Vai trò của vốn đối với hoạt động của công ty: Vốn là một trong ba điều kiện tiên quyết của hoạt động sản xuất kinh doanh…Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được t
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN TÍCH NĂNG LỰC TÀI
CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 22.1 Vai trò của vốn đối với hoạt động của công ty:
2.1.1 Hoạt động của công ty trong nền kinh tế thị trường:
Trong những năm gần đây, với chính sách đẩy mạnh mở cửa và tự do hoácác thành phần kinh tế của Đảng và Nhà nước ta đã làm cho áp lực cạnh tranh giữacác thành phần kinh tế nói chung và giữa các đơn vị kinh doanh cùng ngành vớinhau nói riêng ngày càng trở nên mạnh mẽ Trong điều kiện đó, Công ty phải tựtiếp thị kiếm việc làm thông qua cơ chế đấu thầu các công trình và phải tự lo vốn
để kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh
2.1.2 Vai trò của vốn đối với hoạt động của công ty:
Vốn là một trong ba điều kiện tiên quyết của hoạt động sản xuất kinh doanh…Vốn
là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập và tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất cơbản: P = F(K,L,T), vốn (K) chính là một trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản xuất,bên cạnh các yếu tố lao động (L) và công nghệ (T) Hơn nữa, trong hàm sản xuấtnày thì vốn có thể coi là yếu tố quan trong nhất vì lao động và công nghệ có thểmua được khi có vốn
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp nào cũng cần có vốn, đó làyếu tố cơ bản không thể thiếu được nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp hoạt động được thường xuyên, liên tục…Thực chất vốncủa doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả tài sản mà doanh nghiệp dùngtrong quá trình sản xuất kinh doanh Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là mộttrong những điều kiện vật chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác
Trang 2làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh Sự tham gia của vốn không chỉ bóhẹp trong quá trình sản xuất vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất
và tái sản xuất liên tục suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quátrình sản xuất đầu tiên đến chu kỳ sản xuất cuối cùng Cụ thể vốn có các vai tròsau:
Một là, vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồntại và phát triển của doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động,đều cần phải có một lượng vốn nhất định, được quy định trong vốn pháp định củatừng ngành nghề kinh doanh
Hai là, vốn kinh doanh là chi tiêu đánh giá quy mô của doanh nghiệp, xácđịnh năng lực tài chính của doanh nghiệp ngoài ra vốn của doanh nghiệp lớn haynhỏ còn quyết định đến quy mô thị trường và khả năng mở rộng thi trường củadoanh nghiệp
Ba là, trong cơ chế thị trường việc có vốn và tập trung vốn được nhiều hay ítvào doanh nghiệp, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnh kinh doanh.Đồng thời nó cũng là nguồn lực để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanhnghiệp, là điều kiện để thực hiện các chiến lược kinh doanh
Bốn là, đối với các doanh nghiệp mới được thành lập, số vốn ban đầu đượcdùng để đầu tư vào các loại tài sản cần thiết, tạo ra cơ sở vật chất ban đầu giúp chodoanh nghiệp hoạt động được trong chu kỳ sản xuất kinh doanh đầu tiên Đối vớicác doanh nghiệp đang hoạt động thì lượng vốn bổ sung thêm cũng được để muasắm, trang bị các loại tài sản còn thiếu, giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấutài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh
Năm là, vốn kinh doanh là điều kiện để duy trì sản xuất đổi mới thiết bị côngnghệ, mở rộng sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm và thu nhập
Trang 3cho người lao động, từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năngcạnh tranh trên thị trường, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Có nhiều cách phân loại vốn nhưng thường vốn được phân loại thành vốn lưuđộng và vốn cố định
- Vai trò của vốn cố định:
Vốn cố định biểu hiện giá trị của tài sản cố định hữu hình cũng như là vôhình, là cơ sở vật chất cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Doanhnghiệp không thể bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh nếu như không có đầy đủcác máy móc thiết bị cần thiết Kết hợp với trình độ khả năng quản lý, vốn cố địnhquyết định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và góp phần đáng kểtrong việc xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thị trường Không những có ý nghĩatrong quá trình sản xuất hiện tại, vốn cố định còn thể hiện khả năng, hướng pháttriển của doanh nghiệp trong tương lai Chúng ta có thể thấy điều này khi so sánh
cơ hội phát triển của một doanh nghiệp có máy móc thiết bị lạc hậu với một doanhnghiệp có dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị hiện đại thường xuyên được đổimới Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt như hiệnnay, khi mà các mục tiêu lâu dài về thị trường, khách hàng…được quan tâm hơnthì vai trò của vốn cố định đối với sự phát triển và tồn tại của doanh nghiệp càngđược thể hiện rõ
- Vai trò của vốn lưu động:
Cũng như một phần vốn, vốn lưu động đảm bảo cho sự thường xuyên, liêntục của quá trình sản xuất kinh doanh từ khâu thu mua nguyên vật liệu đến tiếnhành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Đây cũng chính là vốn luân chuyển giúp choquá trình sử dụng tốt máy móc thiết bị và lao động, để tiến hành sản xuất kinh
Trang 4doanh nhằm thu lợi nhuận Vì vốn lưu động chuyển hóa một lần giá trị vào giá trịsản phẩm nên nó là cơ sở để xác định giá thành và giá bán sản phẩm.
Ngoài ra, vòng tuần hoàn và chu chuyển của vốn lưu động diễn ra trongtoàn bộ các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh nên đồng thời trong quá trìnhtheo dõi sự vận động của vốn lưu động, doanh nghiệp cũng quản lý gần như toàn
bộ các hoạt động diễn ra trong chu kỳ sản xuất kinh doanh
2.2 Nguồn tài trợ của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường:
Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp có thể huy động vốn theonhiều phương thưc khác nhau như vay ngân hàng, các công ty tài chính, phát hành
cổ phiếu…Vấn đề đặt ra đối với người quản lý tài chính doanh nghiệp là phải hiểu
rõ đặc tính, điều kiện của mỗi nguồn tài trợ để huy động được nguồn vốn bênngoài doanh nghiệp với chi phí thấp nhất để tài trợ cho các hoạt động của doanhnghiệp Thông thường nguồn tài trợ được chia thành nguồn tài trợ ngắn hạn và dàihạn
2.2.1 Nguồn tài trợ ngắn hạn:
Các nguồn tài trợ ngắn hạn là những khoản tiền mà doanh nghiệp sử dụngphải hoàn trả trong thời hạn một năm kể từ ngày nhận được chúng Các nguồn tàitrợ này đảm bảo tài trợ chủ yếu cho nhu cầu về vốn lưu động của doanh nghiệp,đặc biệt là nhu cầu về vốn lưu động tạm thời Nguồn tài trợ ngắn hạn có vai trò đặcbiệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp Nhucầu tài chính của một doanh nghiệp tại bất cứ thời điểm nào cũng chính bằng tổng
số tài sản mà doanh nghiệp cần phải có để đảm bảo hoạt động kinh doanh một cáchhiệu quả Do tính chu kỳ, những biến động mùa vụ của quá trình hoạt động kinhdoanh làm cho nhu cầu tài chính của doanh nghiệp dao động theo thời gian và cũngmang tính mùa vụ, đặc biệt là nhu cầu tài chính cho các khoản vốn lưu động Tại
Trang 5những thời điểm mùa vụ, những khoảng thời gian mà nhu cầu về vốn lưu động lêncao, vượt quá nhu cầu thường xuyên cần thiết, doanh nghiệp chỉ có thể đáp ứngbằng các nguồn tài trợ ngắn hạn Nghiên cứu thực tế cho thấy: có tới 40%- 60%khoản nợ của doanh nghiệp là khoản nợ phải trả ngắn hạn Trong quá trình hoạtđộng, đối với các doanh nghiệp, các nguồn tài trợ này thường bao gồm 3 nguồnchính:
- Nợ tích lũy: gồm nợ lương công nhân chưa đến kỳ trả, nợ thuế của Nhànước khi chưa đến kỳ nộp, tiền đặt cọc của khách hàng…Đây là hình thức tài trợmiễn phí nhưng có giới hạn
- Tín dụng thương mại (tín dụng của nhà cung cấp): gồm mua bán chịu, bántrả chậm hay trả góp, thường kèm theo các điều kiện về thời hạn thanh toán vàchiết khấu…hình thức này rất hiệu quả, được áp dụng phổ biến nhưng cũng tiềm
ẩn những rủi ro nên phải tính toán và cân nhắc thận trọng
- Tín dụng ngắn hạn ngân hàng: đây là nguồn tài trợ quan trọng nhưng phải
có đầy đủ những điều kiện theo quy định và phải tuân thủ những nguyên tắc nhấtđịnh, bao gồm nhiều hình thức như: cho vay thanh toán, cho vay theo hạn mức tíndụng, cho vay theo hợp đồng, chiết khấu thương mại…
2.2.2 Nguồn tài trợ dài hạn:
Nhìn chung, tài trợ dài hạn của doanh nghiệp là từ 1 năm trở lên Cácdoanh nghiệp sử dụng nguồn tài trợ dài hạn để đáp ứng nhu cầu vốn cho việc hìnhthành TSCĐ và TSLĐ thường xuyên Trong quá trình hoạt động và phát triển,doanh nghiệp có thể huy động từ các nguồn tài trợ dài hạn khác nhau để đáp ứngnhu cầu vốn cho đầu tư dài hạn của mình Sau đây là một số hình thức tài trợ dàihạn:
Trang 6- Tự tài trợ: là hình thức doanh nghiệp tự tài trợ cho đầu tư của mìnhbằng nguồn vốn của chính mình Đây là nguồn quan trọng nhất trong nguồn tài trợcủa doanh nghiệp Gồm có 2 dạng:
+ Tự tài trợ duy trì: là số khấu hao lũy kế còn lại của doanh nghiệp, tronglúc chờ việc mua sắm TSCĐ khác thay thế có thể sử dụng vốn khấu hao lũy kế đểtài trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh
+ Tự tài trợ tăng trưởng: gồm phần lợi nhuận ròng không chia cho các đốitượng góp vốn mà dự phòng mang tính chất dự trữ, trong đó phần lợi nhuận ròngkhông chia để lại tiếp tục đầu tư là nguồn quan trọng nhất
- Phát hành cổ phiếu: đây là nguồn tài trợ quan trọng nhưng chỉ áp dụngvới công ty cổ phần
- Phát hành trái phiếu doanh nghiệp: là một công cụ tài chính thôngdụng được doanh nghiệp sử dụng để vay dài hạn, là chứng chỉ vay vốn do doanhnghiệp phát hành Mặt lợi là tạo cơ hội cho doanh nghiệp đạt doanh lợi vốn chủ sỡhữu cao, không bị phân chia quyền phân phối lợi nhuận, quyền quản lý doanhnghiệp và chi phí phát hành thấp…nhưng doanh nghiệp buộc phải trả lợi tức, vốnvay đúng hạn, làm tăng hệ số nợ…
- Tín dụng dài hạn và trung hạn ngân hàng: vay dài hạn thường 3 đến 5năm, vay trung hạn thường 1đến 3 hoặc 5 năm Doanh nghiệp muốn được tài trợtrung hạn và dài hạn của ngân hàng cần phải thỏa mãn các điều kiện và tiêu chuẩnvay vốn Đây là nguồn tài trợ quan trọng của các doanh nghiệp
- Tín dụng thuê mua: là hình thức tài trợ tín dụng thông qua các loại tàisản, máy móc, thiết bị…Đây là một hình thức tín dụng đặc biệt mới được hìnhthành ở nước ta không lâu và ngày càng phát triển Quan hệ tín dụng thuê muađược thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa người đi thuê tài sản và người cho thuê
Trang 7Thỏa thuận thuê mua là hợp đồng giữa 2 bên hoặc nhiều bên, liên quan đến mộthay nhiều tài sản Người cho thuê chuyển giao tài sản cho người thuê độc quyền sửdụng trong một khoảng thời gian nhất định Đổi lại, người thuê phải trả một số tiềncho chủ tài sản tương xứng với quyền sử dụng và quyền hưởng dụng Hình thứcnày có 2 phương thức giao dịch chủ yếu là thuê vận hành và thuê tài chính.
- Nguồn tài trợ khác: như là huy động vốn góp liên doanh dài hạn, vayvốn dài hạn của nước ngoài hay được Nhà nước hoặc các tổ chức khác trợ cấp đầutư
2.3 Khái quát về năng lực tài chính và phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Năng lực tài chính của doanh nghiệp là khả năng tạo lập, phát triển và quản
lý sử dụng vốn của doanh nghiệp Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp muốnhuy động được vốn một cách thuận lợi, muốn tăng trưởng vốn để phát triển sảnxuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải làm ăn có hiệu quả sao cho một đồng vốn
sử dụng mang lại nhiều đồng lợi nhuận Vì vậy để đánh giá năng lực hoạt động tàichính của doanh nghiệp người ta thường xem xét trên các phương diện hiệu quả sửdụng các loại vốn, khả năng sinh lời vốn của doanh nghiệp và khả năng độc lập tàichính của doanh nghiệp
Trong điều kiện hiện nay, yêu cầu của các quy luật kinh tế đã đặt ra trướcmắt mọi doanh nghiệp những chuẩn mực hết sức khắt khe: sản xuất những cái thịtrường cần chứ không phải sản xuất những cái mình có và phải cạnh tranh với rấtnhiều doanh nghiệp cùng ngành…Vì vậy, để sống sót được thì doanh nghiệp phải
sử dụng đồng vốn của mình sao cho tiết kiệm, hiệu quả Một mặt, phải bảo toànđồng vốn, mặt khác phải sử dụng các biện pháp tăng nhanh vòng quay vốn, nângcao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh Có như vậy mới thể hiện được năng lực
Trang 8tài chính của một doanh nghiệp bởi năng lực tài chính chính là khả năng làm sao đểdoanh thu ngày càng tăng trong khi chi phí ngày càng giảm Khi doanh nghiệp sảnxuất kinh doanh có lãi thì chứng tỏ doanh nghiệp đã sử dụng có hiệu quả đồng vốn.
Để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp ta cần phải phân tích sự biếnđộng của các báo cáo tài chính hàng năm thông qua một số chỉ tiêu cơ bản nhưthông qua kết quả sản xuất kinh doanh cho ta thấy doanh nghiệp đang kinh doanh
có lãi hay là lỗ, từ đó cho ta thấy khả năng huy động vốn của doanh nghiệp tốt haykhông Còn thông qua bảng cân đối kế toán cho ta biết được tình hình vốn vànguồn vốn của doanh nghiệp từ đó thấy được khả năng trả nợ của doanh nghiệp,khả năng thanh toán tức thời, khả năng thanh toán nhanh….Bên cạnh đó, ta kếthợp phân tích một số chỉ tiêu của các báo cáo để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ,VLĐ và khả năng sinh lời vốn của doanh nghiệp Việc phân tích các yếu tố này sẽcho ta kết luận chính xác về năng lực tài chính của doanh nghiệp bởi vì qua các chỉtiêu đó ta sẽ đưa ra được nhận xét về khả năng huy động, phát triển và quản lý sửdụng vốn của doanh nghiệp cũng như khả năng trang trải nợ và các khoản chi phíkhác
Một doanh nghiệp có năng lực tài chính sẽ khác hoàn toàn so với doanhnghiệp không có năng lực tài chính vì nếu doanh nghiệp có năng lực tài chính tức
là doanh nghiệp đã sử dụng có hiệu quả đồng vốn bỏ ra, đã có khả năng trang trảicác khoản chi phí, nợ nần và huy động được vốn khi cần thiết Lợi nhuận củadoanh nghiệp ngày càng tăng, quy mô sản xuất ngày càng phát triển và đa dạng
Do vậy, doanh nghiệp có năng lực tài chính sẽ có tác động tốt đến kết quả sản xuấtkinh doanh làm cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả.Ngược lại, nếu doanh nghiệp không có năng lực tài chính thì có nghĩa là doanhnghiệp đang làm ăn thua lỗ, không có khả năng huy động được vốn trên thị trường,vốn chủ sỡ hữu thì ít mà nợ phải trả thì nhiều Doanh nghiệp không có khả năng
Trang 9thanh toán cho các chủ nợ, không tạo dược uy tín với các đối tác Khi tiến hành sảnxuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn về vốn dẫn tới kém hiệu quả,thua lỗ Do đó, nếu doanh nghiệp không có năng lực tài chính sẽ làm cho sản xuấtkinh doanh ngày càng xuống dốc và kém phát triển, khiến cho doanh nghiệp cónguy cơ phá sản.
Phân tích năng lực tài chính là một vấn đề quan trọng trong phân tích tàichính doanh nghiệp, thông thường, qua hệ thống, phương pháp, công cụ và kỹthuật phân tích giúp cho việc đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát và chi tiết vềnăng lực tài chính Trên cơ sở đó, nhận biết, phán đoán và dự báo và đưa ra quyếtđịnh tài chính, quyết định tài trợ cũng như đầu tư phù hợp
Trang 102.4 ý nghĩa của phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Phân tích năng lực tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra và đánh giá tiềmnăng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai và triển vọng của doanhnghiệp Vì vậy phân tích năng lực tài chính doanh nghiệp là mối quan tâm củanhiều nhóm người khác nhau như: Ban giám đốc, các nhà đầu tư, nhà quản lý,chính phủ người lao động…Mỗi một nhóm người lại quan tâm đến các khía cạnhkhác nhau, cần những thông tin khác nhau
Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp, mối quan tâmhàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận, xem xét khả năng trả nợ và phát huy tiềmnăng của doanh nghiệp Ngoài ra, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đếnmục tiêu khác như tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăngdoanh thu, giảm chi phí Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện các mụctiêu này nếu họ kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ Một doanh nghiệp bị lỗliên tục rút cục sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa, còn nếu doanhnghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trả cũng buộc phảingừng hoạt động Việc đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp giúp cho nhàquản lí nắm bắt tình hình tài chính doanh nghiệp cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lainhư: tình hình thu chi khả năng thanh toán, cơ cấu vốn và nguồn vốn, tình hình đầu
tư, hiệu suất sử dụng vốn, khả năng sinh lời … Thông qua đó các nhà quản lí kiểmtra kiểm soát vì hoạt động của doanh nghiệp và là cơ sở cho sự dự đoán tài chính
Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng, mối quan tâm của
họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy họ đặc biệt chú ýđến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó sosánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanhnghiệp Bên cạnh đó, họ cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu vì đó làkhoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro Không mấy ai
Trang 11sẵn sàng cho vay nếu không chắc chắn về lợi ích của việc cho vay và mức sinh lờicủa đồng vốn và khả năng thu hồi vốn Vì thế mà khả năng thanh toán và kết quảhoạt động của doanh nghiệp luôn là vấn đề chú ý hàng đầu đối với các nhà đầu tư.
Để thấy được điều này chỉ phải thông qua phân tích năng lực tài chính doanhnghiệp
Đối các nhà đầu tư thì để đầu tư vào bất cứ lĩnh vực nào thì nhà đầu tưcũng phải quan tâm tới mức sinh lời của đơn vị và lĩnh vực đó, khả năng hoạtđộng, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, lợi nhuận bình quânvốn, vòng quay vốn, khả năng phát triển của doanh nghiệp Điều này là nhằmđảm bảo cho sự an toàn về vốn đầu tư của chủ đầu tư Từ đó ảnh hưởng tới cácquyết định tiếp tục đầu tư vào Công ty trong tương lai
Đối với người lao động thì quyền lợi và cuộc sống của người lao độngluôn gắn liền với doanh nghiệp Vì nguồn thu nhập chính của người lao động làlương và các khoản tiền thưởng Nếu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả thìngười lao động sẽ có thu nhập cao và ngược lại Chính điều này khiến cho ngườilao động phải quan tâm tới tình hình tài chính doanh nghiệp
Bên cạnh những nhóm người trên, các cơ quan tài chính, cơ quan thuế, nhà cungcấp cũng rất quan tâm đến bức tranh tài chính của doanh nghiệp với những mụctiêu cơ bản giống như các chủ ngân hàng, chủ doanh nghiệp và nhà đầu tư…bởi vì
nó liên quan tới quyền lợi, trách nhiệm và mục tiêu hiện tại, tương lai của họ
2.5 Nội dung phân tích năng lực tài chính của doanh nghiệp:2.5.1 Phân tích tình hình tài chính hiện tại:
Việc phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm hiện tạicho thấy thực trạng về nguồn vốn, tài sản, nguồn hình thành tài sản, các khoản nợcủa doanh nghiệp Từ đó đánh giá được những mặt mạnh mà doanh nghiệp đang có