Phân tích tình hình vốn và cơ cấu vốn của công ty: Việc phân tích tình hình vốn và cơ cấu vốn qua các năm giúp cho chúng tathấy được tình hình tài chính hiện tại cũng như sự ảnh hưởng củ
Trang 1KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 2 4.1 Phân tích tình hình tài chính hiện tại
Thông qua việc phân tích tình hình tài chính của công ty tại thời điểm hiệntại giúp cho ta thấy thực trạng về nguồn vốn, tài sản, nguồn hình thành tài sản, cáckhoản nợ của công ty Từ đó đánh giá được những mặt mạnh mà công ty đang có
và những mặt hạn chế mà công ty đang mắc phải Bên cạnh đó cũng giúp cho tathấy được cơ cấu tài sản, nguồn vốn của công ty có hợp lý không, tổng tài sản củacông ty cao hay thấp, công ty đang kinh doanh có lãi hay lỗ Từ thực trạng tàichính của công ty giúp cho ta có cái nhìn khách quan về khả năng huy động vốncủa công ty và đưa ra những kết luận về năng lực tài chính của công ty
4.1.1 Phân tích tình hình vốn và cơ cấu vốn của công ty:
Việc phân tích tình hình vốn và cơ cấu vốn qua các năm giúp cho chúng tathấy được tình hình tài chính hiện tại cũng như sự ảnh hưởng của nó đến năng lựctài chính của công ty vì nếu số vốn tăng giảm qua các năm thì có nghĩa là khả nănghuy động vốn, hoàn vốn của công ty cũng bị ảnh hưởng theo dẫn tới năng lực tàichính của công ty bị biến động
4.1.1.1 Phân tích tình hình vốn của công ty:
Vốn của doanh nghiệp là một bộ phận vô cùng quan trọng, doanh nghiệpmuốn hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có vốn Để hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp tiến hành một cách bình thường, liên tục và có hiệu quảthì doanh nghiệp phải có đủ vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của mình Tiếnhành phân tích biến động vốn của doanh nghiệp chính là xem xét sự tăng giảm tàisản của doanh nghiệp qua các năm như thế nào, sự biến động này là do nguyên
Trang 2nhân nào, có hợp lý không, có ảnh hưởng gì đến năng lực tài chính của công tykhông.
Dựa vào một số chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán của công ty ta có bảng4:
Qua bảng 4 ta thấy: tổng số vốn của năm 2006 tăng 25.01% so với năm
2005 nhưng năm 2007 lại giảm 7.69% so với năm 2006 Điều đó có thể đánh giárằng qua 3 năm quy mô về vốn của công ty có sự giảm đi Sự biến động đó là doảnh hưởng của các yếu tố sau:
- Giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn năm 2006 tăng27.67% sovới năm 2005, năm 2007 giảm 19.68 % so với năm 2006 Cụ thể:
+ Vốn bằng tiền năm 2006 tăng 7.799 tỷ đồng, tương ứng tăng 128.63% sovới năm 2005 và năm 2007 tăng 5.886 tỷ đồng, tương ứng tăng 42.46% so vớinăm 2006 Vốn bằng tiền tăng qua các năm chủ yếu là do thu được tiền từ kháchhàng sau khi bàn giao sản phẩm công trình hoàn thiện, thu tiền từ người mua sảnphẩm của công ty…Như vậy, việc vốn bằng tiền tăng lên cho thấy khả năng thanhtoán tức thời của công ty tăng lên, đây là yếu tố thuận lợi giúp công ty có thể huyđộng vốn nhanh nếu cần thiết nhưng không nên để vốn bằng tiền nhiều quá so vớitổng vốn vì có thể làm giảm khả năng sinh lợi của đồng tiền
+ Các khoản phải thu ngắn hạn là chỉ tiêu phản ánh công nợ phải thu hayphần vốn của công ty bị chiếm dụng Qua bảng ta thấy các khoản phải thu ngắnhạn của công ty năm 2006 tăng 15.557 tỷ, tương ứng với 17.51% nhưng đến năm
2007 đã giảm 34.125 tỷ đồng, tương ứng với 32.69% Điều này chứng tỏ công ty
đã tích cực thu hồi các khoản phải thu, giảm bớt được sự ứ đọng vốn trong khâuthanh toán, góp phần làm tăng năng lực tài chính của công ty
Trang 3+ Hàng tồn kho cũng thay đổi, đây là một tài sản dự trữ với mục đích đảmbảo cho sản xuất được tiến hành một cách bình thường, liên tục và bao gồm cảthành phẩm, hàng hóa của công ty sản xuất ra hay mua về kinh doanh Qua bảng
ta thấy: hàng tồn kho năm 2006 tăng 28.331 tỷ tương ứng với tăng 28.92% nhưngnăm 2007 lại giảm so với năm 2006 là 23.705 tỷ đồng tương ừng giảm 18.77%.Điều này là do năm 2006 công ty nhận được nhiều hợp đồng và dự báo có khảnăng NVL sẽ tăng giá nên công ty đã mua sắm khá nhiều để dự trữ Việc tăng lênnày cũng dễ hiểu, đó là do quá trình sản xuất của công ty đã vượt mức kế hoạch,công ty đã có sự chuẩn bị tốt trong khâu dự trữ, nhờ đó mà hoạt động kinh doanhcủa công ty không bị phụ thuộc mà luôn chủ động Còn năm 2007 thì công ty đã sửdụng số vật tư dự trữ trong sản xuất nên lượng hàng tồn kho giảm, bên cạnh đó còn
do công ty đã tiêu thụ tốt những sản phẩm làm ra nên hàng tồn kho cũng giảmxuống, điều này góp phần chứng tỏ sản phẩm của công ty ngày càng có chất lượngcao và có sức cạnh tranh trên thị truờng
+ Còn về tài sản lưu động khác thì qua 3 năm đều có sự tăng lên với tỷ lệkhá cao, đây là một phần vốn chi tạm ứng cho cán bộ công nhân viên đi công tác,chi cho các dịp lễ, tết…Việc này cho thấy việc thu hồi tạm ứng chưa tốt
- Tài sản cố định và đầu tư dài hạn thì tăng đều qua 3 năm Cụ thể:+ Khi phân tích chúng ta không thể không quan tâm tới một lượng lớnTSCĐ của công ty Đây là một loại chi phí cố định không thay đổi lớn trong mộtthời gian ngắn, sự thay đổi của tài sản cố định này chỉ do thanh lý, nhượng bán haymua sắm thêm
Qua bảng ta thấy: Tài sản cố định năm 2006 tăng 19.857 tỷ tương ứng với29.01% so với năm 2005 và năm 2007 cũng tăng 16.717 tỷ đồng tương ứng với18.93% so với nam 2006 Điều này cho thấy công ty đã và đang có sự chú trọngđầu tư chiều sâu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình
Trang 4Nhìn chung, số vốn của công ty có sự giảm đi, chủ yếu là do tài sản lưuđộng và đầu tư ngắn hạn thay đổi Mà tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn thì thayđổi còn phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng nó, tùy từng năm mà số tài sản này thay đổitheo quy mô hoạt động Do vậy, để rút ra những nhận xét tổng quát và chính xác vềthực trạng trên, chúng ta cần xem xét tính hợp lý trong bố trí cơ cấu vốn nhữngnăm vừa qua.
4.1.1.2 Phân tích cơ cấu tài sản của công ty:
Thông qua việc phân tích cơ cấu tài sản của công ty cho ta thấy từng loạitài sản chiếm bao nhiêu trong tổng số vốn của công ty Từ đó cho ta thấy được sựbiến động trong cơ cấu đầu tư vốn có ảnh hưởng như thế nào đến năng lực tàichính của công ty Cơ cấu tài sản của công ty được thể hiện qua bảng 5:
Qua bảng ta thấy: - tài sản ngắn hạn của công ty chiếm tỷ trọng lớn trongtổng tài sản của công ty, ngược lại tài sản dài hạn lại chiếm tỷ trọng nhỏ hơn trongtổng tài sản của công ty, năm 2005 tài sản ngắn hạn là 68.13%, tài sản dài hạn là31.87%, năm 2006 tài sản ngắn hạn là 69.57%, tài sản dài hạn là 30.43% và năm
2007 tài sản ngắn hạn là 60.53%, tài sản dài hạn là 39.47% Tỷ trọng của tài sảnngắn hạn, tài sản dài hạn tăng, giảm không theo quy luật qua 3 năm nên ta khôngthể kết luận tình hình tài chính tốt hay xấu, vì thế để đánh giá năng lực tài chínhcủa công ty tốt hay xấu qua việc phân tích cơ cấu tài sản của công ty ta cần đi sâuvào phân tích những khoản mục chi tiết
- Tài sản ngắn hạn:
+ Qua 3 năm thì ta thấy lượng hàng tồn kho chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tàisản ngắn hạn, năm 2004 là 97.978 tỷ đồng chiếm 49.86% tổng tài sản ngắn hạn,năm 2006 là 126.310 tỷ đồng chiếm 50.35% tài sản ngắn hạn và năm 2007 là102.604 tỷ đồng chiếm 50.92% tài sản ngắn hạn Hàng tồn kho của công ty chiếm
Trang 51 tỷ trọng lớn là do công ty đã dự trữ một lượng lớn vật tư do đặc điểm của kinhdoanh của công ty chuyên xây dựng các công trình thủy điện mà các công trìnhthủy điện thường xa các trung tâm cung ứng vật tư nên rất khó khăn trong việc thumua nguyên vật liệu tại địa bàn thi công Vì thế công ty luôn phải dự trữ một lượngnguyên nhiên vật liệu lớn trong kho để sẵn sàng cung ứng kịp thời cho các côngtrường của mình nhằm đảm bảo đúng tiến độ thi công Bên cạnh đó, một số dự án
hạ tầng phân lô, các căn hộ xây dựng đã hoàn thành xong nhưng chưa được báncũng coi là hàng tồn kho nên làm cho giá trị hàng tồn kho của công ty tăng lên
+ Bên cạnh đó thì các khoản phải thu ngắn hạn cũng chiếm tỷ trọng lớntrong tổng tài sản ngắn hạn
Cụ thể, năm 2005, các khoản phải thu chiếm 45.21% trong tổng tài sảnngắn hạn, năm 2006 chiếm 41.62% và đến năm 2007 chiếm 34.88% trong tổng tàisản ngắn hạn Tỷ trọng các khoản phải thu có xu hướng giảm qua 3 năm, điều nàycho thấy công ty đã áp dụng có hiệu quả các biện pháp thu hồi nợ, khả năng bánhàng của công ty là tương đối chắc chắn Hơn nữa, việc giảm tỷ trọng các khoảnphải thu cho thấy khả năng thu hồi đồng vốn nhanh hơn làm cho vốn không bị ứđọng, khả năng quay vòng vốn nhanh dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn của công tycao hơn Từ đó cho thấy năng lực tài chính của công ty những năm qua đã có xuhướng tăng lên, do vậy, việc giảm tỷ trọng các khoản phải thu là một yếu tố thuậnlợi mà công ty cần phát huy
+ Về vốn bằng tiền thì chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản ngắn hạn Qua
3 năm vốn bằng tiền tăng cả về giá trị lẫn cơ cấu, từ 3.09% năm 2005 đến 5.53%năm 2006 và 9.8% năm 2007 Điều này giúp cho khả năng thanh toán của công ty
có xu hướng khả quan hơn
+ Còn về tài sản lưu động khác cũng giống như vốn bằng tiền là chiếm tỷtrọng nhỏ trong tổng tài sản lưu động và đều tăng lên cả về giá trị và cơ cấu nhưng
Trang 6điều này lại không phải là tốt như với vốn bằng tiền Đây là do các khoản tạm ứngtăng lên, việc thu hồi tạm ứng đạt kết quả chưa tốt
- Đối với tài sản dài hạn thì có sự tăng lên về giá trị qua 3 năm và có xuhướng ngày càng tăng, năm 2005 là 91.393 tỷ đồng, năm 2006 là 109.714 tỷ đồng
và năm 2007 là 131.364 tỷ đồng Cụ thể:
+ Tài sản cố định có giá trị tăng dần qua 3 năm, chiếm tỷ trọng lớn trongtổng tài sản dài hạn, năm 2005 là 68.456 tỷ đồng chiếm74.46% tổng tài sản dàihạn, năm 2006 là 88.313 tỷ đồng chiếm 80.49% tổng tài sản dài hạn và năm 2007
là 105.030 tỷ đồng chiếm 79.95% tổng tài sản dài hạn Việc tăng tài sản cố định là
do chi phí xây dựng cơ bản dở dang tăng lên Điều này cho thấy xu hướng tăng tàisản dài hạn của công ty là tập trung, đầu tư chú trọng cho việc xây dựng cơ bảnnhằm phục vụ cho sản xuất và tăng quy mô sản xuất trong tương lai
+ Đầu tư tài chính dài hạn cũng tăng lên làm cho tài sản dài hạn tăng lên.Các khoản đầu tư tài chính tăng lên chủ yếu là do công ty đầu tư vào các công tycon và công ty liên doanh nhằm mục tiêu tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho công ty
Như vậy, qua phân tích trên đây ta thấy cơ cấu tài sản của công ty chưa thậthợp lý vì tỷ trọng tài sản ngắn hạn chiếm tới gần 70% tổng tài sản của công ty.Việc tài sản cố định chiếm tỷ trọng thấp hơn tài sản ngắn hạn làm giảm đi sự chủđộng trong sản xuất kinh doanh và ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của công
ty vì các nhà đầu tư cũng thường căn cứ vào lượng tài sản cố định mà công tycótrong tổng số tài sản công ty có để đưa ra quyết định trong việc cho công ty vayvốn Bởi vậy có thể nói cơ cấu tài sản của công ty như vậy sẽ là một yếu tố bất lợitrong quá trình huy động vốn của công ty làm giảm năng lực tài chính của công ty
Do đó công ty cần nhanh chóng thực hiện việc đầu tư chiều sâu mua sắm máy mócthiết bị phương tiện vận chuyển làm tăng giá trị của tài sản cố định trong tổng sốtài sản cao hơn nữa để hạn chế tình trạng việc thuê mướn phương tiện vận chuyển
Trang 7và làm cho cơ cấu tài sản hợp lý Có như vậy mới khiến cho tiến độ thi công nhanhhơn, hiệu quả kinh doanh tăng và tạo thuận lợi cho công ty trong việc vay vốn đầu
tư, từ đó giúp công ty nâng cao được năng lực tài chính của mình Ngoài ra, tỷ lệcủa các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho vẫn còn lớn trong tổng tài sản nêncông ty cần nâng cao và thúc đẩy hơn nữa quá trình tiêu thụ sản phẩm cũng nhưtrong quá trình thu hồi nợ để tránh tình trạng ứ đọng vốn làm cho năng lực tàichính của công ty ngày càng tốt hơn
Những nội dung trên đây cho ta thấy được tổng quát về thực trạng tài chínhcủa công ty, tuy nhiên, để xem xét nội dung bên trong của nó mạnh hay yếu thìchúng ta cần phải phân tích tình hình và cơ cấu nguồn vốn nhằm đánh giá khả năng
tự tài trợ về mặt tài chính của công ty cũng như mức độ tự chủ trong kinh doanhcủa công ty những năm qua
4.1.2 Phân tích tình hình nguồn vốn và cơ cấu nguồn vốn của công ty:
Nguồn vốn gồm nguồn vốn chủ sỡ hữu và nợ phải trả Việc phân tích sựtăng giảm của hai chỉ tiêu này cho ta thấy được tình hình thanh toán và khả nănghuy động vốn của công ty, từ đó giúp đánh giá được một phần năng lực tài chínhcủa công ty
4.1.2.1 Phân tích tình hình nguồn vốn của công ty:
Sự biến động nguồn vốn tương đương với sự biến động của tài sản vìnguồn vốn là nguồn hình thành nên giá trị tài sản của công ty Do vậy cũng nhưphân tích tài sản, ta cũng lấy số liệu từ bảng cân đối kế toán để phân tích tình hìnhbiến động nguồn vốn và việc huy động vốn của công ty, huy động từ nguồn nào làchủ yếu Căn cứ vào số liệu của bảng cân đối kế toán ta có bảng 6:
Qua bảng 6 ta thấy:
Trang 8- Nợ phải trả của công ty năm 2006 tăng so với năm 2005 là 71.460 tỷđồng, tương đương với 28,4%; năm 2007 lại giảm so với năm 2006 là 54.563 tỷđồng, tương đương với 16.89% Năm 2006 tăng so với năm 2005 là do cả nợ ngắnhạn và nợ dài hạn đều tăng Điều này là do công ty năm 2006 chiếm dụng vốn củacông ty khác nhiều, chủ yếu là nợ người bán về mua nguyên vật liệu dùng vào việcthi công các công trình và vay ngắn hạn từ các nhà đầu tư, ngân hàng để phục vụcho quá trình sản xuất kinh doanh Nợ phải trả tăng chứng tỏ công ty có khả nănghuy động vốn bên ngoài tăng cường được nguồn vốn, làm cho quy mô vốn tănglên, chứng tỏ được năng lực tài chính của mình nhưng nếu cứ lạm dụng quá phầnvốn này thì sẽ làm cho khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của công ty gặpnhiều khó khăn, dễ mất uy tín nếu không thanh toán đúng hạn, ảnh hưởng đến khảnăng huy động vốn, vì thế, đến năm 2007, công ty đã điều chỉnh cho hợp lý hơn.
Cụ thể là nợ phải trả đã giảm do nợ ngắn hạn giảm, còn nợ dài hạn thì vẫn tăng vìcông ty đang thực hiện các dự án đầu tư chiều sâu như mua sắm thêm tài sản cốđịnh, đào tạo nhân công…Như vậy, nợ phải trả năm 2007 đã giảm đi nhiều, có thểnói là công ty đã thu hồi nợ phải thu để trả các khoản nợ ngắn hạn, chứng tỏ nănglực tài chính có khả quan hơn
- Đối với vốn chủ sỡ hữu qua 3 năm đều tăng lên, năm 2006 tăng chậm
so với năm 2005 là 689.772 triệu đồng tương ứng với 1.87%, năm 2007 tốc độtăng nhanh hơn so với năm 2006 là 26.845 tỷ đồng tương ứng với 71.59% Vốnchủ sỡ hữu tăng lên chủ yếu do nguồn vốn kinh doanh của công ty tăng lên docông ty tiến hành cổ phần hóa và tăng do bổ sung từ các khoản lãi
Qua phân tích ta thấy vốn chủ sỡ hữu tăng chủ yếu do nguồn tự bổ sungtrong quá trình hoạt động kinh doanh Đây là điều kiện thuận lợi để công ty pháttriển khả năng kinh doanh của mình, ngoài ra còn chứng tỏ khả năng độc lập tàichính của công ty đã tốt hơn Nguồn vốn chủ sỡ hữu tăng chứng tỏ năng lực tài
Trang 9chính và khả năng huy động nguồn vốn của công ty tăng lên Thông thường đối vớicác đơn vị sản xuất kinh doanh thì mục tiêu của họ là làm thế nào để giảm đượccác khoản nợ phải trả và tăng nguồn vốn sỡ hữu Thực tế công ty đã đạt được điều
đó mặc dù chưa cao, nợ phải trả vẫn chiếm tỷ lệ cao Trong tương lai công ty cần
có biện pháp làm cho vốn chủ sỡ hữu tăng hơn nữa để có thể vững mạnh phát triển
đi lên, không lệ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn bên ngoài trong quá trình hoạtđộng sản xuất kinh doanh của mình, từ đó sẽ nâng cao năng lực tài chính của côngty
4.1.2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn của công ty:
Phân tích cơ cấu nguồn vốn để thấy được tỷ trọng từng loại vốn chiếmtrong tổng nguồn vốn có hợp lý hay không, từ đó biết được khả năng đảm bảo vàđộc lập tài chính cao hay thấp và sự tăng giảm của nguồn vốn ảnh hưởng như thếnào tới năng lực tài chính của công ty Dựa vào một số chỉ tiêu trong bảng cân đối
kế toán của công ty ta lập bảng cơ cấu nguồn vốn như bảng 7:
Qua bảng 7 ta có:
- Tỷ lệ nợ phải trả chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn và có sự tăng giảmkhông đều giữa các năm: năm 2005 nợ phải trả chếm 87.24% trong tổng nguồnvốn, năm 2006 tỷ lệ này tăng lên là 89.6% và năm 2007 tỷ lệ nợ phải trả lại giảmxuống là 80.67% trong tổng nguồn vốn
+ Nợ ngắn hạn của công ty có sự giảm đi qua các năm và chiếm tỷ trọnglớn hơn nhiều so với nợ dài hạn, chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nợ phải trả Năm
2005 nợ ngắn hạn là 192.78 tỷ đồng chiếm 76.62% tổng nợ phải trả, năm 2006 nợngắn hạn là 243.807 tỷ đồng chiếm 75.46% tổng nợ phải trả và năm 2007 nợ ngắnhạn là 186.239 tỷ đồng chiếm 69.36% tổng nợ phải trả Đây là việc tốt trong việcnâng cao năng lực tài chính của công ty
Trang 10+ Nợ dài hạn thì ngược lại với nợ ngắn hạn, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng
nợ phải trả và đàn có xu hướng tăng lên qua các năm, góp phần làm tăng khả năngkinh doanh của công ty và có ý nghĩa lớn đối với kế hoạch phát triển dài hạn củacông ty
- Đối với vốn chủ sỡ hữu thì năm nào tỷ trọng nợ phải trả tăng lên thì tỷtrọng vốn chủ sỡ hữu giảm xuống và ngược lại: năm 2005 vốn chủ sỡ hữu là36.810 tỷ đồng chiếm 12.76% tổng nguồn vốn, năm 2006 vốn chủ sỡ hữu là 37.5
tỷ đồng chiếm 10.4% và năm 2007 vốn chủ sỡ hữu là 64.345 tỷ đồng chiếm19.33% tổng nguồn vốn Như vậy, tỷ trọng của vốn chủ sỡ hữu ngày càng tăngchứng tỏ tình hình tài chính ngày càng tốt hơn và góp phần giúp cho quá trình mởrộng quy mô kinh doanh
Qua phân tích ta thấy tỷ lệ nợ phải trả chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng nguồnvốn mặc dù sự tăng lên giữa số nợ phải trả và nguồn vốn đã khá hợp lý vì nợ phảitrả có xu hướng giảm xuống và vốn chủ sở hữu tăng lên nhưng vẫn phải làm so cho
tỷ lệ giữa nợ ngắn hạn và vốn chủ sỡ hữu so với tổng vốn hợp lý hơn nữa
Khác với phân tích tình hình tài sản, khi xem xét đến cơ cấu nguồn vốnphải lưu ý đến tỷ suất tự tài trợ để khẳng định tình hình tài chính của công ty cókhả năng độc lập cao hay phụ thuộc vào các đơn vị bên ngoài Ta có thể tính tỷsuất tự tài trợ theo công thức:
Tỷ suất tự tài trợ = Vốn chủ sỡ hữu / Tổng nguồn vốn
Tỷ suất nợ = 100% - tỷ suất tự tài trợ
Bảng 8: Một số chỉ tiêu thể hiện khả năng độc lập tài chính của công ty
Tổng nguồn vốn (đồng)
288,428,619,504
360,578,481,257
332,860,832,094
Trang 11Vốn chủ sỡ hữu (đồng)
36,810,028,308
37,499,800,156
64,344,717,969
Nguồn: Phòng tài chính kế toánQua bảng ta thấy: tỷ suất tự tài trợ của công ty qua các năm là không caolắm, tuy nhiên đã có sự tăng lên qua 3 năm: năm 2005 là 12.46% nghĩa là 100 đồngtổng nguồn vốn có 12.76 đồng vốn chủ sỡ hữu, năm 2007 tăng lên 19.33% hay 100đồng tổng nguồn vốn năm 2007 có 19.33 đồng vốn chủ sỡ hữu Ngược lại, hệ số
nợ lại có xu hướng giảm đi chứng tỏ khả năng độc lập tài chính của công ty là khácao
Qua quá trình phân tích khái quát tình công ty ta có thể tóm lại như sau:
Nợ phải trả chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng nguồn vốn do vậy công ty cần
có phương hướng và kế hoạch thanh toán các khoản nợ để tránh ảnh hưởng xấuđến năng lực tài chính của công ty
Như vậy, nếu xét trên khía cạnh huy động vốn tại thời điểm hiện tại chothấy khả năng huy động các nguồn vốn ngắn hạn của công ty là khá cao, để vayđược các nguồn vốn ngắn hạn này chứng tỏ là năng lực tài chính khả quan Nhưng
để tồn tại và phát triển lâu dài, công ty không nên vay quá nhiều và cần nhanhchóng triển khai các dự án đầu tư chiều sâu để có thể vay dài hạn vì trong thời giandài nó đóng vai trò như vốn chủ sỡ hữu Bên cạnh đó công ty cần nâng cao hơnnữa hiệu quả kinh doanh để bổ sung thêm vốn chủ sỡ hữu, có như vậy mới làm cho
cơ cấu nguồn vốn của công ty hợp lý hơn, đảm bảo được khả năng thanh toán khicác khoản nợ đến hạn, nâng cao được khả năng huy động vốn cũng như năng lựctài chính của công ty ổn định và lâu dài
Trang 124.2 Phân tích khả năng huy động vốn trên thị trường của công ty:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không thể thiếuđược việc huy động vốn để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiênviệc huy động vốn đến đâu là tùy thuộc vào năng lực của doanh nghiệp Nếu doanhnghiệp kinh doanh có lãi, có khả năng thanh toán nhanh, sử dụng đồng vốn có hiệuquả thì khả năng huy động vốn là cao nhưng nếu doanh nghiệp không có năng lựcthì khả năng huy động vốn sẽ giảm, thậm chí không huy động được vốn Do vậy đểđánh giá năng lực tài chính của công ty chúng ta tiến hành phân tích khả năng huyđộng vốn của công ty trên thị trường Và trước tiên là tiến hành phân tích kết quảsản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây, qua đó chúng ta sẽ thấyđược công ty kinh doanh lãi hay lỗ, có ảnh hưởng như thế nào đến khả năng huyđộng vốn cũng như năng lực tài chính của công ty
4.2.1 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của công ty:
4.2.1.1 Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm qua:
Kết quả sản xuất kinh doanh là kết quả cuối cùng của một thời kỳ, nó liênquan trực tiếp đến năng lực tài chính của doanh nghiệp, có ý nghĩa rất lớn với hoạtđộng của doanh nghiệp Nó không chỉ thể hiện việc đảm bảo trang trải các chi phí,thực hiện nghĩa vụ với nhà nước mà nó còn là chỉ tiêu phản ánh chính xác hiệu quảkinh doanh của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có lãi thìdoanh nghiệp đó sẽ có khả năng huy động được vốn trên thị trường khi cần hoặcphát hành trái phiếu, cổ phiếu Ngược lại, nếu doanh nghiệp hoạt động không có lãithì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn cũng như khó khăn về tài chínhtrong quá trình sản xuất kinh doanh Phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh
Trang 13doanh sẽ giúp chúng ta biết được công ty kinh doanh lỗ hay lãi, chính vì vậy màcác nhà đầu tư, đối tác, ngân hàng…thường căn cứ vào việc phân tích kết quả hoạtđộng sản xuất kinh danh để đưa ra quyết định Do đó muốn biết năng lực tài chínhcủa doanh nghiệp đó như thế nào chúng ta cần phải phân tích kết quả sản xuất kinhdoanh của công ty trong một số năm gần đây thông qua số liệu trong báo cáo kếtquả sản xuất kinh doanh của công ty (bảng 9):
- Giá vốn hàng bán cũng như doanh thu thuần, năm 2006 cũng giảmxuống so với năm 2005 là 17.497 tỷ đồng ương ứng với 7.28% và năm 2007 tănglên so với năm 2006 là 24.168 tỷ đồng tương ứng với 10.84% Điều này chủ yếu là
do chi phí đầu vào tăng giảm không đều, chủ yếu là chi phí về nguyên vật liệu chocông trình và các chi phí khác có liên quan Việc này là hoàn toàn hợp lý và phùhợp với từng thời kỳ kinh doanh của công ty
- Lợi nhuận gộp thì lại tăng giảm đi ngược lại với sự tăng giảm củadoanh thu thuần và giá vốn hàng bán, tức là lợi nhuận gộp năm 2006 tăng so vớinăm 2005 là 3.891 tỷ đồng tương ứng với 17.92% và năm 2007 lại giảm so vớinăm 2006 là 1.709 tỷ đồng tương ứng với 6.68% Mặc dù doanh thu thuần và giávốn năm 2006 so với năm 2005 đều giảm nhưng tốc độ giảm giá vốn lớn hơn tốc
đọ giảm doanh thu nên lợi nhuận gộp tăng lên và năm 2007 so với năm 2006 lại
Trang 14đều tăng nhưng do tốc độ tăng giá vốn lớn hơn tốc độ tăng doanh thu thuần nên lợinhuận gộp giảm đi.
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý đều tăng lên qua 3 năm, cụ thể:năm 2006 chi phí này tăng 2.366 tỷ đồng tương ứng với 29.69% so với năm 2005
và năm 2007 chi phí này tăng 1.524 tỷ đồng tương ứng với 14.75% so với năm
2006 Qua đây cho thấy công tác quản lý, sử dụng chi phí chưa được tiết kiệm Chiphí bán hàng tăng lên chủ yếu là do chi phí vận chuyển còn chi phí quản lý tăng lênchủ yếu do chi phí về đồ dùng văn phòng, vật liệu quản lý và chi phí các dịch vụmua ngoài Ngoài ra chi phí khấu hao tài sản cố định, trả lãi tiền vay cũng tăng nêncông ty cần lưu ý xem xét để kinh doanh có hiệu quả hơn nữa
- Hoạt động trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển sản xuấtkinh doanh đòi hỏi công ty hoạt động phải có hiệu quả phản ánh thông qua chỉ tiêulợi nhuận đạt được, cụ thể là lợi nhuận trước và sau thuế Qua bảng ta thấy lợinhuận trước thuế và sau thuế của công ty tăng mạnh Đây là biểu hiện khả quan cólợi cho công ty thể hiện sự vững vàng trong kinh doanh của công ty
Tổng lợi nhuận trước thuế là tổng của lợi nhuận hoạt động kinh doanh, lợinhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động khác Để thấy được tác động củamỗi hoạt động này đến kết quả chung ta tiến hành phân tích tổng lợi nhuận kế toántrước thuế trong mối quan hệ với các hoạt động đó Năm 2006 lợi nhuận trước thuếtăng 2.345 tỷ đồng tương ứng với 45.8% so với năm 2005 và năm 2007 tăng mạnhhơn là 20.335 tỷ đồng tương ứng với 272.54%.Có được điều này là ảnh hưởng của:
+ Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: đây là nguồn lợi nhuậnchính mang lại Lợi nhuận này tăng mạnh qua 3 năm, năm 2006 tăng 19.4% so vớinăm 2005, năm 2007 tăng 282.66% so với năm 2006 Tốc độ tăng tăng nhanh hơnqua các năm, đây là điều rất tốt mà công ty cần ngày càng phát huy
Trang 15+ Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: đây là những hoạt động liên quan đếnviệc kinh doanh vốn Qua 3 năm hoạt động tài chính của công ty không ổn định, từviệc lợi nhuận của năm 2005 và 2006 đều âm thì năm 2007 lại có sự đột biến,không những không âm mà còn tăng rất nhiều Điều này chứng tỏ công ty rất cónhiều tiềm năng tiềm ẩn.
+ Lợi nhuận khác: là những hoạt động phát sinh không theo kế hoạch trongnăm hay còn gọi là hoạt động bất thường, chính vì vậy mà lợi nhuận khác tănggiảm tăng giảm không theo quy luật nào cả, năm 2006 tăng so với năm 2005nhưng năm 2007 lại giảm so với năm 2006
Qua phân tích ta thấy lợi nhuận của công ty qua các năm đều tăng và tăngngày càng nhanh chứng tỏ sự cố gắng phấn đấu không ngừng vươn lên của công tykinh doanh ngày càng có hiệu quả Đây là điều kiện thuận lợi giúp công ty có thểhuy động được vốn trên thị tường khi cần, thể hiện năng lực tài chính của công ty
Trang 164.2.1.2 Phân tích một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh:
Để có kết luận một cách chính xác hơn về kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của công ty thì không chỉ so sánh đơn giản các chỉ tiêu qua bảng kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh, muốn thấy hết được nguyên nhân làm tăng giảmlợi nhuận của công ty qua các năm…ta phải phân tích một số chỉ tiêu về hiệu quảsản xuất kinh doanh Dựa vào bảng 9 ta lập bảng 10 phân tích một số chỉ tiêu vềhiệu quả sản xuất kinh doanh:
Bảng 10: Một số chỉ tiêu thể hiện hiệu quả kinh doanh của công ty
- Tỷ lệ giá vốn/ doanh thu thuần: chỉ tiêu này càng thấp thì công ty càng
có lợi, nó làm cho lợi nhuận của công ty ngày càng cao Nhìn chung qua các năm,
tỷ lệ này có sự biến động không đáng kể Cụ thể: năm 2006 tỷ lệ này giảm xuống2.2% so với năm 2005 và năm 2007 lại tăng lên 1.65% so với năm 2006 Chỉ tiêunày càng thấp càng tốt vì nó càng thấp chứng tỏ lợi nhuận của công ty ngày càng
Trang 17cao Qua phân tích cho thấy, tuy tỷ lệ giá vốn / doanh thu thuần không có sự biếnđộng đáng kể song lại chiếm tỷ lệ quá lớn, điều này làm ảnh hưởng tới hiệu quảkinh doanh của công ty, do vậy công ty cần phải có biện pháp khắc phục nhằmgiảm bớt chi phí đầu vào để tỷ lệ này thấp hơn nữa và giảm dần đi.
- Tỷ lệ chi phí bán hàng và chi phí quản lý so với doanh thu thuầnchiếm tỷ lệ không lớn nhưng qua 3 năm đều tăng, năm 2006 so với năm 2005 tăng36.84% và năm 2007 so với năm 2006 tăng 5.05% Điều này chứng tỏ công ty làmchưa được tốt trong công tác quản lý và tiêu thụ sản phẩm, trong các kỳ tiếp theocông ty cần cố gắng hơn nữa để giảm bớt phần chi phí phát sinh Thông thường,chỉ tiêu này càng nhỏ càng có lợi cho doanh nghiệp
- Lợi nhuận sau thuế so với doanh thu thuần là chỉ tiêu phản ánh số lợinhuận còn lại của công ty sau khi đã nộp thuế cho Nhà nước chiếm trong tổng giátrị doanh thu thuần đạt được trong kỳ Tỷ lệ này có xu hướng tăng nhanh lên quacác năm, cụ thể, năm 2006 tăng 81.45% so với năm 2005, năm 2007 tăng 355.56%
so với năm 2006 Điều này là rất tốt chứng tỏ công ty ngày càng làm ăn có hiệuquả hơn và công ty cần phải giữ được xu hướng này trong tương lai để dễ dàng huyđộng vốn đầu tư từ các đối tác
Qua phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cho thấyhiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty khá cao và có xu hướng tăng lên, qua đâyphần nào đánh giá được năng lực tài chính của công ty là khá tốt Nhưng khôngđược bằng lòng với kết quả này mà luôn phải cố gắng hơn nữa, ví dụ như giảm cácchi phí đầu vào…
4.2.2 Phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanh toán của công ty:
Phân tích năng lực tài chính chúng ta không thể không phân tích khả năngthanh toán của doanh nghiệp vì khả năng thanh toán của doanh nghiệp là thước đo
Trang 18khả năng có thể trả nợ trong niên hạn của doanh nghiệp, nó nói lên khả năng trangtrải của doanh nghiệp về tài chính Để nghiên cứu khả năng thanh toán của công ty,trước hết chúng ta phải tìm hiểu tình hình thanh toán của công ty nhằm mục đíchbiết được công ty có khả năng thanh toán đúng hạn hay không, công ty có nợ quáhạn hay không…Do vậy, việc phân tích tình hình thanh toán và khả năng thanhtoán sẽ là căn cứ quan trọng không chỉ thể hiện khả năng trang trải của công ty màcòn ảnh hưởng đến khả năng huy dộng vốn của công ty Nếu công ty có khả năngthanh toán tốt sẽ làm cho khả năng huy động vốn được nhiều hơn dẫn tới năng lựctài chính của công ty cao hơn và ngược lại.
4.2.2.1 Phân tích tình hình than toán của công ty:
Để hoạt động sản xuất kinh doanh được thuận lợi, ngoài nguồn vốn doanhnghiệp sẵn có, doanh nghiệp còn chiếm dụng vốn của các đơn vị khác Việc chiếmdụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp thậm chí còn được coi là một sách lượckinh doanh hữu hiệu của các doanh nghiệp ít vốn Do đó vấn đề thanh toán có vaitrò quan trọng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp bị chiếmdụng vốn nhiều Bởi vậy, việc phân tích tình hình thanh toán để tìm ra nguyênnhân của việc trì trệ trong thanh toán nhằm hạn chế tình trạng bị chiếm dụng vốncũng như làm chủ về tài chính có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển lâudài của doanh nghiệp Thông qua việc phân tích hình hình thanh toán của công ty
ta có thể xác định rõ bản chất cũng như thời gian cho phép của các khoản nợ,khoản thu Từ đó có biện pháp điều hành một cách hợp lý và đảm bảo uy tín trongthanh toán, không để xảy ra tình trạng nợ quá hạn gây nên những khó khăn về tàichính làm mất uy tín của công ty dẫn tới ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn vànăng lực tài chính của công ty
Công ty cổ phần Sông Đà 2 là một công ty xây dựng, chính do đặc điểmcủa ngành nghề kinh doanh nên công tác thanh toán diễn ra rất thường xuyên và
Trang 19với số lượng lớn Vì vậy, tình hình thanh toán rất quan trọng đối với công ty nhất
là trong việc đánh giá tính lành mạnh về tài chính của mình Dựa vào số liệu trongbáo cáo tài chính ta tiến hành lập bảng 11:
Qua bảng ta thấy:
- Về nợ phải thu: tăng giảm không đều giữa các năm, năm 2005 là 97.6
tỷ đồng, năm 2006 tăng lên 111.117 tỷ đồng và đến năm 2007 lại giảm mạnhxuống còn 70.274 tỷ đồng Trong các khoản nợ phải thu thì các khoản phải thungắn hạn là chủ yếu, chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nợ phải thu: năm 2005 nợphải thu ngắn hạn chiếm 91.03% trong tổng nợ phải thu, năm 2006 chiếm 93.95%tổng nợ phải thu và năm 2007 thì toàn bộ nợ phải thu là nợ ngắn hạn Trong đó:
+ Khoản phải thu khách hàng càng ngày càng có xu hướng giảm cả về giátrị lẫn cơ cấu Năm 2006 cơ cấu nợ phải thu khách hàng giảm 3.39% so với năm
2005, năm 2007 cơ cấu nợ phải thu khách hàng giảm 0.86% so với năm 2006 Điềunày chứng tỏ công ty đi chiếm dụng vốn của các đơn vị khác ngày càng nhiều hơn,nhất là các khách hàng của công ty
+ Các khoản trả trước cho người bán cũng giảm đi cả về cơ cấu và giá trị:năm 2005 khoản trả trước cho người bán là 4.561 tỷ đồng chiếm 5.13% trong cáckhoản phải thu ngắn hạn, năm 2006 là 3.061 tỷ đồng chiếm 2.93% tổng nợ ngắnhạn và năm 2007 là 801.665 triệu đồng chiếm 1.14% tổng nợ ngắn hạn Điều nàychứng tỏ sự cố gắng của công ty trong công tác thu mua, cung ứng vật tư vì lượngthu mua hàng dự trữ vẫn tăng lên
+ Các khoản phải thu khác cũng chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng nợ ngắnhạn và tăng lên qua các năm, cụ thể là qua 3 năm 2005,2006 và 2007 chiếm tỷtrọng tương ứng so với tổng nợ ngắn hạn là: 39.72%, 43.9%, 47.15% Phần nàycông ty đã có kế hoạch thu trong thời gian tới
Trang 20+ Trong khi không có các khoản phải thu nội bộ trong các khoản phải thungắn hạn thì đối với cá khoản phải thu dài hạn, phải thu nội bộ lại chiếm tỷ trọngchủ yếu trong cơ cấu: năm 2005 phải thu nội bộ chiếm 99.95%, năm 2006 là99.54% trong tổng nợ phải thu dài hạn Các khoản phải thu nội bộ lớn là do công
ty đã cho các công ty con vay tiền để tăng khả năng sản xuất kinh doanh của cáccông ty con
- Về nợ phải trả: là giá trị vốn của công ty đi chiếm dụng, đi vay củađơn vị, cá nhân trong và ngoài công ty nên phải có trách nhiệm thanh toán và có kếhoạch vay, trả phù hợp để đảm bảo có đủ nguồn vốn cho kinh doanh Nợ phải trảchiếm một phần lớn trong tổng nguồn vốn của công ty và có sự biến động khôngđều qua 3 năm: năm 2005 là 251.619 tỷ đồng, năm 2006 là 332.079 tỷ đồng vànăm 2007 là 268.516 tỷ đồng Trong nợ phải trả thì nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớnhơn nhiều so với nợ dài hạn Biến động này là do rất nhiều yếu tố
+ Khoản phải trả người bán chiếm tỷ trọnglớn nhất trong tổng nợ ngắn hạncủa công ty: năm 2005 khoản nợ này là 77.541 tỷ đồng chiếm 40.22%, năm 2006tăng lên là 99.619 tỷ đồng chiếm 40.86%, năm 2007 là 72.946 chiếm 39.17% Nóichung cơ cấu của khoản phải trả người bán không có thay đổi nhiều Tỷ lệ khoảnnày lớn chứng tỏ công ty chiếm dụng vốn của đơn vị khác nhiều
+ Các khoản vay ngắn hạn tăng lên cả về số lượng và cơ cấu, chiếm tỷtrọng cao thứ hai trong tổng nợ ngắn hạn Năm 2005 vay ngắn hạn của công ty là37.854 tỷ đồng chiếm19.64% tổng nợ ngắn hạn, năm 2006 là 54.370 tỷ đồng chiếm22.3% và đến năm 2007 là 69.005 tỷ đồng chiếm 31.68% tổng nợ ngắn hạn Có sựtăng lên này chủ yếu do vay ngắn hạn từ ngân hàng do công ty trong quá trình sảnxuất kinh doanh của mình thiếu vốn lưu động, đi vay để bổ sung Vì vậy giải phápnày chỉ là trước mắt của công ty, trong những năm tới công ty không nên chỉ vayngắn hạn mà cần phải có những dự án vay dài hạn để nợ ngắn hạn giảm bớt đi, đây