ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN HẢI ĐĂNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Anh Cường
XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ CỦA HỘI
ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chủ tịch Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Phạm Quốc Thành PGS.TS Nguyễn Anh Cường
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết luận khoa học trong Luận văn là trung thực và chưatừng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Hải Đăng
Trang 4Mục Lục
Mục Lục 1
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt 4
Mở đầu 5
Chương 1: Lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước 19
1.1 Lý luận cơ bản về đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay 19
1.1.1 Một số khái niệm 19
1.1.2 Đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay 20
1.2 Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước 25
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về Đảng lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước 25
1.2.2 Nội dung Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước 26
1.2.3 Phương thức lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước của Đảng 27
1.3 Cơ sở chính trị trong hoạt động lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước hiện nay 30
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới 30
1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền 33
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước của Đảng Cộng sản Việt Nam 38
2.1 Thực trạng 38
2.1.1 Những thành tựu cơ bản trong lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước 38
2.1.2 Những hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước 61
2.1.3 Nguyênnhân 72
2.2 Những vấn đề đặt ra 74
2.2.1 Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong xây dựng Nhà nước 74
2.2.2 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế 75
2.2.3 Xây dựng cơ sở kinh tế - xã hội của Nhà nước 76
2.2.4 Tính pháp quyền trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước 77
Tiểu kết chương 2 78
Trang 5Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước thời gian tới 79
3.1 Dự báo những nhân tố tác động tới quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam thời gian tới 79
3.2 Quan điểm 82
3.2.1 Bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng 82
3.2.2 Lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước phải tiến hành toàn diện, đồng bộ cả lập pháp, hành pháp và tư pháp 83
3.2.3 Bảo đảm tính pháp quyền trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật; phát huy dân chủ, quyền con người 83
3.2.4 Phát huy tính tích cực, chủ động của các tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân 85
3.2.5 Chú trọng lãnh đạo công tác cán bộ là điều kiện để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong hình mới 86
3.3 Những giải phápcơbản 86
3.3.1 Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước thời gian tới 87
3.3.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước88 3.3.3 Lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCNViệt Nam 92
3.3.4 Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, vai trò của nhân dân và cán bộ, đảng viên trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước 94
3.3.5 Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ 95
Tiểu kết chương 3 97
Kết luận 98
Tài liệu tham khảo 100
Trang 6Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
STT Từ, cụm từ viết tắt Được hiểu là:
3 Nước Việt Nam Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
4 Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản
Việt Nam
Trang 7Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề xây dựng nhà nước luôn là một trong những vấn đề trung tâmtrong xây dựng hệ thống chính trị của các quốc gia trên thế giới Với vai trò làcông cụ thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, nhà nước là thiếtchế quyền lực đặc biệt, có chức năng đại diện, thay mặt nhân dân quản lý toàn
bộ hoạt động của đời sống xã hội Để phát huy vai trò, chức năng của nhànước trong hệ thống chính trị và xã hội thì việc xây dựng, hoàn thiện nhànước là công việc quan trọng và cấp thiết của bất cứ một chính đảng cầmquyền nào
Tại Việt Nam, Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị Từ khi ra đờivào ngày 2/9/1945 cho đến nay, với tiền thân là nhà nước Việt Nam Dân chủCộng hòa nay là nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhà nước Việt Nam
đã không ngừng được xây dựng, củng cố và từng bước hoàn thiện để đáp ứngyêu cầu của từng giai đoạn và thời kỳ cách mạng Sự phát triển và lớn mạnhcủa nhà nước Việt Nam hiện nay không thể không kể đến vai trò của ĐảngCộng sản Việt Nam với tư cách là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là
“chỉ huy trưởng” trong công cuộc kiến thiết, xây dựng và củng cố Nhà nước.
Quá trình xây dựng Nhà nước Việt Nam là một quá trình lịch sử lâu dài bắtđầu từ ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 2/9/1945 và thihành Hiến pháp 1946 Cho đến nay, trải qua nhiều thăng trầm, nhiều giai đoạnlịch sử khác nhau song quá trình đó vẫn được tiếp tục với những bước kếthừa, phát huy phù hợp với sự phát triển của thời đại
Một chế độ xã hội hay một chính đảng có duy trì, tồn tại được lâu dàihay không phụ thuộc phần lớn vào việc chế độ, chính đảng đó có xây dựng vàduy trì được một nhà nước chính đáng có hiệu lực, hiệu quả không Với vị trí
là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảngđối với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước của dân, do dân và vì dân
Trang 8là vô cùng quan trọng, một mặt đảm bảo hiện thực hóa mục tiêu
với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước thời gian tới.
Chính vì vậy, tác giả Luận văn lựa chọn đề tài “Vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước hiện nay”
với mong muốn tiếp tục bổ sung những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lãnhđạo của Đảng trong xây dựng Nhà nước và kiến nghị các giải pháp mang tínhkhả thi nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xâydựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề xây dựng và hoàn thiện chính quyền nhà nước là vấn đề đãđược nghiên cứu có hệ thống với những cách tiếp cận khác khau Do đó, trướckhi nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng,hoàn thiện Nhà nước hiện nay, tác giả tìm hiểu các nhóm công trình nghiêncứu liên quan đến đề tài của Luận văn:
2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.03.08 (2007) : “Phương thức lãnh
đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân” do GS.TS Phạm Ngọc Quang làm chủ nhiệm đề tài Trên cơ sở
nghiên cứu địa vị pháp lý của Đảng và vai trò của một đảng cầm quyền, côngtrình chỉ rõ những vấn đề đặt ra trong điều kiện xây dựng nhà nước phápquyền Để giải quyết những vấn đề đặt ra đó, đề tài đã đưa ra những nội dung
Trang 9đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng
pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
Cũng về lĩnh vực đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, GS.TS
Phạm Ngọc Quang đã có công trình nghiên cứu “Đổi mới, hoàn thiện phương
thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ” xuất bản năm 2008, Nxb Chính
trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội Cuốn sách chuyên khảo đã phân tích sâu sắc vàtoàn diện các vấn đề về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.Tác giả cuốn sách chỉ rõ vai trò lãnh đạo của Đảng được thông qua nội dunglãnh đạo và phương thức lãnh đạo Ngoài ra, tác giả cũng nêu rõ cần phải tiếptục đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan trong bộmáy nhà nước: Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan tư pháp
Tiếp nối các công trình nghiên cứu về vai trò lãnh đạo của một chínhđảng cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối vớiNhà nước và xã hội Việt Nam, GS.TS Nguyễn Văn Huyên đã có công trình
nghiên cứu “Đảng Cộng sản cầm quyền - Nội dung và phương thức cầm
quyền của Đảng”, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, xuất bản năm
2011 Vấn đề về đảng chính trị, điều kiện để đảng chính trị trở thành đảngcầm quyền, vai trò Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền đã được tập trungphân tích khá sâu sắc Ngoài ra, tác giả còn nhấn mạnh đến vai trò lãnh đạocủa Đảng Cộng sản với các nội dung và phương thức cầm quyền Từ đó, tácgiả nhấn mạnh yêu cầu phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sảntrong bối cảnh hội nhập và phát triển đất nước
Công trình nghiên cứu của GS.TS Lê Hữu Nghĩa và PGS.TS Bùi Đình
Bôn (2013), “Thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước
trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân ” , Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội Công trình đã phân tích 3 loại quyền lực và mối quan hệ giữa chúng đólà: Quyền lực chính trị của Đảng, quyền quản lý của Nhà nước và quyền làmchủ của nhân dân Từ đó, phân tích vai trò của Đảng cầm quyền và mối quan
Trang 10hệ giữa Đảng với Nhà nước và nhân dân Công trình nghiên cứu
PGS.TS Lương Khắc Hiếu và PGS.TS Trương Ngọc Nam (2017), “Nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới”, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội đã làm rõ những vấn đề xoay quanh vai trò lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh thực hiện các Nghị quyết của Đảngtrong văn kiện Đại hội XII Bằng việc phân tích những vấn đề đặt ra trong thời
kỳ mới, thực trạng lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh hiện nay, hai tác giả đãnêu rõ sự cần thiết phải nâng cao năng lực lãnh đạo và đặc biệt là sức chiếnđấu
của Đảng, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiếnđấu để giữ vững vai trò lãnh đạo và vị thế của Đảng cầm quyền
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã góp phần đưa ra các cơ sở khoa học, lý luận về đảng cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Trong đó, làm nổi bật những bước phát triển, đổi mới nhận thức của Đảng về nội dung và phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội Đây
là cơ sở quan trọng giúp tác giả Luận văn hình thành tư duy khoa học và định hướng nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu những vấn đề lý luận về Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.
Trang 112.2 Nhóm công trình nghiên cứu về Nhà nước và xây dựng Nhà nước Việt Nam
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04.01 : “Cơ sở lý luận và thực tiễn
về nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân” do GS.VS
Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm đề tài nghiên cứu trong giai đoạn
2001-2005 Công trình nghiên cứu xác định những cơ sở lý luận về nhà nước phápquyền và nhà nước pháp quyền XHCN; Từ thực tiễn xây dựng nhà nước ởViệt Nam trong giai đoạn 2001-2005, công trình đã chỉ ra tính tất yếu phảixây dựng mô hình nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền XHCN Đồngthời, công trình đã tập trung làm rõ vấn đề về nhận thức về nhà nước phápquyền trong thời kỳ mới và vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quátrình xây dựng Nhà nước
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04.02 : “Mô hình tổ chức và hoạt
động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân giai đoạn 2001-2010” do GS.TS Đào Trí Úc làm chủ nhiệm đề
tài Từ những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, đề tài đề xuất thiết
kế mô hình tổng thể tổ chức và hoạt động của nhà nước pháp quyền XHCNViệt Nam trong xu hướng cải cách mạnh mẽ về lập pháp, hành pháp và tưpháp
Trên cơ sở những luận cứ khoa học và thực tiễn về tổ chức và mô hìnhhoạt động của bộ máy nhà nước ở Việt Nam, công trình đã phân tích một cáchkhoa học và sâu sắc về yêu cầu của tính pháp quyền trong xây dựng nhà nước
Việc chỉ rõ mô hình tổng thể về tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong công trình nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở khoa học, góp phần làm một trong những căn cứ trong quá trình nghiên cứu
để tác giả Luận văn đưa ra các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả trong sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
Trang 12Tiếp nối các công trình nghiên cứu về Nhà nước và xây dựng Nhà nướcViệt Nam phải kể đến công trình nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc
(2010), “Nhà nước cách mạng Việt Nam, giai đoạn 1945-2010”, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội Đây là công trình nghiên cứu công phu và cụ thể về quátrình kiến thiết, xây dựng và phát triển của Nhà nước Việt Nam từ năm 1945đến năm 2010 Cuốn sách đã trình bày về các chặng đường xây dựng và hoạtđộng của Nhà nước cách mạng Việt Nam trên các góc độ: lịch sử, pháp lý,quá trình xây dựng, củng cố Nhà nước Đồng thời, PGS.TS Nguyễn TrọngPhúc đã làm rõ vấn đề xây dựng Nhà nước bằng các chuyên đề về xây dựng
và bảo vệ Nhà nước và hệ thống chính trị Công trình nghiên cứu này đã cungcấp tư duy và nhận thức mạch lạc, rõ ràng về quá trình kiến thiết, xây dựng vàcủng cố Nhà nước trong các giai đoạn lịch sử từ năm 1945 đến năm 2010 Vớiquá trình nghiên cứu một cách tỉ mỉ và chuyên sâu, hai phần trong cuốn sách
đã làm nổi bật tư duy xây dựng và hoàn thiện Nhà nước do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam
Cùng quan điểm về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền với côngtrình nghiên cứu của các tác giả nêu trên Tuy nhiên, TS Mai Thị Thanh lại
có quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền xuất phát từ góc độ nghiêncứu về hình thức nhà nước Cuốn sách xuất bản năm 2012 do TS Mai Thị
Thanh làm chủ biên, “Hình thức nhà nước và vấn đề xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam ”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã làm rõ một số
quan điểm lý luận cơ bản về hình thức nhà nước, những nhân tố quy định hìnhthức nhà nước và hình thức phổ biến của nhà nước đương đại Bằng việc đisâu vào phân tích thực trạng hình thức của nhà nước trong quá trình xây dựngnhà nước kiểu mới ở Việt Nam, từ đó tác giả đề xuất phương hướng chủ yếunhằm nâng cao chất lượng xây dựng nhà nước dưới hình thức nhà nước phápquyền ở Việt Nam hiện nay Đây được coi là cách tiếp cận khá mới mẻ trongcác công trình nghiên cứu về vấn đề xây dựng nhà nước
Trang 13Tiếp cận vấn đề nhà nước và xây dựng nhà nước với việc phân tíchđiều kiện đặc thù ở Việt Nam và xu hướng xây dựng nhà nước ở các quốc gia
trên thế giới, công trình nghiên cứu của TS Hoàng Thị Hạnh (2016), “Xây
dựng nhà nước pháp quyền trong điều kiện đặc thù ở Việt Nam ” Nxb, Chính
trị Quốc gia, Hà Nội đã phân tích điều kiện đặc thù ở Việt Nam và thời đại để
từ đó đề xuất những giải pháp mang tính khả thi để xây dựng thành công nhànước pháp quyền phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam hiện nay Với 4chương, đặc biệt là chương 3: Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam trong điều kiện đặc thù đã làm rõ quan điểm về nhà nước pháp quyềnnói chung và sự áp dụng mô hình nhà nước pháp quyền trong điều kiện đặcthù ở Việt Nam nói riêng đã cho thấy cách tiếp cận mới của tác giả về sự đặcsắc trong từng nhà nước mà mỗi quốc gia đang xây dựng
Các công trình nghiên cứu đã góp phần hình thành, hoàn thiện tư duy
lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam hiện nay Trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành xây dựng nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền XHCN - một mô hình chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, thì những công trình nghiên cứu như trên đã góp phần bổ sung thêm luận cứ khoa học
và thực tiên trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về thực tiễn lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04.03 (2005) : “Nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ” do tác giả Tạ Xuân Đại làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã phân tích
tầm quan trọng và cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam Làm
rõ thực trạng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, công trình nghiên cứu
đã phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng trong công cuộc này và yêu cầu của
Trang 14đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước
ở Việt Nam.
Phân tích thực trạng lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, củng cố nhànước trong thời kỳ bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước Trong công trình
nghiên cứu “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng, củng cố Nhà nước
giai đoạn 1986-1996” của PGS.TS Đoàn Minh Huấn xuất bản năm 2010.
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội đã hệ thống quá trình đổi mới tư duy, nhậnthức của Đảng về Nhà nước từ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhànước, từ nguyên lý tổ chức và hoạt động của Nhà nước đến vai trò lãnh đạocủa Đảng trong công cuộc xây dựng, củng cố Nhà nước Công trình nghiêncứu sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng Nhà nước theo hai mốc thời gianđánh dấu sự đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng:
- Những năm đầu xây dựng, củng cố Nhà nước theo tư duy đổi mới của
Cũng với cùng vấn đề về thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng,hoàn thiện Nhà nước, năm 2010 PGS.TS Hồ Xuân Quang đã xuất bản cuốn
sách chuyên khảo “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng
nhà nước pháp quyền XHCN từ năm 1996 đến năm 2006”, Nxb Chính trị
Quốc gia Sự thật, Hà Nội Đây là cuốn sách chuyên khảo kế thừa và phát triển
từ luận án tiến sỹ đã được bảo vệ thành công của tác giả vào năm 2008 Trongcuốn sách, tác giả Hồ Xuân Quang đã phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng với
Trang 15tư cách là đảng cầm quyền đối với sự nghiệp xây dựng nhà nước
Đồng thời, làm rõ thực trạng lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước từ năm 1996 đến năm 2006 Từ những thực
trạng đó, tác giả đưa ra các giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong
điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Có thể coi hai công trình nghiên cứu của các tác giả Đào Minh Huấn và
Hồ Xuân Quang là hai công trình nối tiếp nhau, nghiên cứu về cùng một vấn
đề là sự lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng, hoàn thiện Nhà nước ở hai giaiđoạn nối tiếp nhau: giai đoạn 1986-1996 và giai đoạn 1996-2006 Kết quả củahai công trình này đã cung cấp góc nhìn về sự thay đổi nhận thức của Đảngtrong lãnh đạo xây dựng Nhà nước và thực trạng lãnh đạo của Đảng trongcông cuộc này ở các giai đoạn của thời kỳ đổi mới
Sau khi Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam kết thúc, Viện Khoahọc xã hội nhân văn quân sự, Bộ Quốc phòng đã xuất bản bản cuốn sách
“Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong văn kiện Đại hội XII của Đảng”, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội do
PGS.TS Nguyễn Bá Dương và PGS.TS Nguyễn Văn Dũng đồng chủ biên, đãtập trung làm rõ quá trình nhận thức của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền XHCN qua 30 năm đổi mới; những thành tựu, hạn chế và sựcần thiết phải tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ởViệt Nam hiện nay Qua đó, phân tích làm rõ bản chất khoa học, cách mạngtrong từng quan điểm của Văn kiện Đại hội XII về xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN, đồng thời gợi mở những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, bổsung góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhànước pháp quyền XHCN Việt Nam trong tình hình mới
Công trình nghiên cứu: “Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam ” của PGS.TS Vũ Trọng
Lâm (2018), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội đã phân tích rất cụ thể
Trang 16cơ sở lý luận về đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và thực trạng Đảng
quyền XHCN Việt Nam.
Các nhóm công trình nghiên cứu nêu trên đã phân tích cụ thể nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam cầmquyền đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam; cung cấp hệ thống tri thức lýluận về nhà nước pháp quyền và vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyềnXHCN tại Việt Nam; đặc biệt là làm rõ thực tiễn lãnh đạo xây dựng nhà nướcViệt Nam trong các giai đoạn lịch sử của tiến trình cách mạng Việt Nam Cácgiá trị này góp phần hình thành tư duy lý luận và cung cấp các cơ sở, căn cứkhoa học cho tác giả Luận văn trong quá trình nghiên cứu các vấn đề liênquan trực tiếp đến: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xâydựng và hoàn thiện Nhà nước hiện nay
Những giá trị mà Luận văn mong muốn tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý và vai trò chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, đồng thời chỉ ra cơ sở chính trị trong hoạt động lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước của Đảng.
- Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong hoạt động lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước hiện nay.
- Dự báo những nhân tố tác động tới quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước thời gian tới và đề xuất các giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc này với tư cách là đảng cầm quyền duy nhất tại Việt Nam hiện nay.
Trang 173 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Mục đích của Luận văn là làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sảnViệt Nam trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Trên cơ sở đó, nghiên cứuthực trạng và những vấn đề đặt ra nhằm đưa ra những định hướng dự báo vềcác nhân tố tác động tới quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước Việt Namthời gian tới Đồng thời, đề xuất các giải pháp căn bản tăng cường sự lãnhđạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và hoàn thiệnnhà nước pháp quyền XHCN
3.2 Nhiệm vụ
Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu, làm rõ hơn một số vấn đề về vai tròcủa Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền trong hoạt động lãnh đạo xây dựng,hoàn thiện Nhà nước Việt Nam hiện nay:
- Làm rõ các khái niệm: đảng cầm quyền; đảng lãnh đạo; lãnh đạo xây
dựng và hoàn thiện nhà nước Chỉ ra các nội dung và phương thức Đảng lãnhđạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước
- Phân tích quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà
nước pháp quyền
- Phân tích cơ sở chính trị trong hoạt động lãnh đạo xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước
- Từ thực trạng lãnh đạo của Đảng và những vấn đề đặt ra, Luận văn
đưa ra các giải pháp khoa học nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trongxây dựng và hoàn thiện Nhà nước hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Namtrong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam hiện nay
Trang 184.2 Phạm vi nghiên cứu
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước là lĩnh vực rộng, liên quan đến nhiềuvấn đề có tính lý luận và thực tiễn cao Do vậy, dưới góc độ nghiên cứu củakhoa học chính trị, tác giả Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu vai trò lãnhđạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước tập trung ở các khíacạnh sự lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước;xây dựng hệ thống pháp luật; vấn đề công tác cán bộ và kiểm tra, giám sát củaĐảng
Thời gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vai trò của Đảng trong xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước từ Đại hội XII (2016) cho đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam vềvấn đề nhà nước và nhà nước pháp quyền XHCN
-Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận Học thuyết về nhà nước củachủ nghĩa Mác - Lênin (Lý luận nhà nước và pháp luật); tư tưởng Hồ ChíMinh về nhà nước kiểu mới; các lý thuyết và mô hình hoạt động của nhà nướcCộng hòa XHCN Việt Nam
Với nhiệm vụ nghiên cứu vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, hoànthiện Nhà nước hiện nay, Luận văn đi sâu nghiên cứu những quan điểm củaĐảng trong Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII về xây dựng,hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng hệ thống phương phápluận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, áp dụngnguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn Luận văn sử dụng các phương pháp cụ
Trang 19thể: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp logic;
Thứ nhất, Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống, tiếp
cận dưới góc độ khoa học chính trị trong nghiên cứu về vai trò của đảng cầmquyền đối với việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước
Thứ hai, trên cơ sở tổng kết các công trình nghiên cứu trước đó về
xây dựng nhà nước nói chung và nhà nước pháp quyền nói riêng Luận văngóp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Namtrong lãnh đạo xây dựng Nhà nước Việt Nam hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn:
Một là, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng lãnh đạo xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước, Luận văn nêu ra các yêu cầu đặt ra đối với Đảng Cộng sảnViệt Nam hiện nay trong hoạt động lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước
và dự báo những nhân tố tác động tới quá trình này trong thời gian tới
Hai là, kết quả nghiên cứu của Luận văn với những giải pháp tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nướcpháp quyền XHCN hiện nay có thể được áp dụng trong hoạt động thực tiễn
Thứ ba, Luận văn là công trình nghiên cứu độc lập, có thể tham
khảo trong việc giảng dạy, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
6.2 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về lĩnh vực xây dựngchính quyền nhà nước, các công trình nghiên cứu về đổi mới nội dung,phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp
Trang 20quyền Tuy vậy, quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
những luận cứ khoa học về mô hình nhà nước hiện đại và góp phần hoàn thiện
lý luận về xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do
dân và vì dân hiện nay.
Song song với việc nghiên cứu những vấn đề đặt ra trong quá trìnhĐảng lãnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước XHCN Việt Nam, trên cơ sởnghiên cứu tình hình thực tiễn của đất nước và bối cảnh hiện nay, Luận văngóp phần chứng minh sự cần thiết phải đổi mới mô hình tổ chức Nhà nướctheo hướng nhà nước pháp quyền - một mô hình tổ chức nhà nước có khảnăng phát huy dân chủ tốt nhất hiện nay Đồng thời, luận văn cũng đưa ra các
dự báo những nhân tố tác động tới quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nướcViệt Nam thời gian tới và đề xuất những giải pháp mang tính khả thi nhằmtăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện nhà nướcpháp quyền XHCN Việt Nam
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm
3 chương, 8 tiết
Trang 21Chương 1
Lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước 1.1 Lý luận cơ bản về đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay
1.1.1 Một số khái niệm
* Đảng cầm quyền
Điều kiện để một đảng chính trị trở thành đảng cầm quyền là đảngchính trị đó phải giành được chính quyền và chi phối được chính quyền nhànước Điều đó, đồng nghĩa với việc chỉ khi nào giành được chính quyền vànắm chính quyền thì khi đó đảng chính trị mới trở thành đảng cầm quyền
Đảng cầm quyền là một phạm trù được sử dụng rộng rãi ở các nướcphương Tây trong bối cảnh xã hội bắt đầu hình thành các đảng chính trị Đảngcầm quyền được định nghĩa theo những cách khác nhau:
- Ở các nước phương Tây, đảng cầm quyền được hiểu là đảng giành thế
đa số trong các cuộc bầu cử vào cơ quan quyền lực nhà nước, là đảng nắm giữ
đa số các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước, nắm quyền hành pháp có khảnăng kiểm soát quá trình hoạch định chính sách quốc gia
- Ở Việt Nam và một số nước theo định hướng XHCN, đảng cầm
quyền được hiểu là đảng được nhân dân ủy thác nắm giữ chính quyền, đượcghi nhận vai trò lãnh đạo trong Hiến pháp, sử dụng quyền lực chính trị để lãnhđạo đất nước
Từ những cách hiểu trên, có thể định nghĩa: đảng cầm quyền được hiểu
là đảng giành được chính quyền, giữ vai trò chi phối và kiểm soát toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị quốc gia, thông qua việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước để thực hiện mục tiêu, chiến lược và đường lối đảng.
* Đảng lãnh đạo
Cần phải phân biệt đảng cầm quyền với đảng lãnh đạo Đảng lãnh đạo
là khái niệm ít được sử dụng ở các nước phương Tây, khái niệm đảng lãnh
Trang 22đạo được các nhà kinh điển Mác - Lênin sử dụng bắt đầu vào những
cuối thế kỷ XIX khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời Trước khi phân
biệt giữa đảng cầm quyền và đảng lãnh đạo, cần phải hiểu và phân biệt rõ
hoạt động lãnh đạo và hoạt động cầm quyền:
Lãnh đạo là quá trình chủ thể lãnh đạo xác định chủ trương, đường lối
và tổ chức, hướng dẫn, động viên, huy động mọi nguồn lực, tiềm năng sángtạo của khách thể - đối tượng lãnh đạo, nhằm thực hiện những mục tiêu chung
đã xác định
Cầm quyền là việc thực thi quyền lực bằng chính quyền nhà nước, được
thể hiện thông qua việc bắt buộc mọi người phải thực hiện theo ý chí củamình
Như vậy, có thể hiểu lãnh đạo là khái niệm có tính định hướng, thuyếtphục còn cầm quyền mang ý nghĩa ràng buộc, có tính pháp lý Vì vậy, có thể
đưa ra khái niệm đảng lãnh đạo như sau: đảng lãnh đạo là sự định hướng,
động viên, cổ vũ, khích lệ quần chúng của đảng thực hiện những nhiệm vụ chính trị nhằm đạt tới mục tiêu nhất định.
Từ những vấn đề nêu trên, tác giả Luận văn cho rằng vấn đề cốt lõitrong hoạt động cầm quyền đó là vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, nếuvai trò lãnh đạo được thực hiện tốt thì vai trò cầm quyền của đảng có cơ sởvững chắc, còn nếu một đảng không thể hiện và thực hiện được vai trò lãnhđạo của mình thì việc cầm quyền của đảng đó có nguy cơ thất bại dẫn đếnviệc bị mất vị thế cầm quyền trong nền chính trị quốc gia
Đảng lãnh đạo là khái niệm rộng, các đối tượng lãnh đạo của đảngcũng rất rộng trong đó bao gồm hoạt động lãnh đạo chính quyền Lãnh đạochính quyền là một trong những hoạt động tiên quyết để duy trì và củng cốđịa vị cầm quyền của đảng
1.1.2 Đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay
Trang 23Đảng cầm quyền ở Việt Nam hiện nay là Đảng Cộng sản Việt Nam.Đảng Cộng sản Việt Nam là một đảng chính trị, là sản phẩm của sự kết hợpgiữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu
nước “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động
sự thành bại của cách mạng Việt Nam Nhân dân Việt Nam thừa nhận sự cầmquyền của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện thông qua việc tự nguyệnchấp hành, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và từng bước củng cốđịa vị pháp lý của Đảng cầm quyền
Hiến pháp năm 1946 chưa có một điều nào nói về sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) nhưng thôngqua hoạt động của mình, Đảng xác lập vai trò lãnh đạo đối với toàn bộ hoạtđộng của Nhà nước và nhân dân
Hiến pháp năm 1959, trong phần Lời nói đầu đã khẳng định: “Từ năm
1930, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương, ngày nay là Đảng lao động Việt Nam, cách mạng Việt Nam đã tiến lên một giai đoạn mới”
[59,tr.1] Đây là lần đầu tiên trong lịch sử vai trò lãnh đạo của Đảng đượcnhắc đến trong văn bản pháp lý quan trọng nhất của Việt Nam
Đến Hiến pháp năm 1980, lần đầu tiên địa vị pháp lý của Đảng đượcghi nhận trong chương I của Hiến pháp nhà nước Việt Nam Điều 4, Hiến
pháp 1980 khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham
Trang 24mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang
thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp.” [60,tr.3].
Như vậy, đây là bản hiến pháp đầu tiên ghi nhận Đảng là lực lượng duy nhất
lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội', cho thấy vai trò chính trị và địa vị pháp
lý của Đảng ngày càng được củng cố, không chỉ được nhân dân thừa nhận và
tự nguyên tin theo mà còn được hiến định một cách rõ ràng và cụ thể
Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng tại
Điều 4: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân
Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.” [61,tr.2].
Hiến pháp 2013 đã kế thừa Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1959, tiếp tụckhẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xãhội Điều 4, Hiến pháp 2013 đã có những đổi mới và bổ sung quan trọng vềvai trò lãnh đạo của Đảng cả về nội dung và hình thức so với Hiến pháp 1992.Hiến pháp 2013 khẳng định và làm rõ hơn bản chất và vai trò lãnh đạo của
Đảng: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân,
đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.” [62, tr.2] Hiến
pháp 2013 đã bổ sung một nội dung mới rất quan trọng ở khoản 2, Điều 4 đó
là "Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân
dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về
Trang 25những quyết định của mình" Đó vừa thể hiện bản chất của Đảng
như của chế độ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng.
Địa vị pháp lý vững chắc và vai trò chính trị được củng cố là điều kiện
để Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò tiền phong, lãnh đạotoàn thể dân tộc tiến lên phía trước và thực hiện thành công những mục tiêu,nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
1.1.2.2 Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong các văn bản chính trị - pháp lý của Đảng và Nhà nước, thuật ngữ
“Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội ” được sử dụng chính thức Khi nghiên
cứu về vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và Đảng lãnh đạo xây dựng, hoàn
thiện Nhà nước nói riêng, tác giả Luận văn hướng đến trả lời các câu hỏi Ai
lãnh đạo? Lãnh đạo Ai? Lãnh đạo cái gì? và Lãnh đạo như thế nào?.
Như đã phân tích ở phần 1.1.2.1 về địa vị pháp lý của Đảng, Hiến pháp
Việt Nam khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và
xã hội ” Nhà nước và xã hội là đối tượng chịu sự lãnh đạo của Đảng, như vậy
có nghĩa rằng vai trò lãnh đạo của Đảng bao quát tất cả các lĩnh vực của đờisống chính trị - xã hội Việt Nam bao gồm các vấn đề về chính trị, kinh tế, vănhóa, an ninh, quốc phòng
- Về chính trị: Vai trò lãnh đạo của Đảng được thể hiện thông qua việcxác định mục tiêu chính trị của Đảng và dân tộc; đường lối phát triển đấtnước, xây dựng và củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng và của xã hội; lãnhđạo hệ thống chính trị
Trang 26Hệ thống chính trị Việt Nam là một chỉnh thể bao gồm Đảng Cộng sảnViệt Nam, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể chính trị xã hội hợp pháp Đảng với tư cách là một thành viênnhưng đồng thời là hạt nhân lãnh đạo của Hệ thống Đảng thực hiện sự lãnhđạo chính trị đối với toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị,trong đó có Nhà nước
- Về kinh tế: Đảng lãnh đạo đường lối phát triển kinh tế của đất nước
thông qua việc xác định thể chế kinh tế, các thiết chế kinh tế và lãnh đạo toàn
bộ hoạt động của nền kinh tế đất nước Đảng lãnh đạo kinh tế nhưng khôngcan thiệp vào sự vận hành của nền kinh tế, các quy luật thị trường mà Đảngvạch ra đường hướng cho sự phát triển kinh tế với phương châm tôn trọng cácquy luật khách quan của thị trường; thông qua Nhà nước và bằng Nhà nướcđiều tiết nền kinh tế nếu thấy có nguy cơ đi chệch với mục tiêu phát triểnchung của nền kinh tế đất nước và thế giới
- Về văn hóa: Đảng xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
là mục tiêu và động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Đảng lãnh đạoxây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tiến
hành giao lưu và kiểm soát quá trình tiếp biến văn hóa với phương châm “hòa
nhập, không hòa tan ”; lãnh đạo lĩnh vực văn hóa bao gồm các nhiệm vụ về
xây dựng con người Việt Nam mới; xây dựng môi trường văn hóa; phát triểnvăn học nghệ thuật; bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa; phát triển sựnghiệp giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ; quản lý thông tin đại chúng
và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số
- Về an ninh, quốc phòng: Đảng xác định vai trò lãnh đạo trực tiếp và
toàn diện đối với các lực lượng vũ trang; lãnh đạo đảm bảo môi trường đấtnước hòa bình, ổn định để tạo điều kiện phát triển mọi mặt; giữ vững an ninh
và lãnh thổ, chủ quyền quốc gia
Trang 27Vai trò lãnh đạo của Đảng bao quát tất cả các lĩnh vực của đời sốngchính trị - xã hội không có nghĩa Đảng làm thay công việc của Nhà nước màcần phân biệt rõ giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò, nhiệm vụ quản lý,điều hành của Nhà nước Đảng tiến hành hoạt động cầm quyền không cónghĩa là quyền lực chính trị của Đảng trở thành quyền lực nhà nước mà phảithông qua bộ máy nhà nước để thực hiện cương lĩnh chính trị, chủ trương,đường lối của Đảng.
1.2 Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản về Đảng lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước
Lãnh đạo nhà nước là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và đượcquan tâm nhất của bất cứ đảng cầm quyền nào Với Đảng Cộng sản Việt Nam,lãnh đạo Nhà nước là một trong những vai trò trung tâm trong việc thực hiệnquyền lực chính trị của Đảng, thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước để thựchiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng
- Khái niệm xây dựng và hoàn thiện nhà nước: Theo từ điển tiếng Việt:
xây dựng được hiểu là làm cho hình thành một cộng đồng, một chính thể vềchính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa theo đường lối, chủ trương nhất định Hoànthiện là làm cho tốt hơn
Như vậy, xây dựng và hoàn thiện nhà nước là quá trình bao gồm các
hoạt động kiến thiết, hình thành,củng cố và phát triển thiết chế nhà nước nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị nhất định.
- Khái niệm Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước:
Lãnh đạo là quá trình chủ thể lãnh đạo xác định chủ trương, đường lối
và tổ chức, hướng dẫn, động viên, huy động mọi nguồn lực, tiềm năng sángtạo của khách thể - đối tượng lãnh đạo, nhằm thực hiện những mục tiêu chung
đã xác định Cóthể định nghĩa:
Trang 28Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước là toàn bộ những hoạt động của Đảng tác động đến quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước bằng các nội dung và phương thức phù hợp nhằm thực hiện mục tiêu chính trị trong từng giai đoạn nhất định.
Vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước thể hiện ở ba vấn đề cơ bản đó là: Nội dung lãnh đạo; phương thức lãnh đạo và quá trình tổ chức thực hiện.
1.2.2 Nội dung Đảng lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước là toàn bộ những công việc, những hoạt động của Đảng tiến hành tác động vào quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước nhằm mục tiêu tạo ra một “Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ” Nội dung lãnh đạo của Đảng trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
được thể hiện trong của Cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng về vấn đề xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, đảm bảo tínhđịnh hướng chính trị cho toàn bộ tổ chức và hoạt động của Nhà nước ViệtNam
Có thể khái quát nội dung lãnh đạo của Đảng trong xây dựng, hoànthiện Nhà nước thành những vấn đề cơ bản, trọng yếu sau đây:
Một là, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về vấn đề Nhà
nước là định hướng chính trị, là căn cứ để xác định các mục tiêu trong quátrình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
Thông qua đường lối về xây dựng Nhà nước, Đảng lãnh đạo việc xácđịnh kiểu Nhà nước, hình thức tổ chức Nhà nước; xác định chức năng, nhiệm
vụ của các thiết chế Nhà nước như: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, cơquan tư pháp và chính quyền địa phương
Hai là, Đảng lãnh đạo việc xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế - xã hội của
Nhà nước Xác định quan điểm, nội dung cơ bản về nguyên tắc tổ chức và
Trang 302 8
hoạt động của Nhà nước; phương thức vận hành Nhà nước; Đảng lãnh đạoxây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức Nhà nước ở Trung ương và địaphương
Ba là, Đảng xác định quan điểm, phương hướng và nội dung cơ bản về
xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình xâydựng, hoàn thiện Nhà nước; xác lập và củng cố nền dân chủ XHCN
Bốn là, Đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát hoạt động xây dựng
và hoàn thiện Nhà nước
Năm là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ
cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống các cơ quan Nhà nước
Nội dung lãnh đạo không thể tách rời phương thức lãnh đạo Nội dunglãnh đạo phải qua những phương thức lãnh đạo phù hợp thì quá trình xâydựng và hoàn thiện Nhà nước mới được thực hiện một cách khoa học và đạthiệu quả cao
1.2.3 Phương thức lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước của Đảng
Phương thức lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước của Đảng là phương pháp, cách thức và biện pháp mà Đảng sử dụng để tác động vào quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng.
Cơ sở lý luận trực tiếp để chỉ ra những phương thức Đảng sử dụng đểlãnh đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước hiện nay là những chủ trương,
đường lối và quan điểm của Đảng được thể hiện trong: Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011); văn kiện Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ của Đảng năm 1994, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa X; Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về vấn đề xây dựng nhà nước
Trang 312 9
pháp quyền XHCN Trên cơ sở đó, các phương thức Đảng lãnh đạo
và hoàn thiện Nhà nước gồm những vấn đề cơ bản sau:
Một là, Đảng định hướng chính trị cho quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước.
Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước bằng định hướng chính trị là việcĐảng đề ra chủ trương, đường lối, nghị quyết về vấn đề xây dựng, hoàn thiệnNhà nước Có thể khẳng định, định hướng chính trị là phương thức quan trọngnhất và chủ yếu nhất mà Đảng sử dụng trong việc lãnh đạo xây dựng, hoànthiện Nhà nước Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh chính trị, các Nghị quyết, chỉthị thể hiện ý chí và quan điểm của Đảng về lãnh đạo Nhà nước, xây dựng vàtừng bước hoàn thiện chính quyền nhà nước theo mục tiêu chính trị của Đảng
Hai là, Đảng lãnh đạo bằng việc đề ra phương hướng và những nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng một Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.
Ba là, Đảng lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước bằng công tác cán bộ.
Đảng lãnh đạo xây dựng, hoàn thiện Nhà nước bằng công tác cán bộ làviệc Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất và năng lực vàohoạt động trong các cơ quan nhà nước để biến quá trình thực hiện nghĩa vụcủa cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước thành thực hiện nhiệm vụ củaĐảng Đồng thời, Đảng lãnh đạo việc tuyển dụng công chức, nhân viên công
vụ có phẩm chất, năng lực tốt vào làm việc trong hệ thống chính trị và các cơquan nhà nước
Đảng chỉ đạo thành lập các tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước đểviệc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng, hoàn thiệnNhà nước được thực hiện một cách liên tục, xuyên suốt và toàn diện Thôngqua những đảng viên của Đảng hoạt động trong cơ quan nhà nước và các tổchức đảng trong cơ quan nhà nước mà Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mìnhtrong việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Đây là một phương thức lãnh đạo
Trang 323 0
quan trọng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước vì
đó đưa ra các phương án củng cố và hoàn thiện Nhà nước cho phù hợp Ngoài
ra, việc lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủtrương, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước sẽ giúpĐảng kịp thời chấn chỉnh, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thựchiện các nhiệm vụ về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước
Năm là, Đảng lãnh đạo bằng việc phát huy vai trò của các tổ chức trong thiết chế Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội
và của nhân dân vào quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước.
Đảng xác định nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước là tráchnhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn xã hội Vì vậy, việc phát huy vai tròcủa cả hệ thống chính trị và nhân dân trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
là cần thiết để quá trình này được thực hiện hiệu quả, nâng cao năng lực vàhiệu quả hoạt động của Nhà nước Bởi, suy cho cùng xây dựng và hoàn thiệnNhà nước cũng là để Nhà nước phát huy vai trò, chức năng của mình thựchiện nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó
Nội dung và phương thức lãnh đạo xây dựng và hoàn thiện Nhà nước
có thể thay đổi phù hợp với yêu cầu của từng thời kỳ cách mạng, phù hợp với
Trang 333 1
Cương lĩnh, đường lối của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
1.3.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ ChíMinh không có một công trình nghiên cứu riêng biệt và cụ thể nào về vấn đềxây dựng nhà nước nhưng những giá trị trong tư tưởng về xây dựng nhà nướcđược phản ánh trong các văn bản pháp lý do Hồ Chí Minh trực tiếp chắp bútsoạn thảo hoặc chỉ đạo soạn thảo như: Tuyên Ngôn độc lập năm 1945, Hiếnpháp 1946, Hiến pháp 1959; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nướccòn được thể hiện trong các hoạt động thực tiễn của Người về điều hành, quản
lý đất nước, xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước và kiểm soát quyền lực nhànước
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà nước kiểu mới khác hoàn toàn về mặtbản chất với nhà nước quân chủ phong kiến và nhà nước thuộc địa tồn tạitrước đó ở Việt Nam Nhà nước kiểu mới là một nhà nước thật sự dân chủ, đó
là nhà nước do nhân dân xây dựng và thực hành dân chủ với nhân dân, nhànước được xây dựng trên cơ sở hợp Hiến và hoạt động dựa vào các quy địnhcủa pháp luật
Xây dựng nhà nước kiểu mới phải thực sự là nhà nước của dân, do dân
và vì dân.
Quan điểm xuyên suốt của Hồ Chí Minh là tất cả mọi quyền lực trong
cả nước đều thuộc về nhân dân Nhân dân lao động làm chủ Nhà nước cónghĩa là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước Nhân dân bầu ra Quốc hội
và hội đồng nhân dân các cấp, đây là quyền làm chủ gián tiếp song song với
Trang 343 2
các quyền làm chủ trực tiếp của người dân Quyền làm chủ và kiểm soát củanhân dân được thể hiện ở việc nhân dân bầu ra nhưng cũng chính nhân dân cóquyền bãi miễn các đại biểu không còn xứng đáng với sự tin cậy của nhân dân
và không còn đại diện cho ý chí, nguyện vọng của dân Hồ Chí Minh nêu raquan điểm dân là chủ và dân làm chủ Bằng thiết chế dân chủ, Nhà nước phải
có trách nhiệm bảo đảm quyền làm chủ của dân, để cho nhân dân thực thiquyền làm chủ của mình trong hệ thống quyền lực của xã hội Một nhà nướcnhư thế là một nhà nước tiến bộ trong bước đường phát triển của nhân loại
Nhà nước của dân là nhà nước mà “Bao nhiêu quyền hạn đều của dân’”
[48,tr.698]
Nhà nước do dân là nhà nước do nhân dân xây dựng và do nhân dântham gia quản lý Trong điều kiện của nhà nước Việt Nam mới sau khi thànhlập, một trong những điều đầu tiên hướng đến xây dựng Nhà nước kiểu mới làphải có một Hiến pháp để đảm bảo cơ sở pháp lý cho hoạt động của Nhà nước
và quyền lợi của nhân dân Chính vì thế, Hiến pháp 1946 đã được ra đời, ngaytrong Điều 1, Chương 1 của bản Hiếp pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới
đã khẳng định: ‘‘Tất cả quyền bính trong nước là của nhân dân Việt Nam,
không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo'’” [58, tr.1].
Có thể thấy rằng, nhà nước Việt Nam mới là nhà nước của nhân dân, do nhân
dân mà hoạt động, được nhân dân trao quyền để thực hiện việc “mưu cầu
hạnh phúc cho nhân dân””.
Nhà nước vì dân là nhà nước hoạt động vì lợi ích của nhân dân, tưtưởng vì dân không những là kim chỉ nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước kiểm mới mà còn là phương châm trong tất cả các hoạt động của Ngườitrên cương vị là người đứng đầu Nhà nước Tất cả đều vì nhân dân Hồ Chí
Minh đã từng nhắc nhở cán bộ, đảng viên rằng “Việc gì có lợi cho dân thì
phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh””.
Trang 353 3
Nhân dân chính là chủ thể của quyền lực nhà nước Hồ Chí Minh nhậnthấy, để quy định tính pháp lý của chủ thể quyền lực nhà nước thì nhân dânphải là người tham gia xây dựng nhà nước đó và phải ý thức được quyền làmchủ của mình thông qua việc trực tiếp thực hiện quyền lực của mình trongviệc xây dựng chính quyền cách mạng Trong lời kêu gọi toàn dân đi bỏ phiếu
Tổng tuyển cử năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Ngày mai, là một
ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ Ngày mai, là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình” [49, tr.145] Như vậy, bộ máy nhà nước Việt Nam hiện đại với
những thiết chế dân chủ đầu tiên đã được hình thành thông qua việc nhân dântham gia bầu cử để xây dựng chính quyền cách mạng
Nhà nước kiểu mới được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật
Hoạt động của một nhà nước bao giờ cũng phải được bảo đảm trên cơ
sở Hiến pháp và pháp luật Một nhà nước không được tổ chức và hoạt độngtrên cơ sở những quy định của Hiến pháp là một nhà nước bất hợp pháp và vihiến Hiến pháp với tư cách là đạo luật gốc của mỗi quốc gia, gồm những quyđịnh có giá trị pháp lý cao nhất điều chỉnh các nguyên tắc tổ chức và hoạtđộng của nhà nước, hình thức nhà nước, mối quan hệ giữa nhà nước với nhân
dân: “Hiến pháp là tất cả những quy tắc pháp lý quan trọng nhất ấn định
hình thể quốc gia, ấn định các cơ quan điều khiển quốc gia, cùng những thẩm quyền của các cơ quan ấy Hiến pháp là văn bản phản ánh tổ chức chính trị của quốc gia” [19, tr.10] Trong Chương I của Hiến pháp 1946 xác định
chính thể của nhà nước Việt Nam mới gồm 3 điều trong đó nêu rõ: “Nước
Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa” [58, tr.1]; Hiến pháp 1959 một lần
nữa xác định và nhấn mạnh hơn chính thể nhà nước dân chủ nhân dân: “Nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, thành lập và củng cố do thắng lợi mà nhân dân
Trang 363 4
Việt Nam đã giành được trong cách mạng tháng Tám vẻ
anh dùng, là một nước dân chủ nhân dân ” [59, tr.2]
Hồ Chí Minh chú trọng đến việc xây dựng nhà nước kiểu mới mà ở đóquyền lực nhà nước phải được tổ chức theo quy định của Hiến pháp và phápluật Trong hai bản Hiến pháp mà chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia với cương
vị là Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959, bộ máy nhànước đều hoạt động theo nguyên tắc thống nhất ở tính nhân dân và có sự phâncông, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lậppháp, hành pháp và tư pháp Điều này thể hiện, mọi hoạt động của nhà nướcphải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không một nhà nước nào đượcđứng trên pháp luật và cũng không có một nhà nước nào đứng ngoài phápluật Vì Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những quy định củapháp luật nên nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạtđộng của mình, điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước phải chịu trách nhiệmtrước nhân dân - chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước
1.3.2 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền
Trước hết cần phải khẳng định, nhà nước pháp quyền là một mô hình tổchức nhà nước chứ không phải là một kiểu nhà nước Bàn về vấn đề nhà nướcpháp quyền là nói đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máynhà nước do pháp luật quy định; thừa nhận tính tối thượng của luật pháp; pháttriển nền dân chủ, nhân quyền Trên thực tế nhà nước pháp quyền được tiếpcận dưới nhiều góc độ và ở mỗi quốc gia khi xây dựng nhà nước pháp quyềnlại có cách định nghĩa khác nhau về mô hình nhà nước này
Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo xây dựng và hoànthiện Nhà nước Việt Nam ở mỗi thời kỳ cũng đã có những nhận thức, quanđiểm khác nhau về nhà nước pháp quyền, dù trực tiếp hay gián tiếp nhắc đến
“nhà nước pháp quyền” nhưng đều khẳng định xây dựng nhà nước Việt Nam
trên cơ sở pháp luật và dựa vào pháp luật để quản lý xã hội
Trang 373 5
Trước thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ViệtNam chưa sử dụng thuật ngữ nhà nước pháp quyền, nhưng các nội dung vàyêu cầu khách quan của nhà nước pháp quyền đã từng bước được nhận thức,diễn đạt và thể hiện ngày càng rõ nét trong các bản Hiến pháp và những vănbản pháp lý quan trọng
Quan điểm của Đảng về nhà nước pháp quyền từ Đại hội VII cho đến nay
Đại hội lần thứ VII (1991) Đảng Cộng sản Việt Nam chưa nêu ra thuậtngữ nhà nước pháp quyền mà chỉ nêu ra phương hướng cải cách nhà nước
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được
thông qua tại Đại hội này đã nêu ra những nội dung quan trọng về xây dựng
nhà nước mang tư tưởng của nhà nước pháp quyền: “xây dựng nhà nước pháp
quyền XHCN, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do đảng cộng sản lãnh đạo Thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân"” [29, tr.228].
Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảngnăm 1994, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức sử dụng và đưa vào văn kiện
thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” Văn kiện khẳng định: “Tiếp tục xây dựng
và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN” [29,
tr.312] Đây là lần đầu tiên Đảng xác định lãnh đạo xây dựng và hoàn thiệnNhà nước theo mô hình nhà nước pháp quyền
Một năm sau đó, tại Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (1995), Nghị
quyết số 08-NQ/HNTW ngày 23/1/1995 về Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền
Trang 383 6
hành chính, Đảng đã chỉ rõ 5 quan điểm cơ bản về xây
Tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII (6/1997) thì thuật ngữ “Nhà nước
pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân’” mới chính thức xuất hiện tại Văn
kiện Khi đánh giá về quá trình xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy Nhà
nước, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ: “Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, còn nhiều việc vừa phải làm, vừa phải rút kinh nghiệm””
[4, tr.40] Như vậy, đến Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII thì việc xây dựngnhà nước pháp quyền được xác định là một quan điểm chỉ đạo xuyên suốttoàn bộ nội dung đổi mới tổ chức hoạt động của Nhà nước, đánh dấu mộtbước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng về nhà nước pháp quyền
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ IX (2001), quan điểm vềnhà nước pháp quyền tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và có bước phát triển
mới toàn diện hơn: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” [25, tr.131].
Đại hội cũng khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền là tất yếu trong quátrình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đồng thời bổ sung những vấn đề
lý luận và thực tiễn trong công cuộc xây dựng nhà nước Việt Nam XHCN
Đến Đại hội X (2006) và Đại hội XI (2011), Đảng tiếp tục khẳng địnhxây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những nhiệm vụ trọng
Trang 393 7tâm của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đảm bảo đúng định
Trang 403 8
hướng XHCN trong thời kỳ mới Đại hội XI nêu quan điểm:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), Đảng khẳng định: “Tiếp
tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp 2013, đáp ứng các đòi hỏi của nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” [31, tr.175-176] Trong văn kiện Đại hội XII, Đảng nêu rõ việc
phải hoàn thiện nhà nước để đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyềnđồng thời phải đặt việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước trong bối cảnh mớicủa việc phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay
Như vậy, qua các văn kiện Đại hội và những văn bản quan trọng củaĐảng và Nhà nước cho thấy quan điểm về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
đã có những bước phát triển về nhận thức cũng như tư duy lý luận về mô hìnhnhà nước qua từng thời kỳ