Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu SXKD chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phânphối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp
Trang 1THUẾ GTGT VÀ HIỆU QUẢ THU THUẾ GTGT ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
1.1.1.Vị trí, vai trò và đặc điểm của doanh nghiệp ngoài quốc doanh (NQD) trong nền kinh tế quốc dân:
1.1.1.1.Vị trí, vai trò của doanh nghiệp NQD:
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), với chủ trương đổi mới nền kinh
tế, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát tiển nền kinh tế Việt Nam theo hướngkinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, với nhiều thành phần kinh tế cùngtồn tại, trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân Sau đó, tại các Đại hội Đảnglần thứ VII và VIII, đường lối phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướngXHCN với nhiều thành phần kinh tế tiếp tục được khẳng định Từ đó, các thànhphần kinh tế thuộc khu vực kinh tế dân doanh bao gồm: kinh tế hợp tác, kinh tế hộkinh doanh phát triển mạnh Ngoài ra còn xuất hiện thêm thành phần kinh tế tưbản tư nhân với các loại hình công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp tưnhân
Theo số liệu thống kê, tính đến hết năm 2005, khu vực kinh tế dân doanhbao gồm khoảng 250.000 công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân;25.000 HTX hoạt động dịch vụ, sản xuất thương mại và khoảng 2,7 triệu hộ sảnxuất kinh doanh cá thể, thu hút trên 6 triệu lao động, đóng góp gần 40% tổng sảnphẩm quốc nội và nộp ngân sách khoảng từ 10% - 11% trên tổng số thu, chiếm13% - 14% trên tổng số thu nội địa, trừ dầu và các loại thuế xuất nhập khẩu, thuếnhà đất, phí, lệ phí
Kinh tế dân doanh phát triển, đặc biệt là các loại hình doanh nghiệp pháttriển mạnh đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện các chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước như chủ trương xoá đói, giảm nghèo, phân bố lại cơ cấunền kinh tế, dần xoá bỏ sự tách biệt giữa thành thị và nông thôn
Trang 2Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng địnhđường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới: đẩy mạnhCNH-HĐH, xây dựng và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trởthành một nước công nghiệp, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ cácnguồn lực từ bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh,mạnh, có hiệu quả và bền vững, nhằm tăng trưởng kinh tế.
Về quan hệ sản xuất, Đảng ta chủ trương thực hiện nhất quán chính sáchphát triển nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế kinh doanh theopháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN, phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh
Cụ thể hoá đường lối phát triển kinh tế do Đại hội IX đề ra, hội nghị lần thứ
V ban chấp hành TW khoá IX đã có Nghị quyết riêng về phát triển kinh tế hợp tác,HTX, kinh tế tư nhân Trong đó, khẳng định phát triển kinh tế hợp tác, HTX là vấn
đề hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội; phát triển kinh tế tư nhân làvấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, trên
cơ sở đánh giá những ưu điểm của thành phần kinh tế dân doanh, đánh giá nhữngtiềm năng phát triển, phân tích các nguyên nhân kìm hãm
Nghị quyết TW lần thứ V của Đảng đã chỉ ra những giải pháp cơ bản để pháttriển các thành phần kinh tế này trong thời gian tới, trong đó có những giải pháp vềtài chính nói chung và về thuế nói riêng
Như vậy, bằng sự khẳng định trong đường lối nêu tại Nghị quyết Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ IX và những giải pháp cụ thể nêu tại Nghị quyết TW lầnthứ V, khu vực kinh tế dân doanh sẽ phát triển nhanh chóng và đóng vai trò quantrọng trong việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh
1.1.1.2.Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế NQD:
Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp dù là thuộc khu vực kinh tế dân doanhhay Nhà nước đều lấy lợi nhuận là mục tiêu, là thước đo hiệu quả của hoạt độngSXKD, cùng hoạt động theo cơ chế thị trường có sự hướng dẫn của Nhà nước cùng
Trang 3tồn tại và cạnh tranh trong môi trường pháp lý Tuy nhiên, xét về góc độ quản lý,đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý thuế, có những đặc điểm riêng của các doanhnghiệp ảnh hưởng đến công tác quản lý thu thuế, thường là những thách thức nhiềuhơn là những thuận lợi.
Thứ nhất là đặc điểm về sở hữu: Đây là đặc điểm khác biệt nhất, đối với khu
vực kinh tế dân doanh (trừ khối hợp tác), toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc
sở hữu tư nhân Chủ doanh nghiệp hoặc chủ sở hữu SXKD chịu trách nhiệm toàn
bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phânphối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phốinào từ các quy định của cơ quan Nhà nước hoặc từ cơ quan quản lý, do vậy họ luôntìm mọi cách để có thể đạt được lợi nhuận cao nhất, kể cả việc trốn lậu thuế
Thứ hai là đặc điểm về trình độ văn hoá, trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ: So với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế Nhà nước và kinh tế đầu tư
nước ngoài thì phần lớn những người chủ các doanh nghiệp NQD có trình độ vănhoá chưa cao, chưa được đào tạo chính quy về các nghiệp vụ quản lý, trình độchuyên môn chủ yếu là tự học hoặc theo kinh nghiệm Vì vậy, nhìn chung hiệu quảSXKD của các doanh nghiệp NQD còn thấp, số đông các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực thương mại và dịch vụ có mục đích chính là mua đi, bán lại đểkiếm chênh lệch giá; còn một số lượng nhỏ hoạt động ở lĩnh vực sản xuất thì trình
độ công nghệ thấp, trình độ quản lý không cao, do đó năng suất lao động và chấtlượng hàng hoá đạt được là không cao
Thứ ba là đặc điểm về ý thức tuân thủ pháp luật: Xuất phát từ trình độ còn
hạn chế nêu trên, cho nên phần lớn các chủ doanh nghiệp có trình độ nhận thức vềpháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng là rất thấp, biểu hiện rõ nhất là sốđông các cơ sở kinh doanh không lập và giữ sổ sách kế toán theo quy định
Trang 4Thứ tư là đặc điểm về số lượng đối tượng: Số lượng các cơ sở kinh doanh
rất lớn, hoạt động sản xuất kinh doanh ở tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sảnxuất, gia công, chế biến, xây dựng, vận tải đến các loại hình thương nghiệp, dịch
vụ và được trải rộng trên khắp các địa bàn trong cả nước
1.1.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
1.1.2.1 Thất thu thuế và các hình thức thất thu thuế:
a) Khái niệm thất thu thuế:
Thất thu thuế là hiện tượng trong đó những khoản tiền từ những tổ chức, cánhân có tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh cần phải được động viên vàoNSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía Nhà nước, cơ quan thuế hay chínhnhững đối tượng nộp thuế gây ra mà những khoản tiền đó không được nộp vàoNSNN Như vậy, thất thu thuế có thể hiểu là số thực thu vào NSNN thấp hơn sốthuế lẽ ra phải thu trong khoảng thời gian đó
b) Các hình thức thất thu thuế:
Về mặt pháp lý, thất thu thuế được phân làm 2 loại là thất thu tiềm năng vàthất thu thực tế
+ Thất thu tiềm năng: Là thực trạng có nhiều nguồn thu cần thiết phải động
viên, đóng góp cho NSNN, nhưng không được thu vì pháp luật chưa quy định chế
độ thu
+ Thất thu thực tế: Được hiểu là có nhiều khoản được pháp luật quy định rõ,
nhưng trên thực tế lại không thu được do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó,một phần là do chính sách, chế độ thuế chưa thực sự phù hợp, do tổ chức và biệnpháp quản lý thu thuế kém hiệu quả; một phần là do đối tượng nộp thuế cố ý hoặc
vô tình không làm tốt nghĩa vụ về thuế đối với Nhà nước
c) Nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế:
* Nguyên nhân khách quan:
Trang 5- Do những đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp trong thành phần kinh tếdân doanh là sở hữu tư nhân, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,trình độ công nghệ, trình độ quản lý, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, sốlượng đối tượng nhiều, trải rộng trên khắp các vùng miền trong cả nước làm chocông tác quản lý thuế phức tạp và gặp nhiều khó khăn.
- Do các cơ chế quản lý khác chưa đồng bộ, chưa hỗ trợ tích cực cho côngtác quản lý thu thuế, có nhiều cơ chế quản lý còn quá thông thoáng dẫn đến sơ hởcho các cơ sở kinh doanh lợi dụng Như việc các doanh nghiệp vẫn được phépthanh toán bằng tiền mặt trong nền kinh tế thị trường; Luật doanh nghiệp không córàng buộc về lý lịch người sáng lập hoặc người điều hành doanh nghiệp
- Thu thuế để Nhà nước có nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,chi tiêu cho bộ máy hành chính nhằm thực hiện các mục tiêu của Đảng, Nhànước đề ra Như vậy, các cơ quan quản lý Nhà nước đang trực tiếp sử dụng tiềnthuế thu được để chi tiêu, dù trực tiếp hay gián tiếp thì tiền thuế thu được là đểphục vụ lợi ích chung của toàn xã hội, nhưng nhận thức của các cấp, các ngành
và của nhân dân còn hạn chế, họ thường quan niệm việc thu thuế là công việcriêng của ngành thuế Vì vậy việc thu thuế của Nhà nước còn chưa nhận được
sự đồng tình ủng hộ Chúng ta phải làm sao để việc thu thuế trở thành nhiệm vụchung của các cấp các ngành
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế vẫn còn hạn chế như cơquan thuế chưa có quyền được điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm pháp luậtthuế, chưa có quyền tổ chức cưỡng chế các hành vi trây ỳ, dây dưa, nợ đọng tiềnthuế
* Nguyên nhân chủ quan:
- Trước hết, do nhận thức của thủ trưởng cơ quan thuế ở một số địa phương
và của cán bộ quản lý thu thuế tại các cơ sở dân doanh chưa đúng Biểu hiện ởnhững điểm sau:
+ Do số thu từ khu vực dân doanh nhỏ, chiếm tỷ trọng ít, không quyết địnhđến việc hoàn thành dự toán nên thường không tập trung chỉ đạo
Trang 6+ Số lượng đối tượng quản lý lớn lại hay có phản ứng tiêu cực nên cơ quanthuế và các cán bộ thuế thường ngại va chạm
- Trong quản lý thu thuế, khu vực kinh tế dân doanh chưa thực hiện nghiêmtúc, đầy đủ các quy trình và biện pháp nghiệp vụ do ngành thuế đề ra, chưa tranhthủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp, sự phối hợp giữacác ngành và sự ủng hộ của nhân dân
- Đội ngũ cán bộ quản lý thu thuế các cơ sở dân doanh số đông không đượcđào tạo cơ bản, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa cao
- Thu nhập của cán bộ thuế thấp, đời sống khó khăn Một số cán bộ thiếukiên định đã bị đối tượng kinh doanh dùng lợi ích vật chất mua chuộc, khi các cán
bộ thuế bỏ qua các hành vi vi phạm của đối tượng kinh doanh đã dẫn đến hiệntượng thất thu thuế
d) Hậu quả của thất thu thuế:
Vấn đề gian lận và thất thu thuế luôn là chủ đề được trao đổi, bàn bạc, lậtqua, lật lại, song vẫn chưa giảm thiểu, vãn hồi khiến dư luận quan tâm, nhất là ởkhu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Khi nói về thất thu thuế, không phải vô cớ mà chúng ta nghĩ ngay đến khuvực kinh tế ngoài quốc doanh, mà vấn đề là đã có đến hàng chục ngàn doanhnghiệp được thành lập trong thập niên qua Thực tế hoạt động chính thức của lĩnhvực này chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 6% sản lượng công nghiệp vàkhoảng 3% tổng lực lượng lao động) Một phần lớn khu vực kinh tế tư nhân thuộcmảng kinh tế “không chính thức” Theo thống kê, đến ngày 31/12/2005, qua thanhtra - kiểm tra 134.687 đối tượng bao gồm 5048 DNNN; 963 doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài; 11.077 DNNQD ; 117.599 lượt hộ kinh doanh cá thể Trong số
đó đã phát hiện được 27.550 đơn vị có vi phạm về thuế; lập biên bản xử lý truy thunộp NSNN 4.606 tỷ đồng, trong đó có thuế nợ đọng là 2.926 tỷ đồng, thuế ẩn lậu là1.680 tỷ đồng
Trang 7Bên cạnh đó, gian lận và thất thu thuế còn xuất phát một phần không nhỏthuộc về các nhà quản lý thuế Theo báo thanh tra tháng 4/2005 thì năm 2004 toànngành thuế đã tiến hành thanh tra nội bộ được 1.614 lượt đơn vị các cục thuế, chicục thuế, phòng thuộc cục thuế, tổ, đội thuế Trong đó Tổng cục thuế cũng đã tiếnhành thanh tra 11 cục thuế Kết quả thanh tra đã phát hiện 305 lượt cán bộ và uỷnhiệm thu sai phạm, trong đó tham ô: 5 lượt cán bộ; xâm tiêu chiếm dụng: 66 lượtcán bộ; vi phạm biên lai ấn chỉ: 82 lượt cán bộ; thiếu tinh thần trách nhiệm gây ratổn thất: 45 lượt cán bộ; vi phạm 10 điều kỷ luật của ngành thuế: 63 lượt cán bộ; viphạm khác: 44 lượt cán bộ Số cán bộ đã xử lý kỷ luật, khiển trách: 98 cán bộ; hạbậc 14 cán bộ; hạ ngạch: 10 cán bộ; cách chức: 36 cán bộ; buộc thôi việc: 26 cánbộ; khởi tố: 4 cán bộ; truy tố: 1 cán bộ; số tiền phải bồi thường và đã thu hồi là 68triệu đồng.
1.2 Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT.
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế GTGT:
1.2.1.1 Khái niệm thuế GTGT:
Thuế GTGT là một trong những loại thuế gián thu điều tiết một phần vàothu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ Mọi tổ chức, cá nhân thông quaviệc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ thực hiện nghĩa vụ thuế với ngân sách Nhà nước
Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vàongân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ
1.2.1.2 Đặc điểm của thuế GTGT:
Thuế GTGT ở Việt Nam có những đặc điểm nổi bật sau:
- Thuế GTGT là loại thuế có tính chất gián thu: đối tượng nộp thuế GTGT
là người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùnghàng hoá, dịch vụ, bởi vì thuế GTGT ẩn trong giá bán ra của hàng hoá, dịch vụ
Trang 8Nói cách khác Nhà nước gián tiếp thu khoản thuế này của người tiêu dùng thôngqua người bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ.
- Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn sản xuất kinh doanh Đối tượngđiều tiết của thuế GTGT là phần thu nhập của người tiêu dùng sử dụng để muahàng hoá, dịch vụ Như vậy, về nguyên tắc chỉ cần thu thuế ở khâu bán hàng hoá
và cung cấp dịch vụ là đủ Tuy nhiên, trên thực tế rất khó phân biệt đâu là tiêudùng cuối cùng, đâu là tiêu dùng trung gian, vì thế cứ có hành vi mua bán hàng thìphải tính thuế, nếu đó là tiêu dùng trung gian thì số thuế sẽ được tự động chuyểnvào giá bán hàng hoá cho người mua ở giai đoạn sau
- Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm phát sinh ở từng giaiđoạn luân chuyển Tổng số thuế thu được ở các giai đoạn đúng bằng số thuế tínhtheo giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng
Giá trị tăng thêm được hiểu là phần giá trị mới được tạo ra trong sản xuấtkinh doanh
- Thuế GTGT có tính trung lập cao, diện điều chỉnh rộng Thuế GTGTkhông chịu ảnh hưởng bởi kết quả sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, khôngphải là yếu tố chi phí mà chỉ đơn thuần là một khoản được cộng thêm vào giá báncủa người cung cấp hàng hoá, dịch vụ
Thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia các chutrình kinh tế: tổng số thuế ở các giai đoạn khớp với số thuế tính trên giá bán ở giaiđoạn cuối cùng, bất kể số giai đoạn là nhiều hay ít
- Thuế GTGT có tính lãnh thổ: thể hiện đối tượng chịu thuế là người tiêudùng các hàng hoá, dịch vụ trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia
1.2.2 Nội dung cơ bản của luật thuế GTGT ở Việt Nam:
1.2.2.1 Phạm vi áp dụng:
1.2.2.1.1 Đối tượng chịu thuế:
Theo điều 2 của Luật thuế GTGT: "Hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất,kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế GTGT, trừ các đốitượng quy định tại điều 4 của luật này”.(Các đối tượng quy định tại điều 4 của luậtnày là các nhóm hàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT)
Trang 91.2.2.1.2 Đối tượng nộp thuế:
Điều 3 cuả Luật thuế GTGT quy định: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinhdoanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cánhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu) là đốitượng nộp thuế GTGT”
Cơ sở kinh doanh gồm:
- Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo luậtdoanh nghiệp, luật doanh nghiệp Nhà nước và luật hợp tác xã
- Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức đơn
vị sự nghiệp khác
- Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham giahợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các công ty nướcngoài và các tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo luậtđầu tư nước ngoài tại Việt Nam
- Các cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm người kinh doanh độclập và các đối tượng kinh doanh khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu
1.2.2.1.3 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế:
- Tại điều 4 Luật thuế GTGT quy định: 28 nhóm hàng hoá, dịch vụ khôngthuộc diện chịu thuế , được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Không thu thuế GTGT đối với một số ngành sản xuất trong các lĩnh vựcđang còn khó khăn, cần khuyến khích, tạo điều kiện phát triển như: Sản xuất nôngnghiệp (đối với những sản phẩm sơ chế, cho những người trực tiếp sản xuất, trựctiếp khai thác, bán ra), hoạt động tưới tiêu, muối
- Không thu thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, phục vụ nhucầu đời sống cộng đồng xã hội như: dịch vụ khám chữa bệnh, dạy học, dạy nghề
Trang 10- Không thu thuế GTGT đối với hàng hoá, dịch vụ sử dụng không nhằmmục đích kinh doanh hoặc vì các mục đích chính sách xã hội, nhân đạo như: vũkhí; khí tài nguyên chuyên dùng cho quốc phòng, an ninh; các hoạt động di tu, sửachữa; các công trình văn hoá nghệ thuật
- Không thu thuế GTGT đối với một số hàng hoá, dịch vụ liên quan đến côngnghệ, vốn đầu tư như: Thiết bị máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng thuộcloại trong nước chưa sản xuất được
- Không thu thuế GTGT đối với một số hàng hoá, dịch vụ thể hiện quanđiểm quản lý ưu đãi có mức độ đối với sản xuất kinh doanh như: Hàng hoá, dịch
vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế và đối tượng tiêu dùng ngoài Việt Nam
Ngoài ra, hàng hoá của những cá nhân sản xuất, kinh doanh có thu nhậpbình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với côngchức Nhà nước cũng không thuộc diện chịu thuế GTGT
1.2.2.2 Căn cứ tính thuế:
Tại điều 6 luật thuế GTGT quy định: "Căn cứ tính thuế GTGT
là giá tính thuế và thuế suất".
1.2.2.2.1 Giá tính thuế.
Điều 7 của Luật thuế GTGT quy định:
Nguyên tắc chung của giá tính thuế GTGT là giá bán, giá cung cấp hàng hoá,dịch vụ chưa có thuế GTGT
Giá tính thuế đối với các loại hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu vàphí thu thêm ngoài giá bán hàng hoá, dịch vụ mà cơ sở kinh doanh được hưởng, trừcác khoản phụ thu và phí cơ sở kinh doanh phải nộp vào ngân sách Nhà nước
Trường hợp cơ sở kinh doanh áp dụng hình thức giảm giá bán thì giá tínhthuế GTGT là giá bán đã giảm ghi trên hoá đơn
Trang 11Trường hợp đối tượng nộp thuế có doanh số mua, bán bằng ngoại tệ thì phảiquy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh số để xác định giá tính thuế.
Giá tính thuế GTGT bao gồm các trường hợp sau:
* Đối với hàng hoá, dịch vụ, là giá bán chưa có thuế GTGT;
* Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu, cộng với thuế nhậpkhẩu;
* Đối với hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu, tặng làgiá tính thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thờiđiểm phát sinh các hoạt động này;
* Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ;
* Đối với hàng hoá bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hoá,tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kỳ;
*Đối với gia công hàng hoá là giá gia công;
* Đối với hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB ở khâu sản xuất, kinh doanhtrong nước là giá bán đã có thuế TTĐB nhưng chưa có thuế GTGT; ở khâu nhậpkhẩu là giá nhập khẩu tại cửa khẩu cộng thuế nhập khẩu (nếu có) cộng thuế TTĐB
* Đối với hàng hoá, dịch vụ khác là giá do Chính phủ quy định;
1.2.2.2.2 Thuế suất.
Luật thuế GTGT hiện hành có 3 mức thuế suất được áp dụng:
+ Mức thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu
- Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu bao gồm cả hàng hoá gia công xuất khẩu vàhàng hoá, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT xuất khẩu; trừ các trường hợpsau: Vận tải quốc tế, hàng hoá dịch vụ cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế, dịch
vụ tái bảo hiểm ra nước ngoài, dịch vụ tín dụng, đầu tư tài chính, đầu tư chứngkhoán ra nước ngoài và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản khai thácchưa qua chế biến do Chính phủ quy định
Trang 12- Hàng hoá xuất khẩu bao gồm: Xuất khẩu ra nước ngoài, bán cho doanhnghiệp khu chế xuất và các trường hợp được coi là xuất khẩu theo quy định củaChính phủ.
- Dịch vụ xuất khẩu: Là dịch vụ đã được cung cấp trực tiếp cho tổ chức, cánhân ở nước ngoài và được tiêu dùng ngoài lãnh thổ Việt Nam
+ Mức thuế suất 5%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thiết yếu
+ Mức thuế suất 10%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ thông thường
sở phải hạch toán riêng hoạt động kinh doanh này để tính thuế trực tiếp trênGTGT
1.2.2.3.1 Phương pháp khấu trừ thuế:
* Đối tượng áp dụng:
Là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp thành lập theo Luật doanhnghiệp Nhà nước, luật doanh nghiệp, luật hợp tác xã, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài và các đơn vị tổ chức kinh doanh khác trừ các đối tượng áp dụngphương pháp trực tiếp trên GTGT để tính thuế
Trang 13Ttrong đó:
+ Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế x Thuế suất
+ Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ bằng tổng số thuế GTGT đã thanhtoán được ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuếGTGT hàng hoá nhập khẩu
1.2.2.3.2 Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT:
* Đối tượng áp dụng:
- Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoáđơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
- Cơ sở kinh doanh mua, bán vàng bạc, đá quý, ngoại tệ
* Cách xác định số thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT phải
GTGT của hànghoá,dịch vụchịu thuế
vụ bán ra
-Giá vốn của hàng hoá, dịch vụ bán ra
1.2.2.4 Quy định về hoá đơn, chứng từ:
Tại điều 11 luật thuế GTGT quy định như sau:
- Việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ đều phải có hoá đơn, chứng từ theo quyđịnh của pháp luật
Trang 14- Các cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế phải sửdụng hoá đơn GTGT và phải ghi đầy đủ, đúng các yếu tố quy định, trong đó ghi rõgiá bán, khoản phụ thu, phí thu thêm, khoản thuế GTGT, giá thanh toán.
- Đối với các loại tem, vé được coi là chứng từ thanh toán đã in sẵn giáthanh toán thì giá thanh toán tem, vé đó đã bao gồm thuế GTGT
- Cơ sở kinh doanh in, phát hành, sử dụng hoá đơn không đúng quy định đểtrốn thuế, gian lận trong khấu trừ thuế, hoàn thuế thì ngoài việc bị truy thu, truyhoàn số tiền thuế còn bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế hoặc bị truy cứu tráchnhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
1.3 Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ( NQD).
Công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp NQD được thực hiệntheo Quyết định số 1209 TCT/QĐ/TCCB ngày 29/07/2004 của Tổng cục trưởngTổng cục thuế, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2004 thay thế Quyết định số1368/TCT/QĐ/TCCB ngày 16/12/1998 và Quyết định số 1329/TCT/QĐ/NV1 ngày18/09/2002 của Tổng cục trưởng Tổng cục thuế
1.3.1.Một số quy định chung của quy trình quản lý thuế đối với doanh nghiệp: 1.3.1.1 Đối tượng quản lý thuế:
- Các doanh nghiệp thành lập theo Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật doanhnghiệp, Luật đầu tư nước ngoài và Luật hợp tác xã
- Các công ty nước ngoài và các tổ chức cá nhân nước ngoài sản xuất kinhdoanh tại Việt Nam không theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trực tiếp kêkhai nộp thuế
- Các đơn vị sự nghiệp kinh tế, nhà khách, nhà nghỉ và các tổ chức kinh tế kháccủa cơ quan Nhà nước Đảng, đoàn thể, hội, đơn vị LLVT ND Trung ương, địa phương
và hộ kinh doanh thực hiện kê khai nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
1.3.1.2 Các đơn vị chính tham gia quy trình:
- Phòng tuyên truyền và hỗ trợ tổ chức cá nhân nộp thuế tại Cục thuế và tổnghiệp vụ hỗ trợ tại Chi cục thuế (sau đây gọi chung là Phòng TT- HT/tổ NV- HT)