Nhiều giai đoạn nhà máy có nguy cơ đóng cửa do không có thị trường tiêu thụ.Từ khi cơ chế quan liêu bao cấp bị xoá bỏ, cơ chế quản lý theo thị trường tự hạch toán kinh doanh ra đời, công
Trang 1TÌNH HÌNH THỰC HIỆN LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
sản xuất cồn, rượu phục vụ quân đội Pháp ở Đông Dương
Từ năm 1945, nhà máy ngừng hoạt động do chiến tranh Năm 1954, hoà bình lập lại ở miềm Bắc, nhà máy được khôi phục Nhưng đến tận năm1956, nhà máy mới chính thức được hoạt động trở lại Tuy nhiên, ở thời kỳ này, đất nước còn chiến tranh nên cơ sở vật chất rất thiếu thốn, việc sản xuất rượu được thực hiện theo phương pháp Amylo - sử dụng nguyên liệu chủ yếu là gạo đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống nhân dân vì gạo là lương thực chủ yếu, còn nền nông nghiệp thì quá nghèo nàn, lạc hậu Năm 1957, nhân chuyến đi thăm hỏi động viên cán bộ công nhân viên nhà máy, Bác Hồ
đã chỉ thi việc sản xuất rượu phải được tiếp tục nhưng thay nguyên liệu bằng sắn Chấp hành chỉ thị của Bác, tập thể cán bộ công nhân viên đã tích cực nghiên cứu và cải tiến quy trình công nghệ, kết quả là một phương pháp mới
ra đời - phương pháp Mycomtle – dùng nguyên liệu là ngô, khoai, sắn thay cho sử dụng gạo
Cho đến năm 1990, do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ trên thế giới, nhà máy đã áp dụng phương pháp lên men trực tiếp thay thế cho phương pháp nấm mốc Với phương pháp mới, nhà máy đã giảm lao độgn nặng nhọc cho công nhân, tiết kiệm chi phí, tạo cho người lao động một đời sống ổn định hơn
Trước đây, trong cơ chế quản lý tập chung, nhà máy đã được nhà nước bao cấp về thiết bị vật tư, tiêu thụ sản phẩm Điều này tạo cho nhà máy sự thụ động trong sản xuất cũng như tiêu thụ, không chú ý đến phát triển Mặt
Trang 2khác với hệ thống máy móc cũ kỹ lạc hậu, lại bị tàn phá do chiến tranh, và khắc phục không đồng bộ, kết hợp với công nghệ sản xuất rượu cổ điển với hiệu suất thấp, đã làm cho chất luợng rượu, cồn không đảm bảo Thị trường xuất khẩu rượu thu hẹp, thị trường tiêu thụ nội địa không phát triển vì thói quen của người dân chưa ưa dùng rượu của nhà máy Nhiều giai đoạn nhà máy có nguy cơ đóng cửa do không có thị trường tiêu thụ.
Từ khi cơ chế quan liêu bao cấp bị xoá bỏ, cơ chế quản lý theo thị trường tự hạch toán kinh doanh ra đời, công ty đã mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, đổi mới thiết bị hiện đại: xây dựng tháp cất cồn mới, trang thiết bị của Pháp, cải tiến dây truyền sản xuất, đường hoá bằng enzym, thay đổi công nghệ nấu tinh bột, thay đổi công nghệ cất hương liệu, chuyển đổi từ lò hơi đốt than gây ô nhiễm sang lò hơi đốt dầu FO ít gây ô nhiễm hơn Với những cố gắng đó, năng suất sản xuất rượu, cồn tăng lên, chất lượng đạt tiêu chuẩn trong nước và quốc tế, thi trường tiêu thu xuất khẩu được mở rộng, thi trường nội địa ngày cành được người dân ưu chuộng và tin dùng
Năm 1993, theo nghị định NĐ388/CP của chính phủ, nhà máy Rượu Hà Nội dược nâng cấp và đổi tên thành Công ty Cổ phần cồn rượu Hà Nội
trực thuộc Tổng công ty Rượu bia nước giải khát Việt Nam theo quyết định số 443 - CNn/TCLĐ ngày 7/5/1993 của Bộ Công nghiệp nhẹ:
Tên doanh nghiệp : Công ty CỔ PHẦN CỒN RƯỢU HÀ NỘI Tên giao dịch : HALICO (Hanoi Liquor Company)
Địa chỉ liên hệ : Số 94 Lò Đúc - Quận Hai Bà Trưng - Hà Nội
Số điện thoại: (04)8212571
Từ tháng 9/2003, Công ty Cổ phần cồn rượu Hà Nội
trực thuộc Tổng công ty Bia rượu nước giả khát Hà Nội theo quyết định
68 ngày 9/4/2003 của Bộ trưởng Bộ công nghiệp
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của công ty:
Hiện nay, chức năng chính của công ty là sản xuất rượu các loại : Lúa mới, Nếp mới, Châmpne, Vodka với mục đích phục vụ nhu cầu trên toàn
Trang 3quốc Hoạt động kinh doanh của công ty được mở rộng trên phạm vi cả nước thông qua các đại lý bán buôn và bán lẻ sản phẩm Công ty đang từng bước
mở rộng và nâng cấp cơ sở vật chất để tăng thêm nguồn hàng, mặt hàng kinh doanh, đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhằm từng bước nâng cao uy thế của mình trên thị trường
2.1.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong một vài năm qua:
Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu trong những năm qua: ( Trích từ Báo cáo tài chính các năm 2006,2007)
để giảm thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp
Là một Doanh nghiệp nhà nước, công ty luôn hoàn thành tốt nghĩa vụ đối với Ngân sách, nộp thuế đủ và đúng thời hạn Số tiền công ty đóng vào Ngân sách là một khoản đáng kể và ngày càng tăng qua các năm Đồng thời,
Trang 4nhìn vào bảng số liệu trên, ta thấy thu nhập bình quân ngày càng tăng, giúp cải thiện và nâng cao đời sống người lao động.
2.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh:
Từ năm 1993, nhà máy rượu với các phân xưởng được nâng cấp thành công ty rượu với các thành viên Công ty là đơn vị hạch toán độc lập có đày
đủ tư cách pháp nhân, thực hiện cả sản xuất, kinh doanh thương mại và xuất nhập khẩu trực tiếp Các xí nghiệp thành viên không hạch toán độc lập Mọi công việc hạch toán đều do phòng kế toán của công ty thực hiện Các xí nghiệp thành viên của công ty gồm có:
- Xí nghiệp cồn: sản xuất cồn từ nguyên liệu tinh bột Xí nghiệp có các tổ: tổ vận hành lò hơi, tổ vận chuyển, tổ nấu tinh bột, tổ đường hoá lên men,
tổ chưng cất, tổ vận hành máy nén, máy bơm, Năng lực sản xuất của xí nghiệp là 10 triệu lít/năm
- Xí nghiệp rượu mùi: sản xuất rượu cồn và các loại hương liệu chiết xuất từ hoa quả Xí nghiệp bao gồm các tổ chế biến và pha chế, tổ vận chuyển, tổ rửa chai và chiết rượu, đóng nút, tổ dán nhãn, tổ đai két Năng lực sản xuất là 12 triệu lít/năm
- Xí nghiệp bao bì: xí nghiệp sản xuất bao bì cát tông phục vụ cho công
ty và gia công cho bên ngoài Năng lực sản xuất bao bì là 1.2 triệu hộp cát tông/năm
- Xí nghiệp cơ điện: xí nghiệp phục vụ cho sản xuất, thực hiện công viếc sửa chữa lớn, trung đại tu máy móc, thiết bị nhà xưởng theo định kỳ và đột xuất.Bốn xí nghiệp thành viên của công ty phải nỗ lực hoàn thành kế hoạch sản xuất về mọi mặt và chịu sự quản lý của giám đốc Đồng thời, các xí nghiệp phải đảm bảo việc cung cấp thông tin cần thiết cho các phong ban Các
xí nghiệp có bộ máy quản lý tinh giảm gọn nhẹ, đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh
*Quy trình công nghệ : Là quy trình công nghệ chế biến phức tạp kiểu liên tục bao gồm nhiều giai đoạn công nghệ khác nhau với nhiều loại sản
Trang 5phẩm Mỗi loại sản phẩm có một quy trình công nghệ sản xuất riêng Sau đây
là quy trình công nghệ một số sản phẩm chủ yếu của công ty:
Trang 6*Sơ đồ 1.1: Quy trình sản xuất cồn
Xay Nấu nuoc Đường hóa Lên men Chưng cất Tinh chế
Sắn, Ngô Nước Nước Nước Men CO2
* Sơ đồ 2.2: Quy trình sản xuất rượu mùi
Trang 72.1.4 Bộ máy quản lý tại công ty:
Hiện nay, tổng số cán bộ công nhân viên của công ty là 448 người, trong đó:Nam: 175 người
Ban lãnh đạo công ty lãnh đạo công ty theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo
cá nhân phụ trách Ban lãnh đạo công ty bao gồm : Hội đồng quản trị, Ban giám sát, Giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng
- Hội đồng quản trị: Bao gồm các thành viên có cổ đông lớn được bầu vào để quản lý công ty
- Ban giám sát: Do hội đồng quản trị có lớn hơn 11 người nên phải có ban giám sát để thường xuyên theo dõi và kiểm soát hoạt động Hội đồng quản trị
Ban giám sát của công ty có các thành viên nằm trong Hội đồng quản trị
- Giám đốc: là đại diện pháp nhân của công ty, do Tổng giám đốc bổ nhiệm, được giao trách nhiệm quản lý công ty và có thẩm quyền cao nhất trong công ty Giám
đốc chịu trách nhiệm tổ chức và chỉ đạo mọi mặt hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo toàn và phát triển vốn, chăm lo đời sống cán bộ công nhân viên, trên cơ sở chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của Tổng công ty, của công ty
- Phó giám đốc kỹ thuật sản xuất ( Giám đốc thường trực ): Chỉ đạo quá trình,
kỹ thuật sản xuất, chịu trách nhiệm trước giám đốc trong lĩnh vực được giao
- Phó giám đốc kinh doanh: Chỉ đạo công tác phát triển thị trường trong nước, chịu trách nhiệm trước giám đốc về lĩnh vực được giao
Trang 8- Kế toán trưởng, kiêm trưởng phòng kế toán tài chính: Tổ chức quản lý thực hiện công tác tài chính kế toán theo quy định của Nhà nước, chịu trách nhiệm trước giám đốc về lĩnh vực được giao, đồng thời, chịu sự chỉ đạo và kiểm tra của kế toán trưởng Tổng công ty về chuyên môn và nghiệp vụ.
* Các phòng ban chức năng:
- Văn phòng: Tham mưu cho giám đốc về tiền lương, nhân sự, hành chính, quản lý hồ sơ cán bộ công nhân viên, quản lý con dấu của công ty, phụ trách công tác thi đua, khen thưởng
- Phòng kế toán tài chính: Tham mưu cho giám đốc về mặt tài chính, theo dõi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty dưới hình thái tiền tệ thông qua quản lý, mua sắm vật tư, tập hợp chi phí và tính giá thành, tình hình tiêu thụ và lập báo cáo kịp thời
- Phòng kế hoạch vật tư: Căn cứ vào hoạt động tiêu thụ, nhu cầu thị trường, phòng lập kế hoạch về nhu cầu nguyên vật liệu, mua sắm, nhập kho,
tổ chức chế biến nguyên liệu, quản lý kho tàng, các phương tiện vận tải, lập
kế hoạch sản xuất
- Phòng kỹ thuật công nghệ KCS: Thực hiện kiểm tra công nghệ sản xuất rượu, kiểm tra chất lượng sản xuất sản phẩm, phát minh, nghiên cứu những công nghệ sản xuất đem lại hiệu quả cao, chỉ đạo kỹ thuật sản xuất rượu
- Phòng kỹ thuật cơ điện: Lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch trung đại
Trang 9Mô hình tổ chức bộ máy quản lý công ty cổ phần cồn rượu Hà Nội
Giám ĐốcPhó giám đốc phụ trách kỹ thuậtPhó giám đốc phụ trách kinh doanhPhòng
tổ chức(vp)
Phòng kếtoánPhòng thị trườngPhòng kỹ thuật công nghệPhòng kỹ thuật cơ điệnPhòng kế hoạch vật tư
Ban kiểm soát
Trang 102.1.5 Tình hình chung về thị trường và khả năng cạnh tranh của công ty rượu Hà Nội.
a Thị trường đầu vào:
Nguyên vật liệu là yếu tố rất quan trọng để tạo nên chất lượng của một sản phẩm đồ uống Có một dây chuyền máy móc hiện đại nhưng không
có nguồn nguyên liệu tốt thì sản phẩm không thể được người tiêu dùng đón nhận Vì vậy để cung ứng cho thị trường mỗi năm khoảng 810 triệul rượu
và khoảng 5 triệu l cồn thì công ty cần phải có một nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào ổn định và có chất lượng cao
Nguyên vật liệu chính của công ty là sắn, gạo , đường, hoa quả(cam, chanh,mơ…) Đây cũng là những sản phẩm nông nghiệp điển hình của một nước nhiệt đới, sản xuất nông nghiệp như nước ta Do vậy những nguyên vật liệu này chủ yếu được mua trong nước(công ty thực hiện đấu giá trong khâu thu mua nguyên vật liệu, xăng dầu) nên nguồn cung vừa rẻ, dồi dào, ổn định, lại
có thể cung cấp liên tục và kịp thời nhất là trong những giai đoạn mà sức tiêu thụ của công ty lớn như là dịp Tết Đây cũng là 1 lợi thế của công ty Hiện tại công ty
Trang 11đang có những nhà cung cấp uy tín và có mốt quan hệ làm ăn tốt đẹp với công ty như: Công ty đường Biên Hoà (cung cấp đường), công ty TNHH Nhân Nghĩa (sắn lát), công ty TNHH Hải Phương (gạo), công ty thuỷ tinh Hải Phòng (chai) Đây đều là những công ty lớn, tuy các sản phẩm này mang tính thời vụ cao nhưng
do thực hiện tốt công tác dự trữ, bảo quản nên việc cung cấp nguyên vật liệu cho công ty vẫn rất ổn định, tạo điều kiên thuận lợi để công ty hoạt động, sản xuất thường xuyên, liên tục, tiết kiệm chi phí lưu kho
Ngoài ra, có một số nguyên liệu phải nhập khẩu trực tiếp như: Hương liệu(hương chanh, hương cam) của Pháp (hãng Robuc), enzim từ Đức, Đan Mạch(hãng Nevo), nút chai từ Indonexia…Các công ty nước ngoài này đều là những hãng lớn và có uy tín cao, là những đối tác quan trọng của công ty, công ty luôn giữ mối quan hệ làm ăn tốt đẹp với họ, do vậy công ty luôn được cung cấp hàng theo định kì và khá ổn định, nhờ thế công tác quản lý nguyên vật liệu lưu kho cũng có nhiều thuận lợi Tuy nhiên do chi phí nhập khẩu cao
và nguồn cung ở xa nơi sản xuất nên mỗi khi nhập hàng công ty phải nhập với
số lượng lớn để giảm chi phí nhập khẩu và sản xuất được diễn ra liên tục Nhưng nảy sinh một vấn đề là vốn lưu động của công ty lại bị ứ đọng nhiều trong khâu dự trữ, kí quỹ, ký cược, mở L/C khi mua bán Vì vậy công tác lên
kế hoạch nhập khẩu và tính toán lượng nguyên vật liệu lưu kho là rất quan trọng, nó sẽ giúp việc quản lý vốn lưu động có hiệu quả hơn, tiết kiệm chi phí,
hạ giá thành sản phẩm và nâng cao sức cạnh tranh
b.Thị trường đầu ra:
Thị trường trong nước là thị trường chính của công ty, vì vậy công ty luôn quan tâm nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, không ngừng nâng cao chất lượng cải tiến mẫu mã, phấn đấu hạ giá thành, tạo ra các sản phẩm phù hợp với từng đối tượng khách hàng Không những vậy công ty đặc biệt quan tâm đến việc mở rộng thị trường như tập trung phát triển hệ thống đại lý rộng khắp tại thị trường các tỉnh miền Trung
và miền Nam, miền núi và hải đảo… mở thêm 80 đại lý mới tại 2 khu vực này
Trang 12trong năm 2007 Bên cạnh đó, Công ty cũng đưa ra các chính sách hỗ trợ các đại lý theo hướng gắn bó quyền lợi giữa nhà sản xuất, nhà phân phối và người tiêu dùng Vì vậy sản lượng tiêu thụ sản phẩm của Công ty đạt rất cao(bằng 130% so với cùng kỳ năm trước)
+ Thị trường xuất khẩu: Là thị trường chiếm thị phần nhỏ, tuy nhiên không ngừng tăng lên qua các năm Các sản phẩm của công ty chủ yếu được xuất khẩu sang các nước Châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản Trong thời gian tới mở rộng thị trường xuất khẩu là một trong những nội dung quan trọng trọng chiến lược phát triển của công ty Công ty đã cử các đoàn cán bộ đi khảo sát thị trường tại nhiều nước trên thế giới(đặc biệt là thị trường Châu Âu), nhằm mở rộng thị trường và tăng kim ngạch xuất khẩu
+Khả năng cạnh tranh của công ty:
Halico là một doanh nghiệp mạnh, uy tín trong lĩnh vực đồ uống, sản phẩm phong phú, thị trường tiêu thụ rộng Trên thị trường có rất nhiều loại rượu của các hãng nổi tiếng nhưng Halico vẫn khẳng định được chỗ đứng của mình không chỉ nhờ chất lượng mà còn vì sản phẩm của công ty có một mức giá hợp lý, dễ dàng được người tiêu dùng chấp nhận Tuy vậy,các sản phẩm
của công ty đang chịu sức ép ngày càng lớn của thị trường :
+Sự phát triển của khoa học kỹ thuật cho phép các đối thủ cạnh tranh cũng cho ra các sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã đẹp giá cả phải chăng +Công ty thực hiện CPH đúng thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, bởi vậy cũng không tránh khỏi những khó khăn do khách quan đem lại Hàng ngoại, hàng nhái,rượu tự nấu tràn với giá rẻ,rượu lậu tràn ngập thị trường, những sản phẩm thay thế như bia được các nhà sản xuất đẩy sản lượng lên 20% tạo ra sức cạnh tranh lớn đối với các sản phẩm của Công ty
Tuy vậy, tự tin với truyền thống thương hiệu, uy tín và sự tin yêu của khách hàng đã dành cho sản phẩm của công ty nhiều năm qua, cùng với bí quyết công nghệ hiện đại, hệ thống kênh phân phối hoàn thiện và sự nỗ lực
Trang 13của toàn thể cán bộ, công nhân viên, công ty đã đạt được những thành công đáng tự hào
2.2 Tình hình kinh doanh và thực hiện lợi nhuận tại Công ty Cổ phần cồn rượu Hà Nội
2.2.1 Những thuận lợi, khó khăn của công ty trong những năm qua.
* Thuân lợi:
- Trải qua hơn 100 năm hình thành và phát triển, thương hiệu của công ty
đã được khẳng định.Sản phẩm của công ty đã được người tiêu dùng tin tưởng
và đón nhận, giá cả của các mặt hàng hợp lý, phù hợp với thu nhập của người dân hiện nay và quan trọng nhất là rất ổn định nhờ vậy công ty có điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường,đẩy mạnh tiêu thụ,tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong đó có vốn lưu động
- HaLico luụn nhận được sự đầu tư, quan tâm chỉ đạo của nhà nước và
Bộ công nghiệp cũng như Tổng công ty Rượu-Bia-Nước giải khát Việt Nam tạo cho công ty tiền đề để xây dựng và phát triển khẳng định vị trí của mình
- Công ty có một đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ, năng động, sáng tạo yêu nghề Đây là nguồn lực quan trọng ảnh hưởng lớn đến mọi hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh và cũng là động lực cho những thành quả của công ty trong thời gian vừa qua
Công ty đã xây dựng được một hệ thống các nhà cung cấp ổn định và đảm bảo về chất lượng , nhờ đó công ty luôn chủ động được khâu nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, đảm bảo cho sản xuất được diễn ra liên tục Cùng với
đó là việc giảm được chi phí lưu kho, giảm mất mát hư hỏng trong quá trình lưu kho,nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong khâu tồn kho
* Khó khăn
Trang 14- Khó khăn lớn nhất đối với Công ty là vừa phải đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo sản lượng rượu cung cấp cho thị trường, vừa phải thực hiện công tác
di dời khu vực sản xuất sang KCN Yên Phong (Bắc Ninh), buộc phải hoàn thành vào cuối năm 2008, theo yêu cầu của UBND thành phố Hà Nội Đầu năm 2008, diện tích sản xuất của Công ty bị thu hẹp do phải bàn giao hơn 7.000m2 và cuối năm 2008 bàn giao toàn bộ mặt bằng cho UBND thành phố
Hà Nội để xây dựng các công trình công cộng Với thời gian gấp rút, trong vòng một năm, nên sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất của Công ty
- Ngày 6/12/2006, Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Rượu Hà Nội chính thức chuyển đổi sang hoạt động theo mô hình cổ phần, lấy tên là Công ty Cổ phần Cồn Rượu Hà Nội (HALICO) Sau khi cổ phần công ty đã phải đối mặt với bao khó khăn của thời kỳ đầu thực hiện cổ phần hóa Khó khăn đầu tiên đối với Công ty là vấn đề tài chính Do việc đấu giá cổ phiếu cao, nên mọi nguồn quỹ có thể của Công ty đều dồn để mua cổ phiếu cho CBCN Trong khi đó, máy móc, thiết bị, nhà xưởng sản xuất xuống cấp, không đủ điều kiện để đẩy mạnh công suất, đáp ứng cho nhu cầu thị trường.Mặt khác, Công ty thực hiện CPH đúng thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, bởi vậy cũng không tránh khỏi những khó khăn do khách quan đem lại.những sản phẩm thay thế như bia được các nhà sản xuất đẩy sản lượng lên 20% Hàng ngoại, , rượu lậu trốn thuế,hàng nhái tràn ngập thị trường, khiến người tiêu dùng khó nhận biết, ảnh hưởng tới uy tín thương hiệu của doanh nghiệp Mặc dù Nhà nước đã ban hành các điều luật về sở hữu trí tuệ, nhưng các chế tài xử lý không nghiêm, nên vấn đề đấu tranh chống hàng nhái, hàng kém chất lượng vẫn còn gặp nhiều bất cập
Trang 15- Hiện nay,công ty đang phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ cạnh tranh cả trong và ngoài nước Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, nước ta đã gia nhập WTO, thuế nhập khẩu giảm, các sản phẩm rượu cùng loại nhập khẩu vào nước ta tăng lên, chất lượng đa dạng, giá cả hấp dẫn tạo ra sức cạnh tranh rất lớn Thêm vào đó ,thu nhập của người dân ngày càng cao,
họ ngày càng chi nhiều tiền hơn cho tiêu dùng, do vậy đòi hỏi của họ về sản phẩm sẽ ngày càng cao hơn không chỉ về chất lượng, mà còn về mẫu mã, bao bì…Điều đó đã tạo áp lực rất lớn cho công ty
- Trong thời gian vừa qua giá cả nguyên nhiên vật liệu liên tục tăng, cuối năm 2006 và đầu năm 2007 giá cả nguyên nhiên vật liệu có sự biến động mạnh: gạo tăng 15 - 20%, điện tăng 7%, xăng tăng 10% đã có ảnh hưởng không nhỏ đến giá thành sản phẩm của Công ty
- Rượu là mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và không được tuyên truyền quảng cáo làm cho việc sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn
- Vốn hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty thiếu, để đảm bảo sản xuất kinh doanh công ty phải dùng nhiều biện pháp để tăng tốc độ quay vòng vốn, vay vốn ngân hàng để hoạt động Trong khi đó các vật tư chủ yếu phục
vụ cho sản xuất lại phải chuẩn bị theo mùa vụ như các loại hoa quả, sắn lát…
- Công ty chưa có bộ phận chuyên về phân tích và quản lý tài chính nên việc phân tích và dự báo nhu cầu vốn, các chính sách tài chính đều dựa vào trên cán bộ chuyên ngành kế toán hiện đang làm các công tác quản lý, nhiều lúc còn dựa vào các kinh nghiệm tích luỹ Nếu công ty có cán bộ chuyên trách
về tài chính sẽ giúp việc quản lý về tài chính được tốt hơn, nâng cao hiệu quả
sử dụng các loại vốn trong đó có vốn lưu động
2.2.2 Khái quát tình hình tài chính của Công ty Cổ phần cồn rượu
Hà Nội
Tài sản và nguồn vốn là những yếu tố quan trọng phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp Giá trị tài sản là một trong những chỉ tiêu để đánh giá quy mô, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tài sản được
Trang 16hình thành từ các nguồn khác nhau và việc lựa chọn nguồn tài trợ sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả sản xuất kinh doanh khác nhau.
Trang 17Qua biểu 1 ta thấy:
Về tài sản:
Tổng tài sản của công ty có xu hướng tăng lên Tính đến 31/12/2007 tổng tài sản của công ty là 385.797.302 874 đ , tăng 47.322.808.601 đ, tương ứng với tỷ lệ tăng là 13,98% Trong đó tài sản ngắn hạn tăng 42.430.071.647 đ với tỷ lệ tăng là 16,35% còn tài sản dài hạn tăng 4.892.736.594 đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 6,20%
Tài sản lưu động tăng là do: Trước hết là sự tăng đột biến của các khoản đầu
tư tài chính ngắn hạn, tăng từ 0 đ lên 100 tỷ đồng, đây thực chất là khoản tiền gửi
có kỳ hạn của công ty tại ngân hàng Hàng tồn kho tăng 26.046.247.433 với tỷ lệ tăng rất cao là 59,83% Tiền và các khoản tương đương tiền giảm 35,05% và các khoản phải thu cũng giảm 80,72% nhưng với con số tuyệt đối vẫn nhỏ hơn số tăng của hàng tồn kho và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Điều này cho thấy công tác quản lý nợ phải thu của công ty có nhiều tiến bộ, tuy nhiên dự trữ hàng tồn kho lại tăng lên gây ra ứ đọng vốn trong dự trữ
Tài sản tăng còn do tài sản dài hạn tăng, ta thấy tài sản dài hạn tăng chủ yếu là
do sự tăng rất mạnh của tài sản cố định và bất động sản đầu tư.Tài sản cố định tăng tới 148,49%, bất động sản đầu tư tăng từ 0 đ lên 22.021.146.784 đ Tuy nhiên tài sản dài hạn khác lại cũng giảm khá manh, giảm 50.585.950.354 đ với tỷ lệ giảm 88,94% nên tốc độ tănt của tài sản dài hạn chỉ là 6,2%
Nhìn vào cơ cấu tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản ta thấy
tỷ trọng của tài sản ngắn hạn vẫn lớn hơn, đó là do đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất rượu vừa sản xuất vừa kinh doanh thì đây là một cơ cấu tương đối hộp lý tuy nhiên ta thấy để có kết luận 1 cách chính xác hơn ta phải so sánh với các doanh nghiệp trong ngành và xem xét đến hiệu quả hoạt động của công ty
Về nguồn vốn:
Nguồn vốn của công ty tăng 13,98% so với đầu năm 2007, con số tuyệt đối là 385.797.302.874 đ, trong đó nợ phải trả chiếm tới 56,94% còn vốn chủ chiếm 43,06% Ta thấy so với đầu năm hệ số nợ của công ty giảm từ 85,65% xuống còn 56,94% cho thây mức tự chủ về tài chính của công ty tăng lên rất nhiều so với năm
2006, giảm rủi ro tài chính cho công ty Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay các
Trang 18công ty thường sử dụng đòn bẩy tài chính để khuyếch đại tỷ suất lơị nhuận vốn chủ
sở hữu, tức là mở rộng vay nợ, tăng quy mô hoạt động để có thể đem lại mức lợi nhuận cao hơn, tuy nhiên hình thức này lại chứa đựng nhiều rủi ro Tóm lại ta thấy tình hình tài chính của công ty Cổ phần Cồn rượu Hà Nội năm 2007 đã vững chắc hơn rất nhiều mặc dù công ty mới bước vào giai đoạn đầu của tiến trình cổ phần hoá, còn gặp rất nhiều khó khăn Điều này thể hiện những cố găng thực sự của ban lãnh đạo công ty để ngày càng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình là đưa công ty vào quỹ đạo hoạt động, nâng cao khả năng sinh lời của mình
Trong nợ phải trả của công ty thì chủ yếu là nợ ngắn hạn Nợ dài hạn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, 0,1% cuối năm 2006 và băng 0 cuối năm 2007 Tuy nợ ngắn hạn là nguồn có chi phí thấp nhưng nếu sử dụng quá nhiều dễ dẫn đến tình trạng gặp áp lực trong thanh toán các khoản nợ đến hạn Vì vậy công ty cần có chính sách huy động vốn hợp lý để có thể vừa đảm bảo tối thiểu hoá chi phí vừa đảm bảo lợi nhuận của mình
Ta sẽ xem xét một số chỉ tiêu tài chính đặc trưng của công ty qua biểu 2:
Biểu 2 : Một số hệ số khả năng thanh toán của công ty năm 2006-2007
5 Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn lần 1.37 0.90 0.48 53.38%
6 Hệ số khả năng thanh toán nhanh lần 1.06 0.75 0.31 41.83%
7 Hệ số khả năng thanh toán tức thời lần 0.59 0.68 -0.10 -14.38%
Các hệ số khả năng thanh toán của công ty năm cuối năm 2006 rất thấp, tất cả đều nhỏ hơn 1
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là chỉ tiêu thể hiện mối quan hệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn của công ty Hệ số này bằng 0,9 vào đầu năm
Trang 192007 thể hiện 1 đồng nợ ngắn hạn chỉ có 0,9 đ tài sản đảm bảo cho thấy công ty gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Hệ số này tăng lên 1,37 vào cuối năm 2007 cho thấy sự cố gắng của công ty trong việc tăng khả năng thanh toán để nâng uy tín của mình đối với đối tác và các nhà đầu tư.
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là hệ số phản ánh khả năng thanh toán ngay của công ty mà không cần bán ngay hàng tồn kho Hệ số này chỉ đạt 0,75 đầu năm
2007 và tăng lên 1,06 vào cuối năm Còn hệ số thanh toán tức thời thể hiện khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn Vào thời điểm đầu năm 2007 hệ số này là 0.68 và giảm xuống 0.59 vào thời điểm cuối năm Đó là do tiền và các khoản tiền tương đương tiền giảm 35,05% trong khi đó nợ ngắn hạn chỉ giảm 24,14%
Ta thấy đến cuối năm 2007 các hệ số này được cải thiện đáng kể, các hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và khả năng thanh toán nhanh đều lớn hơn1 và cao hơn so với năm 2006 tuy nhiên hệ số này vẫn chưa đảm bảo khả năng thanh toán của công ty, nếu có biến động thì rủi ro vẫn có thể xảy ra với mức độ cao.Qua sự phân tích và đánh giá trên ta thấy tình hình tài chính của công ty tương đối ổn định tuy nhiên mức độ an toàn trong thanh toán vẫn chưa cao Công ty cần chú ý đến việc cải tạo nguồn tài trợ và nâng cao khả năng thanh toán hơn nữa để đảm bảo uy tín trước những bạn hàng và các nhà đầu tư
2.2.3 Phân tích tình hình thực hiện lợi nhuận của công ty qua 2 năm 2006-
2007
Hoạt động kinh tế thị trường ngày càng có những diễn biến phức tạp, công ty Công
ty Cổ phần cồn rượu Hà Nội gặp phải không ít khó khăn như: cạnh tranh của rượu ngoại nhập, giá nguyên vật liệu ngày càng tăng… Tuy nhiên với sự cố gắng, nỗ lực vươn lên của toàn bộ công nhân viên trong công ty, biết tận dụng thế mạnh riêng của mình, đặc biệt là đã chuyển đổi hình thức sở hữu từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ
Trang 20phần, công ty đã đạt được những kết quả kinh doanh đáng kể, nâng cao được lợi nhuận
so với năm trước