1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HSG: ĐẶC ĐIỂM KỊCH, ĐẶC SẮC CỦA VŨ NHƯ TÔ VÀ HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT

21 701 21
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 127,5 KB
File đính kèm ĐẶC ĐIỂM KỊCH.rar (29 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyên đề chuyên sâu về thể loại kịch. Phân tích đánh giá bài bản về thể loại kịch, chỉ ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm kịch tiêu biểu: Vũ Như Tô và Hồn Trương Ba da hàng thịt. Tổng hợp đề văn hay về Vũ Như Tô, Hồn Trương Ba da hàng thịt.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HSG QUỐC GIA

ĐẶC ĐIỂM KỊCH NHỮNG ĐẶC SẮC CỦA VỞ KỊCH “VŨ NHƯ TÔ”

VÀ “HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT”

Trang 2

MỤC LỤC

I.Đặc điểm thể loại kịch 3

1.1 Khái niệm: 3

1.2 Đặc trưng của kịch: 3

1.3 Phân loại kịch 5

II Những điểm đặc sắc của vở kịch “Vũ Như Tô” 6

2.1 Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Huy Tưởng trong tác phẩm “Vũ Như Tô” 6

2.2 Kiểu nhân vật người nghệ sĩ trong “Vũ Như Tô” 8

2.2.1 Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ chân chính 8

2.2.2 Kiểu nhân vật “liên tài” trong “Vũ Như Tô” 13

III Những đặc sắc trong “Hồn Trương Ba da hàng thịt” 17

3.1 Giá trị nhân văn của vở kịch “hồn Trương Ba da hàng thịt” 17

3.2 Triết lý nhân sinh trong vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” 18

3.3 Đặc sắc nghệ thuật của vở kịch “Hồn TB da hàng thịt” 18

3.3.1 Nghệ thuật dựng cảnh: Sự kết hợp giữa yếu tố kì ảo và hiện thực 18

3.3.2 Tạo tình huống và cách dẫn dắt xung đột kịch 19

3.3.3 Ngôn ngữ kịch 20

3.3.4 NT xây dựng nhân vật 21

Trang 3

I.Đặc điểm thể loại kịch

1.1 Khái niệm:

Kịch là loại hình nghệ thuật tổng hợp Có sự tham gia của nhiều yếu tố,nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau: tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên,nhạc công, họa sĩ thiết kế…

Phân biệt kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu (kịch):

- Kịch bản văn học là tác phẩm văn học, có đầy đủ đặc điểm của nghệ thuật ngôn

từ Còn sân khấu thuộc nghệ thuật biểu diễn

- Kịch bản văn học viết ra là để biểu diễn nên cũng đậm chất sân khấu Vì thế khixem xét kịch bản văn học một mặt phải xem nó như 1 tác phẩm nghệ thuật, mặtkhác không thể tách rời nó khỏi nghệ thuật sân khấu mới thấy hết được những đặctrưng của nó

1.2 Đặc trưng của kịch:

- Xung đột kịch:

+ Xung đột: là biểu hiện cao nhất sự phát triển mâu thuẫn giữa các lực lượng, các

cá tính trong vở kịch và tạo nên kịch tính, thúc đẩy sự phát triển hành động kịch,

bộc lộ tính cách nhân vật Pha-đê-ep nhận xét “Xung đột là cơ sở của kịch” Thiếu

xung đột, tác phẩm kịch sẽ mất đi đặc trưng cơ bản đầu tiên của thể loại, sẽ lànhững “vở kịch tồi” Vì vậy người viết kịch phải tạo được những xung đột mang

ý nghĩa xã hội sâu sắc, tính khái quát lớn lao nhưng phải hết sức chân thực, nghĩa

là xung đột mang tính điển hình hoá

+ Xung đột trong kịch tập trung miêu tả xung đột trong đời sống

+ Có 2 loại xung đột: Xung đột bên ngoài (NV này với NV khác, NV với gia đình,dòng họ ), xung đột bên trong (xung đột trong nội tâm NV)

+ Xung đột phát triển đến cao trào à giải quyết (mở nút) à Tư tưởng tác phẩm

Pô-gô-đin–nhà viết kịch Xô Viết nổi tiếng nhận định “Xung đột là điều kiện quan

trọng đầu tiên của tác phẩm, nó mang lại cho tác phẩm kịch sự sống và sự vận động Nhưng xung đột bao giờ cũng phụ thuộc vào một cái cao nhất và cũng là linh hồn của nó, đó là tư tưởng chủ đề của của tác phẩm”

Trang 4

-

Hành động kịch: là sự tổ chức các tình tiết, sự kiện, biến cố trong cốt truyện

theo một trình tự logic, chặt chẽ, chủ yếu theo quy luật nhân quả

Hành động kịch được miêu tả căng thẳng, gấp gáp Hết hành động này đến hànhđộng khác, ngay cả khi thực hiện những hành động suy tư, ngẫm nghĩ cũng diễn

ra rất nhanh

- Nhân vật kịch: Luôn ở trạng thái căng thẳng (xúc động, xao xuyến, chờ đợi, lo

lắng), được xây dựng bằng ngôn ngữ

Mối quan hệ: Xung đột kịch được cụ thể hóa thành hành động kịch Nhân vậtkịch là người thực hiện các hành động kịch

- Ngôn ngữ kịch :

+ Đặc điểm ngôn ngữ kịch

 Khắc họa tính cách: Ngôn ngữ biểu hiện đặc điểm, tính cách, phẩm chất củanhân vât, “cá tính hóa”

VD: Lời thoại của Rô- mê – ô (mạnh mẽ, kiên quyết, dứt khoát trong sự lựa chọn)

 Ngôn ngữ mang tính hành động: thể hiện tranh luận, tấn công, chống đỡ,thuyết phục, cầu khẩn, đe dọa, ra lệnh…

VD: Lời thoại của Đan Thiềm

 Tính khẩu ngữ cao: gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày

VD: “Làm gì mà quàng quạc cái mồm lên thế Ông đánh ựa cơm ra bây giờ”

(Chèo Bài ca giữ nước của Tào Mạt); Cái chi nghe kinh người, Giống vật không biết nhục (Vũ Như Tô)

+ Phân loại ngôn ngữ kịch: Có 3 loại: Đối thoại, độc thoại (nhân vật tự bộc bạchtâm sự của mình, có khi hướng tới 1 ai đó: Ju-li-et nói 1 mình trong đêm khuya),bàng thoại

Ðối thoại là nói với nhau, là lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật Ðây

là dạng ngôn ngữ chủ yếu trong kịch Các lời đối thoại trong kịch phải sắc sảo,sinh động và có tác dung hỗ tương với nhau nhằm thể hiện kịch tính

Ðộc thoại là lời nhân vật tự nói với mình, qua đó bộc lộ những dằn vặt nội tâm và những ý nghĩa thầm kín Ðây là biện pháp quan trọng nhất nhằm

Trang 5

nội tâm, bên cạnh độc thoại, người ta có thể thay thế bằng những phút yên lặng,những tiếng vọng, tiếng đế

Bàng thoại là nói với khán giả Có khi đang đối đáp với một nhân vật

khác, bỗng dưng nhân vật tiến gần đến và hướng về khán giả nói vài câu để phântrần, giải thích một cảnh ngộ, một tâm trạng cần được chia xẽ, một điều bí mật:loại này chiếm tỉ lệ thấp trong ngôn ngữ kịch

=> A.N.axtrop xki nhà sáng lập ra nền kịch ở Nga ở thế kỷ XIX đã coingôn ngữ là điều kiện đầu tiên của tính nghệ thuật Giooc ki trong bài “Bàn về

kịch” đã khẳng định “Ngôn ngữ đối thoại có ý nghĩa to lớn và thậm chí có ý

nghĩa quyết định đối với việc sáng tác kịch” So với các thể loại khác, hệ thống

ngôn ngữ kịch mang tính đặc thù rõ rệt

1.3 Phân loại kịch

- Về nội dung, ý nghĩa của xung đột có thể chia kịch ra làm 3 loại: hài kịch, bikịch, chính kịch

Bi kịch là một thể loại kịch mà xung đột chủ yếu nằm ở giữa "yêu sách tất

yếu về mặt lịch sử và tình trạng không tài nào thực hiện được điều đó trong thực

tế" (Enghel) Bi kịch đưa lên sân khấu những con người lương thiện, dũng cảm, có

những ham muốn mãnh liệt với những cuộc đấu tranh căng thẳng, khốc liệt đốivới cái ác, cái xấu nhưng do điều kiện lịch sử, họ phải chịu thất bai Thất bại của

họ gợi lên ở khán giả "sự xót thương và sự sợ hãi để thanh lọc tình cảm" (Aristote)

hoặc "để ca ngợi, biểu dương ý chí luôn luôn vươn lên của con người trước những sức mạnh mù quáng của các thế lực hắc ám"(Biêlinxki).

Hài kịch là thể loại kịch nói chung được xây dựng trên những xung đột

giữa các thế lực xấu xa tìm cách che đậy mình bằng những lớp sơn hào nhoáng,giả tạo bên ngoài Tính hài kịch tạo ra từ sự mất cân xứng, hài hòa của nhân vật.Trong một số hài kịch, có những nhân vật tích cực thể hiện lí tưởng tiến bộ,nhưng nhìn chung nhân vật hài kịch là những nhân vật tiêu cực có nhiều thói hưtật xấu Tiếng cười trong hài kịch có tác dụng giải thóat cho con người khỏinhững thói xấu, có tác dung trau dồi phong hóa, giáo dục đạo đức và thẩm mĩ

Trang 6

Chính kịch còn gọi là kịch drame, đề cập đến mọi mặt của đời sống con

người, đó là con người toàn vẹn, không bị cắt xén hoặc chỉ tô đậm ở nét bi hoặchài Shakespeare là người đầu tiên đã thể hiện thành công cho loại kịch có sự phatrộn giữa bi và hài này Dần dần chính kịch phát triển mạnh vì thích hợp hơn vớicuộc sống và con người hiện đại

II Những điểm đặc sắc của vở kịch “Vũ Như Tô”

2.1 Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Huy Tưởng trong tác phẩm “Vũ Như Tô”

a Khái quát chung về “cái đẹp”

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, cái đẹp là “phạm trù mĩ học xác định các hiện

tượng theo quan điểm về sự hoàn thiện, xem các hiện tượng đó như là có giá trịthẩm mĩ cao nhất”

Cái đẹp là một phạm trù của mĩ học Tuy nhiên khác với cái đẹp tồn tại kháchquan ngoài cuộc sống, trong văn học nghệ thuật, cái đẹp là một sản phẩm nghệthuật đặc biệt do người nghệ sỹ sáng tạo nên và là một phương diện không thểthiếu được của nghệ thuật

Nhưng tác phẩm nghệ thuật chỉ đẹp, tức là có giá trị nghệ thuật khi nó thể hiệnchân thực đời sống trong mọi biểu hiện thẩm mĩ của nó thông qua lăng kính lýtưởng nhân đạo, thể hiện sự phong phú về tinh thần của con người, dưới một hìnhthức hoàn thiện bậc thầy Cái đẹp đi vào mọi lĩnh vực của đời sống làm cho cái

ác, cái xấu bị đẩy lùi xa hơn Trong tác phẩm nghệ thuật, cái đẹp không chỉ thỏamãn nhu cầu thẩm mĩ của người đọc, bồi dưỡng năng lực thẩm mĩ cho người đọc

mà còn nâng đỡ tâm hồn người đọc, hướng người đọc đến Chân - thiện - mĩ, đúngnhư Đô-xtôi-ep-xki nói: “Cái đẹp cứu rỗi nhân loại” Cái đẹp còn phản ánh quanniệm mĩ học của nhà văn, xu hướng, tình cảm thẩm mĩ của xã hội ở thời điểm đó

Vì vậy, hiểu được cái đẹp trong tác phẩm nghệ thuật, sẽ hiểu được cội nguồn cácphương thức nghệ thuật được nhà văn sử dụng để xây dựng hình tượng nghệ thuật

và cách nhìn, sự đánh giá của nhà văn đối với cuộc đời, con người trong tácphẩm

Trang 7

b Quan niệm về “cái đẹp” trong « Vũ Như Tô »: cái đẹp siêu phàm, cái đẹp

là là một bông hoa ác đẫm máu khi xa rời hiện thực, đi ngược lại với lợi ích thiết thực của nhân dân

*Cái đẹp của nghệ thuật phải là cái đẹp siêu phàm

Với quan niệm này, nhà văn đã xây dựng thành công nhân vật Vũ Như Tô, mộtngười nghệ sĩ tài hoa, có niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật Khát vọng của VũNhư Tô là xây dựng một Cửu Trùng Đài hoa lệ, thách những công trình sau trước,tranh tinh xảo với hóa công và để lại niềm vinh dự tự hào cho hậu thế Đó là khátvọng cao đẹp của một người nghệ sĩ chân chính

*Cái đẹp là một bông hoa ác đẫm máu khi xa rời hiện thực, đi ngược lại với lợi ích thiết thực của nhân dân.

- Xây Cửu Trùng Đài là Vũ Như Tô mượn tiền và quyền của Lê Tương Dực đểthực hiện khát khao nghệ thuật cao cả Lê Tương Dực lại là một tên hôn quân bạochúa, chỉ đam mê ăn chơi hưởng lạc trên xương máu nhân dân Cửu Trùng Đàicàng lên cao, càng tốn kém tiền của, công sức của nhân dân Lại thêm đại dịch,hạn hán, mất mùa liên miên khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Vô tình,

Vũ Như Tô trở thành kẻ thù của dân chúng lúc nào mà ông không hay! Biết rằng,

khát vọng của Vũ Như Tô là khát vọng của một người nghệ sĩ chân chính, mongmuốn đem tài năng của mình để tô điểm cho đất nước Nhưng trong hoàn cảnhđất nước lúc bấy giờ, niềm say mê sáng tạo cái đẹp của Vũ Như Tô trở nên phùphiếm Tiếc rằng người nghệ sĩ chân chính ấy vẫn mơ màng, ảo tưởng về nhữngviệc mình đã làm Trích đoạn đã phản ánh chân thực trạng thái mơ màng, ảotưởng của người nghệ sĩ

- Biết có biến, Đan Thiềm, một cung nữ thông minh, tỉnh táo, nhạy cảm với thờicuộc đã khuyên Vũ Như Tô trốn đi, nhưng Vũ Như Tô vẫn không hiểu vì sao lạiphải trốn đi: “Sao trước đây bà bảo tôi ở lại, bây giờ lại bảo tôi trốn đi?” Đến khiquân khởi loạn vào cung đốt phá, Vũ Như Tô vẫn mơ màng Ông không tin việcmình làm lại có thể gây nên tội ác mà cho rằng: việc mình làm là quang minh,chính đại Cho nên đi đến tận cùng của ước mơ, khát vọng, Vũ Như Tô đau đớnnhận ra giấc mộng lớn của mình bị tan vỡ: Cửu Trùng Đài bị đốt, Vũ Như Tô bị

Trang 8

bắt Ông kêu lên đau đớn:“Ôi đảng ác! Ôi căm giận muôn phần! Trời ơi! Phú cho

ta cái tài để làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng Đài!” Đó làtiếng kêu đầy máu và nước mắt của một người nghệ sĩ khao khát đem tài năngsáng tạo cái đẹp, nhưng lại bị vùi dập

=> Phản ánh bi kịch vỡ mộng của Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng muốn khẳngđịnh cái đẹp là nghệ thuật, nhưng cái đẹp chỉ là nghệ thuật khi nó bắt rễ từ hiệnthực cuộc sống của nhân dân Nếu xa rời cuộc sống, cái đẹp chỉ còn là một bônghoa ác đẫm máu Mặt khác, nhà văn còn đặt ra một yêu cầu đối với người nghệ sĩ,người nghệ sĩ phải có niềm đam mê sáng tạo nghệ thuật, nhưng cũng phải hết sứctỉnh táo, nhạy cảm trước cuộc đời Có như thế mới đến được cái chân - thiện - mĩ.Nếu không, cái đẹp ấy vẫn chỉ là niềm mơ ước, là cái đẹp siêu phàm

2.2 Kiểu nhân vật người nghệ sĩ trong “Vũ Như Tô”

2.2.1 Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ chân chính

a Vũ Như Tô – 1 kiến trúc sư thiên tài

Xuất thân từ lớp người bình dân, Như Tô vừa có năng khiếu bẩm sinh, vừahơn người ở chí ham học, say mê nghề kiến trúc Cũng như nhân vật Hộ trong

truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao, Vũ đã bỏ bao thời gian và tâm huyết để học nghề, để luyện tài, trau dồi nghề nghiệp của mình Trong 20 năm trời Như Tô đã

khổ công học tập, khảo cứu văn chương, toán pháp, địa lý, thiên văn, các dinh thự

Trang 9

đền đài trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem, các danh lam thắng tích ở TrungQuốc, Chiêm Thành, Tây trúc cũng không quản đường trường lần đến khảo sát.Nhờ tài thiên bẩm và sự khổ luyện, Như Tô đã trở thành một tài năng xưa nayhiếm Theo lời của Lê Tương Dực thì Như Tô có “hoa tay tuyệt thế, chạm trổ,nạm đục, xây dựng không kém đường gì Lại có tài đào muôn kiểu hồ, vẽ nhữngvườn hoa lộng lẫy như bồng lai Hắn còn là tay hội họa khác thường: “Chỉ mộtbút vẩy là chim hoa đã hiện lên mảnh lụa, thần tình biến hóa như cảnh Hóa công.Còn cái tài tính toán thì không lời nào tả hết Hắn sai khiến gạch đá như ôngtướng cầm quân, có thể xây dựng những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không

hề tính sai một viên gạch nhỏ” Đan Thiềm luôn luôn nói đến tài của Như Tô, nào

“tài hoa”, “tài trời”, nào “hữu tài”, “có tài”, “đem tài trời thi thố” Như vậy có thể

thấy tài năng của Vũ Như Tô thể hiện trên nhiều lĩnh vực: nhà điêu khắc xuất sắc, nhà họa sĩ tài hoa, nhà kiến trúc tinh xảo, một tay thợ tranh tài với hóa công, xứng đáng thiên tài “ngàn năm chưa dễ có một” Cho nên tòa đài do Vũ Như Tô sáng tạo ra đương nhiên là công trình kì vĩ tinh xảo muôn phần đẹp đẽ không bút nào tả xiết Nghệ sĩ Vũ Như Tô được thể hiện như là một sự hội tụ của nhiều tài năng phi thường.

b Vũ Như Tô còn là một nghệ sĩ có khí phách hiên ngang, bất khuất trước cường quyền bạo lực:

“Xây Cửu Trùng đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, một lũ gái dâmô? Tôi không thể đem tài ra làm ô uế, muôn năm làm bia miệng cho đời được.”

Lý do Vũ không xây Cửu Trùng đài là vì Lê Tương Dực là một kẻ dâm ác, bạochúa Hành động từ chối xây đài của Như Tô là sự phản kháng vì nghệ thuật, coisáng tạo nghệ thuật là thiêng liêng, nghệ thuật phải song hành với cái Thiện,không thể có cái Đẹp đi cùng cái Ác (LH: Chữ người tử tù)

c VNT là một nghệ sĩ đích thực, khao khát, say mê sáng tạo cái Đẹp

Khát vọng sáng tạo như ngọn lửa âm thầm vẫn tồn tại bên trong tâm hồnngười nghệ sĩ thiên tài nên chỉ cần một lời khuyên chân tình của Đan Thiềm làbùng lên mãnh liệt, không có gì dập tắt nổi Từ đó, Như Tô luôn khao khát vươntới tận cùng của cái đẹp toàn bích, toàn thiện, được cống hiến hết mình cho nghệ

Trang 10

thuật, cho nền “văn vật” của dân tộc từ bao đời nay Vũ Như Tô bắt tay vào xâydựng Cửu Trùng Đài - một kì công kiến trúc trác tuyệt cho dân tộc Việt “khả dĩsánh vai với những lâu đài Trung Quốc, … Chiêm Thành” Lẽ sống của Như Tôvượt qua những chuyện cơm áo thường ngày Ông âm thầm, miệt mài sáng tạongay cả khi đang trốn tránh sự truy bắt của triều đình Trong suốt một năm đi trốn

“bị truy nã, khổ nhục trăm đường” nhưng Vũ Như Tô cũng đã vẽ phác bản đồCửu Trùng đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ Lẽ sống củangười nghệ sĩ chân chính xưa nay được cống hiến, được sáng tạo dõng dạc nóivới Lê Tương Dực, xây Cửu Trùng Đài “làm vinh dự cho non sông” là mục đích,

ăn, quên ngủ, bất kể ngày đêm Ông bị ngã từ trên cao xuống nhưng vẫn khôngnản chí Vũ Như Tô chỉ mê có nghệ thuật Có lần người vợ hiền lành chất phác(Thị Nhiên) ở quê ra, nhắc Như Tô tới hoàn cảnh gia đình túng thiếu, neo đơn,nhân dân thì đói khổ, mất mùa, thợ thuyền thì oán hận kêu cả việc xây dựng CửuTrùng Đài cho vua Lê Tương Dực Nhưng ông chẳng nghe vợ nói gì cả, chỉ mơmàng với Cửu Trùng đài huy hoàng tráng lệ:

Ngày đăng: 21/02/2021, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w