Tuỳ theo các cáchphân loại khác nhau mà VKD của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn sau: + Nếu căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn thì vốn SXKD của doanh nghiệp gồm 2nguồn: Nguồn vốn
Trang 1NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VKD VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VKD CỦA DOANH NGHIỆP.
1 VKD trong các doanh nghiệp.
1.1 VKD của doanh nghiệp và nguồn hình thành VKD.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại VKD
* Khái niệm VKD của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá, để tiến hành SXKD mỗi doanh nghiệpđòi hỏi phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định để đầu tư vào SXKD Lượng vốntiền tệ đó gọi là vốn SXKD của doanh nghiệp
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục nên vốnsản xuất của doanh nghiệp cũng vận động không ngừng Sự vận động đó thể hiệnqua sơ đồ sau:
T- H TLSX(TLLĐ + ĐTLĐ) …sx … H'− T'( T'> T )
SLĐ
Quá trình vận động của vốn bắt đầu từ việc nhà sản xuất bỏ vốn tiền tệ để muasắm các yếu tố đầu vào cho sản xuất Lúc này vốn tiền tệ được chuyển hoá thànhvốn dưới hình thức vật chất( TLLĐ, ĐTLĐ,SLĐ…) Sau quá trình sản xuất, số vốnnày kết tinh vào sản phẩm Sau quá trình tiêu thụ sản phẩm số vốn này lại quay lạihình thái ban đầu là vốn tiền tệ
Như vậy, vốn SXKD của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài
sản được sử dụng đầu tư vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời Chỉ có những tài sản có giá trị được sử dụng vào SXKD mới được coi là
VKD
Trang 2+ Mục đích vận động của VKD là phải sinh lời : vốn phải được biểu hiệnbằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn Để tiền biến thành vốn thìđồng tiền đó phải vận động sinh lời Trong quá trình vận động, đồng vốn có thểthay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của tuần hoànphải là giá trị, là tiền; đồng thời phải quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn, đócũng là nguyên lý đầu tư, sử dụng và bảo toàn VKD.
+ Bất kỳ đồng VKD nào cũng gắn với một chủ sở hữu Song tuỳ vào từng loạihình doanh nghiệp mà người sở hữu vốn có đồng thời là người sử dụng vốn haykhông, bởi vì trong nền kinh tế thị trường vốn là một loại hàng hoá đặc biệt, người
sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định.Khi doanh nghiệp thiếu vốn mà đi huy động vốn phải trả một khoản chi phí vàđược gọi là chi phí sử dụng vốn Chính việc nhận thức được đặc điểm này đã giúpdoanh nghiệp khai thác và sử dụng VKD có hiệu quả, tránh thất thoát và bị thuathiệt
Việc nhận thức đúng đắn về đặc trưng VKD có ý nghĩa quan trọng, thể hiện:
Giúp doanh nghiệp phát hiện được những tiềm năng về vốn bởi vì biểu hiệnbằng tiền của tài sản là vốn, mà tài sản lại bao gồm TSHH và TSVH Do vậy khiphản ánh lên sổ sách kế toán, doanh nghiệp phải phản ánh đúng giá trị của cảTSHH và TSVH, từ đó có biện pháp khai thác, bảo toàn và sử dụng VKD có hiệuquả
Trang 3*Phân loại VKD của doanh nghiệp
Căn cứ vào vai trò và đặc điểm luân chuyển của VKD khi tham gia vào quátrình SXKD thì VKD của doanh nghiệp bao gồm hai loại vốn là : VCĐ và VLĐ
a, VCĐ của doanh nghiệp
- VCĐ là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về TSCĐ mà đặc điểm của nó
là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành mộtvòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng
- Đặc điểm luân chuyển của VCĐ trong quá trình sản xuất: giá trị của vốn luânchuyển dần dần từng phần vào giá trị sản phẩm sản xuất và được thu hồi dưới hìnhthức khấu hao cơ bản Như vậy, trong quá trình tham gia vào sản xuất, một bộphận giá trị của VCĐ được rút ra khỏi quá trình sản xuất và được tích luỹ lại dướihình thức quỹ khấu hao cơ bản, trong khi đó một bộ phận giá trị vẫn được “cốđịnh” trong hình thái của TSCĐ Và cứ sau mỗi chu kỳ sản xuất, bộ phận giá trị
“hao mòn” rút ra khỏi quá trình sản xuất tăng dần, do đó quỹ khấu hao cơ bản tăngdần lên còn bộ phận “cố định” trong TSCĐ thì giảm dần đi Khi TSCĐ hết thờihạn sử dụng thì VCĐ mới hoàn thành một vòng tuần hoàn còn gọi là “một vòngluân chuyển”
Đặc điểm luân chuyển của VCĐ đã chi phối việc bảo toàn vốn ở tất cả cáckhâu từ khâu mua sắm đến khâu sử dụng, quản lý TSCĐ trong kinh doanh, tríchkhấu hao để thu hồi và sử dụng quỹ khấu hao cơ bản Bên cạnh đó, việc kinhdoanh kém hiệu quả, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được, giá bán thấp hơn giáthành nên thu nhập không đủ bù đắp mức hao mòn của TSCĐ Thiểu phát cũng lànguyên nhân gây thất thoát vốn mà trong công tác bảo toàn VCĐ doanh nghiệpphải chú trọng
b, VLĐ của doanh nghiệp
VLĐ của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm cácTSLĐ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD được bình thường,
Trang 4liên tục VLĐ thuần của các doanh nghiệp được xác định bằng tổng giá trị TSLĐcủa doanh nghiệp trừ đi các khoản nợ ngắn hạn.
Theo vai trò của từng loại VLĐ trong quá trình SXKD thì VLĐ được phân bổ ởcác khâu như sau:
+ VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: gồm giá trị của các khoản nguyên vật liệuchính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ,bao bì, vật đóng gói
+ VLĐ trong khâu sản xuất: bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bánthành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển
+VLĐ trong khâu lưu thông: gồm các khoản giá trị thành phẩm trong kho chờtiêu thụ, vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký cược,
ký quỹ ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán
Đặc điểm luân chuyển của VLĐ: VLĐ luôn vận động chuyển hoá qua nhiềuhình thái khác nhau, bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư hànghoá và cuối cùng lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu của nó Quá trình SXKD củadoanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng cho nên VLĐ cũng tuần hoàn khôngngừng, được gọi là quá trình chu chuyển của VLĐ
Trong quá trình sản xuất khác với TSCĐ, TSLĐ luôn thay đổi hình thái biểuhiện để tạo ra sản phẩm, vì vậy giá trị của nó cũng được chuyển dịch toàn bộ mộtlần vào giá trị thành phẩm tiêu thụ đặc điểm này đã quyết định sự vận động củaVLĐ: T-H…s x…H’-T’ ( T’ >T)
Từ đặc điểm, phương thức chuyển dịch giá trị và vận động của VLĐ mà trongcông tác quản lý vốn, doanh nghiệp cần quan tâm:
-Phải xác định được VLĐ cần thiết cho chu kỳ SXKD của doanh nghiệp Đây
là nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý vốn, đảm bảo đầy đủ, kịp thời VLĐcho quá trình SXKD được liên tục tránh ứ đọng vốn
Trang 5- Tổ chức khai thác các nguồn tài trợ VLĐ cũng như bảo toàn và phát triểnVLĐ để việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
1.1.2 Nguồn hình thành VKD của doanh nghiệp
Để có vốn hoạt động SXKD, doanh nghiệp phải khai thác, tạo lập vốn Hiệnnay Nhà nước cho phép các doanh nghiệp được quyền huy động vốn từ nhiềunguồn khác nhau, mỗi nguồn đều có ưu và nhược điểm riêng Tuỳ theo các cáchphân loại khác nhau mà VKD của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn sau: +) Nếu căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn thì vốn SXKD của doanh nghiệp gồm 2nguồn:
Nguồn vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp baogồm: vốn pháp định do chủ doanh nghiệp bỏ ra( đối với doanh nghiệp Nhà nước
đó là nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách Nhànước), vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại trong quá trình hoạt động kinh doanhhoặc từ các quỹ của doanh nghiệp, vốn do Nhà nước tài trợ(nếu có), vốn huy động
từ phát hành cổ phiếu…
Nguồn vốn vay: là tất cả các khoản nợ phát sinh trong quá trình sản xuất củadoanh nghiệp mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm thanh toán như: khoản vayngân hàng, vay các tổ chức tín dụng khác, vay từ phát hành trái phiếu, phải trả chongân sách Nhà nước, phải thanh toán với người bán, phải trả công nhân viên và cáckhoản phải trả khác
Cách phân loại như trên nhằm tạo khả năng xem xét và có các phương án tối
ưu để huy động các nguồn vốn sao cho tạo ra cơ cấu nguồn vốn hợp lý,tối ưu đểđảm bảo an toàn cho doanh nghiệp tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh và tăng giátrị của doanh nghiệp
+) Nếu căn cứ vào thời gian huy động vốn và sử dụng vốn thì có thể chia nguồnvốn của doanh nghiệp thành: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời
Trang 6 Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng có tínhchất ổn định và lâu dài trong SXKD bao gồm: vốn chủ sở hữu và các khoản vaydài hạn Đây là nguồn vốn lâu dài, được dùng để đầu tư, mua sắm TSCĐ và một bộphận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp.
Nguồn vốn tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn( dưới một năm) màdoanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời như :các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phảitrả nhưng chưa đến hạn trả
Việc phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xem xét huy độngcác nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng kịp thời vốn cho SXKD vớichi sử dụng vốn hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
+) Nếu căn cứ vào phạm vi hoạt động thì nguồn vốn kinh doanh được chia thành
2 loại là: nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp
Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được từ chủ sở hữudoanh nghiệp và được hình thành từ kết quả hoạt động kinh doanh, đó là lợi nhuận
để lại, từ tiền khấu hao cơ bản TSCĐ, từ các quỹ của doanh nghiệp ( quỹ khuyếnkhích phát triển sản xuất, quỹ dự phòng tài chính) và các khoản thu từ thanh lý,nhượng bán TSCĐ Đây là nguồn vốn đảm bảo vững mạnh về tài chính của doanhnghiệp
Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thểhuy động từ bên ngoài để đáp ứng cho nhu cầu thiếu vốn SXKD của mình Nguồnvốn này bao gồm: vốn liên doanh, liên kết, vốn vay ngân hàng hoặc các tổ chức tíndụng, vốn huy động do phát hành trái phiếu và các khoản nợ khác Đây là nguồnvốn khá quan trọng bổ sung vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 7Việc phân loại trên giúp cho doanh nghiệp xác định được nhu cầu vốn, nguồnhình thành vốn SXKD của doanh nghiệp mình đồng thời đề ra các biện pháp huyđộng vốn tối ưu.
2 Hiệu quả sử dụng VKD và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp.
2.1 Hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp.
Trước đây, trong cơ chế quản lý hành chính bao cấp, quan hệ giữa Nhà nước
và doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc thu đủ- chi đủ Nhà nước giao kế hoạch chodoanh nghiệp mang tính chất pháp lệnh về mặt hàng kinh doanh chủ yếu, về nguồnhàng, nơi tiêu thụ và doanh thu Vì vậy doanh nghiệp không thể và cũng không cầnthiết phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình trong SXKD Do đó, quanđiểm về sử dụng VKD có hiệu quả được xác định dựa trên cơ sở: mức độ thực hiệncác chỉ tiêu pháp lệnh, sự tiết kiệm chi phí trong giá thành sản phẩm, khối lượnggiá trị sử dụng mà doanh nghiệp cung cấp cho nền kinh tế Đây chính là sự lẫn lộn,không xác định được ranh giới giữa chi tiêu hiệu quả và chi tiêu kết quả Từ đó dẫnđến việc đánh giá hiệu quả kinh tế không đúng Đó là nguyên nhân cơ bản làm chotình hình sử dụng vốn của các doanh nghiệp bị lãng phí dẫn đến nhiều doanhnghiệp bị mất vốn, làm ăn thua lỗ, sức cạnh tranh yếu và nền kinh tế trở nên trì trệ Khi bước sang nền kinh tế thị trường các đơn vị hoạt động SXKD tuân theonguyên tắc hạch toán kinh doanh Việc sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuấtnhư thế nào không phải xuất phát từ ý muốn chủ quan của doanh nghiệp mà xuấtphát từ nhu cầu đòi hỏi của thị trường theo phương châm “Tất cả nhằm đáp ứngnhu cầu thị trường một cách tốt nhất” Vì thế nó đã tạo ra tính chủ động, sáng tạotrong việc SXKD của các tổ chức kinh tế, và cũng chính vì thế mà nó tạo ra mộtmôi trường cạnh tranh quyết liệt giữa các doanh nghiệp
Ta biết rằng mọi hoạt động có ý thức của con người nói chung đều hướng chohoạt động đó đạt tới những mục đích nhất định Mục đích quan trọng nhất của các
Trang 8doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường là sản xuất kinh doanh manglại hiệu quả- hiệu quả đó càng cao thì càng tốt, lấy hiệu quả đó làm thước đo chomọi hoạt động của doanh nghiệp – hiệu quả lợi ích kinh tế đạt được từ việc sửdụng vốn vào hoạt động SXKD Do đó hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng phảnánh mối quan hệ giữa kết quả thu được từ hoạt động SXKD với chi phí bỏ ra để đạtđược kết quả đó.
Trong điều kiện hiện nay, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì yêucầu đặt ra cho doanh nghiệp là phải sử dụng có hiệu quả lượng vốn đem vào đầu
tư Tức là không những bảo toàn được vốn mà còn phải tăng được mức sinh lời củađồng vốn Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng có nghĩa là làm sao với mộtlượng chi phí bỏ ra thấp nhất mà thu được kết quả cao nhất
Như vậy, khi nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn ta cũng phần nào thấy đượctrình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp vì qua chỉ tiêu hiệu quả sử dụngvốn cũng đã chỉ ra được doanh nghiệp sử dụng chi phí có tiết kiệm hay không,hoặc với một đơn vị kết quả đạt được cần một lượng chi phí là bao nhiêu…
2.2 Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, để được sử dụng một lượngvốn nhất định thì tất yếu doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng chi phí nhất định vàgọi là chi phí sử dụng vốn Do đó để đảm bảo đứng vững trên thương trường đòi
Trang 9hòi doanh nghiệp phải sử dụng số vốn đó sao cho kết quả đạt được đủ bù đắp cácchi phí bỏ ra và có lợi nhuận cho đơn vị Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhưmột yêu cầu cấp bách mang tính bức thiết đối với mọi doanh nghiệp Bởi vì nângcao được hiệu quả sử dụng vốn không những giúp cho doanh nghiệp đủ trang trảichi phí bỏ ra mà còn có một phần tích luỹ để lại để tái sản xuất, mở rộng quy mô
và lĩnh vực sản xuất, tăng thu nhập, đổi mới được thiết bị công nghệ,… cũng nhưquyết định đến sự sống còn của các doanh nghiệp Ngoài ra, nó còn có một số vaitrò sau:
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đảm bảo cho vốn của doanh nghiệp khôngnhững được bảo toàn để tiếp tục tái sản xuất mà còn tạo điều kiện cho doanhnghiệp thực hiện việc tái sản xuất mở rộng
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng đồng nghĩa với việc giảm thiểu chi phíSXKD Từ đó tác động tới việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Bởi vậy nó làyêu cầu khách quan đặt ra cho mọi doanh nghiệp thực hiện hạch toán kinh doanh
- Xuất phát từ mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp đó là lợi nhuận- nguồntích luỹ để tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp Điều đó càng được sự quan tâmcủa nhiều người, đặc biệt trong điều kiện hiện nay Một doanh nghiệp có tồn tạiđược hay không là chịu sự tác động của việc doanh nghiệp đó có tạo ra được lợinhuận hay không Chính vì thế, SXKD như thế nào để thu được lợi nhuận cao nhất
là mục tiêu hàng đầu trong tất cả các mục tiêu quan trọng khác Để đạt được mụctiêu đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD để đạt đượclợi nhuận cao, tạo đà đưa doanh nghiệp vững bước tiến lên đài vinh quang
Nói tóm lại, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu tất yếu đối vớidoanh nghiệp sử dụng vốn hạch toán kinh doanh trong điều kiện nền kinh tế thịtrường Nó góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, mở rộngquy mô sản xuất, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, góp phần tăng trưởng nềnkinh tế xã hội
Trang 102.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VKD của doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn SXKD của doanh nghiệp người ta có thể
sử dụng một số chỉ tiêu sau:
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
- Vòng quay toàn bộ vốn trong kỳ =
Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng vốn hay tài sản của doanh nghiệptrong kỳ, nó thể hiện rằng cứ một đồng vốn đem vào đầu tư trong kỳ sẽ mang lạimấy đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm Nói chung vòng quay toàn bộ vốn càng lớnthể hiện hiệu suất sử dụng vốn càng cao
Lợi nhuận trước( sau) thuế
- Tỉ suất lợi nhuận vốn =
Số vốn sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư vàohoạt động SXKD của doanh nghiệp, nó cho ta thấy rằng trong kỳ cứ sử dụng mộtđồng vốn vào hoạt động SXKD thì sẽ mang lại mấy đồng lợi nhuận ( trước thuếhoặc sau thuế)
Song để đánh giá được chính xác hơn về hiệu quả sử dụng vốn để từ đó đưa rađược biện pháp tối ưu nhất, trọng tâm nhất, sát thực nhất… ta cần nghiên cứu hiệuquả sử dụng của từng loại vốn
2.3.1 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ
Để kiểm tra, đánh giá về hiệu quả sử dụng VCĐ người ta thường sử dụngmột hệ thống các chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu phân tíchsau:
2.3.1.1 Các chỉ tiêu tổng hợp.
Các chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mặt chất của việc sử dụng VCĐ
+ Hiệu suất sử dụng VCĐ: Nó phản ánh bình quân cứ một đồng VCĐ được sửdụng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ
Doanh thu( Doanh thu thuần) trong kỳ
Trang 11Doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ
+ Doanh lợi VCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng VCĐ bỏ ra trong kỳ cóthể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế
Lợi nhuận( trước) sau thuế
Trang 12Hệ số này càng cao chứng tỏ TSCĐ đã cũ và cần được đầu tư đổi mới Ngượclại hệ số này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp rất quan tâm tới đầu tư đổi mới máymóc thiết bị.
+ Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Nó phản ánh cứ một đồng TSCĐ được sử dụng trong
kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ
Doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
+Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp sản xuất: Nó phản ánh giá trịTSCĐ bình quân trang bị cho một công nhân trực tiếp sản xuất
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Hệ số trang bị TSCĐ =
Số lượng công nhân viên trực tiếp sản xuất
+Tỉ suất đầu tư TSCĐ: Phản ánh mức độ đầu tư vào TSCĐ trong tổng giá trị tàisản của doanh nghiệp Nói một cách khác là trong một đồng giá trị tài sản củadoanh nghiệp có bao nhiêu đồng được đầu tư vào TSCĐ
Giá trị còn lại của TSCĐ
Tỉ suất đầu tư TSCĐ = ¿ 100%
Tổng tài sản
+ Kết cấu TSCĐ của doanh nghiệp: Nó phản ánh quan hệ tỉ lệ giữa giá trị từngloại, nhóm TSCĐ trong tổng số giá trị TSCĐ của doanh nghiệp ở thời điểm đánhgiá Chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐcủa doanh nghiệp Dựa vào kết cấu này mà doanh nghiệp có biện pháp đầu tưnhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ của doanh nghiệp
+ Chỉ tiêu về kết cấu nguồn vốn đầu tư cho TSCĐ: là tỉ trọng từng nguồn VCĐ
so với tổng nguồn VCĐ của doanh nghiệp Chỉ tiêu này giúp cho người quản lý cócác biện pháp khai thác, mở rộng nguồn vốn Mặt khác còn để kiểm tra theo dõitình hình thanh toán chi trả các khoản nợ vay có đúng hạn hay không