1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

CHUYÊN ĐỀ HSG: RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH

84 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 506,5 KB
File đính kèm ĐỌC HIỂU VB NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH.rar (97 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề chuyên sâu bồi dưỡng học sinh giỏi tỉnh, học sinh giỏi quốc gia. Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình, kĩ năng rất cần thiết để làm tốt bài thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia. Tài liệu cần thiết cho giáo viên và học sinh.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

1 Lí do chọn đề tài 4

2 Mục đích nghiên cứu 5

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của đề tài 7

6 Cấu trúc của đề tài 7

PHẦN NỘI DUNG 8

CHƯƠNG 1: VĂN BẢN NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH CHUYÊN VĂN 8

1.1 Khái niệm và phân loại 8

1.1.1 Khái niệm 8 1.1.2 Phân loại văn bản ngoài chương trình 9 1.2 Sự cần thiết của việc rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn 20

1.2.1 Giúp học sinh xác định đúng và trúng vấn đề cần nghị luận 21 1.2.2 Giúp học sinh mở rộng phông kiến thức 23 1.2.3 Giúp học sinh hiểu rõ và cảm thụ tốt hơn văn bản trong chương trình23 1.2.4 Gián tiếp rèn kĩ năng diễn đạt cho học sinh25 CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH CHUYÊN VĂN 26

2.1 Một số nguyên tắc khi đọc hiểu văn bản 26

Trang 2

2.1.1 Đối với văn bản nói chung 26

2.2 Cách thức rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình 32

2.2.1 Khuyến khích học sinh chủ động kiếm tìm văn bản ngoài chương

CHƯƠNG 3: HẠN CHẾ CỦA HỌC SINH KHI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH VÀ MỘT SỐ BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ

NĂNG ĐỌC HIỂU 62 3.1 Một số hạn chế của học sinh khi đọc hiểu văn bản ngoài chương trình 62

3.1.1 Có thái độ chưa đúng đắn đối với việc đọc hiểu văn bản ngoài chương

3.1.1 Xác định chưa đúng, chưa trúng, chưa toàn diện nội dung của văn bản

633.1.2 Chưa biết kết nối nội dung và hình thức thể hiện của văn bản 66

3.1.3 Chưa biết vận dụng kiến thức văn bản ngoài chương trình vào bài làm

3.2 Một số bài tập đọc hiểu văn bản ngoài chương trình 69

3.2.1 Một số bài tập đọc hiểu văn bản ngoài chương trình liên quan đến văn nghị luận xã hội 70

3.2.2 Một số bài tập đọc hiểu văn bản ngoài chương trình liên quan đến văn

PHẦN KẾT LUẬN 83

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong nhà trường đã đượcdấy lên và thúc đẩy mạnh mẽ trong những năm gần đây Điều đó kéo theo sựthay đổi trong cách kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh Bài thi THPTQuốc gia chính là bài đánh giá kĩ năng, năng lực toàn diện của học sinh Đối vớimôn Ngữ văn, ngoài kĩ năng tạo lập văn bản nghị luận xã hội, nghị luận vănhọc, đề thi còn kiểm tra kĩ năng đọc hiểu văn bản của học sinh Đây là một kĩnăng quan trọng, cần thiết đối với học sinh khi học ở những cấp học cao hơn vàtrong đời sống, xã hội

Trong đề thi THPT Quốc gia những năm gần đây, phần đọc hiểu chiếm 30%tổng số điểm toàn bài Đây là một phần tương đối lớn, góp phần đánh giá nănglực của học sinh sau 3 năm học THPT và 12 năm cắp sách đến trường Ngữ liệuđược sử dụng trong đề bài thi đọc hiểu văn bản hầu hết là văn bản ngoài chươngtrình, xa lạ với học sinh Nếu học sinh có đủ kiến thức cơ bản về đọc hiểu vănbản, nắm chắc kĩ năng đọc hiểu văn bản thì đây cũng chính là một phần lợi thế

để nâng cao điểm số bài thi của mình Vì lẽ đó, phần rèn luyện kĩ năng đọc hiểuvăn bản luôn được chú trọng trong các nhà trường phổ thông, xem đây là mộtphần không thể thiếu trong chiến lược rèn luyện, ôn tập cho học sinh Khôngcần chờ đến lớp 12, mà ngay từ lớp 10, các thầy cô dạy môn Ngữ văn THPT đãtích cực rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản cho những học trò của mình

Đối với học sinh chuyên văn, các em còn phải tham gia thi chọn học sinhgiỏi khu vực và chọn học sinh giỏi quốc gia Cấu trúc đề thi học học sinh giỏigồm 2 câu: Câi 1 (8 điểm) về nghị luận xã hội và câu 2 (12 điểm) về nghị luậnvăn học Câu nghị luận xã hội thường sử dụng ngữ liệu là một văn bản ngoàichương trình Đó có thể là một câu tục ngữ, danh ngôn, châm ngôn Đó cũng cóthể là một trích đoạn trong một bài báo, một bài nghiên cứu khoa học, một câuchuyện nhỏ hoặc một bài thơ, một đoạn thơ hàm chứa bài học triết lý Câu nghị

Trang 4

luận văn học cũng thường sử dụng ngữ liệu ra đề là một câu hoặc một đoạnngắn trong bài nghiên cứu văn học của một tác giả nổi tiếng Không chỉ vậy, đểlàm sáng tỏ vấn đề đặt ra trong đề bài, học sinh không chỉ biết vận dụng tốtnhững tác phẩm văn học trong chương trình mà còn phải linh hoạt và sáng tạotrong việc vận dụng những tác phẩm văn học ngoài chương trình Một thực tế chothấy, những bài làm đạt giải cao là những bài viết thể hiện phông kiến thức rộng,biết mở rộng so sánh liên hệ với những tác phẩm ngoài chương trình đúng lúcđúng chỗ Việc đưa những ngữ liệu văn bản ngoài chương trình vào bài nghị luậnvăn học sẽ giúp vấn đề được soi chiếu và sáng tỏ hơn, có sức thuyết phục hơn.Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều học sinh tỏ ra lúng túng khi đọc hiểunhững văn bản ngoài chương trình Vì lần đầu được tiếp cận nên việc nắm bắtnội dung, tư tưởng của văn bản là một vấn đề tương đối khó với học sinh, ngay

cả học sinh chuyên văn Điều này dẫn đến việc lúng túng khi xác định chính xácvấn đề cần bàn luận trong bài văn nghị luận xã hội, vốn kiến thức về tác phẩmngoài chương trình mỏng nên không biết liên hệ, so sánh khi làm bài nghị luậnvăn học, hoặc mở rộng liên hệ không đúng lúc đúng chỗ khiến bài văn trở nênrối ý, xa đề, lủng củng, thiếu sức thuyết phục

Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết được đặt ra trong thực tế như trên,chúng tôi nhận thấy việc rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trìnhcho học sinh chuyên văn là thật sự cần thiết Đó cũng là lí do cho việc chọn đề

tài “Rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn” làm vấn đề nghiên cứu cho chuyên đề này.

Trang 5

Chuyên đề này cũng giúp giáo viên có nguồn tài liệu phục vụ trực tiếp trongquá trình giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên môn, nhất là những thầy côđang trực tiếp giảng dạy tại các lớp chuyên văn.

Chuyên đề giúp học sinh có được kĩ năng, phương pháp làm bài đọc – hiểu,rèn luyện kỹ năng tiếp nhận và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập; kỹ năngtích cực chủ động, sáng tạo, hợp tác của học sinh trong việc thực hiện các nhiệm

vụ học tập; kỹ năng trình bày, trao đổi, thảo luận về kết quả thực hiện các nhiệm

vụ học tập

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Chuyên đề tập trung vào vấn đề đọc – hiểu văn bản, áp dụng cụ thể đối với

các văn bản ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn Những loại văn bảnngoài chương trình mà chuyên đề hướng tới là:

- Câu tục ngữ, danh ngôn, châm ngôn hàm chứa nội dung triết lý sâu sắc

- Câu chuyện nhỏ mang ý nghĩa bài học cuộc sống

- Bài nghiên cứu văn học hoặc các môn khoa học khác

- Bài báo chứa đựng vấn đề triết lý nhân sinh hoặc nêu ra hiện tượng đờisống

- Đoạn trích / tác phẩm văn học ngoài chương trình có liên quan đến đoạntrích / tác phẩm trong sách giáo khoa

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “Rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn”, chúng tôi vận dụng linh hoạt các phương pháp sau:

Phương pháp khảo sát, sưu tầm, phân loại, phân tích, tổng hợp, so sánh, đàmthoại, hoạt động nhóm, thực hành

Trang 6

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài định hướng một số cách thức rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoàichương trình cho học sinh chuyên văn Những biện pháp đề tài đưa ra phù hợpvới đối tượng, mục đích, dễ áp dụng và có tính hiệu quả

Đề tài cũng bổ sung nguồn tư liệu phong phú, giúp ích cho quá trình dạy vàhọc văn trong nhà trường phổ thông, nhất là đối với việc dạy và học môn Ngữvăn ở lớp chuyên văn

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung chính của đề tài được triển khaitheo 3 chương:

Chương 1: Văn bản ngoài chương trình và sự cần thiết của việc rèn kĩ năngđọc hiểu văn bản ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn

Chương 2: Cách thức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trìnhcho học sinh chuyên văn

Chương 3: Hạn chế của học sinh khi đọc hiểu văn bản ngoài chương trình vàmột số bài tập rèn kĩ năng cho học sinh

Trang 7

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: VĂN BẢN NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH VÀ SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI CHƯƠNG

TRÌNH CHO HỌC SINH CHUYÊN VĂN 1.1 Khái niệm và phân loại

1.1.1 Khái niệm

Văn bản là một phương tiện để ghi nhận, lưu giữ và truyền đạt các thông tin,quyết định từ chủ thể này sang chủ thể khác bằng một ký hiệu hay ngôn ngữnhất định nào đó Hay nói khác đi, văn bản là một dạng sản phẩm của hoạt độnggiao tiếp bằng ngôn ngữ được thể hiện ở dạng nói hoặc viết trên một chất liệunào đó (giấy, bia đá ); gồm một câu hoặc tập hợp các câu có tính trọn vẹn vềnội dung, hoàn chỉnh về hình thức, có tính liên kết chặt chẽ và hướng tới mộtmục tiêu giao tiếp nhất định

Khái niệm văn bản mà chúng tôi sử dụng ở đây được hiểu theo nghĩa rộng,gồm văn bản văn học và văn bản phi văn bản văn học Văn bản được phân loạitheo những tiêu chí khác nhau:

Theo tiêu chí phương thức biểu đạt, văn bản được chia thành 6 loại: văn bảnmiêu tả, văn bản tự sự, văn bản biểu cảm, văn bản thuyết minh, văn bản hànhchính - công vụ, văn bản nghị luận

Theo tiêu chí phong cách chức năng ngôn ngữ, văn bản được chia thành 6loại: văn bản sinh hoạt, văn bản báo chí, văn bản khoa học, văn bản chính luận,văn bản hành chính, văn bản nghệ thuật

Trong giới hạn chuyên đề này, chúng tôi phân biệt hai khái niệm: văn bảntrong chương trình và văn bản ngoài chương trình

Văn bản trong chương trình là những văn bản được trích giảng trong sách giáokhoa Ngữ văn, được phân phối giảng dạy trong chương trình Ngữ văn THPT

Trang 8

Văn bản ngoài chương trình là những văn bản không được trích giảng trongsách giáo khoa, không nằm trong phân phối chương trình Ngữ văn THPT.

1.1.2 Phân loại văn bản ngoài chương trình

Đối với một học sinh chuyên văn, số lượng văn bản ngoài chương trình màcác em tiếp cận trong suốt 3 năm THPT không hề nhỏ nên cần được phân loại

để có phương pháp rèn kĩ năng đọc hiểu cho học sinh một cách đúng hướng vàhiệu quả nhất Có nhiều cách để phân loại văn bản ngoài chương trình thànhnhững nhóm khác nhau Ở đây, chúng tôi áp dụng cách phân chia theo loại thể.Theo đó, những loại văn bản ngoài chương trình cần thiết đối với học sinhchuyên văn gồm có:

a Câu nói triết lý: tục ngữ, danh ngôn, châm ngôn

Đây là những câu nói ngắn gọn, hàm súc, sử dụng cách nói giàu hình ảnh đểtruyền tải một thông điệp ý nghĩ về cuộc sống Những câu tục ngữ, danh ngôn,châm ngôn thường được sử dụng làm đề bài trong câu nghị luận xã hội của đềthi chọn học sinh giỏi

Trang 9

Đây là những văn bản hoặc trích đoạn văn bản báo chí được đăng tải trên cáctrang báo (báo viết hoặc báo điện tử) Loại văn bản này cũng thường được sửdụng làm ngữ liệu cho câu nghị luận xã hội trong đề thi chọn học sinh giỏi.

Ví dụ:

Văn bản 1

(1) Tôi đã trải qua nhiều cung bậc cảm xúc bóng đá, trên rất nhiều cương vị khác nhau, đến mức ngỡ như khó có một trận cầu nào có thể khiến mình bay bổng được nữa Nhưng đến khi chứng kiến U23 Việt Nam loại Qatar để ghi tên mình vào trận chung kết, tôi biết mình đã gặp một điều thần kỳ chỉ có trong giấc mơ (2) (…) Tôi ngẫm nghĩ lại: vì sao các em hôm nay được yêu mến đến thế?

Và tôi chỉ tìm thấy một câu trả lời: tuổi trẻ Nếu như các thế hệ đàn anh dự giải khi người đã cao tuổi, người đã lập gia đình thì tất cả thành viên của U23 hôm nay căng đầy sức sống Khát vọng của những thanh niên hiện đại, được giáo dục đầy đủ, tiếp thu những văn minh hiện đại đang chiến đấu vì niềm tự hào quốc gia khiến họ thành những thần tượng mới

(3) Nhưng đi kèm với những lợi thế của một lớp trẻ văn minh là những hiểm họa của một thời đại công nghệ Rồi các em sẽ thấy mình bị bao vây bởi truyền thông, rồi các em sẽ thấy tên mình tràn ngập báo đài, truyền hình và trên mạng xã hội Các em sẽ thấy lượng người theo dõi trên mạng xã hội của mình tăng gấp bội, với số thông báo nhiều đến mức không đọc hết nổi Rồi những lời đề nghị sẽ đến, từ lịch sự cho đến khiếm nhã, từ thương mại cho đến tình ái Tôi không là ai để có thể khuyên các em Nhưng tôi chỉ muốn nói với các em một điều: trước khi quyết định điều gì, hãy nhớ về cái giây phút mà các

em chơi bóng lần đầu.

(4) Hãy nhớ cái cảm giác đứng trên mảnh ruộng quê hương, đá vào quả bóng nhựa và mơ một ngày nào đó được chạy trên thảm cỏ xanh Hãy nhớ lần đầu tiên các em vào học viện, được mang đôi giày da đầu tiên thay cho tấm

Trang 10

chân trần Hãy nhớ cảm giác khi thầy nói “tốt lắm” khi các em lần đầu đá quả bóng đúng kỹ thuật Hãy nhớ những giọt mồ rơi ròng rã, hãy nhớ những cơn đau chuột rút, hãy nhớ những ngày miệt mài xa gia đình và nhớ lấy tiếng cười của người thân khi ta gọi về sau một chiến công nào đó.

(Trần Minh Chiến – Đôi chân trên mặt đất, nguồn: https://vnexpress.net/tin-tuc/

goc-nhin/doi-chan-tren-mat-dat-3705208.html)

Văn bản 2

“Cái quý giá nhất trên đời mà mỗi người có thể góp phần mang lại cho

chính mình và cho người khác đó là “năng lực tạo ra hạnh phúc”, bao gồm

năng lực làm người, năng lực làm việc và năng lực làm dân.

Năng lực làm người là có cái đầu phân biệt được thiện - ác, chân - giả, chính - tà, đúng - sai , biết được mình là ai, biết sống vì cái gì, có trái tim chan chứa tình yêu thương và giàu lòng trắc ẩn Năng lực làm việc là khả năng giải quyết được những vấn đề của cuộc sống, của công việc, của chuyên môn, và thậm chí là của xã hội Năng lực làm dân là biết được làm chủ đất nước là làm cái gì và có khả năng để làm được những điều đó Khi con người có được những năng lực đặc biệt này thì sẽ thực hiện được những điều mình muốn Khi

đó, mỗi người sẽ trở thành một “tế bào hạnh phúc”, một “nhà máy hạnh phúc” và sẽ ngày ngày “sản xuất hạnh phúc” cho mình và cho mọi người.

Xã hội mở ngày nay làm cho không có ai là “nhỏ bé” trên cuộc đời này, trừ khi tự mình muốn “nhỏ bé” Ai cũng có thể trở thành những “con người lớn” bằng hai cách, làm được những việc lớn hoặc làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn Và khi biết chọn cho mình một lẽ sống phù hợp rồi sống hết mình và cháy hết mình với nó, mỗi người sẽ có được một hạnh phúc trọn vẹn Khi đó, ta không chỉ có những khoảnh khắc hạnh phúc, mà còn có cả một cuộc đời hạnh phúc Khi đó, tôi hạnh phúc, bạn hạnh phúc và chúng ta hạnh phúc.

Trang 11

(Để chạm vào hạnh phúc- Giản Tư Trung, Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online,

3/2/2012)

c Văn bản nghiên cứu

Văn bản nghiên cứu mà học sinh thường gặp gồm 2 loại: văn bản nghiên cứuvăn học và văn bản nghiên cứu các môn khoa học khác

Văn bản nghiên cứu văn học là những bài văn học sử hoặc lí luận văn học,phê bình văn học Ví dụ: Bên cạnh những bài khái quát, tóm tắt về lí luận văn

học trong sách giáo khoa như Nội dung và hình thức của văn bản văn học; Một

số thể loại văn học: thơ, truyện, kịch, nghị luận; Quá trình văn học và phong cách văn học; Giá trị văn học và tiếp nhận văn học, học sinh cần tìm đọc cuốn

Lí luận văn học (GS Phương Lựu chủ biên), Giáo trình lí luận văn học (3 tập,

Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội) Một số chương lí luận văn học học sinh cần đọc

hiểu cẩn trọng như: Văn học, nghệ thuật ngôn từ; Chức năng của văn học; Nhà văn, chủ thể sáng tác văn học; Quá trình sáng tác; Bạn đọc, chủ thể tiếp nhận văn học; Quá trình tiếp nhận… Bên cạnh những bài tổng quan về các giai đoạn

văn học trong sách giáo khoa, học sinh cần đọc hiểu một số bài nghiên cứu văn

học sử trong những cuốn sách như Văn học dân gian Việt Nam (GS Đinh Gia Khánh chủ biên), Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII, Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX (GS Đinh Gia Khánh

Trang 12

“Ngoài việc phản ánh đầy đủ sự thật đời sống, văn học còn có nhiệm vụ buộc người đọc nhìn chăm chú hơn, nghiêm khắc hơn vào bản thân mình, từ

đó hiểu sâu sắc hơn sự thật về bản thân mình.” (Hoàng Ngọc Hiến)

“… Bắt rễ ở cuộc đời hàng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn người Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn…” (Tiếng nói của văn nghệ - Nguyễn Đình Thi, NXB Văn học, Hà Nội, 1997) Patrick Modiano, nhà văn đoạt giải Nobel năm 2014, từng chia sẻ: “Việc viết

là một hoạt động cô đơn lạ kì”

“Chủ nghĩa kinh viện phương Bắc không làm mất đi được cá tính sáng tạo của những cây bút lỗi lạc” (Đặng Thai Mai)

Những lời nhận định trên chính là những ngữ liệu thường sử dụng trong việc

ra đề câu nghị luận văn học trong bài thi chọn học sinh giỏi THPT các cấp Ngoài đọc hiểu văn bản nghiên cứu văn học, học sinh còn phải đọc hiểunhững văn bản nghiên cứu các môn khoa học khác, nhất là lĩnh vực khoa họcthường thức, phù hợp với lứa tuổi, trình độ tiếp nhận của học sinh THPT.Những văn bản thuộc loại này có thể gặp trong bài thi THPT Quốc gia Ví dụ:

“Thuốc lá gây ra những tác hại rất lớn đối với đời sống con người Trước hết, nó huỷ hoại sức khoẻ của những người trực tiếp hút thuốc Trong thuốc lá có chứa nhiều chất độc, đặc biệt là chất ni-cô-tin Chất ni-cô-tin có khả năng gây nghiên và nó cùng với những chất độc khác gặm nhấm sức khỏe con người gây bênh viêm phế quản, ho lao, ung thư phổi Điều này lí giải tại sao phần lớn những người hút thuốc nhiều đều mắc ít nhất một bệnh nào đó về phổi Hơn thế nữa, thuốc lá còn gây ảnh hưởng xấu đến môi trường Khói thuốc lá, đầu thuốc

lá, tàn thuốc lá, chúng đã cùng với rác rười góp phần tạo nên thảm hoạ ô nhiễm môi trường Nguy hiểm hơn, khói thuốc lá còn gây bệnh cho những người không

Trang 13

chịu độc gấp 4 lần người trực tiếp hút thuốc Việc hút thuốc lá thụ động này cũng khiến những người này mắc những bệnh nghiêm trọng về tim phổi”

(Trích: loigiaihay.com)

“Thực phẩm bẩn chính là kẻ sát nhân thầm lặng, ảnh hưởng và di hại đến nhiều thế hệ làm kiệt quệ nòi giống Người tiêu dùng có còn đủ tỉnh táo để phân biệt trong ma trận thực phẩm đang giăng như mạng nhện ấy, đâu là sạch, đâu là bẩn hay là lực bất tòng tâm để rồi “nhắm mắt đưa chân”.

Nếu không có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời, rồi đây 10,20 năm sau tỷ lệ mắc ung thư và tâm thần của người Việt sẽ còn cao hơn rất nhiều Mọi nỗ lực để nâng cao chất lượng cuộc sống, cải tạo nòi giống chẳng nhẽ bó tay trước những người đang đầu độc dân tộc mình?

Phát triển sẽ là gì nếu không phải là giúp người dân nâng cao đời sống, tạo môi trường lành mạnh, an toàn để mỗi chúng ta sống và đóng góp cho xã hội Nhưng thực phẩm bẩn tràn lan như hiện nay như là cái u ác tính cho cả dân tộc, nếu không cắt bỏ sẽ di căn thành ung thư Hãy hành động ngay hôm nay đừng để lúc vô phương cứu chữa.

(Trích Vấn nạn thực phẩm bẩn, chẳng lẽ bó tay? - Ths Trương Khắc Hà)

d Văn bản tự sự

Văn bản ngoài chương trình thuộc thể loại văn bản tự sự gồm có: câu chuyệnngắn hàm chứa bài học triết lý liên quan đến bài văn nghị luận xã hội, đoạn trích/ tác phẩm tự sự có liên quan đến tác phẩm văn học trong chương trình, phục vụcho bài nghị luận văn học

Trong những năm gần đây, câu nghị luận xã hội trong đề thi chọn học sinhgiỏi thường lấy ngữ liệu là những câu chuyện bài học cuộc sống Đó là nhữngcâu chuyện ngắn gọn, hàm súc, mang đến thông điệp, bài học triết lý về conngười và cuộc sống

Trang 14

Nói xong cụ già quay lại rồi đi khuất ngay.

Sau đó mấy năm, cụ già hỏi hai đứa trẻ về tình trạng bảo quản hạt giống Đứa trẻ thứ nhất mang ra một chiếc hộp được quấn bằng dây lụa nói:

- Cháu đặt hạt giống trong chiếc hộp, suốt ngày giữ nó.

Nói rồi nó lấy hạt giống ra cho cụ già xem, thấy rõ hạt giống nguyên vẹn như trước Đứa trẻ thứ hai mặt mũi xám nắng, hai bàn tay nổi chai Nó chỉ ra cánh đồng mênh mông lúa vàng phấn khởi nói:

- Cháu đem hạt giống xuống đất mỗi ngày lo tưới nước chăm sóc bón phân diệt cỏ ….tới nay nó đã kết hạt mới đầy đồng.

Cụ già nghe xong mừng rỡ nói :

- Các cháu, ước vọng cũng như hạt giống đó Chỉ biết khư khư giữ lấy nó thì chẳng có thể lớn lên được Chỉ khi dùng mồ hôi, sức lực, tưới tắm vun trồng cho nó thì mới có thể biến thành hoa trái, mùa màng bội thu thôi!

(Theo Quà tặng cuộc sống / truyện 186.com)

Văn bản 2:

Trang 15

Có một cây hoa giấy và một cây táo cùng sống trong một khu vườn Mùa xuân đến, cây hoa giấy đâm chồi nảy lộc Mưa phùn làm cho cây lá xanh mướt, tốt tươi Hàng trăm bông hoa giấy thắm đỏ nở đồng loạt, trông như môt tấm thảm đỏ rực Còn cây táo vẫn đứng lặng lẽ một góc vườn, thân cành trơ trọi nứt

nẻ Cây hoa giấy nói:

- Táo ơi! Cậu đã làm xấu khu vườn này Cậu nên đi khỏi khu vườn để lấy chỗ cho tớ trổ hoa.

Cây táo nép mình im lặng Ít lâu sau cây táo mới mọc lá Những chiếc lá tròn tròn, bóng láng Rồi cây táo trổ hoa, mùi thơm thoảng nhẹ trong gió Chẳng bao lâu cây kết những quả táo nhỏ màu xanh Đến mùa thu, những quả táo đã

to và chín vàng Một hôm hai ông cháu chủ vườn ra thăm cây Ông với tay hái cho cháu mấy quả táo Cô bé ăn và luôn miệng khen táo thơm ngon Thấy hai ông cháu không để ý đến mình cây hoa giấy buồn lắm Cây táo nghiêng tán lá xanh thầm thì an ủi bạn:

- Bạn đừng buồn! Hai chúng ta mỗi người một việc Tôi dâng trái ngon cho mọi người còn bạn thì cho sắc hoa và bóng mát.

Giờ thì cây hoa giấy đã hiểu ra nhiều điều Nó không còn nghĩ chỉ có mình mới đáng yêu như trước nữa Nó yêu mảnh vườn này, yêu cả cái dáng trơ trụi của cây táo sau mùa cho quả.

(Theo Internet - Những giá trị tinh thần)

Văn bản ngoài chương trình thuộc nhóm văn bản tự sự còn gồm có nhữngđoạn trích / tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết có liên quan đến đoạn trích / tácphẩm trong chương trình

Ví dụ: Tìm hiểu truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, học sinh cần biết thêm về tác phẩm Lang Rận, Một bữa no, Đám cưới của Nam Cao, tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, tìm hiểu truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao, học sinh cần biết thêm về truyện ngắn

Trang 16

Giăng Sáng, Sống mòn của Nam Cao, tìm hiểu đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, học sinh chuyên văn cần đọc tiểu thuyết Số đỏ để có cái nhìn tổng

quan và sâu sắc hơn, lí giải được những chi tiết trào phúng trong tác phẩm Học

Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân, học sinh chuyên văn cần đọc hiểu thêm Tờ hoa, học các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, học sinh cần đọc hiểu thêm một số truyện ngắn, tiểu thuyết khác của ông như Bức tranh, Người đàn

bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Phiên chợ Giát

Tủi thân khói bếp ngày xưa

Mẹ nhen cho tối giao thừa bớt suông Tiếng reo củi ướt đỡ buồn

Bánh chưng mỏng quá ngồi thương bánh dầy

Đầu làng nghê đất ngây ngây Tuổi thơ pháo tẹt pháo dây tẹt đùng

Rạ rơm vây ấm một vùng Bọc con vào giữa tận cùng hồn quê Nén hương cắm gốc bồ đề

Mẹ xin bóng mát toả về cái no

Trang 17

Lêu têu chân đất quạt mo thằng bờm

Tết nghèo bánh lá thay cơm Đồng xu mừng tuổi còn thơm mùi bùn Con nằm thương khó run run

Muốn đem khoe cả mưa phùn mẹ ơi!

Con lem lấm của một thời

Để khi khôn lớn nên người lại xa Mỗi lần nhìn khói bay qua

Mắt rưng rưng nhớ quê nhà lại cay!

(Trương Nam Hương)

Từ cảm nhận về bài thơ trên, anh / chị hãy viết một bài văn nghị luận vềchủ đề: Tết xưa và Tết nay

Đề 2:

Làm người

“Ngồi thì cođứng thì thẳnglàm người thật khó”

(Lời người Dáy)

để trở thành một người biết sinh

có người đẹp ngoài mà xấu trong

có người xấu ngoài mà đẹp trong

Trang 18

(Lò Ngân Sủn – Người trên đá, NXB Văn hóa- dân tộc, 2000, tr.6)

Suy nghĩ của anh (chị)?

Văn bản ngoài chương trình thuộc thể loại trữ tình mà học sinh chuyênvăn cần đọc hiểu còn là những đoạn trích / tác phẩm thơ ca có liên quan đếnnhững đoạn trích / tác phẩm thơ ca trong chương trình, giúp học sinh hiểu sâu,nắm chắc văn bản được học, đồng thời có tư liệu để mở rộng, liên hệ, so sánhtrong bài văn nghị luận văn học

Ví dụ:

Để hiểu sâu về đoạn trích Trao duyên trong Truyện Kiều, học sinh cần đọc hiểu thêm đoạn trích Thề nguyền, đoạn thơ thể hiện suy nghĩ, tâm trạng của Thúy Kiều trước khi trao duyên, để hiểu được bài thơ Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi học sinh cần đọc thêm một số bài trong Quốc âm thi tập như Ngôn chí bài 10, Thuật hứng bài 19, Thuật hứng bài 24, Thuật hứng bài 5 Để hiểu bài thơ Vội vàng nói riêng và thơ Xuân Diệu nói chung, học sinh cần tìm đọc những bài thơ khác như: “Giục giã”, “Phải nói”, “Xa cách”…, để hiểu về thơ

siêu thực, hiểu rõ hơn bài Đàn ghita của Lorca, học sinh cần đọc hiểu thêm một

số bài thơ của Lorca như Ghi nhớ; Ghita khóc; Mộng du; Trăng, trăng…

f Văn bản kịch

Trang 19

Trong chương trình Ngữ văn THPT, số lượng văn bản kịch mà học sinhđược học không nhiều Tuy nhiên, với học sinh chuyên văn, việc mở rộng đọchiểu văn bản kịch vẫn là cần thiết giúp các em mở rộng phông kiến thức và cóthể áp dụng vào bài làm văn nghị luận văn học khi cần thiết Một số văn bản

kịch học sinh nên tìm đọc như: đọc toàn văn văn bản kịch Vũ Như Tô, Romeo

và Juliet, Hồn Trương Ba da hàng thịt Ngoài ra, học sinh có thể đọc thêm một

số văn bản kịch khác như: Lời thề thứ 9, Bệnh sĩ, Nàng Sita (Lưu Quang Vũ), Cột đồng Mã Viện (Nguyễn Huy Tưởng)…

Số lượng văn bản ngoài chương trình là vô hạn, vô biên Việc phân loại

sẽ giúp học sinh đọc có định hướng, thuận lợi cho việc tìm kiếm và đọc hiểuvăn bản Tuy nhiên, phân loại văn bản ngoài chương trình là chưa đủ, việc tìmkiếm văn bản để đọc mở rộng kiến thức vẫn cần thêm những định hướng cụ thểkhác từ giáo viên Điều này sẽ được làm rõ ở mục 2.2.2

1.2 Sự cần thiết của việc rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình cho học sinh chuyên văn

Đối với học sinh THCS, vì yếu tố độ tuổi nên việc tiếp cận và đọc hiểuvăn bản ngoài chương trình chưa được chú ý nhiều Bởi vậy, bước vào lớp 10,ngay cả học sinh chuyên Văn cũng khá bỡ ngỡ với những văn bản không cótrong sách giáo khoa, không có gợi ý, hướng dẫn ở phần Hướng dẫn đọc bàicũng không có hoặc ít có trong những cuốn văn mẫu

Trong khi đó, năng lực đọc hiểu văn bản là năng lực cần thiết để học sinh

có thể vượt qua các kì thi quan trọng trong chương trình THPT Từ năm học

2013 – 2014, các đề thi cấp quốc gia (tốt nghiệp, đại học) đều có một phần bàitập kiểm tra đánh giá năng lực này Xu hướng kiểm tra đánh giá mới là thay vìkiểm tra đánh giá sự ghi nhớ những kiến thức của học sinh (kiến thức do giáoviên đọc hộ, hiểu hộ, cảm hộ), thì các đề thi kể từ năm học 2013 – 2014 chuyểnsang kiểm tra năng lực đọc hiểu của học sinh, năng lực tự mình cảm thụ, tìmhiểu, khám phá văn bản Phần kiểm tra đánh giá này chiếm 30% tổng số điểm

Trang 20

trong đề thi THPT quốc gia với 1 văn bản và 4 câu hỏi nên học sinh phải có sựchuẩn bị tốt về kiến thức và kĩ năng để có thể đạt điểm cao.

Không chỉ đề thi THPT quốc gia mà đề thi học sinh giỏi các cấp cũng đòihỏi cao về kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình, gồm cả câu nghị luận

xã hội và nghị luận văn học Bởi vậy, việc rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoàichương trình cho học sinh chuyên Văn là cần thiết Cụ thể, việc rèn luyện này sẽgiúp học sinh thực hiện tốt những vấn đề sau:

1.2.1 Giúp học sinh xác định đúng và trúng vấn đề cần nghị luận

Trong cấu trúc của đề thi học sinh giỏi khu vực và quốc gia, câu nghịluận xã hội thường đưa ra vấn đề trong một câu nói ngắn gọn súc tích hoặc mộtcâu chuyện Một số đề thi trong những năm gần đây:

Đề thi học sinh hỏi quốc gia năm học 2016

Câu 1 (8,0 điểm)

Suy nghĩ của anh/chị về ý kiến của Oliver Wendell Holmes: “Điều quan trọng không phải là chúng ta có được vị trí nào trong cuộc đời, mà là đích đến cuối cùng của chúng ta ở đâu”.

Câu 2 (12,0 điểm)

Marcel Proust quan niệm: “Thế giới được tạo lập không phải một lần,

mà mỗi lần người nghệ sĩ độc đáo xuất hiện thì lại một lần thế giới được tạo lập” Tô Hoài cho rằng: “Mỗi trang văn đều soi bóng thời đại mà nó ra đời”.

Bằng trải nghiệm văn học của bản thân, anh/chị hãy bình luận nhữngnhận định trên

Đề thi học sinh giỏi quốc gia năm 2017

Câu 1 Nghị luận xã hội (8 điểm)

Trang 21

người hoàn toàn tin cậy để trông nom Cất công đi khắp nơi, cuối cùng, quan quân tìm được bác nông dân Masaro người được coi là thật như đếm Vua truyền cứ cuối tuần, bác phải vào cung bẩm báo trung thực về đàn gia súc Mọi việc đều diễn ra tốt đẹp Sự trung thực của Masaro làm nhà vua rất hài lòng và cũng khiến ngài nhận ra tư cách thấp kém của nhiều cận thần Do đố kị, quan

tể tướng đã dèm pha rằng, trên đời làm gì có người thật thà như thế, và xúc xiểm: lần tới Masaro sẽ nói dối vua Do tin tưởng Masaro, nhà vua đặt cược: nếu Masaro nói dối, sẽ bị chém đầu Còn tể tướng cũng cược cả mạng sống của mình, nếu Masaro vẫn nói thật.

Để giúp chồng thắng cược, vợ tể tướng đã cải trang thành một phụ nữ sang trọng, quyến rũ, tìm gặp Masaro ngỏ ý sẵn sàng đổi tất cả trang sức, vàng ngọc cùng nụ hôn để lấy một con cừu, đồng thời bày cho Masaro cách nói dối vua sao cho trót lọt Nhưng Masaro đã kiên quyết từ chối Thất bại, bà ta bèn sắm vai một người mẹ đau khổ đang cần sữa bò để cứu đứa con trai duy nhất khỏi trọng bệnh Lần này Masaro đã mủi lòng, mà tự ý cho đi con bò yêu quý của vua Đem được con bò về cung, vợ chồng tể tướng yên chí mình thắng cược.

Biết đã phạm trọng tội, Masaro tìm cách nói dối Nghĩ được cách nào, bác đều tập theo cho nhập vai Cuối cùng bác đã chọn được cách ưng ý nhất Khi vào chầu, trước mặt đức vua và quần thần, Masaro đã kể ra hết sự thật Bác nói rõ ràng con bò ấy cần cho người đàn bà khổ hạnh hơn là cần cho nhà vua, và sẵn sàng chịu tội Nghe xong, nhà vua khen ngợi Masaro là người không sợ quyền uy và muốn trọng thưởng cho bác Thật bất ngờ, phần thưởng

mà Masaro xin nhà vua lại chính là tha chết cho kẻ thua cược Hơn thế, bác còn cám ơn ông ta vì nhờ có tình thế này, bác mới biết chắc chắn mình là Masaro Thật - Như - Đếm.

(Phỏng theo Masaro Thật – Như – Đếm, truyện cổ tích Italia,

bản dịch của Nguyễn Chí Được, Báo văn nghệ, số 50/10-12-2016)

Trang 22

Bài học cuộc sống mà anh chị tâm đắc nhất từ câu chuyện trên?

Câu 2: Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Mỗi nhà văn chân chính bước lên văn đàn, về thực chất, là sự cất tiếng bằng nghệ thuật của một giá trị nhân văn nào đó được chưng cất từ những trải nghiệm sâu sắc trong trường đời.

Bằng những hiểu biết về văn học, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên

Với những đề văn như trên, học sinh cần nhuần nhuyễn kĩ năng đọc hiểuvăn bản, có sự nhanh nhạy nhất định với những văn bản ngoài chương trình mới

có thể hiểu đúng và trúng vấn đề nghị luận được đặt ra trong một câu nói haymột câu chuyện

1.2.2 Giúp học sinh mở rộng phông kiến thức

Điều này thật sự cần thiết đối với bài văn nghị luận văn học của học sinhgiỏi Văn Để làm sáng tỏ vấn đề được đặt ra, một học sinh giỏi văn không chỉbiết vận dụng chính xác, hợp lý những kiến thức về văn bản văn học trongchương trình mà còn phải liên hệ, mở rộng tới những văn bản ngoài chươngtrình tại những vị trí phù hợp Có như vậy, bài văn mới được mở cả độ rộng lẫnchiều sâu, giúp vấn đề bàn luận được sáng rõ Đây cũng là một yếu tố quantrọng thể hiện người viết có phông kiến thức rộng, ham đọc, ham tìm tòi, ghiđiểm sáng tạo đối với giám khảo Để làm được điều này thì kĩ năng đọc hiểuvăn bản ngoài chương trình là vô cùng cần thiết Các em cần hiểu đúng và nắmchắc nội dung, ý nghĩa của văn bản ngoài chương trình dự định sẽ đưa vào bàivăn thì mới biết nên đặt ở vị trí nào cho phù hợp và thực sự phát huy hiệu quả.Những văn bản ngoài chương trình đó, hầu như học sinh phải tự tìm tòi, mởrộng Vì vậy, việc trang bị và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chươngtrình cho học sinh chuyên văn chính là yêu cầu tối quan trọng

Trang 23

1.2.3 Giúp học sinh hiểu rõ và cảm thụ tốt hơn văn bản trong chương trình

Mỗi nhà văn không dừng lại ở một tác phẩm, mỗi chủ đề lại có nhiều tácphẩm khác nhau cùng thể hiện, bổ sung và soi chiếu sang nhau Nhưng tácphẩm văn học được chọn đưa vào chương trình THPT là những tác phẩm tiêubiểu, được sàng lọc bởi thời gian, phù hợp với tầm tiếp nhận của học sinh Tuynhiên, rất nhiều văn bản trong chương trình chính khóa chỉ là một đoạn trích củatác phẩm Nên, để hiểu sâu sắc nhất về văn bản trong chương trình thì việc đọchiểu những phần văn bản còn lại của tác phẩm chính là một chiếc chìa khóa hữu

dụng Kiệt tác Truyện Kiều hay hai khúc ngâm giá trị trong nền văn học trung

đại Việt Nam là những tác phẩm có dung lượng câu chữ lớn Trích đoạn trongsách giáo khoa là tiêu biểu, nhưng để hiểu rõ nội dung ý nghĩa của đoạn trích đócũng như của tác phẩm, học sinh cần phải hiểu được nội dung của những phầnvăn bản không được trích giảng Để hiểu được tại sao Thúy Kiều lại phải traoduyên cho em gái là Thúy Vân hay tâm trạng giằng xé của Kiều khi trao duyên,học sinh cần đoc hiểu các đoạn văn bản trước đó như: Kim Trọng dạo chơivườn Thúy; cảnh thề nguyền đính ước; cảnh sai nha đánh đập cha con Vương

ông, Vương quan và vơ vét nhà Kiều đến “sạch sành sanh”…

Ngay cả với những tác phẩm ngắn được trích giảng trọn vẹn trong

chương trình như Thuật hoài (Phạm Ngũ Lão), Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) hay Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), để hiểu rõ tác phẩm, học sinh cần đọc thêm những tác phẩm khác cùng chủ đề hoặc có liên quan Để hiểu sâu về Thuật hoài,

một học sinh chuyên văn cần biết đến những tác phẩm cũng nói chí, tỏ lòng như

Ngôn hoài (Không Lộ Thiền Sư), cũng nói về chí làm trai như Chí làm trai (Nguyễn Công Trứ), cũng thể hiện hào khí Đông A như Phò giá về kinh (Trần Quang Khải), cũng thể hiện một nỗi thẹn lớn như Thu vịnh (Nguyễn Khuyến)…

Do thời gian trên lớp có hạn, giáo viên không thể cung cấp, giảng dạy tất

cả những tác phẩm ngoài chương trình kia Bởi vậy, thầy cô cần trang bị chohọc sinh kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình để học sinh tự tìm hiểu,

Trang 24

có cái nhìn soi chiếu, mở rộng để hiểu sâu sắc nội dung của tác phẩm trongchương trình.

1.2.4 Gián tiếp rèn kĩ năng diễn đạt cho học sinh

Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy lối hành văn, diễn đạt của họcsinh chuyên văn còn khá vụng về, vốn từ nghèo nàn khiến các em thường xuyên

bị bí từ, viết lủng củng, viết mà người đọc khó hiểu Có rất nhiều cách để rèn kĩnăng dùng từ, diễn đạt cho học sinh nhưng một trong những cách thức rất tốt làkhuyến khích đọc và rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình cho họcsinh Những văn bản ngoài chương trình sẽ giúp học sinh được mở rộng vốn từ,học hỏi cách dùng từ, đặt câu, diễn đạt mới mẻ, hấp dẫn mà vẫn mạch lạc, rõràng Đây là những yếu tố quan trọng để làm nên môt bài văn hay, giàu sứcthuyết phục

Có thể khẳng định, đối với học sinh chuyên văn, việc tiếp cận, đọc hiểuvăn bản ngoài chương trình là thực sự cần thiết Sự mở rộng kiến thức ra nhữngvăn bản ngoài chương trình sẽ giúp các em không bỡ ngỡ, lúng túng khi gặp đềthi, có tầm nhìn khái quát khi nhìn nhận một vấn đề xã hội hay vấn đề văn học,

có thể vận dụng so sánh liên tưởng để bài nghị luận của mình trở nên sâu sắc vàthuyết phục hơn Đọc hiểu văn bản ngoài chương trình cũng giúp các em tư duyvấn đề tốt hơn, diễn đạt rõ ràng và hấp dẫn điều mình nghĩ khiến bài văn thu hútngười đọc

Trang 25

CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NGOÀI CHƯƠNG TRÌNH CHO HỌC SINH CHUYÊN VĂN

2.1 Một số nguyên tắc khi đọc hiểu văn bản

2.1.1 Đối với văn bản nói chung

Văn bản ngoài chương trình trước hết là một văn bản Bởi vậy, đọc hiểu vănbản ngoài chương trình cần chú ý một số nguyên tắc như sau:

a Xác định loại văn bản

Đều là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, sử dụng ngôn từlàm chất liệu nhưng mỗi loại văn bản khác nhau sẽ có cách thể hiện nội dungkhác nhau Bởi vậy, bước đầu tiên của đọc hiểu văn bản là phải xác định đúngloại văn bản Ở bước này, học sinh cần nắm chắc các đặc điểm của văn bảnphân chia theo phương thức biểu đạt (văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyếtminh, hành chính, nghị luận), theo phong cách chức năng ngôn ngữ (văn bảnsinh họat, báo chí, khoa học, hành chính, chính luận, nghệ thuật) để xác định

Ví dụ 1:

“Mẹ ta không có yếm đào

nón mê thay nón quai thao đội đầu

rối ren tay bí tay bầu

váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò sung chát đào chua

câu ca mẹ hát gió đưa về trời

ta đi trọn kiếp con người

cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”

(Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa - Nguyễn Duy)

Trang 26

Đoạn văn bản trên thuộc loại văn bản nghệ thuật

Ví dụ 2:

“Một màn leo trèo rào sắt "như trong phim" vừa diễn ra ở Công viên nước

Hồ Tây sáng nay 19-4-2015 Nguyên do cũng là bởi, để giành cho được một suất miễn phí vào cổng Công viên nước.

Cả nghìn người đã đổ về Công viên nước Hồ Tây để nhận vé vào cửa miễn phí nhân kỷ niệm 15 năm công viên này ra đời Thời gian khuyến mại có hạn, chỉ từ 8-10h sáng Khách đến đông đột xuất, quá tải, công viên bèn đóng cửa Thế là bất chấp những nguy hiểm từ hàng rào sắt nhọn hoắt, những đứa trẻ mới chỉ lên 5 lên 3 được bố mẹ bế bồng, nâng đẩy cố sức trèo vào Những

cô gái mới chỉ đôi mươi xúng xính váy áo cũng trèo, mặc cho ở dưới trăm nghìn con mắt của nam phụ lão ấu nhìn hất lên Nhiều cô khi trèo qua được hàng cọc sắt nhọn, đã bị rách tan cả váy lẫn quần Ấy thế mà vẫn cứ kiên quyết trèo Màn trèo leo còn được tham dự bởi các cô gái trong trang phục bikini Mỗi bước nhấn lên của các cô gái, đám đông ở dưới hò hét cổ vũ, tiếng hò hét hệt như liều doping về tinh thần, tạo động lực cho các “vận động viên” gắng sức nhiệt tình đua tranh cho bằng được

Thật không thể tin nổi, màn vượt rào bất chấp nguy hiểm, đánh cược cả

sự kín đáo, duyên dáng nữ tính kia chỉ là để giành cho được một suất tắm miễn phí ở Công viên nước Thế mới thấy cái sự miễn phí kia (dù chẳng đáng là bao)

nó hấp dẫn con người ta đến độ lú lẫn, mù quáng Một vài người tham gia cuộc vượt rào đầy tai tiếng này bảo, đã đến đây (Công viên nước) thì kiểu gì cũng phải vào, cho bõ cái công đi lại Ngẫm ra, có khi cái tâm lý đám đông quyết được-thua chính là nguyên nhân, chứ cũng chẳng phải lỗi do giáo dục hay xuống cấp về văn hóa, mà những thí dụ nhãn tiền về sự “ăn thua đủ” này vốn xưa nay có đầy Liệt kê ra khéo cả ngày cũng không hết”

Trang 27

(Trích Ở đâu có miễn phí, ở đó có tranh cướp? - https://anninhthudo.vn

ngày 19-044-2015)Đoạn văn bản trên thuộc loại văn bản báo chí

b Đọc hiểu nội dung, hình thức của văn bản

- Đọc hiểu nội dung

Văn bản có tính thống nhất về nội dung, mỗi văn bản lại hướng đến thể hiệnmột nội dung nhất định Bởi vậy, bước tiếp theo của đọc hiểu văn bản là họcsinh cần xác định đúng, trúng và toàn diện nội dung của văn bản Để làm đượcđiều này, học sinh cần căn cứ vào các yếu tố trên bề mặt ngôn từ như: nhan đềvăn bản, nguồn trích dẫn văn bản (nếu là một đoạn trích), những từ ngữ quantrọng, được lặp lại nhiều lần trong văn bản, mối quan hệ giữa các vế câu, giữacác câu, các đoạn văn trong văn bản

Lưu ý: khi đọc hiểu nội dung, ý nghĩa của văn bản, người đọc cần phải đặtvăn bản đó trong mối quan hệ tương tác với chính nó và với các yếu tố bênngoài như hoàn cảnh ra đời, thời đại, bối cảnh văn hóa, những tác phẩm cùng đềtài, chủ đề để hiểu được các tầng ý nghĩa của văn bản

Ví dụ: Lời Kim Trọng nói với Thúy Kiều trong cảnh đoàn viên

“Như nàng lấy hiếu làm trinh Bụi nào cho đục được mình ấy vay”

Hai câu thơ thể hiện cái nhìn đầy trân trọng, yêu thương của Kim Trọng đốivới Thúy Kiều, trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, nhân phẩm nàng Kiều, cho dù nàng

đã trải qua “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”.

Đặt trong bối cảnh xã hội, văn hóa của thế kỉ XVIII, khi mà quan niệm Nho

giáo về chữ “trinh” của người phụ nữ vô cùng khắt khe, nặng nề, ta thấy được

cái nhìn nhân văn, tư tưởng nhân đạo mới mẻ của Nguyễn Du: bước qua hàng

Trang 28

rào lễ giáo phong kiến để nhận ra và trân trọng vẻ đẹp tâm hồn, nhân phẩm conngười ngay cả khi họ bị đày ải vào chốn bùn nhơ.

- Đọc hiểu hình thức của văn bản

Một văn bản luôn có sự thống nhất về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức.Bởi vậy, song song với đọc hiểu nội dung, học sinh cần phải đọc hiểu hình thứcthể hiện của văn bản đó Học sinh cần phân tích được các đặc điểm về bố cụcvăn bản, các phương tiện liên kết câu, đoạn trong văn bản, cách dùng từ trongvăn bản, các biện pháp tu từ (nếu có) Những đặc điểm về hình thức cũng là căn

cứ để học sinh xác định trúng và toàn diện nội dung ý nghĩa của văn bản

2.1.2 Đối với văn bản văn học

Với văn bản văn học, phương pháp đọc hiểu ngoài những nguyên tắc chungnhư trên lại có những lưu ý riêng Để đọc hiểu một văn bản văn học, học sinhcần trải qua các bước sau:

- Đọc hiểu ngôn từ

Ngôn từ là chất liệu tạo nên tác phẩm văn học Vì vậy, học sinh cần đọcthông suốt toàn văn bản, hiểu được các từ khó, lạ, các điển cố, phép tu từ… Đốivới thơ, học sinh cần đọc thuộc để ấn tượng về âm hưởng, hình ảnh thơ sẽ ănsâu vào tâm trí Với văn xuôi, người học cần nắm được cốt truyện và các chi tiết

từ mở đầu đến kết thúc

Đọc - hiểu văn bản ngôn từ là tiền đề cho đọc kĩ và đọc sâu Đọc kĩ là tìm

ra mạch ý và đọc sâu là phát hiện vấn đề Mạch ý là sự liên kết từ câu này sangcâu khác, từ đoạn này sang đoạn khác Hiểu được mạch văn mới hiểu đượcđúng ý tứ của văn bản Phải đọc kĩ mới phát hiện điểm đặc sắc, khác thường,thú vị

Ví dụ:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Trang 29

Trong 2 câu thơ mà có 4 từ xuân đươc lặp lại trong cấu trúc điệp: xuân… nghĩa là….xuân… Đặt trong văn cảnh thì “xuân” không chỉ là mùa xuân mà

còn là tuổi xuân, là thời gian Thời gian đương tới và cũng là đương đi qua,xuân còn non đấy mà nhìn thấy sẽ già Các từ ngữ kết nối gợi cho người đọccảm nhận về bước đi vô hình mà khắc nghiệt của thời gian Thời gian tựa nhưmột đoàn tàu tốc hành từ tương lai đến nhưng cũng đang vội vã đi vào quá khứ.Câu thơ thoáng chút băn khoăn, lo sợ trước sự chảy trôi của thời gian, sợ mùaxuân, tuổi xuân trôi đi mất Phải đọc kĩ từng từ ngữ trong mối liên quan kết nối,người đọc mới có thể phát hiện ra mạch ý của lời thơ, thấy được sự khácthường, thú vị trong câu thơ của tác giả

- Đọc - hiểu hình tượng nghệ thuật

Hình tượng trong văn bản văn học ẩn chứa nhiều tầng lớp ý nghĩa Vì vậy,khi đọc hiểu hình tượng nghệ thuật, người đọc phải tưởng tượng, “cụ thể hóa”các tình cảnh để hiểu được những điều mà ngôn từ chỉ có thể biểu đạt khái quát

Ví dụ, trong đoạn trích Trao duyên, Thúy Kiều mở lời bằng một câu nói

như đã được cân nhắc bằng cả một đêm suy tư, trăn trở:

“Cậy em em có chịu lời Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”

“Cậy” và “nhờ” là những từ đồng nghĩa Nhưng “nhờ” mang sắc thái bình thường, có thể tuỳ ý nhận lời, không ép buộc Còn “cậy” bao hàm ý nhấn

mạnh, tỏ ý tha thiết với sự việc quan trọng, hơi hạ mình và gửi trọn niềm tin vàongười nghe, dường như nếu ngời nghe không nhận lời thì người kia sẽ rơi vào

đau khổ, bi kịch “Chịu lời” và “nhận lời” cũng có hàm nghĩa tương tự nhau, nhưng “nhận” có ý nghĩa được hỏí ý kiến, được suy tính lựa chọn còn “chịu”

hàm nghĩa bị gán ép, bắt buộc, nhận làm một việc mà mình không tự nguyện

hoặc rất khó từ chối Chữ “cậy” ứng với chữ “chịu lời” đã được Nguyễn Du cân

nhắc rất kĩ, khiến câu mở lời của Kiều vừa là một lời ướm hỏi nhưng thực chất làcầu xin, nài ép em phải nghe mình, phải nhận điều mà mình sắp nhờ cậy

Trang 30

Kiều mở lời nhờ em mà kèm theo hành động “lạy, thưa”, khiến vị thế chị

em bị đảo lộn Kiều đặt Vân trang trọng lên trên mình, trở thành ngời ban ơncòn mình là kẻ chịu ơn Kiều đã tạo cho cuộc nói chuyện một không khí trangtrọng, thiêng liêng khiến câu chuyện sắp nói trở thành vấn đề hệ trọng Thái độcủa Kiều là sự gửi gắm, nhờ cậy, tin tưởng tuyệt đối, nhún mình đề cao Vân

Như vậy, người đọc phải tưởng tượng, hình dung một tình cảnh cụ thể, phải

có năng lực “cụ thể hóa” để có thể cảm nhận hết nội dung, ý nghĩa của lời thơ

Đọc hiểu hình tượng nghệ thuật còn đòi hỏi người đọc phải biết phát hiệncác mâu thuẫn tiềm ẩn và các chi tiết độc đáo để tìm ra cái lý của văn bản Phảikhám phá logic bên trong hình tượng nghệ thuật thì người đọc mới thực sự hiểu ýnghĩa bề sâu của các hiện tượng văn học bề ngoài có vẻ như mâu thuẫn Đọc

đoạn trích Uy-lit-xơ trở về, học sinh cần lí giải được tại sao Penelop – một người

vợ đã thủy chung chờ chồng suốt hơn hai mươi năm mà khi chồng trở về lại lạnhnhạt và chưa muốn đón nhận ngay Đó là bởi nàng là một người phụ nữ thậntrọng và sự thận trọng đó càng là minh chứng rõ rệt cho sự thủy chung của mộtngười vợ

- Đọc - hiểu tư tưởng, tình cảm của tác giả trong văn bản văn học

Tư tưởng, tình cảm của tác giả cũng là của văn bản, thường được hiểu làtoát ra từ hình tượng Đó là vì tư tưởng, tình cảm đã thấm sâu vào trong vănbản, thể hiện ở trong lời, ngoài lời, giữa câu chữ Điều này đòi hỏi học sinh phảiphán đoán từ mối quan hệ của các nhân vật, ở thái độ và cách miêu tả Nắm bắtđược tư tưởng, tình cảm của tác giả là một biểu hiện của đọc sáng tạo, bởi vì các

tư tưởng ấy nói chung không hề được cung cấp sẵn trong văn bản

- Đọc - hiểu và thưởng thức văn học

Đó là khi người đọc đã đọc - hiểu, đã phát hiện một điều gì mới, gópphần khẳng định tư tưởng, tình cảm của bản thân mình Đó là khi người đọc

Trang 31

nội dung và hình thức, làm chủ được nội dung và hình thức của văn bản, biếnvăn bản của tác giả thành văn bản của chính mình Đạt đến độ đọc thưởng thức

là người đọc đạt đến niềm khoái cảm thẩm mĩ của việc đọc

Thưởng thức văn học là trạng thái tinh thần vừa bừng sáng với sự pháthiện chân lý đời sống trong tác phẩm, vừa rung động với sự biểu hiện tài nghệcủa tác giả, vừa hưởng thụ ấn tượng sâu đậm đối với các chi tiết đặc sắc của tácphẩm Đó là đỉnh cao của đọc hiểu văn bản văn học, mang lại cho người đọc

cảm giác sung sướng, hạnh phúc Mượn lời nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa, nhà văn Nam Cao đã khẳng định: “Tôi cho rằng: những khi được đọc một đoạn văn như đoạn này, mà lại hiểu được tất cả cái hay, thì dẫu ăn một món ăn ngon đến đâu cũng không thích bằng Sướng lắm! Sao thiên hạ lại có người tài đến thế? Mình tính: người ta tả cái cảnh một người nhớ quê hương chỉ mất có

ba câu, đúng ba câu! Mình có hiểu không? Ba câu giản dị một cách không ngờ mà hay được đến như thế này ”

2.2 Cách thức rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chương trình

Để học sinh có thể dễ dàng, chủ động kiếm tìm kiến thức, nắm được nộidung, nghệ thuật của một văn bản lạ, ngay từ những buổi học đầu tiên của lớp

10, giáo viên cần hướng dẫn và rèn giũa kĩ năng đọc hiểu văn bản ngoài chươngtrình cho học sinh Học sinh thành thạo kĩ năng này là giáo viên đã bớt được 1/3gánh nặng trong việc chèo lái con đò cập bến tri thức

Lượng văn bản ngoài chương trình có liên quan đến văn nghị luận xã hội

và nghị luận văn học là rất lớn Một người giáo viên dù có nhiều năm kinhnghiệm cũng khó lòng bao quát hết Hơn nữa, nếu giáo viên chỉ là người ra đề

và học sinh thực hiện các bước đọc hiểu thì e rằng chưa phát huy hết năng lựccủa học sinh chuyên văn Bởi vậy, chúng tôi thiết nghĩ cần phải rèn kĩ năng đọchiểu văn bản ngoài chương trình cho học sinh trong mối tương quan đồng thờivới các năng lực khác như năng lực tự học, làm việc hợp tác, phản biện, giải

Trang 32

quyết vấn đề,… Chúng tôi lập kế hoạch và thực hiện rèn kĩ năng đọc hiểu vănbản ngoài chương trình cho học sinh theo những phương pháp như sau:

2.2.1 Khuyến khích học sinh chủ động kiếm tìm văn bản ngoài chương trình

Bể kiến thức là vô biên, một người kiếm tìm không thể bằng công sức của

30 người Bởi vậy, thay vì việc ngay lập tức đưa văn bản, giao bài tập và hướngdẫn học sinh, chúng tôi khuyến khích các em tự tìm văn bản Đó là những câudanh ngôn, châm ngôn, tục ngữ, những câu chuyện nhỏ hoặc bài thơ hàm chứanội dung triết lý sâu xa, những tác phẩm văn học liên quan đến tác phẩm trongchương trình, những đoạn trích khác của những tác phẩm được trích giảng…

Vừa bước ra từ cổng trường cấp 2, các em rất hào hứng nhưng khôngkhỏi bỡ ngỡ trước việc này, nên giáo viên cần gợi dẫn những cách thức để kiếmtìm văn bản chất lượng, những địa chỉ mà các em có thể đến để nghiên cứu.Phương tiện thông dụng nhất mà các em có thể tìm kiếm nhanh chóng làinternet Đồng thời, học sính có thể tìm đến các nhà sách địa phương để tìmmua những cuốn sách hay theo gợi của của giáo viên như: Bộ sách quà tặng

cuộc sống của Dr Bernie S Siegel, bộ sách Tôi tin tôi có thể làm được của tác giả Tôn Vân Hiểu, Chu Nam Chiếu, cuốn Những giá trị sống cho tuổi trẻ của tác giả Diane Tillman…; Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Du, Quốc Âm thi tập,

Ức Trai thi tập… Học sinh cũng có thể tìm kiếm văn bản trong những cuốn

sách văn mẫu, hướng dẫn làm bài văn nghị luận xã hội

Để việc tìm kiếm văn bản của học sinh hiệu quả, giáo viên cần đưa ra cáctiêu chí tìm kiếm và giao nhiệm vụ cụ thể cho học sinh Giáo viên có thể xâydựng bộ tiêu chí tìm kiếm văn bản ngoài chương trình như sau:

-Tiêu chí 1: Tìm kiếm văn bản theo chủ đề

+ Nghị luận xã hội: Học sinh tìm kiếm văn bản (danh ngôn, châm ngôn,

Trang 33

mê, nghị lực sống, mối quan hệ thành công và thất bại, lòng tự trọng, đức hysinh, lòng dũng cảm, tình yêu thương…

+ Nghị luận văn học: Học sinh tìm kiếm văn bản theo chủ đề như: lòngyêu nước trong văn học trung đại Việt Nam, hình tượng người phụ nữ từ vănhọc dân gian đến văn học trung đại Việt Nam, hào khí Đông A trong văn học Lí– Trần, hình tượng người nông dân trong văn học hiện thực phê phán 1930-

1945, cái Tôi trong Thơ mới 1930-1945…

-Tiêu chí 2: Tìm kiếm theo thể loại

Giáo viên cũng có thể định hướng học sinh tìm văn bản theo thể loại Ví dụ,

học bài Một số thể loại văn học: thơ, truyện trong chương trình Ngữ văn 11, tập

1, giáo viên yêu cầu học sinh tìm kiếm những văn bản ngoài chương trình thuộcthể loại thơ, truyện để làm dẫn chứng minh họa cho kiến thức lí luận Đối vớinghị luận xã hội, giáo viên có thể giao nhiệm vụ tìm kiếm văn bản theo thể loại(có kết hợp với tiêu chí chủ đề) như: Hãy tìm những câu tục ngữ, danh ngôn,châm ngôn nói về hạnh phúc

-Tiêu chí 3: Tìm kiếm theo tác giả

Giáo viên lấy những tác giả văn học trong chương trình làm trung tâm để

hướng dẫn học sinh mở rộng tìm kiếm văn bản Ví dụ, học truyện ngắn Chí Phèo, Đời thừa của nhà văn Nam Cao, giáo viên yêu cầu học sinh tìm đọc

những truyện ngắn, tiểu thuyết khác về đề tài người nông dân, người trí thứccủa Nam Cao để mở rộng kiến thức

-Tiêu chí 4: Tìm kiếm theo giai đoạn văn học

Vẫn bám sát chương trình sách giáo khoa, giáo viên có thể giao nhiệm vụtìm kiếm văn bản ngoài chương trình theo giai đoạn văn học Ví dụ, học bài

Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng 8 năm

1945, giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh: Hãy tìm kiếm những văn bản ngoài

Trang 34

chương trình thuộc giai đoạn văn học đầu thế kỉ XX-1945 (gồm các thể loạikhác nhau)

-Tiêu chí 5: Tìm kiếm theo khuynh hướng, trào lưu

Khuynh hướng, trào lưu cũng có thể là một tiêu chí giáo viên đưa ra để địnhhướng học sinh tìm kiếm văn học Ví dụ, giáo viên yêu cầu học sinh tìm nhữngvăn bản ngoài chương trình thuộc khuynh hướng hiện thực phê phán trong vănhọc Việt Nam giai đoạn 1930-1945

Tùy thực tế giảng dạy, giáo viên có thể tư duy những tiêu chí khác nữa đểđịnh hướng và thúc đẩy học sinh tìm kiếm văn bản ngoài chương trình một cáchhiệu quả nhất Một điều đáng lưu ý là song song với việc giao nhiệm vụ cho họcsinh, giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả tìm kiếm Có nhưvậy, hoạt động tìm kiếm này mới thật sự tích cực và hiệu quả

Với những định hướng được gợi dẫn trên này cùng sự khích lệ, tổ chức thiđua, kiểm tra đánh giá từ giáo viên, chắc chắn học sinh sẽ mang về kết quả lànhững câu nói, bài báo, câu chuyện, bài thơ các em tâm đắc nhất trong quá trìnhtìm kiếm Đó là đã bước đầu thành công của việc rèn kĩ năng tiếp cận, đọc hiểumột văn bản ngoài chương trình đối với học sinh chuyên Văn

2.2.2 Hướng dẫn học sinh giải mã văn bản bằng những câu hỏi

Đây chính là khâu quan trọng nhất trong việc rèn kĩ năng đọc hiểu văn bảnngoài chương trình cho học sinh Để học sinh phát huy tối đa năng lực của bảnthân, giáo viên cần tổ chức hoạt động học để học sinh tự tìm ra nội dung ý nghĩavăn bản chứ không phải là cảm nhận nội dung qua lời thuyết trình giảng giải củagiáo viên Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy một phương pháp hiệu quả

là tổ chức seminar để học sinh được thảo luận, tranh biện về một số văn bảnngoài chương trình đã được giáo viên hướng dẫn chọn lọc

Trang 35

Trước khi tiến hành seminar, trong những buổi học trước, giáo viên cầntrang bị và củng cố lại những kiến thức nền tảng cần thiết cho đọc hiểu văn bản.Kiến thức nền tảng bao gồm:

-Kiến thức về Tiếng Việt: Phương thức biểu đạt, các biện pháp tu từ, nghĩatường minh, nghĩa hàm ẩn, các cách trình bày ý trong một đoạn văn, câu chủ đề,trường từ vựng, các phương tiện liên kết… Khi nắm chắc những kiến thức trên,học sinh sẽ khám phá nội dung, ý nghĩa của văn bản mới một cách dễ dàng hơn

- Kiến thức văn học sử: Để có thể tự đọc hiểu văn bản ngoài chương trình lànhững tác phẩm văn học, học sinh cần nắm chắc kiến thức cơ bản về giai đoạnvăn học, khuynh hướng, trào lưu văn học, tác gia văn học…

- Kiến thức về lí luận văn học: Học sinh cần được trang bị kiến thức lí luậnvăn học như đặc trưng thể loại văn học, nhân vật văn học, ngôn từ nghệ thuật,phong cách văn học, phương pháp sáng tác…

Những kiến thức nền tảng đó không phải được cung cấp, củng cố trong ngàymột ngày hai mà đó là một quá trình dài hơi suốt 3 năm THPT để học sinh cóthể dần dần tiếp nhận, hiểu thấu

b Định hướng học sinh tìm ra bộ câu hỏi chìa khòa để giải mã văn bản

Để giúp học sinh tìm ra bộ câu hỏi chìa khóa giải mã văn bản mới, giáo viên

có thể áp dụng phương pháp hoạt động nhóm, để học sinh được mày mò, trăntrở với văn bản, tìm ra nội dung, ý nghĩa của văn bản và rút ra bộ câu hỏi chìakhóa giải mã văn bản

Với mỗi nhóm loại văn bản, giáo viên chọn 1 văn bản tiêu biểu trong sốnhững văn bản học sinh đã tìm kiếm, chia lớp thành 4 nhóm và tiến hành thảoluận về nội dung, ý nghĩa của văn bản Sau đó, giáo viên chốt kiến thức (nộidung, ý nghĩa của văn bản; cách thể hiện nội dung ý nghĩa đó trong văn bản) vàgiúp học sinh tự rút ra phương pháp đọc hiểu một văn bản hoàn toàn mới lạ Giáoviên định hướng cho học sinh tìm ra bộ câu hỏi chía khóa để giải mã văn bản

Trang 36

cùng loại Dựa trên cơ sở thực tế áp dụng, chúng tôi đã định hướng cho học sinh

bộ câu hỏi đọc hiểu văn bản ngoài chương trình theo thể loại văn bản như sau:

b1 Câu nói triết lý: tục ngữ, danh ngôn, châm ngôn

Đặc điểm của dạng văn bản này là ngắn gọn, hàm súc, sử dụng cách nói giàuhình ảnh để truyền tải nội dung Bởi vậy, hệ thống các câu hỏi để giải mã vănbản cần bám sát, xoáy sâu vào từ ngữ, hình ảnh, mối quan hệ giữa các vế câu(nếu có)

- Đâu là từ khóa (từ ngữ, hình ảnh mang sức nặng nội dung) của câu nói?

- Nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của những từ ngữ đó là gì?

- Câu nói gồm có mấy vế? Chỉ ra mối quan hệ giữa các vế câu?

- Từ những căn cứ trên, hãy chỉ ra nội dung ý nghĩa của câu nói?

Ví dụ:

Văn bản 1: “Ta mong với trời cao và biển rộng mà quên rằng hoa từ đất mà ra” (Thụy Thảo, Với tuổi – Báo Hoa Học Trò số 145 (năm 1996).

- Từ khóa: trời cao, biển rộng, hoa từ đất

- Nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của từ khóa

+ trời cao, biển rộng: Không gian rộng lớn bao la, ẩn dụ chỉ những điều

vĩ đại, lớn lao

+ hoa: hiện thân cho cái đẹp, giá trị, ý nghĩa

+ từ đất mà ra: Ý nghĩa, giá trị cuộc sống nằm trong những điều nhỏ bé,

giản dị, đời thường

- Câu nói có 2 vế:

Vế 1: Ta mong với trời cao và biển rộng

Vế 2: quên rằng hoa từ đất mà ra

Quan hệ từ nối 2 vế: mà

Trang 37

- Nội dung ý nghĩa của câu nói: Trong cuộc sống, con nguồi đôi khi vì mảichạy theo những điều vĩ đại, lớn lao mà quên mất những điều nhỏ bé, đờithường, giản dị nhưng lại là nền tảng tạo nên cuộc sống.

Văn bản 2: “Đừng đi theo lối mòn, hãy băng qua những nơi không có dấu chân người để tạo ra những con đường” (R W Emerson).

- Từ khóa: lối mòn, nơi không có dấu chân người, con đường.

- Nghĩa tường minh, nghĩa hàm ẩn của những từ chía khóa:

+ lối mòn: những con đường có sẵn, đã nhiều người đi, ẩn dụ chỉ những

cách nghĩ, cách làm quen thuộc

+ nơi không có dấu chân người: nơi chưa từng có con đường, chưa từng

có người qua lại, ẩn dụ chỉ những cách nghĩ, cách làm chưa hề có, hoàn toànmới mẻ

+ băng qua: dũng cảm, mạnh mẽ vượt qua khó khăn.

+ con đường: đường đi, ẩn dụ chỉ nếp nghĩ, cách thức làm việc được tạo

ra sau một quá trình nghiên cứu, thử nghiệm

- Nội dung ý nghĩa của văn bản: E.W Emerson đề xuất một lối sống tíchcực, chủ động, dấn thân trước mọi hoàn cảnh: con người phải luôn luôn vượtqua những lối tư duy, cách nghĩ quen thuộc, có sẵn để xác lập những giá trị mới

b2 Văn bản báo chí

Với những văn bản thuộc loại văn bản báo chí, học sinh cần nắm được bộcâu hỏi chía khóa để giải mã văn bản như sau:

- What: Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì?

- How: Vấn đề đó được thể hiện như thế nào, qua những chi tiết, từ ngữ nào

trong văn bản?

Câu hỏi này có thể được giải đáp thông qua những căn cứ:

Trang 38

+ Nhan đề là gì?: Nhan đề là một từ hoặc một cụm từ ngắn gọn, thâu tóm

nội dung ý nghĩa của văn bản nên đây là một căn cứ quan trọng để xác định chủ

đề văn bản, nhất là với những văn bản thơ

+ Nguồn trích dẫn văn bản?: Một số văn bản trích dẫn không có nhan

đề Đó có thể là một đoạn trong một bài báo được đăng tải Khi đó, nguồn tríchdẫn văn bản là một căn cứ quan trọng để xác định nội dung của đoạn văn bản

đó Nguồn trích dẫn chính là phần nằm trong dấu ngoặc đơn ở cuối văn bản

+ Đâu là câu chủ đề của văn bản? Nếu là một đoạn văn bản trích trong

một bài báo, thường có câu chủ đề nêu khái quát nội dung văn bản Học sinhcần nắm chắc kiến thức về các cách trình bày ý trong một đoạn văn (diễn dịch,quy nạp, móc xích, song hành, tổng phân hợp…), nhanh nhạy phát hiện câu chủ

đề để từ đó gợi mở ra nội dung văn bản

+ Từ chìa khóa, những từ cùng trường từ vựng, từ ngữ được lặp đi

lặp lại nhiều lần: Đây là những từ ngữ có khả năng nói được nhiều nhất về nội

dung của văn bản nên khi đọc, học sinh cần có ý thức gạch chân dưới những từngữ này, xâu chuỗi chúng lại để tìm ra mạch ý nghĩa của văn bản

-Why: Vấn đề đó đúng hay không đúng, tại sao?

Đây là một câu hỏi then chốt giúp học sinh tìm hiểu văn bản ở một tầng sâuhơn, lí giải về nội dung, ý nghĩa của văn bản Câu hỏi này cũng giúp học sinhtìm ý để có thể làm tốt bài văn nghị luận xã hội

Với bộ câu hỏi chìa khóa này, học sinh sẽ dễ dàng khám phá bất cứ một vănbản ngoài chương trình nào, dù là chưa được thầy cô gợi dẫn

Ví dụ: Văn bản 1: (đã trích dẫn ở mục 1.2.)

- Vấn đề được đề cập trong văn bản: yếu tố cơ bản tạo nên thành công củađội tuyển U23 Việt Nam và những thách thức mà các cầu thủ có thể gặp phải

Trang 39

- Vấn đề đó được thể hiện thông qua các yếu tố:

+ Nhan đề, nguồn trích dẫn: đoạn trích nằm trong bài báo “Đôi chân trên mặt đất” Nhan đề sử dụng cách nói hình ảnh để đề cập tới đối tượng là những

cầu thủ bóng đá, những con người vừa làm nên kì tích bằng đôi chân sút củamình

Nhưng đi kèm với những lợi thế của một lớp trẻ văn minh là những hiểm họa của một thời đại công nghệ: Câu văn nêu một ý lớn thứ 2 của đoạn văn bản:

Những hiểm họa của một thời đại công nghệ có thể là thách thức lớn của cáccầu thủ sau chiến thắng

+ Những từ khóa được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: U23 Việt Nam; rồi các

em sẽ thấy – các em sẽ thấy – rồi những; hãy nhớ Những từ ngữ này được lặp

lại nhiều lần theo phép nghệ thuật điệp ngữ, tạo giọng điệu nhấn mạnh, khẳngđịnh: nhấn mạnh những thử thách các cầu thủ sẽ gặp phải là những lời khuyên

để vượt qua thách thức đó

- Vấn đề được để cập đến trong văn bản là hoàn toàn đúng, thể hiện tầmnhìn sâu sắc của một con người từng trải và am hiểu những vấn đề của thời đạicông nghệ, nhìn thấy mặt tích cực và cả những hạn chế của nó

+ Đội tuyển U23 Việt Nam làm nên kỳ tích bởi có sức mạnh của tuổi trẻcăng đầy khát vọng Nhờ đó mà các cầu thủ có thể vượt qua được mọi khókhăn, thử thách, bất chấp sự khắc nghiệt của thời tiết, sự chênh lệch về thểtrạng, sự khác biệt về thứ hạng…

Trang 40

+ Sau chiến thắng, U23 Việt Nam sẽ còn vô vàn những thử thách, trong

đó có những thách thức đến từ những hiểm họa của thời đại công nghệ Các cầuthủ sẽ được bủa vây trong truyền thông, được tung hô trên các trang mạng, đượcnhiều người theo dõi trên các trang mạng xã hội… Tất cả những điều đó dễkhiến con người ngủ quên trên chiến thắng mà không vượt qua được chiến

thắng để vươn tới mốc cao hơn Thậm chí, những lời đề nghị sẽ đến, từ lịch sự cho đến khiếm nhã, từ thương mại cho đến tì nh áicó thể khiến các cầu thủ sa

ngã nếu không đủ bản lĩnh

+ Để vượt qua thách thức đó, trước khi quyết định điều gì, hãy nhớ về cáigiây phút mà các em chơi bóng lần đầu (trở lại với đam mê, tình yêu nguyên sơvới bóng đá…) Chính tình yêu với bóng đã sẽ giúp các cầu thủ đi xa hơn trong

sự nghiệp và không vướng vào những cạm bẫy của xã hội hiện đại

b3 Văn bản nghiên cứu

* Văn bản nghiên cứu khoa học

Như ở mục 1.1 đã phân loại, văn bản nghiên cứu thuộc đối tượng tìm hiểucủa chuyên đề này được chia thành 2 loại: văn bản nghiên cứu văn học và vănbản nghiên cứu các môn khoa học khác Đối với văn bản nghiên cứu các mônkhoa học khác, học sinh THPT thường được làm quen và cần đọc hiểu thêmnhững văn bản khoa học giáo khoa, khoa học thường thức Chúng tôi nhận thấy,phương pháp đọc hiểu loại văn bản này có nhiều điểm tương đồng giống vớiloại văn bản báo chí Bởi vậy, chúng tôi định hướng học sinh sử dụng bộ câuhỏi như đối với văn bản báo chí đã nêu trên Điểm khác biệt là học sinh cần phảichú ý đến các số liệu được đưa ra trong văn bản Các số liệu đó cũng là căn cứ

để xác định chính xác nội dung của văn bản Dưới đây là một ví dụ về một vănbản khoa học thường thức, về vấn đề bảo vệ môi trường:

Ví dụ:

Ngày đăng: 21/02/2021, 15:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w