

+ Cơ chế thanh kiểm tra, kiểm toán giám sát của Nhà nước chưa hiệu quả nên đã can thiệp sâu vào công việc quản lý của quỹ tín dụng nhân dân, các biện pháp can thiệp nhiều khi không phù hợp với nguyên tắc của thị trường;

+ Mặt khác trong quá trình triển khai hoạt động do thái độ hoặc sự nhận thức chưa đầy đủ của một số đơn vị triển khai, có cả cơ quan quản lý, chính quyền địa phương, quỹ tín dụng nhân dân và thành viên, phần vì do lợi ích trước mắt, ngắn hạn và tư lợi của một nhóm thành viên (nhóm cổ đông góp vốn chủ yếu thành lập) Nên một số quỹ tín dụng nhân dân đã hoạt động chưa đúng với mục tiêu tôn chỉ của

nó, mục tiêu tương trợ chưa được phát huy, do đó chưa phát huy được sức mạnh tập thể của thành viên và chưa được phát triển trên cơ sở lành mạnh, vững chắc

1.1.2.3 Những nét đặc trưng cơ bản quỹ tín dụng nhân dân

- Một là, về hình thức sở hữu:

+ Quỹ tín dụng nhân dân thuộc hình thức sở hữu tập thể nên cách thức về quản lý và cách thức ra quyết định có phần khác biệt, mọi thành viên vừa là khách hàng vay vốn hoặc gửi tiền, vừa là chủ sở hữu của quỹ tín dụng nhân dân Điều này thể hiện ở chỗ các thành viên có quyền quyết định các vấn đề định hướng hoạt động, cách thức hoạt động, nhân sự quản lý, các đối tượng thụ hưởng và giá cả dịch

vụ, tỷ lệ phân chia lợi nhuận

+ Trong suốt quá trình tham gia là thành viên quỹ tín dụng nhân dân, thành viên được quyền sở hữu tư nhân đối với phần vốn góp của mình Tuy nhiên những tài sản hình thành trong quá trình hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân là tài sản chung không chia trong mọi trường hợp, nên khi ra khỏi danh sách thành viên quỹ

Trang 23

tín dụng nhân dân thì thành viên chỉ được rút phần vốn góp đã góp chứ không được hưởng phần tài sản thuộc phần sở hữu tài sản

- Hai là, nền tảng hợp tác xã:

+ Hình thức hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân mang hình thức hợp tác

xã, nghĩa là nó liên kết các thành viên (khách hàng – chủ sở hữu);

+ Tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân tuân thủ nguyên tắc hợp tác xã, đó là nguyên tắc tự nguyện, tự trợ giúp thông qua hợp tác tương trợ lẫn nhau;

+ Nguyên tắc tự quản lý một cách dân chủ, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm

- Ba là, xứ mệnh và mục đích:

Xứ mệnh và mục đích của quỹ tín dụng nhân dân là tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người dân muốn gia nhập thành viên quỹ tín dụng được hưởng các dịch vụ tài chính tại chỗ một cách tốt nhất; đồng thời thông qua quỹ tín dụng nhân dân các thành viên hợp tác, tương trợ lẫn nhau có hiệu quả trên nguyên tắc quản lý dân chủ, bình đẳng, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình đảm bảo đủ bù đắp mọi chi phí trong hoạt động và có tích luỹ để cùng phát triển an toàn bền vững

Bảng 1.1 Sự khác biệt cơ bản giữa quỹ tín dụng nhân dân với Ngân hàng thương mại cổ phần

Tiêu chí Quỹ tín dụng nhân dân Ngân hàng thương mại cổ

2 Mục

tiêu:

- Nhằm mục tiêu tương trợ thành viên,

cộng đồng, nâng cao phúc lợi kinh tế -

xã hội và phát triển kinh tế địa phương

- Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt

nhất với chi phí hợp lý nhất cho các

thành viên và một số đối tượng mục

3 Quản

lý:

- Được quản lý, điều hành và kiểm soát

một cách dân chủ bởi những người đại

diện cho toàn thể thành viên

- Được quản lý, điều hành và kiểm soát một cách tập trung bởi một nhóm cổ đông lớn

Trang 24

4 Bầu

cử:

- Khuyến khích mọi thành viên tham

gia Đại hội thành viên và ứng cử để trở

thành lãnh đạo của quỹ tín dụng nhân

dân; Mỗi thành viên = Một phiếu bầu

- Chỉ khuyến khích các cổ đông tham dự đại hội cổ đông; Một cổ phần = Một phiếu bầu

- Trích lập các quỹ theo quy định; sau đó

mới chia lợi tức trên tỷ lệ vốn góp của

thành viên và thưởng cho các thành viên

theo mức độ sử dụng sản phẩm dịch vụ và

đóng góp cho quỹ tín dụng nhân dân

- Chủ yếu được dùng để trả

cổ tức cho các cổ đông và các loại quỹ theo quy định

(Nguồn:Điều lệ tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Thái Học)

1.1.3 Vai trò, chức năng hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

1.1.3.1 Vai trò hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

- Vai trò kinh tế: Quỹ tín dụng nhân dân thực hiện vai trò kinh tế với tư cách

là một doanh nghiệp, là một loại hình tổ chức trung gian tài chính quỹ tín dụng nhân dân góp phần khơi thông nguồn vốn tại chỗ, đặc biệt ở vùng nông nghiệp, nông thôn nơi mà các Ngân hàng thương mại rất ít vươn tới, nhờ đó mà mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng để phát triển sản xuất, kinh doanh

và đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng phục vụ đời sống Thực tế cho thấy quỹ tín dụng nhân dân đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế của địa phương trên cơ sở phát huy nội lực, tính tự chủ và tự cường của mình

- Vai trò xã hội: Song song với vai trò kinh tế thì quỹ tín dụng nhân dân còn

có một vai trò xã hội hết sức tích cực, được nhìn nhận như một loại hình hiệp hội, nghĩa là nó đại diện cho lợi ích của các thành viên những người tham gia với tư cách là người thành lập, quản lý điều hành hoặc thụ hưởng các dịch vụ của quỹ tín dụng nhân dân Bên cạnh đó thông qua việc cho vay vốn để thành viên phát triển sản xuất, kinh doanh, quỹ tín dụng nhân dân đã gián tiếp góp phần tạo công ăn việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo và hạn chế nạn cho vay nặng lãi, góp phần tăng cường mối liên kết, phát triển cộng đồng

Tóm lại, cả hai vai trò cơ bản nói trên của quỹ tín dụng nhân dân có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung lẫn cho nhau và là động lực để phát triển quỹ tín dụng nhân dân

1.1.3.2 Chức năng hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Chức năng của quỹ tín dụng nhân dân là tối đa hiệu quả sử dụng vốn trong cộng đồng và thúc đẩy thị trường tín dụng ở nông thôn phát triển: Thông thường

Trang 25

nguồn vốn nhàn rỗi ở khu dân cư không được sử dụng một cách hợp lý Đặc biệt ở khu vực nông thôn, người dân không có thói quen gửi tiền ở các ngân hàng thương mại bởi nhiều lý do khác nhau như ngại di chuyển, ngại về thủ tục giấy tờ, rào cản tâm lý, ngại gửi những món tiền nhỏ lẻ…

Những vấn đề này đã được quỹ tín tín dụng nhân dân khắc phục triệt để, bằng các ưu thế như gần gũi với khách hàng, đơn giản hoá các thủ tục giấy tờ, hiểu

rõ tâm lý và có mối liên hệ chặt chẽ với khách hàng Ngoài ra quỹ tín dụng nhân dân thường xuyên khuyến khích người dân tiết kiệm và có kế hoạch sử dụng thu nhập của mình một cách hợp lý nhất, vì vậy quỹ tín dụng nhân dân có khả năng huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong khu dân cư

Trong khi có những người chưa biết sử dụng khoản tiền nhàn rỗi của mình vào việc gì thì lại rất cần nguồn vốn để sản xuất kinh, kinh doanh hoặc đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống Nhưng lại bị hạn chế về tài sản đảm bảo, kỹ năng xây dựng phương án vay vốn, cùng với e ngại về thủ tục giấy tờ, nên người nông dân rất khó tiếp cận được những món vay từ các ngân hàng thương mại Mặt khác các ngân hàng thương mại cũng không mặn mà với các khoản vay ở lĩnh vực nông thôn vì thường rất nhỏ lẻ, chi phí cao, rủi ro cao hơn Chính vì vậy đây là địa bàn phù hợp nhất để quỹ tín dụng nhân dân hoạt động và phát triển

1.2 Các giai đoạn hình thành và phát triển của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân

1.2.1 Bối cảnh lịch sử hình thành quỹ tín dụng nhân dân

Sau khi đất nước được thống nhất (từ năm 1975 đến năm 1990), hầu hết các

xã, phường, thị trấn trong cả nước đều có Hợp tác xã tín dụng, trong những năm này, các Hợp tác xã tín dụng đã góp phần quan trọng thực hiện chiến lược phát triển kinh tế và chính sách tiền tệ - tín dụng ở nông thôn, đó là: đã huy động được một bộ phận đáng kể nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, sau đó cho vay để phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nhu cầu đời sống của dân cư tại địa phương; làm đại lý huy động tiền gửi tiết kiệm và cho nông dân vay từ nguồn vốn của Ngân hàng nhà nước, hạn chế nạn cho vay nặng lãi và tình trạng bán non các sản phẩm nông nghiệp ở nông thôn Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (từ năm 1986), khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường, hoạt động ngành ngân hàng cũng chuyển đổi thành mô hình 2 cấp, tách bạch giữa quản

lý nhà nước với tín dụng thương mại Các hợp tác xã tín dụng ra đời trong thời kỳ bao cấp, xây dựng theo phong trào, tính tự nguyện chưa cao, yếu tố thị trường chưa được quan tâm và cũng chưa tính đến nhu cầu thực tế của nền kinh tế; trình độ cán

bộ quản lý yếu kém, thiếu kiến thức về quản lý, hoạt động chủ yếu dựa vào Ngân

Trang 26

hàng nhà nước và chức năng chính là làm đại lý, ủy nhiệm, hưởng hoa hồng, được

bù chi phí nên thiếu tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, về cơ chế quản lý thì thiếu những quy định, cơ chế đảm bảo an toàn…v.v

Vì vậy, khi Nhà nước tiến hành đổi mới phát triển kinh tế theo hướng thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường đi vào hoạt động thay cho cơ chế bao cấp thì các Hợp tác xã tín dụng này đã không chuyển hướng kịp thời với cơ chế mới và không có sự liên kết giúp đỡ lẫn nhau nên đã lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, phần lớn ngừng hoạt động, hoặc hoạt động cầm chừng Vào những năm 1989- 1990, hầu hết các Hợp tác xã tín dụng không có khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, phải ngừng hoạt động dẫn đến đổ vỡ dây chuyền Một số nguyên nhân chủ yếu như được chỉ ra là:

- Một là, khi thành lập Hợp tác xã tín dụng đã không đáp ứng được các điều

kiện tối thiểu để có thể tồn tại và phát triển lâu dài, tổ chức và hoạt động không tuân theo nguyên tắc hợp tác xã, thậm chí xa rời tinh thần hợp tác xã, công tác quản lý bị buông lỏng, bất chấp các nguyên tắc an toàn, chạy theo lợi nhuận, tự tổ chức huy động tiền gửi và cho vay với lãi suất cao, hoạt động vượt xa tầm quản lý và kiểm soát;

- Hai là, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, Nhà nước xoá bỏ cơ

chế bao cấp khiến các Hợp tác xã tín dụng lúng túng, không tìm ra được phương hướng hoạt động phù hợp với cơ chế kinh tế mới;

- Ba là, khung khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động

của các Hợp tác xã tín dụng nói riêng ở mức độ sơ khai, thiếu khoa học và thiếu tính chặt chẽ nên không đảm bảo cho các Hợp tác xã tín dụng hoạt động an toàn;

- Bốn là, năng lực quản lý và trình độ nghiệp vụ của hầu hết đội ngũ cán bộ

của các Hợp tác xã tín dụng rất yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu của nền kinh

tế thị trường nói chung và của thị trường tiền tệ nói riêng, nhất là trong tình hình lạm phát trầm trọng;

- Năm là, các Hợp tác xã tín dụng hoạt động hoàn toàn đơn độc và hầu như

không có một sự liên kết nào về mặt tổ chức cũng như hoạt động nghiệp vụ, do đó không có sự hợp tác, tương trợ lẫn nhau khi gặp khó khăn Mặt khác, tại thời điểm

đó Nhà nước chưa có một cơ chế nào để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền; vì vậy, khi một số Hợp tác xã tín dụng mất khả năng thanh toán đã nhanh chóng làm cho cả hệ thống Hợp tác xã tín dụng trong toàn quốc đổ vỡ dây chuyền;

- Sáu là, môi trường hoạt động của các Hợp tác xã tín dụng chứa đựng đầy

những rủi ro, trong khi đó lại chưa có nghiệp vụ về quản trị rủi ro, hoặc cho vay thì

Trang 27

thực hiện một cách tùy tiện, chủ yếu dựa trên cảm tính và hầu như không có biện pháp nào để đảm bảo an toàn tín dụng;

- Bẩy là, công tác quản lý Nhà nước đối với các Hợp tác xã tín dụng chưa

được quan tâm đúng mức, thậm chí bị buông lỏng nên không có sự giám sát đối với hoạt động của các Hợp tác xã tín dụng Bên cạnh đó, cấp ủy Đảng và Chính quyền các cấp thiếu sự hỗ trợ cần thiết đối với hoạt động của các Hợp tác xã tín dụng

Với những lý do cơ bản nêu trên, việc đổ vỡ hàng loạt Hợp tác xã tín dụng là điều dễ hiểu và không thể tránh khỏi, sự kiện này đã để lại một hậu quả hết sức nặng nề đối với xã hội, nó không chỉ làm mất mát về tiền bạc của người dân mà nó làm tổn thất nghiêm trọng về niềm tin của người dân đối với hoạt động của các Hợp

xã tín dụng nói riêng và của cả hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung

1.2.2 Sự ra đời của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân

Ngày 23/5/1990, Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng, Công ty tài chính được ban hành Sự kiện này đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng, hoạt động của các tổ chức tín dụng đã bước vào một giai đoạn mới Ngân hàng nhà nước đã hướng dẫn, điều chỉnh các Hợp tác xã hoạt động theo Luật Trong thời điểm này đã phải xử lý trên 6.000 Hợp tác xã tín dụng không đủ điều kiện phải ngừng hoạt động, tập trung thu hồi vốn trả nợ cho nhân dân và giải thể Đến tháng 6/1993, chỉ còn có

62 Hợp tác xã tín dụng và 10 Ngân hàng cổ phần nông thôn được điều chỉnh từ gần

100 Hợp tác xã tín dụng cũ được Ngân hàng nhà nước cấp Giấy phép hoạt động trở lại, tuy nhiên do sự đổ vỡ của hệ thống Hợp tác xã tín dụng đã để lại một hệ quả xấu

và hết sức nặng nề, đánh mất lòng tin từ dân chúng, nên hoạt động của các Hợp tác

xã tín dụng này không thể hiện được vai trò tích cực đối với nền kinh tế, xã hội và kết thúc một giai đoạn phát triển cũng như đóng góp của loại hình tín dụng Hợp tác

xã này trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và sau thống nhất đất nước

Trong khi đó, xuất phát từ những đòi hỏi khách quan và thực tiễn của thị trường vốn phát triển sản xuất của Nông thôn trong giai đoạn thực tại, Đảng và Nhà nước ta đã xác định nông nghiệp - nông thôn có vị trí chiến lược rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, những định hướng cơ bản

về mục tiêu, phương hướng, chính sách và biện pháp chủ yếu để tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội được đề ra (Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 5 khoá VII); những yêu cầu, nhiệm vụ của hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn để tạo điều kiện hỗ trợ vốn phát triển sản xuất, kinh doanh và việc đáp ứng nhu cầu về vốn ngày càng lớn để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời muốn triển khai chính sách tiền tệ, tín dụng,

Trang 28

ngân hàng trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn có hiệu quả, từ năm 1993 Chính phủ đã có chủ trương nghiên cứu, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của các Hợp tác xã tín dụng ở nước ta và các mô hình tổ chức, hoạt động của loại hình quỹ tín dụng nhân dân phát triển mạnh ở một số nước phát triển trên thế giới để xúc tiến xây dựng, thiết lập một mô hình tín dụng hợp tác kiểu mới, thích hợp với tình hình kinh

tế thị trường ở nông thôn, bởi vì:

- Một là, nhu cầu vốn cho sản xuất và đời sống đối với đối với nông nghiệp -

nông thôn ngày càng lớn và rất bức thiết đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trước mắt cũng như lâu dài;

- Hai là, do địa bàn nông thôn rộng lớn, nhu cầu về vốn lớn và rất đa dạng

nên cần phát huy hoạt động của cả Ngân hàng thương mại và mô hình tổ chức tín dụng khác thì mới có thể đáp ứng được tối đa về nhu cầu của đại bộ phận dân chúng;

- Ba là, ở nông thôn xuất hiện các hình thức tín dụng tư nhân (còn gọi là tín

dụng đen), huy động vốn và cho vay với lãi suất cao (cho vay nặng lãi) khiến cho đời sống của người dân vốn đã khó khăn lại càng trở nên khó khăn hơn, nên cần phải có một loại hình tổ chức tín dụng thích hợp để đáp ứng nhu cầu đông đảo nguyện vọng của nhân dân;

Chính vì vậy: Ngân hàng nhà nước đã tổ chức nhiều đoàn cán bộ khảo sát tìm hiểu mô hình quỹ tín dụng nhân dân ở một số nước để vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam Việc tổ chức lại Hợp tác xã tín dụng theo mô hình mới có tên gọi là quỹ tín dụng nhân dân là hết sức cần thiết và để huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư, các tổ chức để phục vụ lại chính họ và nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn; bên cạnh đó thì việc thành lập quỹ tín dụng nhân dân theo mô hình mới nhằm đa dạng hoá loại hình tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông thôn Năm 1993, Thống đốc Ngân hàng nhà nước đã trình Chính phủ đề án thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam và ngày 27/7/1993 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 390/QĐ-TTg cho phép triển khai đề án thí điểm thành lập hệ thống quỹ tín dụng nhân dân Đây là một trong những bước đi đầu tiên cụ thể hóa các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi thực tiễn ở nông thôn và đây cũng có thể coi là

sự ra đời của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân

Tuy nhiên, việc thành lập hệ thống quỹ tín dụng nhân dân là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, bởi vì có sự liên quan đến quyền lợi của hàng triệu người dân và vừa trải qua sự đổ vỡ hàng loạt của Hợp tác xã tín dụng, lòng tin của người dân đối với tổ chức này bị giảm sút nặng nề; mặt khác đây là một mô hình

Trang 29

mới, chúng ta chưa có nhiều kinh nghiệm, do đó chúng ta phải tiến hành thực hiện thí điểm, triển khai từng bước thận trọng, đúc rút kinh nghiệm thì mới đảm bảo cho

sự thành công để nhân rộng ra cả nước

1.2.3 Giai đoạn thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân (1993 - 2000)

Thực hiện Quyết định số 390/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/7/1993 “Về việc triển khai thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân” được bắt đầu, từ 7/1993 đến tháng 10/1994 có 14 tỉnh tham gia thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân, trong giai đoạn này việc thí điểm thành lập được triển khai bám sát với với đề án mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt, các tiêu chí, yêu cầu và điều kiện được thực hiện tuân thủ theo đề án và kết quả đã cho thấy các quỹ tín dụng nhân dân đã phát huy được vai trò khai thác nguồn vốn tại chỗ để cho vay trên địa bàn nông nghiệp - nông thôn; mô hình này bước đầu được đánh giá hoạt động an toàn hơn các Hợp tác xã tín dụng trước đây và bước đầu được nhân dân đồng tình ủng hộ

Từ kết quả triển khai thí điểm tại 14 tỉnh, qua 148 quỹ tín dụng nhân dân thí điểm trong một thời gian ngắn đã thu được kết quả bước đầu và chứng tỏ được việc thành lập quỹ tín dụng nhân dân ở khu vực nông thôn là một yêu cầu thực tế và cấp bách, và là một hướng đi đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu khai thác tiềm năng về vốn phục vụ tại chỗ cho phát triển nông nghiệp và nông thôn; bên cạnh đó trên cơ

sở kinh nghiệm bước đầu, cùng với đề nghị của các địa phương và ý kiến chấp thuận của Ban bí thư Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo trung ương thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân đã tổ chức triển khai mở rộng thí điểm ra 53 tỉnh, thành phố trong cả nước Khi luật hợp tác xã có hiệu lực, thì đến cuối năm 1999 hầu hết các quỹ tín dụng nhân dân được thành lập trước khi Luật hợp tác xã có hiệu lực đã hoàn thành việc chuyển đổi và đăng ký kinh doanh theo Luật Hợp tác xã và giai đoạn thí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân được kết thúc vào năm 2000

Qua giai đoạn thí điểm, hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân đã đạt được những kết quả ban đầu hết sức quan trọng, đã khảng định được vai trò của mình, nó

đã trợ giúp có hiệu quả các thành viên là cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ

và vừa phát triển sản xuất, mở rộng dịch vụ ngành nghề, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, góp phần xoá đói giảm nghèo và đẩy lùi một số tệ nạn ở nông thôn, thành công đó không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn mang ý nghĩa to lớn về mặt xã hội, nhân văn; song hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân cũng đã bộc lộ những tồn tại, yếu kém cần phải khẩn trương khắc phục nhằm đảm bảo cho hệ thống quỹ tín dụng nhân dân hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển lành mạnh Sau tổng kết thí

Trang 30

điểm thành lập quỹ tín tín dụng nhân dân, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 57/2000/CT-TW và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 135/2000/QĐ-TTg

“Về củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân”

1.2.4 Giai đoạn củng cố, chấn chỉnh hoạt động (2001- 2004)

Trong những năm 2001- 2004, dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng nhà nước hệ thống quỹ tín dụng nhân dân thực hiện công tác củng cố, chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn hoạt động, tạo điều kiện hoàn thiện và phát triển bền vững hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong giai đoạn tiếp theo Sau 3 năm thực hiện Chỉ thị 57-CT/TW của Bộ Chính trị, hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đã cơ bản khắc phục được các tồn tại, yếu kém, hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân dần đi vào

nề nếp và ổn định, chất lượng hoạt động được cải thiện rõ rệt Các chỉ tiêu hoạt động tăng trưởng đáng kể và bền vững Các cơ chế, chính sách đối với hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân từng bước được ban hành đầy đủ và đồng bộ hơn Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ngày càng một phát triển lớn mạnh, được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân và các cấp, các ngành, nó đang dần xoá

đi định kiến của người dân về sự đổ vỡ của các Hợp tác xã tín dụng trước đây, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, hạn chế nạn cho vay nặng lãi ở những nơi có quỹ tín dụng nhân dân hoạt động Có thể khảng định chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển mô hình quỹ tín dụng nhân dân

là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam

1.2.5 Giai đoạn hoàn thiện và phát triển của quỹ tín dụng nhân dân (2005 - Nay)

Những tiến bộ vượt bậc và vai trò trong tương trợ trong cộng đồng, sự đóng tích cực vào phát triển kinh tế xã hội với địa phương của các quỹ tín dụng nhân dân đến ngày hôm nay là không ai có thể phủ nhận, tính đến 30/6/2017 toàn hệ thống có 1.177 quỹ tín dụng nhân dân và 1,8 triệu thành viên; tổng nguồn vốn hoạt động 96.262 tỷ đồng, vốn điều lệ 4.133 tỷ đồng, vốn huy động (tiền gửi tiết kiệm) 3.901

tỷ đồng, dư nợ cho vay thành viên 72.414 tỷ đồng (Nguồn: số liệu báo cáo thực

hiện 6 tháng đầu năm 2017, ngày 17/7/2017 Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam)

Các quỹ tín dụng nhân dân đã góp phần cung cấp các dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho dân cư trên địa bàn Thực tế, bất kể người dân nào là thành viên cũng đều được hưởng các sản phẩm, dịch vụ của quỹ tín dụng nhân dân với tư cách vừa là thành viên vừa là khách hàng Qua hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân ý thức tiết kiệm và tích luỹ của người dân được nâng cao, những đồng vốn nhàn rỗi được huy động để đưa vào đầu tư phục vụ cho phát triển sản xuất, mở mang ngành nghề, dịch

vụ Quỹ tín dụng nhân dân vừa là người quản lý một phần tài sản của thành viên,

Trang 31

vừa là nhà cung ứng vốn cho người dân trên địa bàn nên đảm bảo tính ổn định của đầu tư lâu dài Mặt khác thông qua các hoạt động tư vấn hỗ trợ cung cấp thông tin của quỹ tín dụng nhân dân mà trình độ, nhận thức của người dân cũng được nâng cao, nhiều tệ nạn như hụi họ, cho vay nặng lãi được hạn chế và đẩy lùi, ý thức làm

ăn, kinh doanh và sử dụng đồng vốn được cải thiện rõ rệt; nhiều nơi, nhiều vùng nhờ có quỹ tín dụng nhân dân hoạt động nên thành viên, các hộ gia đình có điều kiện xoá đói giảm nghèo hiệu quả Người dân đã ngày càng tin tưởng và tham gia tích cực vào hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, đây cũng là yếu tố hết sức thuận lợi để các quỹ tín dụng nhân dân mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng hoạt động; nâng cao trình độ quản lý và ý thức chấp hành pháp luật, đạo đức nghề nghiệp của cán

bộ, nhân viên làm việc tại quỹ tín dụng nhân dân

Mặt khác, với tư cách là một doanh nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân đóng góp đáng kể các khoản thuế hàng năm cho ngân sách địa phương, trực tiếp tham gia vào chương trình phát triển kinh tế ở xã, phường, hỗ trợ đắc lực cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách kịp thời, tạo ra nhiều công ăn việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân ở khu vực nông thôn và góp phần làm ổn định trật tự chính trị, xã hội trên địa bàn Khảng định những kết quả đạt được của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân đối với nền kinh tế xã hội, hoặc Kế hoạch phát triển kinh tế tập thể 5 năm (2006 - 2010) Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo và nêu rõ: “Khuyến khích thành lập mới quỹ tín dụng nhân dân ở những nơi có nhu cầu và đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động quỹ tín dụng nhân dân một cách vững chắc, an toàn, thu hút mạnh hơn xã viên tham gia vào quỹ tín dụng nhân dân” (Vai trò của

quỹ tín dụng nhân dân trong việc thúc đẩy kinh tế nông nghiệp nông thôn; Trung

tâm thông tin – TV – NCKH Văn phòng Quốc hội; Năm 2010)

1.3 Nội dung tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

1.3.1 Tổ chức của quỹ tín dụng nhân dân

1.3.1.1 Thành viên và Đại hội thành viên

- Thành viên: Trong quỹ tín dụng nhân dân, thì thành viên đóng vai trò quan trọng nhất trong quá trình thành lập, vận hành và phát triển hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Bởi vì thành viên vừa là chủ sở hữu, vừa là khách hàng, vừa là người quản lý, điều hành và lại là người kiểm soát hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

- Đại hội thành viên: Đối với quỹ tín dụng nhân dân, thì Đại hội thành viên luôn được xác định là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất Tuỳ theo số lượng của thành viên quỹ tín dụng nhân dân có thể quyết định triệu tập Đại hội tổng

Trang 32

thể hoặc Đại hội đại biểu thành viên Đại hội tổng thể hoặc Đại hội đại biểu thành viên được thực hiện theo quy trình, nội dung và thẩm quyền Đại hội là như nhau

+ Đại hội thành viên thường niên: Là Đại hội được tổ chức hàng năm sau khi kết thúc năm tài chính;

+ Đại hội thành viên nhiệm kỳ: là Đại hội mà hết một nhiệm kỳ (tối thiểu là

2 năm và tối đa là 5 năm, tùy theo quy định cụ thể tại Điều lệ của từng quỹ tín dụng nhân dân) để bầu ra các các chức danh Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viên Ban kiểm soát của quỹ tín dụng nhân dân

+ Đại hội thành viên bất thường: Là Đại hội do Hội đồng quản trị hoặc do Ban kiểm soát hoặc do 2/3 tổng số thành viên của quỹ tín dụng nhân dân làm đơn yêu cầu, để giải quyết hoặc quyết định những vấn đề vượt thẩm quyền của Hội đồng quản trị

- Thẩm quyền cơ bản của Đại hội thành viên, bao gồm:

+ Quyết định việc sửa đổi, bổ sung và thông qua Điều lệ, quy chế, quy định nội bộ của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Bầu, bổ sung hoặc miễn nhiệm các chức danh Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viên Ban kiểm soát;

+ Thông qua báo cáo kết quả hoạt động định kỳ năm trước và chương trình hoạt động, kế hoạch tài chính của năm tiếp theo;

+ Quyết định thông qua phân bổ (tỷ lệ %) của lợi nhuận vào các quỹ, mức trả lợi tức đối với vốn góp cổ phần; mức thưởng cho ban quản lý, ban điều hành…v.v

và các vấn đề khác có liên quan đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

1.3.1.2 Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát

- Hội đồng quản trị: Do Đại hội thành viên bầu ra (theo thể thức bỏ phiếu kín); có chức năng đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu của quỹ tín dụng nhân dân

và quản trị quỹ tín dụng nhân dân hoạt động một cách tốt nhất Để thực hiện chức năng đó, Hội đồng quản trị có các nhiệm vụ chủ yếu như:

+ Đảm bảo các hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân tuân thủ đúng pháp luật, điều lệ, quy chế, quy định nội bộ, các chuẩn mực, quy tắc đạo đức, các văn bản quy định của pháp luật đối với hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Thực thi các quyết định của Đại hội thành viên, đảm bảo rằng quỹ tín dụng nhân dân thực hiện đúng các thông lệ quản lý lành mạnh và thận trọng;

+ Cung cấp các tài liệu và thông tin xác thực liên quan đến quỹ tín dụng nhân dân cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền;

+ Quy định chính sách lãi suất tiền gửi, tiền vay và quyết định thực hiện các sản phẩm dịch vụ do quỹ tín dụng nhân dân cung cấp;

Trang 33

+ Xét duyệt đơn xin gia nhập thành viên, danh sách thành viên xin ra khỏi thành viên, thành viên bị đình chỉ hoặc khai trừ trình Đại hội thành viên gần nhất;

+ Thực hiện hoặc kiểm soát việc thực hiện các khoản đầu tư của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Quyết định và lên kế hoạch thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Chỉ định những người được uỷ quyền nhân danh quỹ tín dụng nhân dân để

ký kết hợp đồng và các văn bản khác của quỹ tín dụng nhân dân;

+ Báo cáo về kết quả thực hiện nhiệm vụ và trình bày báo cáo thường niên trước Đại hội thành viên;

+ Giám sát tình hình thực thi nhiệm vụ của Ban điều hành và các bộ phận chuyên môn của quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của pháp luật, các chuẩn mực

và quy tắc đạo đức nghề nghiệp;

+ Bổ nhiệm, quyết định thuê hoặc miễn nhiệm Giám đốc điều hành và một

số chức danh khác theo quy định của Điều lệ;

+ Quy định về quy trình tuyển dụng nhân viên làm việc tại quỹ tín dụng nhân dân;

+ Triệu tập và chuẩn bị các tài liệu cần thiết cho Đại hội thành viên;

+ Hội đồng quản trị họp theo định kỳ mỗi tháng một lần hoặc theo yêu cầu của của Chủ tịch Hội đồng quản trị Khi quyết định Hội đồng quản trị quyết định theo nguyên tắc đa số

- Ban kiểm soát: Cũng như Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát được Đại hội thành viên bầu ra (nhiệm kỳ của Ban kiểm soát trùng với nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị), để thay mặt các thành viên thực hiện chức năng giám sát mọi mặt hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Hoạt động của Ban kiểm soát nhằm mục đích đảm bảo cho quỹ tín dụng nhân dân hoạt động tuân thủ đúng pháp luật, điều lệ và nghị quyết của Đại hội thành viên, bao gồm các nhiệm vụ chủ yếu như:

+ Đảm bảo sự tuân thủ các quy tắc đạo đức nghề nghiệp;

+ Đảm bảo những người quản lý, điều hành quỹ tín dụng nhân dân thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ của mình một cách phù hợp nhất, tôn trọng các quyền và nghĩa vụ của thành viên;

+ Đảm bảo cho quỹ tín dụng nhân dân tạo điều kiện thuận lợi cho việc tương trợ giữa các thành viên, tham gia vào việc phát triển cộng đồng có hiệu quả;

+ Việc kết nạp hoặc cho ra khỏi thành viên được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật và quy định của quỹ tín dụng nhân dân;

Trang 34

+ Báo cáo kết quả giám sát cho Hội đồng quản trị và trình bày trước Đại hội thành viên;

+ Tiếp nhận, xử lý hoặc chuyển cho bộ phận có trách nhiệm liên quan trả lời những kiến nghị, khiếu nại của thành viên

1.3.2 Hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

lý là Ngân hàng nhà nước nơi cấp phép hoạt động cho quỹ tín dụng nhân dân đó, và việc rút phần vốn góp thường xuyên được quy định chặt chẽ và thành viên được quyền chuyển nhượng phần vốn góp cho nhau

- Quỹ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển: Hàng năm từ kết quả lợi nhuận trong hoạt động mang lại quỹ tín dụng nhân dân bắt buộc phải trích lập bổ sung vào các quỹ theo tỷ lệ % quy định (trước khi chia lợi tức vốn góp cho thành viên), để nâng cao năng lực tài chính của chính quỹ tín dụng nhân dân

b) Huy động tiền gửi, tiền tiết kiệm:

Cũng tương tự như các Ngân hàng thương mại, phần vốn chủ sở hữu chỉ là một phần rất nhỏ trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân Nên việc để có đủ nguồn vốn cần thiết đáp ứng nhu cầu vay vốn của thành viên, thì quỹ tín dụng nhân dân phải huy động vốn cả trong và ngoài thành viên, trong và ngoài địa bàn hoạt động thông qua kênh huy động tiền gửi và tiền tiết kiệm Tuỳ theo nhu cầu sử dụng vốn và mục đích của mình, quỹ tín dụng nhân dân đưa ra quyết định loại hình huy động các loại hình tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm cho phù hợp

c) Vốn đi vay:

Trong quá trình hoạt động, nếu nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động không đủ để đáp ứng nhu cầu vốn cho vay, thì quỹ tín dụng nhân dân được

Trang 35

vay vốn thông qua trung tâm đầu mối điều hoà vốn là Ngân hàng hợp tác xã (tại chi nhánh các tỉnh, thành nơi mà quỹ tín dụng nhân dân hoạt động) Để đảm bảo việc điều hoà vốn trong hệ thống thì quỹ tín dụng nhân dân khi thừa vốn phải gửi vào Ngân hàng hợp tác xã và khi thiếu vốn thì vay tại Ngân hàng hợp tác xã, không được trực tiếp gửi hoặc cho vay lẫn nhau

1.3.2.2 Hoạt động cho vay

Hoạt động cho vay theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mượn về vốn giữa quỹ tín dụng nhân dân với các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp vừa và nhỏ theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi trong một khoảng thời gian nhất định Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của quỹ tín dụng nhân dân và cũng là hoạt động luôn gắn với rủi ro cao nhất, do vậy việc hoạt động cho vay luôn phải đảm bảo an toàn nguồn vốn và đảm bảo khả năng sinh lời của nguồn vốn đó

Đối tượng vay vốn của quỹ tín dụng nhân dân chủ yếu phải là thành viên của mình, ngoài ra quỹ tín dụng nhân dân cũng cho vay khách hàng không phải là thành viên nhưng phải là hộ nghèo có hộ khẩu thường trú trên địa bàn hoạt động của mình Đây là một điểm khác biệt lớn nhất trong hoạt động cho vay của quỹ tín dụng nhân dân so với hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng khác

Hoạt động cho vay của quỹ tín dụng nhân dân nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của thành viên để phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và phục vụ đời sống Về

cơ bản, hoạt động cho vay của quỹ tín dụng nhân dân cũng tuân theo quy trình tín dụng tương tự như các Ngân hàng thương mại, tuy nhiên, do lợi thế của quỹ tín dụng nhân dân hoạt động gần dân, sát với dân, đồng thời trước khi xem xét cho vay thì điều kiện đầu tiên khách hàng phải là thành viên nên những tố về pháp lý (tư cách là thành viên) đã được quỹ tín dụng nhân dân thẩm định và xét duyệt đầy đủ Chính vì vậy, việc thẩm định và quyết định cho vay chủ yếu chỉ tập trung vào các yếu tố như: Phương án sản xuất, tài sản thế chấp vay vốn (đối với những món vay lớn), nên quy trình, thủ tục và điều kiện quyết định cho vay thường rất đơn giản, thời gian để phê duyệt cho một khoản vay rất ngắn và nhanh gọn, chi phí về thủ tục

hồ sơ cũng rất nhỏ, người dân có nhu cầu vốn nhỏ lẻ, thời gian ngắn hoặc đột xuất cũng dễ dàng tiếp cận được Đây cũng chính là lợi thế của quỹ tín dụng nhân dân so với các Ngân hàng thương mại trong việc chiếm thị phần số lượng người dân ở khu vực nông nghiệp, nông thôn tham gia giao dịch

1.3.2.3 Hoạt động cung ứng dịch vụ

Ngoài hai nghiệp vụ hoạt động chính được nêu ở trên, quỹ tín dụng nhân dân còn tham gia một số nghiệp vụ Ngân hàng khác như: dịch vụ chuyển tiền trong

Trang 36

nước và làm đại lý chi trả kiều hối (ngoại tệ từ nước ngoài về), các nghiệp vụ thu

hộ, chi hộ cho các thành viên; tuy nhiên để thực hiện những nghiệp vụ này thì tùy thuộc vào điều kiện của từng quỹ tín dụng nhân dân phải đáp ứng được đầy đủ về

cơ sở vật chất, con người và phải được Ngân hàng nhà nước chấp thuận

1.3.2.4 Các hoạt động khác

- Tiếp nhận vốn uỷ thác cho vay của Chính phủ, tổ chức, cá nhân;

- Vay vốn của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính khác;

- Tham gia góp vốn vào Ngân hàng hợp tác xã;

- Mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;

- Nhận uỷ thác và làm đại lý một số lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, quản lý tài sản theo quy định của Ngân hàng nhà nước;

- Làm đại lý kinh doanh bảo hiểm;

- Cung ứng dịch vụ tư vấn về ngân hàng tài chính cho các thành viên

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

1.4.1 Nhân tố bên trong

1.4.1.1 Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực của bất cứ tổ chức nào cũng là lợi thế so sánh quan trọng, vì chính con người là yếu tố “động nhất” trong mọi quá trình hoạt động, sản xuất kinh doanh Nguồn nhân lực của quỹ tín dụng nhân dân được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu là số lượng lao động và chất lượng nguồn nhân lực

- Số lượng lao động: Là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh nguồn nhân lực của một quỹ tín dụng nhân dân;

- Chất lượng nguồn nhân lực của quỹ tín dụng nhân dân được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: Trình độ học vấn, khả năng giao tiếp, năng lực giải quyết các vấn

đề phát sinh, tinh thần trách nhiệm, sự nhiệt tình, đạo đức nghề nghiệp…v.v

Nếu quỹ tín dụng nhân dân có lực lượng lao động hợp lý thì có điều kiện thuận lợi để mở rộng các hoạt động kinh doanh, gia tăng quy mô nguồn vốn và tài sản; mặt khác đội ngũ nhân lực sẽ tạo ra những dịch vụ thoả mãn cả 6 tiêu chí: tính đúng thời gian, thái độ phục vụ, tính đồng nhất, sự thuận tiện để có được sản phẩm tính hoàn chỉnh của sản phẩm dịch vụ và tính chính xác, không sai sót

Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp của các cán bộ tác nghiệp cũng là yếu tố tạo nên tính an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

1.4.1.2 Năng lực quản trị, điều hành

Trang 37

Năng lực quản trị, điều hành của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc quỹ tín dụng nhân dân được thể hiện thông qua các tiêu chí sau:

- Khả năng hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược, chính sách và quy trình kinh doanh, quy trình quản trị rủi ro, kiểm toán và kiểm soát nội bộ;

- Sự phù hợp về cơ cấu tổ chức;

Năng lực quản trị quyết định đến hiệu quả sử dụng các nguồn lực của quỹ tín dụng nhân dân; nếu một Hội đồng quản trị, Ban giám đốc yếu kém sẽ không có khả năng đưa ra những chiến lược, chính sách hợp lí, thích ứng với những thay đổi của thị trường và nó gây nên lãng phí nguồn lực, gia tăng chi phí hoạt động, giảm khả năng dự đoán và chống đỡ các rủi ro, đồng thời sẽ làm yếu đi năng lực cạnh tranh của quỹ tín dụng nhân dân đó và làm giảm khả năng phát triển bền vững của chính quỹ tín dụng nhân dân đó Nên có thể khảng định, năng lực quản trị là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng sinh lời, tính an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân; mặt khác, thông qua chiến lược phát triển của mỗi quỹ tín dụng nhân dân còn có thể đánh giá mức độ hoạt động vì cộng đồng của quỹ tín dụng nhân dân đó

1.4.1.3 Sản phẩm dịch vụ

Dịch vụ của quỹ tín dụng nhân dân bao hàm toàn bộ các hoạt động mà quỹ tín dụng nhân dân cung ứng cho khách hàng, thành viên liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng thanh toán…v.v, thông qua các kênh phân phối khác nhau nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu dịch vụ tài chính của khách hàng mà pháp luật cho phép

Sản phẩm dịch vụ của quỹ tín dụng nhân dân thường được học tập hoặc bắt chước từ các ngân hàng lớn, do vậy để có được lợi thế về sự khác biệt về sản phẩm thì quỹ tín dụng nhân dân luôn phải tìm hiểu, nghiên cứu thị trường nhằm đưa ra lựa chọn những sản phẩm mới phù hợp với điều kiện, năng lực của mình đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu, mong muốn đa dạng khác nhau của khách hàng, thu hút khách hàng được nhiều hơn

1.4.1.4 Công nghệ thông tin

Quỹ tín dụng nhân dân thuộc lĩnh vực dịch vụ ngành tài chính – ngân hàng, hầu hết các mảng hoạt động của khu vực ngân hàng đều gắn liền với việc tiếp nhận

và xử lý thông tin, do vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững và có hiệu quả của từng quỹ tín dụng nhân dân Những thay đổi của công nghệ thông tin nói chung và nền tảng công nghệ thông tin

mà quỹ tín dụng nhân dân áp dụng đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh Những thay đổi của công nghệ thông đã tác động tới cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ của dân cư, nó cũng tạo ra những nhu cầu, đòi hỏi mới về dịch vụ ngân

Trang 38

hàng và hoạt động ngân hàng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm dịch

vụ giúp quỹ tín dụng nhân dân nâng cao khả năng cạnh tranh

1.4.2 Nhân tố bên ngoài

1.4.2.1 Môi trường vĩ mô

a) Yếu tố quốc tế:

Xu hướng toàn cầu hóa dẫn đến sự hội nhập mạnh mẽ giữa các nền kinh tế trong khu vực và trên toàn thế giới Cơ hội mang đến cho hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân là được tiếp cận với công nghệ ngân hàng tiên tiến, kỹ năng quản lý ngân hàng hiện đại và các sản phẩm, dịch vụ mới; song đồng hành là những thách thức: năng lực tài chính yếu, trình độ cán bộ bất cập, quy trình hoạt động chưa tuân theo chuẩn mực chung, mức độ minh bạch hóa chưa cao…v.v

Do vậy, hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗi quỹ tín dụng nhân dân cũng cần phải nghiên cứu, nắm bắt xu hướng phát triển của kinh tế thế giới, tìm hiểu các diễn biến

về kinh tế và chính trị, theo dõi và dự báo xu hướng vận động của hệ thống tài chính quốc tế, cập nhật chính sách tiền tệ của các quốc gia lớn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính qua đó tận dụng tối đa các cơ hội và có chiến lược đối mặt với thách thức

b) Yếu tố kinh tế - xã hội:

Những thay đổi về chu kỳ kinh tế (suy thoái, bão hòa hay tăng trưởng), tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP, triển vọng của các ngành nghề kinh tế phải sử dụng nguồn vốn đi vay, cơ cấu chuyển dịch giữa các khu vực kinh tế, mức độ ổn định của giá cả, lãi suất, tình trạng thất nghiệp…v.v., đều có tác động mạnh đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, bởi vì quỹ tín dụng nhân dân ra đời gắn liền với nhu cầu bức thiết về vốn của dân cư, đặc biệt là ở khu vực nông thôn, nơi mà các Ngân hàng thương mại ít để ý đến Khi bối cảnh kinh tế - xã hội khó khăn, các quỹ tín dụng nhân dân chủ yếu chỉ tập trung vào việc huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để cho các thành viên vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh và đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, nhưng khi mà điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, nhu cầu của người dân được nâng cao, quỹ tín dụng nhân dân phải đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, tiện ích để có thể cạnh tranh được với các Ngân hàng thương mại thì mới có thể tồn tại và phát triển bền vững trong môi trường ngày càng cạnh tranh gay gắt

c) Yếu tố chính trị, pháp luật và chính sách của Chính phủ:

Quỹ tín dụng nhân dân cũng là một định chế tài chính và hoạt động của nó có ảnh hưởng quan trọng đến hệ thống tài chính quốc gia (tuy nhiên mức độ ảnh hưởng nhỏ hơn so với các định chế tài chính khác) Do đó, nhà nước có sự kiểm soát chặt

Trang 39

chẽ hơn về phương diện pháp luật và chính sách trên nhiều lĩnh vực khác nhau như cạnh tranh, phá sản, sáp nhập, cơ cấu tổ chức hoạt động, các quy định về cho vay, bảo hiểm tiền gửi, dự phòng rủi ro tín dụng, quy mô vốn tự có…được quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật

Để đảm bảo cho quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ngày càng phát triển và phát triển bền vững thì Nhà nước đã ban hành những văn bản pháp lý riêng biệt để điều chỉnh các hoạt động của loại hình tổ chức này Điều đó có nghĩa là quỹ tín dụng nhân dân phải tuân thủ những quy định mang tính nguyên tắc về tổ chức hoạt động, vì vậy thông qua những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan quản lý Nhà nước ban hành thì khung khổ pháp lý có tác động rất quan trọng đến tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Bên cạnh đó, vai trò điều tiết của Nhà nước là hết sức quan trọng, trong vai trò là người tạo lập môi trường để quỹ tín dụng nhân dân hoạt động thông qua các

cơ chế, chính sách Trong giai đoạn khởi đầu sự can thiệp của của nhà nước thể hiện rất rõ và có tác động trực tiếp đến tổ chức và hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, ngoài việc tạo lập môi trường, hỗ trợ thông qua các chính sách ưu đãi về thuế, đào tạo và thực hiện vai trò định hướng, thanh tra giám sát… Khi đạt đến một trình độ phát triển nào đó hoặc theo xu hướng phát triển của toàn xã hội Nhà nước thực hiện một số chức năng như định hướng, giám sát và can thiệp vào tổ chức hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân khi có vấn đề cần thiết

d) Yếu tố môi trường, văn hóa xã hội:

Các yếu tố văn hóa tiêu dùng, thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong đời sống, tập quán tiết kiệm, đầu tư, ứng xử trong quan hệ giao tiếp, kỳ vọng cuộc sống, cộng đồng tôn giáo, sắc tộc… đều ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

đ) Yếu tố dân số:

Cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính, thu nhập, mức sống, tỷ lệ tăng dân số quy mô dân số giữa các khu vực kinh tế, giữa thành thị và nông thôn Tất cả các nhân tố này đều phải được các quỹ tín dụng nhân dân quan tâm chăm sóc Đây là nguồn khách hàng của quỹ tín dụng nhân dân và là người tạo ra lợi nhuận, đồng thời cũng giúp quỹ tín dụng nhân dân tồn tại và phát triển

1.4.2.2 Môi trường vi mô

a) Khách hàng:

Đây là bộ phận quyết định sự sống còn của một quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường cạnh tranh Tuy nhiên, trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, khách hàng không có sự đồng nhất và họ có thể vừa là người cung ứng nguồn vốn

Trang 40

hoạt động cho quỹ tín dụng nhân dân (người gửi tiền), vừa có thể là người sử dụng nguồn vốn của quỹ tín dụng nhân dân (người vay tiền), đồng thời là chủ sở hữu (nếu

là thành viên) Do vậy, trong hoạt động quỹ tín dụng nhân dân phải xác định rõ khách hàng mục tiêu và đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng Thông qua phân tích khách hàng biết được sự tín nhiệm của khách hàng, lịch sử quan hệ với quỹ tín dụng nhân dân của khách hàng, mức độ trung thành của khách hàng, thái độ của khách hàng đối với các dịch vụ của quỹ tín dụng nhân dân, để đưa ra những quyết định phù hợp

b) Các đối thủ cạnh tranh hiện hữu:

Đặc thù hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân là trên địa bàn một xã, phường, thị trấn (địa bàn hẹp) do vậy khi có đối thủ tranh đua và dùng các thủ thuật để tạo lợi thế cạnh tranh, xâm chiếm thị phần thì gặp rất nhiều khó khăn; đặc biệt xu hướng nới lỏng các quy định tạo sức ép cạnh tranh ngày càng lớn giữa các tổ chức tín dụng với nhau, việc tham gia thị trường của các đối thủ cạnh tranh mới đồng nghĩa với việc phải chia sẻ các nguồn lực, thị phần hiện có, do vậy giá cả các sản phẩm dịch vụ sẽ giảm hoặc chi phí tăng Do đó, quỹ tín dụng nhân dân muốn phát triển bền vững phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh, nên việc phân tích và dự báo mức độ cạnh tranh là nhiệm vụ rất quan trọng đối với quỹ tín dụng nhân dân

Tóm lại: Môi trường kinh doanh của quỹ tín dụng nhân dân bao gồm nhiều

yếu tố và có tác động khác nhau đến hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, muốn phát triển bền vững, các quỹ tín dụng nhân dân cần phải phân tích sự thay đổi của môi trường và điều chỉnh những hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân sao cho phù hợp với sự thay đổi của môi trường này ở hiện tại và tương lai để tạo sự ổn định, thích ứng từ đó tăng trưởng và phát triển

1.5 Một số kinh nghiệm và những thách thức trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân trong môi trường pháp lý mới ở Việt Nam

1.5.1 Một số kinh nghiệm hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

1.5.1.1 Ở nước ngoài

a) Kinh nghiệm ở Canada:

Vào những năm cuối của thế kỷ 19, đời sống của người dân ở bang Quebec (thuộc Canada) nhất là ở vùng nông thôn đã gặp rất nhiều khó khăn, tình trạng mất mùa nông nghiệp do kinh tế suy thoái đẩy những người dân nhất là tầng lớp nông dân và những người sản xuất nhỏ, lẻ vào cảnh đói nghèo, thất nghiệp tràn lan Trong khi đó các Ngân hàng thương mại lại chỉ hoạt động ở khu vực thành thị, nên nạn cho vay năng lãi đã hoành hành khắp mọi nơi, nhất là khu vực nông thôn; nên

họ đã nghiên cứu mô hình Hợp tác xã tín dụng của một số nước như: Đức, Pháp, để

Ngày đăng: 21/02/2021, 16:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w