1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu và đề XUẤT GIẢI PHÁP đảm bảo AN NINH môi TRƯỜNG TRÊN địa bàn QUẬN NAM từ LIÊM, THÀNH PHỐ hà nội TRONG GIAI đoạn 2020 – 2030

82 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dovers 2001, “Environmental Security, Sustainability and Policy”, công bố năm 2001, trình bày khái quát về các khía cạnh chính sách của phát triển bền vững, có liên quan đến an ninh môi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

ĐẶNG HƯƠNG GIANG

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO

AN NINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2020-2030

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

Hà Nội – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH

*** *** ***

ĐẶNG HƯƠNG GIANG

NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO

AN NINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN 2020-2030

Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống

Mã số: 8900201.05QTD

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

THƯỢNG TƯỚNG, TS NGUYỄN VĂN HƯỞNG

PGS.TS HOÀNG ĐÌNH PHI

Hà Nội - 2020

Trang 3

Những kết quả nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã được trích dẫn cụ thể, phù hợp với qui định của pháp luật

Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2020 Tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy cô của Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB) - Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là thầy giáo, thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng và PGS-TS Hoàng Đình Phi, đã cho tác giả những kiến thức nền tảng và khoa học về quản trị an ninh phi truyền thống Tác giả cũng chân thành cảm ơn các thầy các cô trong khoa đã nhiệt tình giúp đỡ hướng dẫn tác giả hoàn thành tốt luận văn này

Đây là chương trình đào tạo liên ngành mới ở nước ta, đòi hỏi học viên phải cập nhật những kiến thức rất mới và tổng hợp Vì vậy tác giả đã gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ Do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu, nên luận văn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học để tiếp tục hoàn thiện kỹ năng nghiên cứu của mình

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Giải nghĩa

ANQG An ninh quốc gia

ANTT An ninh truyền thống

ANPTT An ninh phi truyền thống

HSB Khoa Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội

NCS Nghiên cứu sinh

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG 8

1.1 Các khái niệm 8

1.1.1 Môi trường 8

1.1.2 Ô nhiễm môi trường 9

1.1.3 An ninh môi trường 13

1.2 Đảm bảo an ninh môi trường và quản trị an ninh môi trường 20

1.3 Đánh giá công tác quản trị an ninh môi trường 23

Tiểu kết chương 1 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 – 2020 26

2.1 Khái quát chung về địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội 26

2.2 Thực trạng công tác đảm bao an ninh môi trường \ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2010 – 2020 28

2.3 Đánh giá chung 34

Tiểu kết chương 2 36

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2020-2030 37

3.1 Những định hướng hoàn thiện chiến lược an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2020-2030 37

3.2 Những kiến nghị và giải pháp cụ thể để đảm bảo an ninh môi trường từ thực tiễn địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2020-2030 38

3.2.1 Giải pháp vấn đề quy hoạch 38

Trang 7

3.2.2 Giải pháp vấn đề chính sách 421

3.2.3 Giải pháp vấn đề công nghệ 44

3.2.4 Giải pháp về cộng đồng 48

3.2.5 Giải pháp về nguồn lực và các công cụ tài chính phù hợp 56

3.2.6 Giải pháp tăng cường công tác quản lý nhà nước 61

Tiểu kết chương 3 66

KẾT LUẬN 67

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68

PHỤ LỤC 73

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường là không gian, và cũng là nguồn cung cấp những điều kiện cho sự sinh tồn và phát triển của con người, cũng như của các loài sinh vật khác Sự phát triển về kinh tế - xã hội của nhân loại phụ thuộc một phần rất lớn vào các nguyên - nhiên - vật liệu từ môi trường; nhưng ở chiều ngược lại, quá trình này cũng gây ra những tác động (cả tích cực và tiêu cực) đến môi trường

Sự phát triển của nhân loại - đặc biệt là trong kỉ nguyên công nghiệp hóa – đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường, môi sinh Tình trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đã và đang trở thành mối đe dọa với đời sống của loài người

Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới: Bước sang thế kỉ XXI, đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế của nước ta là sự hủy hoại môi trường ở mức độ nghiêm trọng Sau hơn ba mươi năm tiến hành công cuộc Đổi Mới, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc về kinh

tế, ngày càng hội nhập quốc tế một cách sâu rộng Từ một trong các nước nghèo nhất thế giới, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp

và quá trình phát triển công nghiệp mạnh mẽ1 Tuy nhiên, đi cùng với đó, môi trường ở nước ta cũng đã bị ảnh hưởng rất lớn Như một hệ quả của thực trạng này: Tình hình ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu cũng đang ngày càng trở thành mối đe dọa đến sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế của Việt Nam

Thực tế này đã đòi hỏi phải có thêm những cách tiếp cận mới với vấn

đề môi trường: Một trong số đó là tiếp cận theo góc độ an ninh môi trường – một dạng thức an ninh phi truyền thống

1 Đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank) năm 2016

Trang 9

An ninh môi trường là một vấn đề rất cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả trên thế giới, vấn đề đảm bảo an ninh môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu, cần có sự hợp tác, chia

sẻ giữa các quốc gia Các thách thức an ninh môi trường không chỉ đe dọa an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh lương thực, v.v…, mà còn là một trong những nguy cơ lớn đe dọa an ninh quốc gia và sự tồn vong của nhân loại Có thể thấy, chưa bao giờ vấn đề môi trường lại được đặt ra cấp bách đối với Việt Nam như hiện nay Sự khan hiếm tài nguyên, ô nhiễm, suy thoái môi trường ngày càng gia tăng có thể gây suy yếu nền kinh tế, làm trầm trọng thêm vấn đề đói nghèo, làm bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột Nhiều học giả trong nước và trên thế giới đều thống nhất quan điểm về mối quan hệ giữa an ninh quốc gia và an ninh môi trường có tính hữu cơ, chặt chẽ, bởi vì về thực chất, an ninh môi trường là một thành tố thuộc an ninh phi truyền thống, một bộ phận cấu thành an ninh quốc gia Vì vậy, đảm bảo an ninh môi trường chính là một phần quan trọng nhằm đảm bảo an ninh quốc gia trong thời đại mới

Là một địa phương của Thủ đô Hà Nội mới trải qua những biến động

về tổ chức hành chính (chia tách huyện Từ Liêm, và nâng cấp trở thành hai quận nội thành), quận Nam Từ Liêm hiện đang gặp nhiều vấn đề trong giải quyết bài toán môi trường - môi sinh của thời kì đô thị hóa và công nghiệp hóa Thực tiễn đòi hỏi, trong thời gian tới, quận Nam Từ Liêm phải xây dựng

và thống nhất triển khai thực hiện một chiến lược an ninh môi trường toàn diện và nhất quán Các giải pháp đảm bảo an ninh môi trường (cả ở khu vực

đô thị và đô thị) phải được thực hiện đồng bộ trên địa bàn toàn quận

Vì những lí do đó, luận văn thạc sĩ đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu và

đề xuất giải pháp đảm bảo an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2020-2030”

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

An ninh môi trường là một vấn đề mới ở Việt Nam, nhưng đã không còn xa lạ với khoa học thế giới Liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sĩ, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu quan trọng của các học giả nước ngoài, như:

- “Environmental security and climate change: analysing the

discourse” của M.J Trombetta (2018) đã phân tích mối liên hệ giữa an ninh

môi trường và thực trạng biến đổi khí hậu hiện nay;

- V Dale, S Bartell, R Brothers, và J Sorensen (2004) : “Systems

Approach to Environmental Security” đã trình bày cách tiếp cận mang tính hệ

thống về an ninh môi trường;

- G.D Foster (2001), “Environmental Security: The Search for

Strategic Legitimacy” và J Barnett, và S Dovers (2001), “Environmental Security, Sustainability and Policy”, công bố năm 2001, trình bày khái quát

về các khía cạnh chính sách của phát triển bền vững, có liên quan đến an ninh môi trường;

Ở trong nước, trong thời gian gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề an ninh môi trường (cả ở góc độ lí thuyết và vận dụng thực tiễn), cụ thể là:

- Nguyễn Thị Phương Hảo, (2017), Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu an

ninh môi trường tỉnh Bắc Ninh và vai trò của Công an nhân dân” đã Làm rõ

thực tế các vấn đề môi trường ở Bắc Ninh, bao gồm các loại ô nhiễm môi trường và khai thác tài nguyên trái phép, không bền vững và chỉ ra những nguy cơ gây mất an ninh từ các vấn đề môi trường ở địa phương này Trên cơ

sở các lí thuyết về an ninh môi trường, tác giả đã đưa ra hệ thống các giải pháp khắc phục các vấn đề an ninh môi trường gắn với vai trò của lực lượng Công an nhân dân

Trang 11

- Nhóm tác giả TS Tạ Đình Thi, ThS Phan Thị Kim Oanh và ThS Tạ

Văn Trung, (2017), “Đảm bảo an ninh môi trường ở Việt Nam: Vấn đề cấp

thiết cần phải giải quyết” đã trình bày khái quát lịch sử hình thành những lí

thuyết và quan điểm về an ninh môi trường trên thế giới, trong mối liên hệ với những vấn đề cấp bách về môi trường tại Việt Nam

Trong khuôn khổ Chương trình Thạc sĩ Quản trị An ninh phi truyền thống (MNS), Khoa Quản trị và Kinh doanh (HSB), Đại học Quốc gia Hà Nội, an ninh môi trường là một nội dung trọng điểm, được quan tâm nghiên cứu Nhiều học viên cao học của nhà trường đã lựa chọn hướng nghiên cứu về

an ninh môi trường, thông qua cách tiếp cận của phương trình quản trị an ninh phi truyền thống S = 3S – 3C (do Thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng và PGS-TS Hoàng Đình Phi đồng sáng tạo và phổ biến rộng rãi) Có thể kể đến

các luận văn thạc sĩ: “Một số vấn đề quản trị an ninh môi trường tại địa bàn

đô thị huyện Đan Phượng” của tác giả Nguyễn Viết Thắng, “Nghiên cứu đề xuất đảm bảo an ninh môi trường cho làng nghề tái chế chì thôn Đông Mai,

xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” của Hà Phi Long, “Nghiên cứu

đề xuất giải pháp đảm bảo an ninh môi trường xã Hà Thượng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” của Đinh Hoàng Anh, v.v…

Các công trình nghiên cứu nói trên đã phần nào giải quyết được nhiều vấn đề lí luận và thực tiễn về an ninh môi trường Tuy nhiên, chưa có công trình nào tiếp cận về an ninh môi trường dưới góc độ chiến lược lâu dài, thống nhất cho một địa phương, một khu vực địa lý cụ thể Chiến lược an ninh môi trường phải được xây dựng và triển khai thực hiện song hành với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế của địa phương, của vùng địa lý, vùng kinh tế, và rộng ra là cả nước

Vì vậy, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu sẵn có, luận văn thạc sĩ đi sâu vào giải quyết vấn đề chiến lược an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn thạc sĩ là phân tích khung lý thuyết

và thực trạng, để đề xuất xây dựng chiến lược đảm bảo an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương trong việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2020-2030

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã nêu ở trên, tác giả xác lập các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận văn thạc sĩ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hình thành luận cứ khoa học về môi trường và an ninh môi

trường;

Thứ hai, đánh giá thực tiễn xây dựng và đảm bảo thực hiện chiến lược

an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm trong những năm vừa qua;

Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện chiến lược

đảm bảo an ninh môi trường hướng đến phát triển bền vững trên địa bàn Quận

Từ Liêm giai đoạn 2020-2030

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung vào đối tượng nghiên cứu là các chủ trương, chính sách

về đảm bảo an ninh môi trường hướng đến phát triển bền vững trên địa bàn quận Nam Từ Liêm nói riêng và địa bàn thành phố Hà Nội nói chung trong thời gian vừa qua

Chiến lược đảm bảo an ninh môi trường quận Nam Từ Liêm được thể hiện thông qua các chủ trương, chính sách, văn bản pháp quy của Trung ương

Trang 13

và địa phương; các thực tiễn, mô hình, kinh nghiệm trong đảm bảo an ninh môi trường hướng phát triển bền vững trên địa bàn quận Nam Từ Liêm

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Do giới hạn của dung lượng luận văn thạc sĩ, nên để đảm bảo tính chuyên sau, đề tài tập trung vào phân tích thực trạng môi trường đầu tư, các chính sách đảm bảo an ninh môi trường, quan điểm, định hướng phát triển bền vững trên địa bàn quận Nam Từ Liêm trong giai đoạn 2010-2020, và đề xuất chiến lược đảm bảo an ninh môi trường giai đoạn 2020-2030

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là phương pháp chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận án, để đưa ra những nhận định, kết luận khoa học đảm bảo tính khách quan, chân thực

Về phương pháp nghiên cứu, trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể trong quá trình nghiên cứu: Đó là phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (kinh tế, luật học, lịch sử, chính trị); phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp xã hội học pháp luật Để thực hiện có hiệu quả mục đích nghiên cứu, luận văn kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp trong suốt quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận văn Tuỳ thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng chương, mục trong luận án tác giả vận dụng, chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp

Trang 14

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1 Lí luận cơ bản về đảm bảo an ninh môi trường

- Chương 2 Thực trạng công tác đảm bảo an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2020;

- Chương 3 Đề xuất một số giải tăng cường công tác đảm bảo an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2020-2030

Trang 15

Có nhiều quan điểm định nghĩa khái niệm môi trường Theo nghĩa

thông thường, môi trường (environment) là toàn bộ nói chung những điều

kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy2

Lại có quan điểm định nghĩa: Môi trường là tổ hợp các nhân tố tự nhiên

và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào

đó Các nhân tố này tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con

Một cách cụ thể hơn, có thể đưa ra định nghĩa: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế

Theo nghĩa pháp định, khoản 1, điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014

định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có

tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” Trong phạm

vi luận văn thạc sĩ này, khái niệm môi trường được tiếp cận theo hướng này

Môi trường giữ vai trò rất quan trọng, là không gian sinh tồn của nhân loại, cung cấp những nguyên, nhiên, vật liệu cho quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của loài người Môi trường là di sản chung của toàn thể nhân loại

2 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 1997, tr.618

Trang 16

Với tư cách là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người sống trong môi trường tự nhiên và luôn tồn tại trong môi trường xã hội Mọi sự xáo trộn, biến đổi của môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người Để xử lý hài hòa mối quan hệ đó, con người phải vận dụng tốt vốn tri thức và kinh nghiệm của mình để tìm được “tiếng nói chung” với môi trường Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay đang xuất hiện những vấn đề phức tạp trong giải quyết mối quan hệ giữa con người với môi trường Thực trạng đó đòi hỏi phải đặt ra những yêu cầu cơ bản, toàn diện từ nhận thức đến hệ thống những giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững - một sự phát triển hài hòa cả về kinh tế - xã hội và tài nguyên, môi trường

1.1.2 Ô nhiễm môi trường

Một trong những vấn đề xã hội nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận hiện nay chính là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội của con người gây nên Vài năm trở lại đây, chúng ta liên tiếp phải hứng chịu những hậu quả nặng nề do thiên tai gây ra và do công tác bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập Môi trường tự nhiên vẫn hàng ngày, hàng giờ bị chính các hoạt động sản xuất, sinh hoạt và phát triển kinh tế - xã hội của con người tàn phá, làm cho ô nhiễm nghiêm trọng Đó cũng chính là hậu quả tất yếu của sự thiếu ý thức tôn trọng

tự nhiên và sự lúng túng trong tìm ra một lời giải cho bài toán phát triển bền vững

Để tồn tại và phát triển, con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường Con người muốn gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất, nước mới Nhưng việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên sẽ dẫn đến các hậu quả nặng nề mà người

Trang 17

gánh chịu chính là chúng ta - thế hệ hiện tại và tương lai Do đó, để vừa được hưởng cuộc sống chất lượng cao, vừa bảo vệ được môi trường sống là cả một vấn đề phức tạp phụ thuộc chủ yếu vào cách ứng xử của con người với “mẹ thiên nhiên”

Theo từ điển Merriam-webster, ô nhiễm môi trường là là hiện tượng môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác3 Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra, mặc dù một số hoạt động khác của tự nhiên cũng có thể gây ra những tác động xấu đối với môi trường

Theo nghĩa pháp định tại khoản 8, điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm

2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường

không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” Đây là một định nghĩa mang

đậm tính kĩ thuật, khi khái niệm ô nhiễm môi trường được xác định thông qua các quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, đặc biệt là kể từ khi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, con người ngày càng đẩy mạnh các hoạt động khai thác, cải tạo môi trường tự nhiên để phục vụ những nhu cầu của mình Điều này gây ra nhiều ảnh hưởng đối với môi trường, nhất là tình trạng ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường có nhiều dạng Căn cứ theo đặc điểm môi trường

bị ô nhiễm, có thể phân chia thành: (i) ô nhiễm môi trường đất; (ii) ô nhiễm môi trường nước; và (iii) ô nhiễm môi trường không khí

3 Nguyên văn tiếng Anh: “the action of polluting especially by environmental contamination with man-made

waste”

Trang 18

Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả tiêu cực do những hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái, vượt quá những giới hạn sinh thái của các quần xã sống trong đất

Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi theo chiều tiêu cực của các tính chất vật lý, hóa học, và sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật

Ô nhiễm môi trường nước làm giảm độ đa dạng các sinh vật trong nước

Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại hóa chất, chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp thải ra sông, ra biển, Đại dương mà chưa qua xử lý; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu dư thừa trên đồng ruộng ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông gây ô nhiễm trầm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, sinh vật trong khu vực Các loại chất độc hại đó lại bị đưa ra biển và là nguyên nhân xảy ra hiện tượng "thủy triều đỏ", gây ô nhiễm nặng nề và làm chết các sinh vật sống ở môi trường nước Xét về tốc độ lan truyền, quy mô ảnh hưởng, và hậu quả để lại, thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm môi trường đất

Ô nhiễm môi trường không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây mùi khó chịu, giảm thị lực khi nhìn xa do bụi

Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ không phải riêng của một quốc gia nào Môi trường khí quyển đang

có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật Hiện tượng “khí nhà kính” đã và đang làm tăng nhiệt độ của Trái Đất, làm tan băng ở hai cực, khiến mực nước biển dâng cao Tình trạng biến đổi khí hậu đã xuất hiện như một hệ quả trực tiếp của vấn đề ô nhiễm không khí, ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của con người, cũng như của các loài sinh vật

Trang 19

Ngoài ra, trong tiếp cận nghiên cứu về ô nhiễm môi trường, đã có nhiều quan điểm khoa học xác định một số loại hình ô nhiễm đặc thù, cụ thể như sau:

Ô nhiễm tiếng ồn là sự gia tăng quá mức của thời gian, và cường độ âm thanh trong không gian, làm ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tâm lí của con người cũng như các loài động vật khác Nguồn ô nhiễm tiếng ồn có thể đến từ hoạt động công nghiệp, hoạt động giao thông, hoặc từ sinh hoạt của con người

Ô nhiễm ánh sáng là sự gia tăng quá mức của thời gian chiếu sáng, và cường độ chiếu sáng trong không gian, làm ảnh hưởng đến con người và các loài động, thực vật Hiện tượng ô nhiễm ánh sáng thường xuất hiện tại các đô thị lớn – những “thành phố không ngủ”, làm đảo lộn nhịp sinh học của con người và động vật, gây ảnh hưởng đến thị giác

Ô nhiễm phóng xạ là sự gia tăng quá mức cường độ phóng xạ trong môi trường Ô nhiễm phóng xạ làm gia tăng mức độ bức xạ tự nhiên, ảnh hưởng đến sức khỏe của cơ thể (gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn thậm chí

là ung thư da, ung thư xương, v.v ) Nguyên nhân của ô nhiễm phóng xạ là

do các hoạt động của con người như khai thác, xử lý vật liệu phóng xạ, xử lý

và lưu trữ chất thải phóng xạ, v.v gây ra

Ô nhiễm sóng điện từ là sự gia tăng quá mức của số lượng nguồn phát

và cường độ phát của các loại sóng điện từ trong không gian Nguyên nhân của ô nhiễm sóng điện từ là do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền hình, v.v tồn tại với mật độ lớn Ô nhiễm sóng điện từ có nhiều tác hại, như: làm cho con người bị ảnh hưởng nhiều đến não bộ hơn, khiến cơ thể con người chịu nhiều tác động khác do ảnh hưởng bởi các loại sóng này

Ô nhiễm môi trường đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu, kéo theo nhiều hệ lụy xấu như gây biến đổi khí hậu, khiến cho nhiệt độ Trái Đất nóng lên, làm tan băng ở hai địa cực, khiến nước biến dâng cao, v.v… Tình trạng ô

Trang 20

nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang là mối đe dọa rất lớn với loài người trong giai đoạn hiện nay

1.1.3 An ninh môi trường

Trong nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường và đời sống con người, phân tích ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường đến sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế, v.v… một hướng tiếp cận đang được chú trọng là nghiên cứu an ninh môi trường, như một vấn đề an ninh phi truyền thống trong thế kỉ XXI

Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa và xác định nội hàm của khái niệm

an ninh nói chung và an ninh phi truyền thống nói riêng Những năm gần đây, vấn đề an ninh phi truyền thống đã thu hút sự quan tâm ngày càng cao của nhiều quốc gia, nhiều chính phủ An ninh phi truyền thống đã trở thành nền tảng phát triển và mở ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu, đánh giá nhiều vấn đề phát triển vĩ mô Trong giai đoạn hiện nay, an ninh môi trường đang trở thành một vấn đề an ninh phi truyền thống cấp thiết nhất

Trước khi đi vào phân tích khái niệm an ninh môi trường như một thách thức an ninh phi truyền thống, cần làm rõ các khái niệm cơ bản như an ninh quốc gia - một khái niệm mang tính chính trị - pháp lý, thể hiện bản chất chế độ xã hội của một quốc gia Theo nghĩa pháp định, khoản 1, điều 3, Luật

An ninh quốc gia năm 2004 của Việt Nam đã định nghĩa: “An ninh quốc gia

là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc” Trên cơ sở đó, Luật An

ninh quốc gia năm 2004 định nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia4 Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại,

4 Khoản 2, điều 3, Luật An ninh quốc gia năm 2004

Trang 21

độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam5

Căn cứ trên những định nghĩa của Luật An ninh quốc gia năm 2004, có thể thấy được phần nào về cách tiếp cận an ninh quốc gia theo hướng truyền thống Nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia là những nhân tố bên trong, bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có khả năng thực tế gây nguy hại cho an ninh quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nội dung cơ bản của an ninh quốc gia là bảo vệ lợi ích quốc gia và loại bỏ các mối đe dọa tới lợi ích

đó

Trên thực tế, an ninh quốc gia (ANQG) bao hàm an ninh truyền thống (ANTT) và an ninh phi truyền thống (ANPTT) Tùy thuộc vào bối cảnh, thời điểm khác nhau, mà những thách thức ANTT hoặc ANPTT sẽ nổi lên đe dọa tới an ninh quốc gia Trước đây, trong thời kì Chiến tranh lạnh, các nhân tố ANTT được đề cao, việc bảo vệ ANQG chủ yếu nằm ở khía cạnh xây dựng lực lượng vũ trang và nền quốc phòng hùng mạnh để chống lại kẻ thù xâm lược Còn trong bối cảnh hiện nay, do mặt trái của sự phát triển, và xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, vấn đề ANQG không chỉ giới hạn trong việc ngăn chặn, ứng phó với các nguy cơ chiến tranh (thách thức ANTT), mà còn bao hàm nhiều vấn đề ANPTT như biến đổi khí hậu, ô nhiễm, suy thoái môi trường, cạn kiệt nguồn nước, khủng bố, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao v.v… Các thách thức ANPTT vẫn có thể khiến một quốc gia, thể chế xã hội sụp đổ mà không cần bất kỳ một hoạt động quân

sự nào

Một trong những vấn đề ANPTT nổi cộm hiện nay và được nhiều học giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu là vấn đề an ninh môi trường (ANMT) Năm 1972, vấn đề ANMT lần đầu tiên được đưa vào chương trình nghị sự

5 Khoản 3, điều 3, Luật An ninh quốc gia năm 2004

Trang 22

quốc tế tại Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Con người ở Stockholm (Thụy Điển) Vào năm 1977, Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã thiết lập một Trung tâm Môi trường để đánh giá mối liên hệ giữa môi trường và ANQG Ủy ban Quốc tế về Môi trường và Phát triển đã kêu gọi mọi người cần hiểu an ninh một phần cũng là chức năng của phát triển bền vững Ủy ban

đã nêu vai trò của các áp lực về môi trường trong việc làm nảy sinh mâu thuẫn, đồng thời cũng tuyên bố rằng “một phương án an ninh quốc gia và quốc tế toàn diện phải vượt xa việc tập trung vào lực lượng quân sự và chạy đua vũ trang”

Đến đầu thập niên 1980, các học giả phương Tây lần đầu tiên đưa ra khái niệm ANMT và đặc biệt coi trọng vấn đề ANMT trong chiến lược ANQG Đại hội đồng Liên hợp quốc lần đầu tiên đã đề cập tới khái niệm ANMT vào năm 1987 trong một văn bản chính thức, theo đó “Quản lý nguồn tài nguyên không hợp lý, lãng phí đều gây ra những uy hiếp đối với an ninh

Sự biến đổi tiêu cực của môi trường đang tạo thành các uy hiếp đối với sự phát triển…, trở thành căn nguyên của các căng thẳng và tiêu cực xã hội ảnh hưởng đến cả nhân loại như đói nghèo, mù chữ, dịch bệnh…” Vào ngày 26/4/1986, vụ tai nạn tại Nhà máy điện nguyên tử Chernobyl đã gây thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới và sau đó Tổng thống Gorbachew đã

đề nghị đưa an toàn sinh thái lên ưu tiên hàng đầu ở Liên Xô trước đây Điều này đã giúp củng cố lòng tin của quốc tế vào khái niệm ANMT

Khái niệm về ANMT được Chính phủ Mỹ và một số quốc gia phương Tây chính thức công nhận vào gần giữa thập niên 1990 Ngay khi mới đắc cử năm 1993, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã tuyên bố ANMT là một bộ phận cấu thành và không thể tách rời của ANQG Vấn đề ANMT có thể gây ảnh hưởng lâu dài tới lợi ích quốc gia, đe dọa trực tiếp sức khỏe, sự thịnh vượng, việc làm, sự ổn định chính trị, kinh tế và mục tiêu chiến lược của Mỹ Chính phủ Mỹ đã đưa vấn đề ANMT vào trong Báo cáo Chiến lược ANQG năm

Trang 23

1994 “hiện nay quyết định của chúng ta với vấn đề môi trường sẽ ảnh hưởng đến mức độ uy hiếp của môi trường đối với an ninh Sự phức tạp của các khó khăn mà chúng ta sẽ phải đương đầu trong tương lai sẽ được quyết định bởi các bước đi mà chúng ta thực hiện lúc này”

Bên cạnh đó, cựu Ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher cho rằng “các vấn đề về tài nguyên thiên nhiên thường có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ ổn định kinh tế và chính trị của một quốc gia” Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Na

Uy Johan Holst cũng nêu quan điểm “môi trường xuống cấp có thể coi là một phần của xung đột vũ trang vì nó làm các xung đột thêm nghiêm trọng hơn hoặc mở rộng quy mô của các cuộc xung đột đó” Năm 1996, các nước châu

Âu cũng chính thức đặt vấn đề môi trường trở thành một lĩnh vực thuộc phạm

vi ANQG Đến nay, các nước Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Ca-na-đa, EU và nhiều nước khác đã ban hành Chiến lược an ninh môi trường Theo Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (năm 1992), an ninh môi trường là “Sự khan hiếm các tài nguyên thiên nhiên, suy thoái và ô nhiễm môi trường và những hiểm hoạ

có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiến tranh” Dự án Thiên niên kỷ của Hội đồng châu Mỹ của Liên hiệp quốc xác định: “An ninh môi trường là việc đảm bảo an toàn trước các mối nguy hiểm môi trường sinh

ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia” Đây là một định nghĩa khá toàn diện, phản ánh được bản chất của vấn đề ANMT Mặc dù còn nhiều vấn đề phải tranh cãi, nhưng hiện nay các học giả đã thừa nhận các yếu tố môi trường đóng cả vai trò trực tiếp và gián tiếp trong tranh chấp chính trị và xung đột bạo lực Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau, phát triển kinh tế và sinh thái tạo ra các mối nguy hiểm tiềm tàng cho tất cả các đối tượng ở mọi tầng lớp Khái niệm ANMT dù được hình thành từ nhiều cách khác nhau, nhưng đang dần thể hiện

Trang 24

một khuôn mẫu thay thế cho việc sắp xếp và xử lý các mối đe dọa ngày càng tăng cao

Hiện nay, nhiều học giả trong nước và trên thế giới đều thống nhất quan điểm về quan hệ ANQG và ANMT có tính chất hữu cơ, chặt chẽ, bởi vì

về thực chất, ANMT là một thành tố thuộc ANPTT, một bộ phận cấu thành ANQG, bên cạnh an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa Tùy bối cảnh của từng nước và tùy từng giai đoạn phát triển của lịch sử, vị trí và vai trò của ANMT trong ANQG có thay đổi Nhưng nhìn chung, trên thế giới và Việt Nam, vị trí và vai trò ANMT đang ngày càng đóng vai trò quan trọng Các nghiên cứu đã khá thống nhất trong việc xác định các vấn đề ANMT chủ yếu mà thế giới đang phải đối mặt, bao gồm: tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, trong đó nhấn mạnh tới hiệu ứng nhà kính gây ấm lên toàn cầu; nguy cơ nguồn nước và sự hủy hoại các nguồn tài nguyên biển; sự phá hủy và tổn hại của tầng ô zôn; hiện tượng sa mạc hóa đất đai; hệ thực vật rừng bị phá hoại; đa dạng sinh học suy giảm và vấn đề mưa axít Cùng xu thế đó, hiện nay, Việt Nam cũng đang đứng trước nhiều mối đe dọa về ANMT cấp bách cần phải giải quyết, như: biến đổi khí hậu; an ninh nguồn nước, an ninh môi trường biển bị đe dọa; ô nhiễm tại các khu vực trọng điểm và ô nhiễm xuyên biên giới chưa thể kiểm soát; suy giảm tài nguyên rừng và đa dạng sinh học

Có thể thấy, chưa bao giờ các vấn đề môi trường lại được đặt ra cấp bách đối với toàn nhân loại như hiện nay

Trước thực trạng trên, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta” Ngay trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII Đảng ta đã khẳng định: “Nhân dân các nước đang đứng trước

Trang 25

những vấn đề toàn cầu cấp bách liên quan đến vận mệnh loài người Đó là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ môi trường sống, hạn chế sự bùng nổ dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo” Vấn đề bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là một nội dung quan trọng được đưa vào Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, trong đó nhấn mạnh: “Tăng cường công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụ phát triển bền vững theo hướng bảo đảm tính tổng thể, liên ngành, liên vùng, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn” và yêu cầu phải “sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống”

Thời gian vừa qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp về tài nguyên và môi trường, cụ thể như Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020; Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu; Luật Bảo vệ môi trường 2014; Luật

Đa dạng sinh học 2008; Luật Tài nguyên nước 2012… Đến nay, Việt Nam đã

ký kết tham gia 23 công ước quốc tế về môi trường Đồng thời, Việt Nam cũng đang tích cực hợp tác với các nước, các tổ chức trên thế giới và xác định hợp tác quốc tế là cần thiết để đối phó với các thách thức ANPTT, đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và chia sẻ nguồn nước xuyên biên giới Trong Sách trắng quốc phòng Việt Nam năm 2004 khẳng định:

“Những vấn đề chưa được giải quyết liên quan đến tranh chấp biên giới, lãnh thổ, trên biển, trên bộ cũng như những vấn đề an ninh phi truyền thống khác như: buôn bán vận chuyển ma túy, vũ khí, cướp biển, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, khủng bố, nhập cư và di cư trái phép, suy thoái môi trường

Trang 26

sinh thái… cũng là mối quan tâm, an ninh của Việt Nam” Việt Nam đã đưa khái niệm ANMT vào Luật Bảo vệ môi trường 2014, theo đó “an ninh môi trường là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia”

Như vậy, có thể thấy vấn đề ANMT đã được thế giới cũng như Việt Nam hết sức quan tâm và đã thể chế bước đầu trong các chính sách, pháp luật

Báo cáo Phát triển con người năm 2004 của UNDP xác định an ninh phi truyền thống bao gồm an ninh con người và an ninh cộng đồng Báo cáo cũng chỉ ra rằng vấn đề an ninh phi truyền thống liên quan tới 7 lĩnh vực chủ yếu là : kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị Một số nghiên cứu khác lại quy vấn đề an ninh phi truyền thống vào

5 lĩnh vực cơ bản: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hóa Mặt khác, cũng có nghiên cứu lại chỉ r hơn 6 mối đe dọa của an ninh phi truyền thống

là ô nhiễm môi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm, và thảm họa tự nhiên Mặc dù phân loại theo tiêu chí nào, thì có thể thấy rõ là vấn đề môi trường và ô nhiễm môi trường luôn luôn là một nội dung quan trọng bậc nhất của an ninh phi truyền thống

Báo cáo dự án Thiên niên kỷ của Hội đồng Châu Mỹ tại Liên Hợp Quốc năm 2002 định nghĩa an ninh môi trường là việc đảm bảo an toàn trước các mối nguy hiểm môi trường, sinh ra do sự yếu kém trong quản lý hoặc thiết kế và có nguyên nhân trong nước hay xuyên quốc gia

Tại Việt Nam, khoản 28, điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã

đưa ra định nghĩa pháp định về an ninh môi trường: “An ninh môi trường là

việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ổn định chính trị,

xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia”

Trên cơ sở những khái niệm mang tính lý thuyết và khái niệm pháp lý,

có thể đưa ra một định nghĩa với nội hàm tương đối đầy đủ về an ninh môi

Trang 27

trường, đó là việc đảm bảo sao cho các mối nguy hiểm môi trường sinh ra do

sự yếu kém trong quản lý hoặc quy hoạch và có nguyên nhân trong nước hay quốc tế sẽ không tác động lớn đến sự ổn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia, duy trì sự an toàn cho cá nhân, xã hội và các lĩnh vực hoạt động của xã hội phát triển

1.2 Đảm bảo an ninh môi trường và quản trị an ninh môi trường

An ninh môi trường cấu thành an ninh quốc gia và là điều kiện của phát triển bền vững Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh môi trường quốc gia đó là: Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra nhanh trong những năm gần đây, đã làm biến đổi mạnh mẽ các điều kiện môi trường và tài nguyên thiên nhiên của đất nước Ở nhiều địa bàn đô thị trong cả nước đất hoa màu trồng lúa và các loaị cây trái đã và đang chuyển đổi bê tông hóa sang thành các khu cụm điểm công nghiệp Theo số liệu thống kê, hiện cả nước có khoảng 300 khu công nghiệp, khu chế xuất lớn; hơn 600 cụm công nghiệp vừa và nhỏ và khoảng ba nghìn làng nghề tại các địa phương, trong đó rất nhiều khu vực, cơ sở chưa có hệ thống xử lý môi trường theo đúng quy định gây tác động không nhỏ tới môi trường Ô nhiễm môi trường tại lưu vực các dòng sông lớn đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng do tình trạng nước thải chưa được xử lý từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, từ các đô thị trực tiếp

xả thẳng ra sông Ô nhiễm không khí do bụi, khí thải hóa chất độc hại từ các nhà máy điện Trong khi đó, kết cấu và thể chế, hạ tầng và trình độ công nghệ

để bảo vệ môi trường ở nước ta còn chưa đáp ứng được so với yêu cầu hiện nay… quá trình hội nhập quốc tế cũng làm tăng ô nhiễm, dịch chuyển chất thải xuyên biên giới như: ô nhiễm theo các dòng sông; chuyển dịch chất thải công nghiệp, nhất là việc chuyển giao công nghệ sản xuất lạc hậu, kém hiệu quả đã góp phần gây ô nhiễm môi trường Nước ta đang trong giai đoạn “tích

Trang 28

tụ ô nhiễm” đối với khá nhiều các tác nhân nguy hiểm như: Dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật tồn lưu; sự phát thải các hóa chất công nghiệp có tính độc hại cao và bền vững trong môi trường; sự phát thải, tích lũy, khuếch đại sinh học của hàng loạt các hóa chất độc hại trong chăn nuôi theo chuỗi thức ăn Tại nhiều địa phương, tình trạng suy thoái và ô nhiễm 17 môi trường đã, đang trở thành những vấn đề cấp bách, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của cộng đồng, tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội của người dân Vì vậy bảo vệ

an ninh môi trường là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và của cả các cấp, các ngành, của từng địa phương

Phương trình an ninh phi truyền thống:

Căn cứ theo phương trình an ninh phi truyền thống: S 3S-3C thì ở các cấp độ khác nhau như quốc gia, tỉnh thành, quận, quận và doanh nghiệp thì các chủ thể hay những người có trách nhiệm phải : +) thực thi pháp luật +) và chủ động quản trị an ninh môi trường để đảm bảo an toàn và ổn định cho các chủ thể và những người liên quan, trong đó bao gồm: quản trị được các rủi ro

Trang 29

(C1) và tránh được các khủng khoảng môi trường (C2) gây thiệt hại về người

và của cũng như vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường…(C3) Công tác quản trị an ninh môi trường của mỗi một chủ thể cần được đánh giá hàng năm thông qua các yếu tố cơ bàn của Phương trình quản trị an ninh phi truyền thống (3S3C) ứng dụng linh hoạt trong từng địa bàn hay doanh nghiệp… Ở địa bàn đô thị có thể sử dụng phương trình rút gọn là S= 1S – 2 C = (S1) – (C1+C2) Cụ thể là đánh giá qua các tiêu chí cơ bản như sau: (1) Mức độ quan tâm của lãnh đạo quận (Đảng bộ, HĐND, UBND) thông qua các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch hàng động hàng năm…); (2) Mức độ an toàn của nguồn nước phục vụ sinh hoạt; (3) Mức độ an toàn của nguồn nước phục vụ sản xuất; (4) Mức độ an toàn của không khí; (5) Mức độ xử lý rác thải rắn và rác thải độc hại; (6) Mức độ xử lý nước thải; (7) Số lượng và tác động tiêu cực khi các rủi ro về môi trường đã trở thành khủng hoảng quy mô từ nhỏ đến lớn trong tưng năm vừa qua Đến đây có thể nhận thấy: An ninh môi trường là một thành tố của an ninh quốc gia Việc không đảm bảo an ninh môi trường

có thể gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất ổn chính trị, thậm chí trở thành ngòi nổ cho các cuộc xung đột và chiến tranh Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới đang đứng trước rất nhiều thách thức về môi trường như: biến đổi khí hậu, tranh chấp nguồn nước, ô nhiễm xuyên biên giới… Do đó, cần đưa ra giải pháp quản tri an ninh môi trường nhằm làm giảm nhẹ các nguy cơ đe dọa an ninh môi trường, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển bền vững của đất nước Vì các vấn đề liên quan đến an ninh môi trường đều đang rất cấp bách và gấp gáp, là vấn đề của toàn cầu chứ không riêng mỗi quốc gia hay cá nhân hộ gia đình Thậm chí, rất nhiều vấn đề môi trường còn có thể đe dọa hòa bình và an ninh thế giới như: biến đổi khí hậu, tranh chấp tài nguyên thiên nhiên, bất đồng giữa các quốc gia về phân chia tài nguyên, khủng bố sinh thái, xâm lược sinh thái…Vì vậy quản trị an

Trang 30

ninh môi trường là yêu cầu cấp bách; là vấn đề hệ trọng, cần thiết đă ra trong bối cảnh phát triển như hiện nay

1.3 Đánh giá công tác quản trị an ninh môi trường

Năng lực giám sát, cảnh báo khí hậu, thiên tai thông qua việc mở rộng, phát triển, hiện đại hóa hệ thống quan trắc và dự báo khí tượng thủy văn theo hướng kết kết hợp quan trắc, dự báo khí tượng thủy văn với giám sát, cảnh báo khí hậu đã được nâng cao và phát triển Phát triển hệ thống thông tin và

dữ liệu về khí hậu và biến đổi khí hậu phục vụ hoạch định chính sách và triển khai thực hiện các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu

Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo

vệ môi trường, nhất là phòng, chống dịch chuyển ô nhiễm môi trường trên địa bàn quận được diễn ra thường xuyên và quyết liệt, đặc biệt các hành vi cố tình

xả thẳng khí thải, rác thải độc hạichưa xử lýra môi trường được xử lí nghiêm ngặt

Tuy nhiên, việc quản trị về môi trường thiếu hiệu quả Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường tuy đã được hình thành về cơ bản nhưng vẫn nhiều quy định còn chung chung, thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, thậm chí chồng chéo giữa các luật với nhau như: Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ rừng, Luật Khoáng sản, Thiếu các cơ chế về bồi thường thiệt hại do

ô nhiễm môi trường gây ra, giải quyết tranh chấp, xung đột về môi trường Nhiều quy định về xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc, chưa có cơ chế phù hợp để thực hiện nên chưa phát huy được hiệu quả Các loại thuế, phí về môi trường mới chỉ bước đầu tạo nguồn thu cho ngân sách mà chưa phát huy được vai trò công cụ kinh tế điều tiết vĩ mô, hạn chế gây ô nhiễm môi trường

Năng lực quản lý về bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, không theo kịp với sự phát sinh và tính chất ngày càng phức tạp của các vấn đề môi

Trang 31

trường Ở cấp địa phương, cơ cấu tổ chức và năng lực của tổ chức chuyên môn về bảo vệ môi trường chưa đáp ứng yêu cầu quản lý Nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng, mất cân đối về cơ cấu Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính đầu tư từ ngân sách nhà nước còn hạn hẹp

Trang 32

Tiểu kết chương 1

Trong phạm vi Chương 1, luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề

lí luận cơ bản về an ninh môi trường và chiến lược an ninh môi trường Luận văn đã làm r các khái niệm có liên quan như môi trường, ô nhiễm môi trường, an ninh môi trường,v.v…

Trong giai đoạn hiện nay, việc đảm bảo an ninh môi trường không chỉ đơn thuần là bảo vệ môi trường, cảnh quan ở địa phương, hay trồng cây, bảo

vệ hệ sinh thái tại đô thị, mà phải hướng đến phát triển bền vững và đổi mới chiến lược theo chiều sâu, có sự bền vững và hàm lượng khoa học cao, tránh thâm dụng lao động, v.v…

Những kết quả nghiên cứu lý luận tại Chương 1 là cơ sở quan trọng để luận văn nghiên cứu thực tiễn xây dựng và đảm bảo thực hiện chiến lược an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm

Trang 33

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẢM BẢO AN NINH MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 – 2020

2.1 Khái quát chung về địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Quận Nam Từ Liêm được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27/12/2013 của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính quận Từ Liêm để thành lập 2 quận và 23 phường thuộc Thành phố Hà Nội

Quận Nam Từ Liêm được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã: Mễ Trì, Mỹ Đình, Trung Văn, Tây Mỗ, Đại Mỗ; một phần diện tích và dân số xã Xuân Phương (phía nam Quốc lộ 32); một phần diện tích và dân số thị trấn Cầu Diễn (phía nam Quốc lộ 32 và phía đông Sông Nhuệ) Quận Nam Từ Liêm có diện tích tự nhiên là 3.227,36 ha, dân số 232.894 người

Địa giới hành chính quận Nam Từ Liêm:

Trang 34

- Phía đông giáp quận Thanh Xuân và Cầu Giấy;

- Phía tây giáp quận Hoài Đức;

- Phía nam giáp quận Hà Đông;

- Phía bắc giáo quận Bắc Từ Liêm

Theo quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến 2030, tầm nhìn 2050, quận Nam Từ Liêm là một trong những đô thị lõi, là trung tâm hành chính, dịch vụ, thương mại của Thủ đô Hà Nội Quận Nam Từ Liêm có nhiều công trình kiến trúc hiện đại và quan trọng của Quốc gia và Thủ đô Hà Nội Quận cũng là địa phương có tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh mẽ trong các quận, quận thuộc Thành phố, với nhiều dự án trọng điểm đã và đang được triển khai

Là một phần của vùng đất Từ Liêm, quận Nam Từ Liêm có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, mang đặc trưng của nền văn minh sông Hồng rực rỡ và gắn liền với những thăng trầm lịch sử của đất Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến

Nhân dân Từ Liêm nói chung, nhân dân quận Nam Từ Liêm nói riêng

có lòng yêu nước nồng nàn, bản chất cần cù, sáng tạo, trong lịch sử luôn có những đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo

vệ Thủ đô, đất nước

Phát huy những truyền thống tốt đẹp đó, Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp nhân dân quận Nam Từ Liêm đang vững bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước xây dựng quê hương trở thành đô thị văn minh, giàu đẹp, tiếp tục có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp chung của Thủ đô Hà Nội và đất nước

Trang 35

2.2 Thực trạng công tác đảm bảo an ninh môi trường trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2020

Hà Nội là một địa phương đang có tốc độ phát triển nhanh, đặc biệt tại các quận mới thành lập như Hoàng Mai, Long Biên, Nam Từ Liêm… Sự phát triển nhanh đã mang lại nhiều tác động tích cực: đời sống người dân tăng lên, cũng như mở rộng diện tích khu vực nội thành, góp phần giảm áp lực về dân

số với khu vực nội thành…Tuy nhiên những khu vực có tốc độ phát triển nhanh tại Hà Nội đang có nguy cơ phát triển theo hướng thiếu bền vững Nam

Từ Liêm là một quận thuộc thành phố Hà Nội nên cũng có tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và công nghiệp phát triển, những năm gần đây tại quận Nam Từ Liêm có rất nhiều khu chung cư, biệt thự, nhà cao tầng mọc lên kéo theo là dân cư đông đúc Thải công nghiệp, thải sinh hoạt đổ ra nhiều cộng với sự ô nghiễm của các khu công trường, nhà máy làm cho nguồn nước ô nhiễm nghiêm trọng Trên thực tiễn, cần phải xem xét thực trạng ô nhiễm của quận Nam Từ Liêm một cách toàn diện:

Về môi trường đất, tại quận Nam Từ Liêm, đất đô thị tăng nhanh,

nhưng tỷ trọng đất dành cho các vấn đề xã hội chưa đáp ứng yêu cầu thực sự của đời sống xã hội Cụ thể, tỷ lệ đất dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng còn thấp (chiếm khoảng 29,78%) Diện tích đất dành cho cấp thoát nước đô thị hiện chưa có quỹ đất để mở rộng theo nhu cầu phát triển Các hệ thống hiện nay thường dùng chung với các cơ sở hạ tầng khác trên đường phố chính Yêu cầu với loại đất cho hạ tầng cấp nước chiếm 1%, thoát nước vệ sinh môi trường đô thị trung bình từ 6-7% điều này ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đất.6

6 Trang chủ cổng thông tin quan trắc môi trường Hà Nội, https://moitruongthudo.vn

Trang 36

Đáng lo ngại, đất bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng trực tiếp sức khỏe con người thông qua tiếp xúc trực tiếp với đất, hoặc qua đường hô hấp do sự bốc hơi của chất gây ô nhiễm đất Sự xâm nhập của ô nhiễm đất vào tầng nước ngầm cũng trở thành mối nguy hiểm tiềm tàng đe dọa sức khỏe của người dân

Về ô nhiễm nguồn nước,dù đã hoạt động hết công suất tuy nhiên nguồn nước máy ở đây vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt của người dân sinh sống tại Nam Từ Liêm Hà Nội Đặc biệt là những ngày nắng nóng thì nhu cầu

về nguồn nước cao lại càng không đủ, không những thế nguồn nước máy ở đây một số nơi vẫn nhiễm asen, mangan, chì một số nơi nước đen kịt như nước cống… Mặc dù giá nước sinh hoạt ngày càng tăng cao nhưng chất lượng nước vẫn không có sự thay đổi, vẫn còn tồn đọng nhiều độc tố trong nước khiến cho người dân tại huyện Nam Từ Liêm không khỏi lo lắng.7

Nhiều người dân sử dụng nước giếng khoan để đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của gia đình mình, Tuy nhiên nguồn nước giếng khoan hiện nay ô nhiễm nặng mà đa số người dân đều chỉ sử dụng bể lọc thô sơ nên không sử

lý triệt để nguồn nước giếng khoan được, nguồn nước vẫn ô nhiễm làm hại sức khỏe của con người và làm hỏng các thiết bị trong gia đình

Ngoài ra đối với những nguồn nước mặt như sông, hoặc các nguồn nước mưa trong tự nhiên thì lại càng bị ô nhiễm bởi nước thải, rác thải hóa chất làm những dòng sông, những hồ nước nước trở nên đen kịt và bốc mùi hôi thối nước mưa thì bị ảnh hưởng bởi không khí bui, khói bẩn chỉ cần đi ra ngoài đường đa phần người dân phải sử dụng khẩu trang vì không khí ô nhiễm, bụi khói xe Vì vậy nước mưa ở nơi đây cũng không đảm bảo được sạch, chưa kể trong nước mưa có hàm nước axit rất cao

7 http://kinhtedothi.vn/o-nhiem-moi-truong-tai-duong-ho-me-tri-vi-dau-nen-noi-385900.html

Trang 37

Từ nhiều năm nay, người dân sống hai bên ngòi Tùng Khê đoạn thuộc phường Tây Mỗ và Đại Mỗ (quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) phải sống chung với dòng nước ô nhiễm chứa nhiều rác thải sinh hoạt, đã ảnh hưởng không hề nhỏ tới sức khỏe và cuộc sống của người dân nơi đây

Ngòi Tùng Khê có chiều dài hơn 2 km, bắt nguồn từ cầu Cốc phường Tây Mỗ đến sông Nhuệ - đoạn thuộc phường Đại Mỗ, đây là một trong những mương thoát nước dân sinh quan trọng của cả hai địa phương.8

Theo người dân cho biết, ngòi Tùng Khê trước đây là mương nước sạch không bị ô nhiễm, thậm chí có cả các loài thủy sinh sinh sống ở ngòi nhưng nhiều năm trở lại đây do rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình sống gần ngòi vứt ra nên ngòi mới ngập ngụa rác thải đến như vậy

Ngòi Tùng Khê có chiều dài hơn 2 km, bắt nguồn từ cầu Cốc phường Tây Mỗ đến sông Nhuệ - đoạn thuộc phường Đại Mỗ, đây là một trong những mương thoát nước dân sinh quan trọng của cả hai địa phương

Theo người dân cho biết, ngòi Tùng Khê trước đây là mương nước sạch không bị ô nhiễm, thậm chí có cả các loài thủy sinh sinh sống ở ngòi nhưng nhiều năm trở lại đây do rác thải sinh hoạt của các hộ gia đình sống gần ngòi vứt ra nên ngòi mới ngập ngụa rác thải đến như vậy

Sông Nhuệ từng là con sông đẹp của Thủ đô Hà Nội, nhưng từ nhiều năm qua đã bị ô nhiễm, vào mùa cạn có những đoạn gần như sông bị tắc không thể chảy Hiện vẫn tồn tại hiện tượng ô nhiễm, lấn chiếm hai bên bờ

Có 2 “nguồn” là hậu họa cho sông là nguồn xả thải ra môi trường sông không được kiểm soát và tình trạng lấn chiếm hành lang sông vẫn chưa được giải quyết triệt để Địa phương có tổng số 399 trường hợp sử dụng đất vi phạm “ăn” vào sông Nhuệ, 27 trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận

8 tung-khe/144-724-4006.hhth

Trang 38

https://hanghoathuonghieuhn.vn/tin-trong-nuoc/quan-nam-tu-liem-diem-den-o-nhiem-moi-truong-ngoi-quyền sử dụng đất Đối diện Tả Thanh Oai, nằm ở bờ hữu sông Nhuệ là xã Hữu Hòa, cũng thuộc huyện Thanh Trì có hơn 200 trường hợp vi phạm

Ở các phường Trung Văn, Mỹ Đình 1, Cầu Diễn (quận Nam Từ Liêm) vẫn được coi là những điểm “nóng” về xâm phạm sông Nhuệ Có thời điểm, các cơ quan chức năng đánh giá, với tổng chiều dài gần 64km, điểm đầu của sông là cống Liên Mạc (quận Bắc Từ Liêm), chảy qua quận Nam Từ Liêm,

Hà Đông, huyện Thanh Trì, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa Đến đây một nhánh chảy tới TP Phủ Lý (Hà Nam) để hợp lưu với sông Châu Giang và sông Đáy, một nhánh chảy ra huyện Lý Nhân rồi đổ về sông Hồng, có tới hơn 4.000 trường hợp lấn chiếm hành lang bảo vệ sông

Các hộ dân này ngoài lấn chiếm, làm ảnh hưởng đến dòng chảy, thì cũng là “mối họa” khi họ trực tiếp xả thải nước, rác ra sông, làm bồi lắng và nghẽn dòng Trao đổi với Phòng Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) Thanh Trì và Phòng TN-MT Nam Từ Liêm, chúng tôi đều nhận được những câu trả lời đơn vị chức năng quan tâm xử lý, nhiều văn bản chỉ đạo phải làm nghiêm Thế nhưng kết quả xử lý vẫn chưa khả quan

Ngược thời điểm từ năm 1995, 2008, 2011, UBND TP Hà Nội đều có những chiến lược giải tỏa các công trình vi phạm hành lang bảo vệ sông Nhuệ Tuy nhiên, do thực hiện không triệt để, chỉ một số ít trường hợp bị xử

lý, nên khi chiến lược lắng xuống, người dân lại tái lấn chiếm Hiện nay chính quyền và người dân vẫn “giằng co” trong chuyện giải tỏa, di dời hay tiếp tục

để lại các công trình nhà ở kiên cố Cán bộ xã, phường nói khó do “lịch sử để lại”, còn người dân cãi cùn, cho rằng đời ông cha đã có nhà và sinh sống, lại chẳng tranh chấp với ai nên cứ được ở!? Không ít hộ ở phường Mỹ Đình 1,

xã Tả Thanh Oai khi chính quyền yêu cầu giải tỏa một phần đằng trước, thì

Trang 39

gia chủ chấp hành “xén” một phần mái hiên phía trước, nhưng lại “lấn” ra đằng sau phía sông

Về ô nhiễm bầu không khí, kết quả quan trắc môi trường không khí tại

các khu, cụm công nghiệp cho thấy nồng độ bụi lơ lửng tại hầu hết khu vực này đều có xu hướng tăng dần và vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2,5-4,5 lần Nơi có nồng độ bụi tăng mạnh nhất là ở khu vực Văn Điển, Pháp Vân và Mai Động.9

Số liệu từ Viện Y học Lao động và vệ sinh môi trường cho thấy, vào những giờ cao điểm, Hà Nội có nồng độ bụi cao gấp 4 lần TCCP, CO cao gấp 2,5-4,4 lần, hơi xăng từ 12,1-2.000 lần Trẻ ở lứa tuổi học đường sống quanh các nút giao thông bị ảnh hưởng tới sức khỏe rõ rệt: mắt, mũi, họng, da và thần kinh thực vật bị kích thích, tỷ lệ mắc bệnh lý đường hô hấp cao hơn hẳn

so với nhóm đối chứng Một cuộc khảo sát ý kiến 1.500 người dân Hà Nội cho thấy, có tới hơn 66% nhận định rằng môi trường không khí ở Hà Nội bị ô nhiễm nặng và khá nặng, 32% cho là "ô nhiễm nhẹ", chỉ 2% cho rằng họ vẫn được "tận hưởng không khí trong lành"

Theo đánh giá của Sở Tài nguyên và Môi trường, tình trạng ô nhiễm môi trường không khí do bụi hiện nay trên địa bàn thành phố đang ở mức

"báo động đỏ" bởi nồng độ bụi lơ lửng ở các quận nội thành đều vượt quá TCCP từ 2-3 lần Đường Nguyễn Trãi có hàm lượng bụi lơ lửng vượt TCCP tới 11 lần, đường Nguyễn Văn Linh vượt TCCP tới 10,8 lần,… Kết quả quan trắc năm 2008 có tới 6/34 ngã tư nồng độ khí CO trung bình vượt TCCP từ 1,03-1,55 lần; có 3/34 ngã tư có nồng độ SO2 vượt TCCP từ 1,02-2 lần; có 32/34 ngã tư có nồng độ C6H6 vượt TCCP từ 1,1-3 lần…7 Tại các quận Hai

Bà Trưng, Đống Đa, khí thải đã vượt quá TCCP: Khí CO2 vượt 3-5 lần,

9

số liệu thống kê Mạng lưới theo dõi chất lượng không khí PAM air

Trang 40

SO2 vượt 3-10 lần, bụi vượt 2-6 lần Tại một số cụm công nghiệp như Vĩnh Tuy, Mai Động, Thượng Đình, không khí bị ô nhiễm chủ yếu là do bụi và các khí độc hại như SO2, CO, NO2

Về ô nhiễm chất thải rắn, trung bình tổng lượng chất thải rắn ở thành

phố Hà Nội khoảng 5.000 tấn/ngày, trong đó có khoảng 3.500 tấn chất thải sinh hoạt ở đô thị và 1.500 tấn ở nông thôn Hà Nội đang phải gánh chịu nguy

cơ ô nhiễm môi trường do sự gia tăng đột biến về khối lượng và thành phần các loại chất thải rắn

Anh Nguyễn Phú Trường

Cửa hàng VLXD Hòa Minh, P Tây Mỗ, Q Nam Từ Liêm, Hà Nội

“Các khu vực trên ô nhiễm rất nghiêm trọng do việc xây dựng của dân nhiều, cả đoạn đường bụi mù liên miên, cuộc sống người dân nhìn chung khổ sở vì bụi”

Theo khảo sát của luận văn, có đến 88% người dân cảm thấy không hài lòng về môi trường sống của mình

Tài liệu khác đánh giá tại các khu công nghiệp (KCN) của Hà Nội việc

ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, so với các nước trong khu vực thì mức độ công nghiệp hóa còn thấp nhưng tình trạng ô nhiễm lại khá cao Hàng ngày Hà Nội thải ra khoảng 9.100 m3

chất thải rắn, trong đó khoảng 80% là rác thải sinh hoạt, 20% là rác CN Mặc dù rác thải của Hà Nội không chứa các kim loại

Ngày đăng: 21/02/2021, 10:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w