Để triểnkhai CQĐT kịp thời, đúng định hướng, nâng cao hiệu quả, chất lượng cácDVCTT, triển khai ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước tại tỉnh TiềnGiang ngày càng phát triển cả về chi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ ANH THƯ
TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH QUYỀN
ĐIỆN TỬ TRÊN BÁO CHÍ
TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Vĩnh Long - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ ANH THƯ
TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH QUYỀN
ĐIỆN TỬ TRÊN BÁO CHÍ
TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành: Báo chí học định hướng ứng dụng
Mã số: 8320101.01 (UD) LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này được nghiên cứu và triển khai từ tháng 7/2019 đến tháng9/2020, do tác giả Trần Thị Anh Thư (học viên lớp Cao học báo chí QH -
2018 - X, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội), hiện đang công tác tại Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh TiềnGiang thực hiện
Tôi xin cam đoan luận văn “Truyền thông về chính quyền điện tử trênbáo chí tỉnh Tiền Giang” (khảo sát Đài Phát thanh và Truyền hình Tiền Giang,Báo Ấp Bắc từ năm 2016-2019) là công trình khoa học của tôi, dưới sự hướngdẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền Các nội dung nghiên cứu và kếtquả trong luận văn này độc lập và chưa từng được công bố trong bất cứ côngtrình nghiên cứu nào trước đây./
Tác giả luận văn
Trần Thị Anh Thƣ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền đã tận tình
và nhiệt tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể cán bộ, giảng viên Viện Đào tạo Báochí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại họcQuốc gia Hà Nội đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vàtriển khai luận văn
Tôi trân trọng cảm ơn các nhà báo, phóng viên hiện đang công tác tạiĐài Phát thanh và Truyền hình Tiền Giang, Báo Ấp Bắc, các nhà quản lýtrong lĩnh vực thông tin và truyền thông của tỉnh Tiền Giang, các kỹ sư,chuyên viên công nghệ thông tin, phụ trách lĩnh vực phát triển chính quyềnđiện tử đã tư vấn và cung cấp thông tin, tư liệu liên quan đến đề tài luận văn.Mặc dù đã cố gắng, song do trình độ và điều kiện nghiên cứu còn hạnchế nên luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết Tôi chân thành mongmuốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu để luận văn này có thể hoànchỉnh hơn và đó cũng là kinh nghiệm để tôi có thể triển khai những công trìnhnghiên cứu sau này
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 11
7 Kết cấu 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TRÊN BÁO CHÍ TỈNH TIỀN GIANG 12
1.1 Một số khái niệm cơ bản 12
1.1.1 Khái niệm truyền thông 12
1.1.2 Khái niệm về chính quyền điện tử 13
1.2 Truyền thông về chính quyền điện tử 19
1.2.1 Khái niệm truyền thông về chính quyền điện tử 19
1.2.2 Vai trò và nội dung của báo chí đối với hoạt động truyền thông về chính quyền điện tử 20
1.3 Phương thức truyền thông về chính quyền điện tử 25
1.4 Vận dụng mô hình truyền thông về chính quyền điện tử 26
1.4.1 Mô hình truyền thông của Claude Shannon 26
1.4.2 Kênh truyền thông về chính quyền điện tử 28
1.4.3 Tiêu chí đánh giá truyền thông 28
1.5 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng chính quyền điện tử 31
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2: THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TRÊN BÁO CHÍ TỈNH TIỀN GIANG 35
2.1 Giới thiệu chung về báo chí tỉnh Tiền Giang 35
2.1.1 Báo Ấp Bắc 35
Trang 62.1.2 Đài Phát thanh - Truyền hình Tiền Giang 36
2.2 Khảo sát báo chí Tiền Giang truyền thông về chính quyền điện tử 37
2.2.1 Nội dung truyền thông về chính truyền điện tử 37
2.2.2 Hình thức truyền thông về chính quyền điện tử 49
2.3 Ý kiến của nhóm công chúng về truyền thông chính quyền điện tử trên báo chí tỉnh Tiền Giang 57
2.4 Đánh giá chung mặt thành công và hạn chế của báo chí Tiền Giang trong truyền thông về chính quyền điện tử 60
2.4.1 Thành công và nguyên nhân 60
2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 67
Tiểu kết chương 2 72
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TRÊN BÁO CHÍ TỈNH TIỀN GIANG 73 3.1 Những nhiệm vụ đặt ra trong việc xây dựng chính quyền điện tử hướng đến phát triển chính quyền số 73
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về chính quyền điện tử trên báo chí tỉnh Tiền Giang 75
3.3 Một số đề xuất và khuyến nghị về truyền thông chính quyền điện tử trên báo chí tỉnh Tiền Giang 83
Tiểu kết chương 3 87
PHẦN KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC……… 98
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNTT
TT&TT
DVC
DVCTT
CPĐT
PTTH
Trang 7: Công nghệ thông tin
: Thông tin và truyền thông
: Dịch vụ công: Dịch vụ công trực tuyến
: Chính phủ điện tử: Chính quyền điện tử
: Phát thanh - Truyền hình
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG, BIỂU ĐỒ Danh mục hình
1.1 Các dịch vụ của chính phủ điện tử
1.2 Mô hình truyền thông của C Shannon
2.1 Hình hiệu Chuyên mục truyền hình
2.2 Bảng xếp hạng Vietnam ICT Index 2019 so với các năm trước
Danh mục bảng
2.1 Số lượng tin, bài viết truyền thông nâng cao nhận thức về CQĐT2.2 Số lượng bài ghi nhận, phản ánh và đánh giá việc ứng dụng CNTT, cung ứng DVC trực tuyến
2.3 Số lượng tin, bài hướng dẫn
2.4 Mức độ quan tâm của công chúng đối với truyền thông CQĐT
2.5 Đánh giá lợi ích cụ thể từ truyền thông CQĐT đối với công chúng
Danh mục biểu
2.1 Tỉ lệ % các nhóm nội dung truyền thông về chính quyền điện tử2.2 Tiêu chí đối với tác phẩm trên Đài PTTH Tiền Giang
2.3 Tiêu chí đối với tác phẩm trên Báo Ấp Bắc
2.4 Vai trò của báo chí Tiền Giang trong truyền thông về CQĐT
2.5 Đánh giá sự cần thiết của truyền thông về CQĐT trên báo chí
2.6 Đánh giá hiệu quả cụ thể từ truyền thông Chính quyền điện tử2.7 Xếp hạng ICT Index 2016-2019 tỉnh Tiền Giang
2.8 Tương tác của công chúng sau khi xem thông tin về CQĐT
2.9 Phản hồi của công chúng đối với truyền thông về CQĐT
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm, coi trọng pháttriển ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), xây dựng chính phủ điện tử(CPĐT) trong hoạt động của cơ quan nhà nước và phục vụ người dân, doanhnghiệp Nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành, tạo hành langpháp lý cho việc thúc đẩy ứng dụng CNTT, cung ứng dịch vụ công (DVC) -nền tảng xây dựng chính phủ điện tử Công nghệ thông tin được coi là công
cụ hữu hiệu, là động lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thôngtin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế,góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đảm bảo phát triển bềnvững đất nước
Đáp ứng xu thế phát triển, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử với mục tiêu đẩy mạnh ứng dụngCNTT trong quản lý và cung ứng DVC, xây dựng CPĐT giai đoạn 2015 -
2017 Sau khi kết thúc giai đoạn, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị quyết số17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triểnChính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, định hướng đến năm 2025 Với mục
tiêu: Đổi mới phương thức phục vụ, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy sự hài lòng của tổ chức, cá nhân làm thước đo quan trọng trong phát triển CPĐT; bảo đảm gắn kết chặt chẽ, đồng bộ ứng dụng CNTT với cải cách hành chính, đổi mới lề lối, phương thức làm việc, xác định ứng dụng CNTT là công cụ hữu hiệu hỗ trợ, thúc đẩy cải cách hành chính Cũng tại Nghị quyết
số 17/NQ-CP của Chính phủ đã thẳng thắn nhìn nhận một trong các nguyên
nhân chủ yếu khiến việc triển khai, xây dựng CPĐT còn chậm, chưa đồng bộtại các địa phương, đó là chưa chú trọng công tác truyền thông trong xây dựngphát triển chính phủ điện tử
Trang 10Tại tỉnh Tiền Giang, Kiến trúc chính quyền điện tử phiên bản 1.0 đãđược duyệt vào ngày 14/2/2017 Việc đẩy mạnh phát triển và ứng dụngCNTT, cung ứng DVCTT trên tất cả các lĩnh vực đã góp phần tháo gỡ nhiềukhó khăn, vướng mắc tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp Để triểnkhai CQĐT kịp thời, đúng định hướng, nâng cao hiệu quả, chất lượng cácDVCTT, triển khai ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước tại tỉnh TiềnGiang ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu thì việc truyềnthông đến người dân, doanh nghiệp hoặc các cơ quan tương tác với dịch vụđược cung cấp bởi cơ quan nhà nước rất cần thiết.
Kể từ năm 2016, báo chí tỉnh Tiền Giang đã quan tâm đến truyền thông
về ứng dụng CNTT, cung cấp DVCTT trên các lĩnh vực - nền tảng xây dựng
và phát triển chính quyền điện tử Báo Ấp Bắc và Đài Phát thanh - Truyềnhình Tiền Giang là hai cơ quan báo chí chủ lực để truyền thông về CQĐT đếncông chúng của tỉnh Tiền Giang, bởi nội dung này được chính quyền xác định
là nhiệm vụ trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Điều đángnói hiện nay, tỉnh Tiền Giang chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào liênquan đến hoạt động truyền thông về CQĐT trên báo chí địa phương Việc đisâu nghiên cứu truyền thông về chính quyền điện tử sẽ góp phần trực tiếpgiúp các cơ quan báo chí đánh giá toàn diện quá trình truyền thông trong thờigian qua; đồng thời việc truyền thông có ý nghĩa quan trọng góp phần nângcao nhận thức, sự đồng thuận của người dân về xây dựng và phát triển chínhquyền điện tử
Trong khuôn khổ luận văn, tác giả góp phần tìm hiểu phương thức truyềnthông, đánh giá thực trạng của báo chí Tiền Giang trong việc truyền thông vềCQĐT; đồng thời rút ra giải pháp, đề xuất, khuyến nghị báo chí tỉnh TiềnGiang tiếp tục truyền thông về chính quyền điện tử như thế nào Truyền
Trang 11thông về chính quyền điện
đến tiếp tục truyền thông vềtử là nền tảng để báo chí tỉnh Tiền Giang hướng
chính quyền số, kinh tế số và xã hội số toàn diện
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong 5 năm trở lại đây, từ khi Chính phủ có chủ trương xây dựngCPĐT tại Việt Nam cùng với mục tiêu đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giảiquyết thủ tục hành chính, triển khai một cửa điện tử, rút ngắn thời gian xử lý
hồ sơ, tăng tính minh bạch trong hoạt động của cơ quan nhà nước, thúc đẩyquá trình cải cách hành chính phục vụ người dân và doanh nghiệp BộTT&TT đã phối hợp với các cơ quan báo chí nhằm đẩy mạnh hoạt độngtruyền thông về chính phủ điện tử, chính quyền điện tử Cụ thể, Tạp chí Toàncảnh tập trung vào lĩnh vực CNTT, ứng dụng CNTT trong quản lý và cungcấp các dịch vụ công Tuy nhiên, Tạp chí Toàn cảnh hiện đã dừng xuất bản,chuyển thành các bản tin trực thuộc Bộ TT&TT Ngoài ra còn có chuyên mụctruyền thông trên báo điện tử Infonet, Vietnamnet, Cổng Thông tin điện tửcủa Bộ TT&TT cập nhật thông tin mới về chủ trương, chính sách phát triểnứng dụng CNTT, cung ứng dịch vụ công, những phát minh, sáng kiến vềCNTT phục vụ đời sống
Song song đó, các địa phương đều có trang thông tin điện tử, một số tỉnh,thành xuất bản đặc san, bản tin hoặc tờ thông tin chuyên ngành Các ấn phẩm
đã góp phần tạo chuyển biến lớn trong nhận thức của cán bộ công chức nhànước về chủ trương phát triển CPĐT, CQĐT từ trung ương đến địa phương.Tuy nhiên, các hình thức tuyên truyền này chỉ tương tác đến đối tượng côngtác trong ngành, chưa tiếp cận rộng rãi đến người dân
Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy có một số nghiên cứu về truyền thôngkhoa học công nghệ hay nghiên cứu về cổng thông tin điện tử dưới góc độngành công nghệ thông tin Có thể kể đến một số đề tài như:
Trang 12Luận văn thạc sĩ báo chí của tác giả Nguyễn Thu Quyên với đề tài
“Thông tin khoa học công nghệ trên sóng VTV2 Đài Truyền hình Việt Nam”
(2013) do TS Trần Bảo Khánh hướng dẫn [28], bảo vệ tại Học viện Báo chí
và Tuyên truyền đã cơ bản khái quát được những thông tin khoa học và côngnghệ trên truyền hình, song đề tài tập trung chính vào chương trình “Nhà sángchế” nhằm tôn vinh những phát minh của con người
Luận văn thạc sĩ báo chí với chủ đề “Truyền thông về khoa học công nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
hướng dẫn [24] Tác giả Trần Thị Quyên đã nghiên cứu quy trình tổ chức sảnxuất, nội dung, hình thức, hiệu quả của hoạt động truyền thông về khoa họccông nghệ trên Đài Truyền hình Việt Nam qua khảo sát chương trình “Côngnghệ - đời sống” trên VTV1 và “Bảy ngày công nghệ” trên VTV2 năm 2014
Tác giả Trần Thị Dung với Luận văn thạc sĩ “Truyền thông về khoa học công nghệ trên cổng thông tin điện tử Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh miền Đông Nam bộ” (năm 2015) dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị
Thanh Huyền [10] Tác giả nhấn mạnh vai trò của cổng thông tin điện tử làmột kênh truyền thông khoa học công nghệ hiệu quả qua khảo sát ở cả haimặt: nội dung, chất lượng của thông tin và dịch vụ đang được cung cấp vànhu cầu của công chúng đối với thông tin trên cổng thông tin điện tử Sở Khoahọc và Công nghệ các tỉnh, thành phố
Luận văn của tác giả Mai Thị Thanh Hà với đề tài “Tiếp cận thông tin khoa học và công nghệ của nhà báo Việt Nam hiện nay” (năm 2016) [17].
Tác giả tìm hiểu, đánh giá thực trạng các loại thông tin khoa học công nghệđược nhà báo tiếp cận và thể hiện trong nội dung các tác phẩm báo chí đãđăng tải, mức độ hài lòng trong quá trình tiếp cận các nguồn thông tin về lĩnhvực khoa học công nghệ của nhà báo
Có thể thấy rằng các nghiên cứu trên có vai trò quan trọng, giúp tác giả
có thêm kiến thức nền về truyền thông một vấn đề trên nền tảng công nghệ
Trang 13cũng như kiến thức về ứng dụng CNTT, cung cấp DVC; từ đó tác giả có địnhhướng nghiên cứu đề tài “Truyền thông về chính quyền điện tử trên báo chítỉnh Tiền Giang”.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực tiễn hoạt động truyền thông; đánh giá thành công và hạnchế của hai cơ quan báo chí ở các khía cạnh như: Phương thức truyền thông, nộidung và hình thức thể hiện, kênh truyền thông và tương tác của công chúng khitruyền thông chính quyền điện tử trên báo chí tỉnh Tiền Giang
- Đề xuất giải pháp, khuyến nghị để báo chí tỉnh Tiền Giang tiếp tục thựchiện tốt hơn nhiệm truyền thông về chính quyền điện tử của tỉnh trong những nămtiếp theo
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu hoạt động truyền thông
về chính quyền điện tử trên báo chí tỉnh Tiền Giang
Trang 145.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiêncứu cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Chọn lọc và tập hợp các tài liệu, sách,giáo trình, các bài viết đăng, phát trên báo chí của tỉnh, các bài tham luận nghiêncứu liên quan, nghị định, nghị quyết, các văn bản liên quan do Đảng
và Nhà nước, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành
- Phương pháp phân tích nội dung: Tổng hợp, phân tích các tin, bài trênbáo Ấp Bắc và Đài Truyền hình Tiền Giang; đánh giá ưu điểm, hạn chế trong cáchtruyền thông
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn ba nhóm đối tượng,gồm: Lãnh đạo cơ quan quản lý nhà nước, lãnh đạo cơ quan báo chí, phóng viên tác nghiệp nhằm tìm hiểu nội dung có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp điều tra xã hội học: Lập và phát 200 phiếu khảo sát chongười dân địa phương, cán bộ công chức cấp tỉnh và huyện nhằm tìm hiểu sự quan tâm, mức độ hài lòng của họ liên quan đến đề tài
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm rõ hơn cơ sở lý luận về truyền thông về CQĐT trên báochí địa phương; góp phần truyền thông sâu rộng chủ trương, chính sách củaĐảng, Nhà nước về ứng dụng CNTT, xây dựng và phát triển CQĐT tronghoạt động cơ quan nhà nước, phục vụ người dân, doanh nghiệp
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có giá trị tham khảo đối với người làm báo ở địa phương khitham gia thông tin về chính quyền điện tử; các nhà lãnh đạo, quản lý, các tỉnhlân cận có quan tâm đến truyền thông về chính quyền điện tử
7 Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungLuận văn được kết cấu thành 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn truyền thông về chính quyền điện
tử trên báo chí tỉnh Tiền Giang
Chương 2: Thực trạng truyền thông về chính quyền điện tử trên báo chítỉnh Tiền Giang
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về chính quyềnđiện tử trên báo chí tỉnh Tiền Giang
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRUYỀN THÔNG VỀ
CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ TRÊN BÁO CHÍ TỈNH TIỀN
GIANG 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm truyền thông
Truyền thông là một hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triểncùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan trực tiếpđến mọi cá thể xã hội Do đó, có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau,tùy theo góc nhìn đối với truyền thông
Trong quyển “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, Nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2011, tập thể tác giả biên soạn cho rằng: Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức [25, tr 13].
Ở định nghĩa này có hai khía cạnh cần lưu ý:
Thứ nhất, truyền thông là một quá trình, có nghĩa nó không phải là một
việc làm nhất thời hay xảy ra trong một khuôn khổ thời gian ngắn, mà là mộtviệc diễn ra trong một khoảng thời gian Quá trình này mang tính liên tục, vì
nó không thể kết thúc sau khi chuyển tải nội dung cần thiết, mà còn tiếp diễnsau đó
Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực
kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông Và cuối cùng,truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu khôngmỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa
Sách “Cơ sở lý luận báo chí”, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông,
2018, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng sự hiểu biết lẫn nhau nhằm
Trang 17thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hay của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững [3, tr 20].
Như vậy, trong luận văn này, khái niệm “truyền thông” để chỉ việc thôngtin, phổ biến chính sách, thực trạng phát triển, những tiện ích của chính quyềnđiện tử đến với công chúng (công chúng ở đây là cán bộ công chức, ngườidân, tổ chức, doanh nghiệp)
1.1.2 Khái niệm về chính quyền điện tử
1.1.2.1 Chính quyền
Chính quyền là một tổ chức hành chính có tư cách pháp nhân được hiếnpháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực nằmtrong một quốc gia Chính quyền là bộ máy điều hành, quản lý công việc củanhà nước
Điều 110 Hiến pháp năm 2013 quy định: Các đơn vị hành chính củanước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nướcchia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã
và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận,huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thịtrấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thànhphường Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập
Theo Luật Chính quyền địa phương ngày 19/6/2015, tổ chức chínhquyền địa phương ở các đơn vị hành chính, gồm:
- Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy bannhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa Xã hộiChủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này
- Chính quyền địa phương ở nông thôn gồm chính quyền địa phương ởtỉnh, huyện, xã
Trang 18- Chính quyền địa phương ở đô thị gồm chính quyền địa phương ở thànhphố trực thuộc trung ương, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộcthành phố trực thuộc trung ương, phường, thị trấn.
Như vậy, chính quyền được hiểu là bộ máy điều hành, quản lý công việccủa Nhà nước ở các cấp Khi ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của
bộ máy điều hành, quản lý công việc của nhà nước nhằm phục vụ các hoạtđộng công vụ, giúp người dân thực hiện giao dịch hành chính nhanh chóng,thuận tiện, tiết kiệm,… thì hoạt động của chính quyền cải thiện, nâng chất
đó được gọi là chính quyền điện tử
Cho đến nay, đã có rất nhiều các tổ chức quốc tế đưa ra định nghĩa vềchính phủ điện tử, có thể kể đến một số định nghĩa bởi các tổ chức quốc tế màđang được sử dụng phổ biến hiện nay như:
Theo Ngân hàng thế giới (World Bank): “Chính phủ điện tử là việc các
cơ quan Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin truyền thông để thực hiện quan hệ với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức
Trang 19-xã hội Nhờ đó giao dịch của các cơ quan Chính phủ với công dân và các tổchức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng Lợi ích thu được sẽ là giảm thiểutham nhũng, tăng cường tính công khai, sự tiện lợi, góp phần vào sự tăngtrưởng và giảm chi phí”.
Định nghĩa của Liên hiệp quốc: “Chính phủ điện tử được định nghĩa làviệc sử dụng Internet và mạng toàn cầu (world-wide-web) để cung cấp thôngtin và các dịch vụ của chính phủ tới công dân”
Định nghĩa của tổ chức Đối thoại doanh nghiệp toàn cầu về thương mạiđiện tử: “Chính phủ điện tử đề cập đến một trạng thái trong đó các cơ quanhành pháp, lập pháp và tư pháp (bao gồm cả chính quyền trung ương và chínhquyền địa phương) số hóa các hoạt động bên trong và bên ngoài của họ và sửdụng các hệ thống được nối mạng hiệu quả để có được chất lượng tốt hơntrong việc cung cấp các dịch vụ công”
Định nghĩa của Gartner: Chính phủ điện tử là “sự tối ưu hóa liên tục củaviệc cung cấp dịch vụ, sự tham gia bầu cử và quản lý bằng cách thay đổi cácquan hệ bên trong và bên ngoài thông qua công nghệ, Internet và các phươngtiện mới”
Định nghĩa của Nhóm nghiên cứu về chính phủ điện tử trong một thếgiới phát triển: “Chính phủ điện tử là việc sử dụng công nghệ thông tin vàtruyền thông để thúc đẩy chính phủ một cách hiệu lực và hiệu quả, hỗ trợ truycập tới các dịch vụ của chính phủ, cho phép truy cập nhiều hơn vào thông tin
và làm cho chính phủ có trách nhiệm với công dân Chính phủ điện tử có thểbao gồm việc cung cấp các dịch vụ qua Internet, điện thoại, các trung tâmcộng đồng, các thiết bị không dây hoặc các hệ thống liên lạc khác”
Các định nghĩa về CPĐT trên đều mang nội dung chính là ứng dụngCNTT và truyền thông vào hoạt động của cơ quan nhà nước Theo Văn bản số1178/BTTTT-THH ngày 21/4/2015 của Bộ Thông tin và Truyền thông nêu:
“Chính phủ điện tử là chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền
Trang 20thông nhằm tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan chính phủ, phục vụngười dân và doanh nghiệp tốt hơn” Chính phủ điện tử theo mô hình cấp tỉnhhoặc thành phố gọi là Chính quyền điện tử.
Mặc dù còn có những quan niệm khác nhau, song có thể hiểu một cáchđơn giản: Chính phủ điện tử là việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyềnthông để các cơ quan chính phủ đổi mới, làm việc hiệu lực, hiệu quả và minhbạch hơn, cung cấp thông tin, dịch vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp vàcác tổ chức; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân thực hiệnquyền dân chủ của mình trong việc tham gia quản lý nhà nước Có thể hiểucách ngắn gọn, CPĐT là chính phủ hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, cungcấp dịch vụ tốt hơn trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông.Tham gia CPĐT gồm 3 chủ thể: Người dân, Chính phủ (cán bộ, côngchức, viên chức) và doanh nghiệp Các mối quan hệ tương tác giữa 3 chủ thểgồm: Quan hệ Chính phủ với người dân (G2C): Chính phủ cung cấp thông tin
và dịch vụ cho người dân Quan hệ Chính phủ với doanh nghiệp (G2B):Chính phủ cung cấp thông tin và dịch vụ cho doanh nghiệp Quan hệ các cơquan Chính phủ với nhau (G2G): Cung cấp thông tin và các dịch vụ liên quangiữa các cơ quan Chính phủ với nhau Tại Việt Nam, bổ sung quan hệ giữa cơquan nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức (G2E)
Hình 1.1: Các dịch
vụ của chính phủ điện tử.
Trang 21Phát triển CPĐT là quá trình lâu dài, liên tục, qua các giai đoạn khácnhau; cứ qua từng giai đoạn thì tính phức tạp lại tăng thêm nhưng giá trị mà
nó mang lại cho người dân và doanh nghiệp cũng tăng lên Việc phân chia cácgiai đoạn phát triển CPĐT nhằm xác định mức độ phát triển của CPĐT cũngnhư làm cơ sở xác định lộ trình, kế hoạch triển khai CPĐT đúng hướng, phùhợp với điều kiện, nhu cầu thực tế
1.1.2.3 Xu hướng phát triển của Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử
Chính phủ điện tử, Chính quyền điện tử hiện nay đã là một khái niệm đượcnhiều người biết đến Nhiều quốc gia phát triển CPĐT, CQĐT để cải tiến quytrình công tác trong cơ quan chính phủ thông qua nền hành chính điện tử; cải
thiện quan hệ với người dân thông qua công dân điện tử, tiến tớixây dựng một xã hội tri thức trên nền tảng công nghệ thông tin
Theo các tài liệu tập huấn về chính phủ điện tử, chính quyền điện tử tạitỉnh Tiền Giang vào tháng 7/2019, đề cập đến xu hướng phát triển CPĐT,CQĐT mang đặc điểm sau:
Thứ nhất, chính quyền lấy mục tiêu phục vụ người dân tốt hơn làm trọng
tâm để phát triển chính phủ điện tử Đó là xóa bỏ khoảng cách không gian,
mở rộng thời gian để người dân giao dịch với chính quyền; áp dụng tiến bộkhoa học kỹ thuật, cung cấp phương tiện để cán bộ, công chức, viên chức vàngười lao động trong các cơ quan nhà nước làm việc hiệu quả hơn; từ đó nângcao chất lượng DVC phục vụ người dân
Thứ hai, cung cấp nhiều kênh giao tiếp để người dân có thể lựa chọn
kênh tốt nhất thực hiện giao dịch với chính quyền Đó là mạng Internet, mạngđiện thoại, Kiost thông tin, trung tâm phục vụ hành chính công và công dân cóthể lựa chọn phương thức giao dịch trực tuyến hoặc trực tiếp trong môi
Trang 22trường công khai, minh bạch có sự hỗ trợ của đội ngũ công chức có chuyênmôn cao và tinh thần trách nhiệm tốt.
Thứ ba, chính quyền điện tử thúc đẩy cải cách hành chính mạnh mẽ;
phương thức phục vụ người dân tiên tiến, đáp ứng yêu cầu của cán bộ, côngchức làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả, năng suất cao Cán bộ, công chức chỉlàm được điều đó khi tích cực thực hiện cải cách hành chính thông quaphương thức trao đổi dữ liệu giữa các bộ phận chuyên môn, giữa các cơ quan,điều chỉnh tối ưu quy trình xử lý công việc, phân công, phối hợp một cáchhợp lý
Thứ tư, phát triển hệ thống ứng dụng CNTT theo Kiến trúc chính quyền
điện tử: Hệ thống ứng dụng CNTT của tỉnh, của quốc gia bao gồm nhiều ứngdụng của các cơ quan, các ngành khác nhau chỉ có thể kết nối, trao đổi dữliệu, liên kết quy trình xử lý một cách thuận lợi khi được xây dựng, phát triểntrên cùng kiến trúc là Kiến trúc Chính phủ điện tử của quốc gia, Kiến trúcChính quyền điện tử của tỉnh
Thứ năm, xây dựng Trung tâm phục vụ hành chính công và ứng dụng
một cửa điện tử sẽ giúp người dân điện tử hóa giao dịch của mình với cơ quannhà nước Người dân thực hiện giao dịch hành chính trong môi trường minhbạch, văn minh; triệt tiêu cơ chế xin - cho, nạn hạch sách, sách nhiễu khi đếncác cơ quan nhà nước
Và cuối cùng, thu hút nhân lực CNTT, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nănglực chuyên môn để đáp ứng yêu cầu xây dựng, triển khai và vận hành các ứngdụng CNTT Chính quyền điện tử ngày càng phát triển thì vấn đề an toàn, anninh thông tin ngày càng quan trọng; thông tin lưu trữ và trao đổi trên mạngcàng có ý nghĩa với cá nhân, tổ chức thì càng thu hút các hoạt động truy cậptrái phép; các giao dịch giữa người dân và nhà nước chỉ có hiệu lực khi nộidung giao dịch không thể thay đổi trong quá trình thực hiện và xác thực được
Trang 23đối tượng giao dịch là cơ quan nào, công dân, tổ chức, doanh nghiệp nào (sửdụng chữ ký số và kết nối an toàn trên Internet) Hạ tầng CNTT đáp ứng yêucầu an toàn thông tin và các quy định về an toàn, an ninh thông tin là vấn đềquan trọng trong quá trình triển khai và vận hành Chính quyền điện tử.
1.2 Truyền thông về chính quyền điện tử
1.2.1 Khái niệm truyền thông về chính quyền điện tử
Truyền thông về chính quyền điện tử là hoạt động nhằm cung cấp, chia
sẻ thông tin về chủ trương đường lối của Đảng, cơ chế, chính sách pháp luậtcủa Nhà nước về chính quyền điện tử; công khai, minh bạch hoạt động củacác cơ quan nhà nước trên môi trường mạng và ghi nhận sự phản hồi của côngchúng đối với hoạt động truyền thông Thông qua hoạt động truyền thông gópphần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước nhằmphục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn
Như vậy có thể hiểu truyền thông về CQĐT là một quá trình tác động qualại liên tục giữa hai hay nhiều đối tượng để cùng nhau chia sẻ các thông tin, kiếnthức, thái độ, nhận thức, kinh nghiệm và kỹ năng về chính quyền điện tử nhằmnâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của đối tượng chịu tác động
Truyền thông về CQĐT trên báo chí tỉnh Tiền Giang hướng đến các mục tiêu:
Thứ nhất, thúc đẩy tạo ra môi trường kinh doanh tốt hơn thông qua mối quan
hệ tương tác giữa chính quyền và các doanh nghiệp bằng cách giảm bớt cáckhâu rườm rà trong thủ tục và chú trọng đến việc cung cấp các dịch vụ nhanh
chóng và hiệu quả Chính quyền điện tử có thể tạo ra các điều kiện thuhút đầu tư
Thứ hai, người dân giao dịch hành chính trực tuyến không phải bắt số
-xếp hàng - chờ gọi tên như kiểu giao dịch truyền thống Ở bất cứ đâu có kếtnối mạng Internet, người dân đều có thể thực hiện giao dịch với chính quyền
Trang 24Thứ ba, tăng cường sự điều hành có hiệu quả của chính quyền và sự
tham gia rộng rãi của người dân thông qua ứng dụng CNTT và truyền thôngtrong quản lý và điều hành cũng như mở ra cơ hội mới cho người dân chủđộng tham gia vào việc hoạch định các chính sách của chính quyền Với sựđiều hành minh bạch chính quyền sẽ hạn chế được tình trạng tham nhũng, trìtrệ Sự minh bạch của thông tin không những thể hiện tính dân chủ mà còn cóthể gây dựng niềm tin giữa các nhà lãnh đạo, chính quyền với nhân dân tronghoạt động điều hành
Thứ tư, năng suất lao động và tính hiệu quả của các cơ quan công quyền
được gia tăng Sự hài lòng của người dân chính là thước đo năng suất laođộng và hiệu quả công việc của các nhân viên trong cơ quan Ngoài ra còn cắtgiảm nhân sự, giảm chi tiêu văn phòng, chi phí quản lý,… góp phần nâng caonăng lực quản lý của chính quyền
Thứ năm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho các cộng đồng vùng sâu
và vùng xa Công nghệ thông tin sẽ giúp cho hoạt động chính quyền có thểvươn tới các nhóm, cộng đồng thiểu số và nâng cao chất lượng cuộc sống củanhân dân các vùng sâu và vùng xa
Cuối cùng, truyền thông về CQĐT nhằm cải thiện, gắn kết, gia tăng mốitương tác qua lại giữa ba chủ thể chính của xã hội là chính quyền, người dân
và doanh nghiệp nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước
1.2.2 Vai trò và nội dung của báo chí đối với hoạt động truyền thông
về chính quyền điện tử
1.2.2.1 Vai trò
Trước hết phải khẳng định, hoạt động báo chí là hoạt động chính trị.Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, báo chí đóng vai trò quan trọng, khôngchỉ là vũ khí sắc bén của những người cộng sản trong tuyên truyền, thức tỉnh,giác ngộ quần chúng, giúp họ lựa chọn con đường, đi theo tiếng gọi thiêng
Trang 25liêng của Đảng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn
là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong công cuộc xây dựngChủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc tổ quốc
Báo chí luôn là “người” tiên phong, chủ động, tích cực tuyên truyềnđường lối, chủ trương của Đảng, sự điều hành của Chính phủ về phát triểnkinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng, đối ngoại;củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đấutranh kiên quyết chống các tư tưởng thù địch, phản động, đi ngược lại lợi íchquốc gia, dân tộc và nhân dân lao động Báo chí đã và đang góp phần kiến tạobầu không khí dân chủ trong xã hội, ngày càng thể hiện tốt hơn vai trò vừahướng dẫn dư luận xã hội, tham gia có hiệu quả phản biện xã hội và góp phầnquan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Để báo chí thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, những năm qua, Đảng vàNhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo báo chí, do đó, báo chí đã phát triển khánhanh về số lượng Theo báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương (tính đếnngày 30/11/2019) cả nước có 850 cơ quan báo chí, trong đó có: 179 báo(Trung ương: 83, địa phương: 96); 648 tạp chí (Trung ương: 543, địa phương:108) và 23 cơ quan báo chí điện tử độc lập Cả nước có trên 41.000 ngườiđang công tác tại các cơ quan báo chí (cả 4 loại hình), trong đó có 20.407người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo Phần lớn các cơ quan báochí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và định hướng chính trị, hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao và có bước phát triển về số lượng, trình độ, tham giangày càng tích cực vào quá trình truyền thông Các cơ quan báo chí từng bướcnâng cao về chất lượng; đã thực hiện tốt chức năng là công cụ tuyên truyềncủa Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của nhân dân, có những đóng góp tíchcực, quan trọng vào những thành quả quan trọng, có ý nghĩa lịch sử của quátrình đổi mới đất nước
Trang 26Chủ trương xây dựng và phát triển CPĐT đã được Chính phủ cụ thể hóathông qua Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015; hiện nay nhiệm vụ pháttriển chính phủ điện tử được sửa đổi bổ sung nhiều nội dung phù hợp với thựctiễn, cụ thể tại Nghị quyết 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ,giải pháp trọng tâm phát triển chính phủ điện tử giai đoạn 2019 - 2020, địnhhướng đến 2025 Việc xây dựng và phát triển mô hình CPĐT (cấp bộ ngành,trung ương) hay mô hình CQĐT (cấp tỉnh, huyện, xã) theo lộ trình cụ thể đếnvới mọi tổ chức, công dân, cộng đồng xã hội hướng đến sự đồng thuận trong
tư duy nhận thức lẫn hành động thực tiễn
Truyền thông về chính quyền điện tử trên báo chí thể hiện vai trò chủ yếu:
Thứ nhất, thông qua hoạt động truyền thông, công chúng được tiếp cận
thông tin mới, chuẩn xác, công khai, minh bạch về các hoạt động chỉ đạo,điều hành của chính quyền Thông qua hoạt động chính quyền điện tử, vai tròcủa chính quyền, vai trò công dân được nhắc đến, đề cao Công chúng cũngđồng thời là những người công dân tham gia vào mọi hoạt động của xã hội,nên họ đặc biệt quan tâm đến các thông tin của chính quyền vì các thông tin
đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống Cơ quan báo chí càng cung cấp nhiềuthông tin chính thống khai thác từ chính quyền nhà nước càng thu hút đượcđông đảo sự quan tâm của công chúng; bởi lẽ đáp ứng những yêu cầu tiếp cậnthông tin của công chúng và đòi hỏi thông tin bức thiết của người dân Thôngqua báo chí, đảm bảo giúp chính quyền công khai, minh bạch hóa thông tintheo đúng chủ trương của Đảng, Chính phủ hiện nay
Thứ hai, thông qua báo chí, những phản hồi của người dân về hoạt động
chính quyền, cung cấp các dịch vụ công nhanh chóng được điều chỉnh phùhợp với thực tế Chính quyền tự “soi”, phát hiện những thiếu sót để tự hoànthiện hơn Báo chí còn đóng vai trò là kênh trung gian truyền tải thông điệp
Trang 27giữa chính quyền và công dân; giúp rút ngắn khoảng cách, tạo sự gần gũi,thân thiện giữa chính quyền và công dân.
Xây dựng CQĐT lấy chính quyền làm trung tâm, nhằm thúc đẩy việccung cấp dịch vụ công Chính quyền là nhà cung cấp dịch vụ công duy nhấtcho công dân Công dân là đối tượng sử dụng các dịch vụ công do chínhquyền cung cấp Điển hình trong thời gian qua, các bộ ngành, địa phương đã
có nhiều cố gắng và đạt được kết quả bước đầu trong triển khai xây dựngCQĐT như: Xây dựng và đưa vào vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về Đăng
ký doanh nghiệp, từng bước xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, Cơ
sở dữ liệu đất đai quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; đã cung cấp một
số dịch vụ công trực tuyến thiết yếu cho doanh nghiệp và người dân như:đăng ký doanh nghiệp, kê khai thuế, nộp thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội,…;các ngành, địa phương đã xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng; hệthống thông tin một cửa điện tử được đưa vào vận hành, nâng cao tính minhbạch và trách nhiệm của đội ngũ công chức; chất lượng nhân lực về CNTTcũng được nâng cao… Tất cả các hoạt động này đều được truyền thông đếncông chúng, công chúng sử dụng dịch vụ và có sự phản hồi để chính quyềnchỉnh sửa, hoàn thiện những sai sót, bất cập của dịch vụ nhằm xây dựngCQĐT theo đạt mục tiêu, lộ trình
Nhìn chung, việc truyền thông về CQĐT trên báo chí tỉnh Tiền Giang đã
cụ thể những mục tiêu của Nghị quyết, đó là: Nâng cao nhận thức xã hội vềchủ trương xây dựng, phát triển CQĐT, vai trò của việc xây dựng CQĐT đốivới phát triển đất nước, tiện ích của CQĐT mang đến cho cộng đồng ngườidân, doanh nghiệp, minh bạch hóa thông tin giữa chính quyền với người dân,doanh nghiệp; hướng đến xây dựng một nền hành chính điện tử đồng bộ, hiệnđại từ cấp tỉnh đến cơ sở, từng bước hoàn thiện các hệ thống thông tin, các cơ
sở dữ liệu dùng chung, tạo môi trường làm việc điện tử diện rộng, an toàn, an
Trang 28ninh thông tin, nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc; giảm thời gian, chi phínâng cao tính minh bạch trong hoạt động các cơ quan nhà nước của tỉnh.
Qua khảo sát, tác giả nhận thấy nội dung truyền thông về CQĐT tậptrung ở các nhóm sau:
Thứ nhất, truyền thông về chính sách Báo chí thông tin quan điểm, chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển và xâydựng CQĐT tại địa phương Qua đó giúp công chúng có nhận thức ban đầu vềkhái niệm CPĐT, CQĐT; thông tin về cấu trúc CQĐT địa phương, trong đólựa chọn lĩnh vực trọng yếu để tiến hành truyền thông, như: Việc ứng dụngCNTT trong các hoạt động của cơ quan nhà nước, cung cấp DVCTT trên cáclĩnh vực thiết yếu của đời sống xã hội (có thể kể đến như: đăng ký kinhdoanh, nộp thuế, đăng ký kết hôn, khai sinh, hộ tịch,…) Từ đó nhấn mạnhđến ý nghĩa, lợi ích, sự cần thiết khi ứng dụng CNTT và sử dụng DVCTT vàogiải quyết giao dịch hành chính và trong đời sống xã hội
Thứ hai, báo chí ghi nhận, phản ánh việc ứng dụng CNTT, cung ứng
DVCTT các mức độ và đánh giá sự hài lòng của người dân đến giao dịchhành chính, mức độ sử dụng CNTT về các ứng dụng, tiện ích DVC trong giảiquyết thủ tục hành chính so với cách giải quyết thủ tục hành chính giấy tờ
Trang 29truyền thống Trên cơ sở thông tin của báo chí người dân biết, ủng hộ, đồngthuận cách giao dịch hành chính mới, tự thay đổi thói quen, hành vi khi thựchiện giao dịch với chính quyền.
Thứ ba, thông tin trên báo chí hướng dẫn công chúng cách sử dụng
DVCTT, thực hành ứng dụng trên các nền tảng thiết bị khác nhằm đạt mụcđích cung cấp nội dung mà công chúng cần hơn là thông tin cơ quan báo chímuốn đưa Người dân có sự phản hồi ngay sau khi tiếp nhận thông tin, báo chí
có trách nhiệm trung gian giữa chủ thể truyền thông (các ngành tỉnh) và đốitượng truyền thông (công chúng ở đây là cán bộ, công chức, người dân) nhằmphân tích, giải thích, làm rõ những vướng mắc, phản hồi từ công chúng Báochí đưa ra giải pháp để nội dung gần gũi, thực tiễn để dễ dàng tiếp cận vớicông chúng
Với ba nội dung được đúc kết nêu trên, tác giả tiến hành phân tích, đánhgiá chi tiết hơn ở chương 2
1.3 Phương thức truyền thông về chính quyền điện tử
Để truyền thông về chính quyền điện tử, nhà báo có 2 phương thứctruyền thông, đó là:
Thứ nhất, nhà báo tiếp xúc trực tiếp với nguồn tin, với đại diện chính
quyền địa phương để khai thác thông tin Thông qua việc trực tiếp tham dự sựkiện, dự các cuộc hội thảo, các buổi diễn tập, các cuộc họp báo chí định kỳ vàđột xuất bất thường, đặt lịch hẹn làm việc trực tiếp để trao đổi, phỏng vấn,làm việc trực tiếp với cơ sở… nhà báo đã có thể trực tiếp thu thập thông tin từchính quyền địa phương, tạo kho tư liệu riêng về CQĐT nhằm phục vụ chocác bài báo truyền thông của mình
Việc tiếp cận trực tiếp giúp nhà báo và đại diện chính quyền địa phương,các tổ chức, cụ thể thông thường là người phát ngôn - có được sự tương tác,trao đổi trực tiếp, có cơ hội để làm rõ các vấn đề còn vướng mắc, những thông
Trang 30tin còn chưa rõ Nhà báo có thể đặt câu hỏi và tiếp nhận câu trả lời trực tiếp vềvấn đề mà nhà báo đang quan tâm khai thác thông tin phục vụ cho tác phẩmbáo chí của mình, đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng.
Thứ hai, nhà báo tiếp xúc gián tiếp với nguồn tin thông qua các phương
tiện truyền tải thông tin khác như email, điện thoại, tin nhắn, các thông tintrên cổng thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, thông cáo báo chí hay thôngtin dưới dạng văn bản gửi qua dịch vụ bưu chính
So với thông tin khai thác được thông qua phương thức truyền thông trựctiếp, thông tin thu thập bằng phương pháp gián tiếp thường ở định dạng vănbản mang văn phong hành chính nên khá rõ ràng, mạch lạc, thông tin mangtính chuyên môn sâu, cụ thể, rõ ràng và đầy đủ Nhà báo có thể sử dụng ngaycác nội dung được cung cấp để đưa vào tác phẩm báo chí của mình mà khôngcần mất nhiều thời gian biên tập, gia công, chỉnh sửa Tuy nhiên, do thông tin
đó là thông tin tĩnh, một chiều, không có sự tương tác nên thông tin tiếp cận ởdạng này thường ít sự sinh động, ít các thông tin liên quan, phân tích bìnhluận xung quanh vấn đề đó và đặc biệt tác phẩm báo chí của nhà báo dễ bịtrùng lặp ở các báo khác nhau do là dạng thông tin gửi đồng loạt cho nhiềunhà báo, nhiều cơ quan báo chí
1.4 Vận dụng mô hình truyền thông về chính quyền điện tử
1.4.1 Mô hình truyền thông của Claude Shannon
Trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung làm rõ thông tin, truyền thông
về chính quyền điện tử dưới góc nhìn qua mô hình truyền thông của ClaudeShannon Mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon được đưa ranăm 1949, đã khắc phục được nhược điểm của mô hình truyền thông mộtchiều bằng cách nhấn mạnh vai trò của thông tin phản hồi Mặt khác, mô hìnhnày cũng chú ý tới hiệu quả truyền thông
Trang 31Nhiễu (Noise)
Phản hồi (Feedback)
Hình 1.2: Mô hình truyền thông của C Shannon
Theo C Shannon, thông tin được bắt nguồn từ nguồn phát (S) thông qua
các kênh truyền thông đến với người nhận (R) rồi thu hiệu quả E Các yếu tố
trong mô hình truyền thông của C Shannon bao gồm:
S - Ai (Source, sender): Nguồn phát, chủ thể
M - Nói, đọc, viết gì (Message): Thông điệp, nội dung truyền thông
C - Kênh (Channel): Kênh truyền thông
R - Cho ai (Receiver): Người nhận thông điệp (đối tượng)
E - Hiệu quả (Effect): Hiệu quả, kết quả của quá trình truyền thông
N - Nhiễu (Noise): Nhiễu (yếu tố gây ra sai số cản trở thông điệp)
F - Phản hồi (Feedback): Được hiểu là sự tác động ngược trở lại của
thông tin từ phía người tiếp nhận đối với người truyền tin Phản hồi là phần tử
cần thiết để điều khiển quá trình truyền thông, làm cho quá trình truyền thông
được liên tục từ nguồn đến đối tượng tiếp nhận và ngược lại Nếu không có
phản hồi, thông tin chỉ một chiều và mang tính áp đặt [27, tr 19]
Với mô hình truyền thông của C Shannon, tác giả vận dụng để phân tích
chu trình truyền thông về CQĐT trên báo chí và đánh giá từng yếu tố trong
chu trình truyền thông ấy Cụ thể, thông tin về CQĐT từ cơ quan nhà nước
thông qua báo chí địa phương đến với người dân, người dân tiếp nhận hoặc
không tiếp nhận thông điệp và có sự hồi đáp Tác giả đánh giá thực trạng,
Trang 32phương thức truyền thông; từ đó, đánh giá thành công và hạn chế của hoạtđộng truyền thông.
1.4.2 Kênh truyền thông về chính quyền điện tử
Trong phạm vi luận văn “Truyền thông về chính quyền điện tử trên báochí tỉnh Tiền Giang”, việc truyền thông được thực hiện thông qua hai kênhchủ yếu, đó là: Kênh báo in của báo Ấp Bắc; sóng truyền hình và sóng phátthanh của Đài PTTH Tiền Giang Ngoài ra, việc truyền thông còn được thựchiện trên các nền tảng khác như: App di động (Tiền Giang S), ứng dụng Zalocủa cổng thông tin điện tử tỉnh, fanpage và kênh youtube của cơ quan báo chí,trang thông tin điện tử của cơ quan báo chí
Sở dĩ, tác giả chọn kênh truyền thông qua báo in (báo Ấp Bắc), sóng phátthanh, truyền hình (Đài PTTH Tiền Giang) bởi đây là hai cơ quan báo chí chủlực, chính thống của tỉnh có nhiệm vụ phản ánh trung thực đời sống và gópphần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Tại Tiền Giang, cùng với sự phát triểncủa hệ thống báo chí cả nước, báo chí Tiền Giang đã có bước phát triển nhanhchóng cả về số lượng và chất lượng Đây là lực lượng quan trọng đã và đang
đi đầu trong công tác thông tin, phổ biến rộng rãi đường lối, chủ trương, chínhsách của Đảng và Nhà nước cũng như những chủ chương, chính sách, quyđịnh của tỉnh Các nền tảng truyền thông còn lại chủ yếu lấy nội dung truyềnthông từ báo in, phát thanh truyền hình nhằm đáp ứng da dạng nhu cầu tiếpnhận thông tin của công chúng
1.4.3 Tiêu chí đánh giá truyền thông
Để tạo nên được một tác phẩm báo chí đạt yêu cầu để truyền thông cần
có nhiều khâu, nhiều yếu tố cấu thành Đó là góc nhìn và tài năng của tác giả,công tác tổ chức chỉ đạo của Ban biên tập; sự động viên, khích lệ của chínhquyền địa phương và đặc biệt là sự ủng hộ và đón nhận của đông đảo côngchúng
Trang 33Cơ sở lý luận báo chí truyền thông chỉ ra rằng, tác phẩm báo chí là mộtchỉnh thể, bao gồm hai yếu tố nội dung và hình thức Hai yếu tố này có mốiquan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, chi phối lẫn nhau tạo nên tác phẩm báochí hoàn chỉnh.
1.4.3.1 Tiêu chí về nội dung
Thông tin phải thời sự, cập nhật, phải phong phú, hấp dẫn mang lại chocông chúng một lượng thông tin mới về hoạt động của chính quyền địaphương, của tổ chức; phản ánh đúng, kịp thời, đi vào những vấn đề thiết thựcnhất mà công chúng đang quan tâm hoặc đang thiếu thông tin
Thông tin phải đảm bảo tính chân thật, tính giáo dục, tính nhân dân, tínhchiến đấu, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân; phải góp phầnquan trọng trong việc cung cấp tri thức, nâng cao dân trí, hình thành và địnhhướng dư luận xã hội lành mạnh; biểu dương các nhân tố mới điển hình tiêntiến và tích cực đấu tranh phê phán cái xấu, tiêu cực Như vậy, việc nâng caochất lượng thông tin báo chí là nâng cao chất lượng nội dung, tăng hàm lượngthông tin của tác phẩm báo chí, đồng thời đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận vàphương thức thể hiện thông tin
Bài báo hay không chỉ thể hiện ở việc đưa thông tin nhanh, đúng, trúng,hay, mà quan trọng nhất là có giá trị giáo dục, cổ vũ, động viên, tạo sự đồngthuận trong nhân dân, ủng hộ chủ trương chung của tỉnh Trong trường hợpnày, thông tin đi trước một bước, vừa làm tốt việc dự báo, định hướng và thúcđẩy sự phát triển xã hội
1.4.3.2 Tiêu chí về hình thức
Một tác phẩm báo chí đạt chất lượng tốt trước hết phải là một tác phẩmhoàn thiện, thống nhất về hình thức Tác phẩm đó phải là một chỉnh thể thốngnhất của thể loại, nguyên vẹn, hài hòa, phù hợp với nội dung phản ánh Ví dụ,khi viết bài về định hướng xây dựng CQĐT chủ động tương tác với người
Trang 34dân, nhà báo nên chọn thể loại viết bài phản ánh hoặc phỏng vấn, nên liên hệ
để phỏng vấn lãnh đạo đầu ngành chuyên môn (Giám đốc Sở Thông tin vàTruyền thông) hoặc cấp có thẩm quyền cao nhất của tỉnh (Bí thư hoặc Chủtịch Ủy ban nhân dân tỉnh), không nên viết tin vì thể loại tin không thể chuyểntải hết các nội dung thông tin, không thể hiện được mức độ quan trọng củavấn đề, không thể hiện được thái độ, lao động nghiêm túc của nhà báo đối vớivấn đề
Ngoài ra, tác phẩm báo chí đạt còn cần được thể hiện một các sinh động,giàu hình ảnh, giàu chi tiết, giàu hàm lượng thông tin, có minh họa bằng hìnhảnh, đồ họa… có dẫn chứng đáng tin cậy từ nhiều nguồn tin khác nhau, có địachỉ cụ thể… Vốn ngôn ngữ và khả năng diễn đạt, lập luận của nhà báo càngsắc sảo thì tác phẩm càng giàu sức thuyết phục, càng có khả năng tác độngsâu sắc đến tình cảm, sự đón nhận của công chúng, có sức lay động và tácđộng đến suy nghĩ, cảm nhận, nhận thức của công chúng
Thông tin báo chí phải được chuyển tải bằng các hình thức, phương phápthể hiện thuyết phục, dễ hiểu: thông thường là thể loại tin, phỏng vấn, bàiphản ánh, tường thuật Đối với các thông tin của chính quyền địa phương cầnnhanh chóng đưa tin ban đầu về sự việc, sự kiện nhưng cũng rất cần nhữngbài phản ánh tiếp cận vấn đề ở các góc nhìn đa chiều, phân tích sâu nhữngđiểm mới, những đột phá, những mặt thành công hoặc hạn chế và đưa ra cácgiải pháp giải quyết vấn đề từ góc nhìn báo chí Những bài báo có chiều sâuthông tin, có trách nhiệm với cơ sở như vậy luôn rất được công chúng trântrọng và đón nhận Ngoài ra, những bài báo phân tích, phản biện cũng đượctrân trọng không kém, tuy nhiên, viết bài phản biện không dễ, không chỉ bởiviệc tiếp cận thông tin khó mà còn bởi lựa chọn và diễn đạt nội dung phảnbiện sao cho thuyết phục, hợp tình hợp lý và đề xuất được các giải pháp giảiquyết vấn đề còn khó hơn, đòi hỏi tầm cao văn hóa và tri thức của nhà báo
Trang 351.5 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng chính quyền điện tử
Thập niên đầu của thế kỷ XXI, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, coitrọng phát triển ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan Nhà nước, xácđịnh đây là động lực góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới tạo khả năng đi tắt,đón đầu để thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Năm 2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩymạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững và hội nhập quốc tế với quan điểm “Ứng dụng, phát triển CNTT trong tất cả các lĩnh vực, song có trọng tâm, trọng điểm Ưu tiên ứng dụng CNTT trong quản lý hành chính, cung cấp DVC, trước hết là trong lĩnh vực liên quan tới doanh nghiệp, người dân như giáo dục, y tế, giao thông, nông nghiệp…” Nghị quyết đã xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2020 “triển khai
có hiệu quả chương trình cải cách hành chính, gắn kết chặt chẽ với việc xây dựng CPĐT và cung cấp DVCTT ở mức độ cao và trong nhiều lĩnh vực”.
Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, năm 2015, Chính phủ ban hành Nghịquyết 26/NQ-CP ngày 15/4/2015 của Chính phủ về Chương trình hành độngcủa Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01/7/2014 của BộChính trị về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêucầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế Đến ngày 14/10/2015, Chính phủtiếp tục ban hành Nghị quyết 36a/NQ-CP Đây là Nghị quyết đầu tiên tập
trung về Chính phủ điện tử nhằm “Đẩy mạnh phát triển CPĐT, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Nâng vị trí của Việt Nam về CPĐT theo xếp hạng của Liên Hợp Quốc Công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước trên môi trường mạng”.
Trang 36Trên cơ sở đó, các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng và đạtđược những kết quả bước đầu quan trọng làm nền tảng trong triển khai xâydựng CPĐT Ngày 21/4/2015, Bộ TT&TT ký ban hành Khung kiến trúcChính phủ Việt Nam phiên bản 1.0 làm căn cứ để các bộ ngành, tỉnh xây dựngKiến trúc CPĐT chi tiết của đơn vị, tiết kiệm thời gian và nguồn lực, đồngthời đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa các bộ ngành, tỉnh Theo đó, tỉnhTiền Giang cũng đã ban hành Quyết định 495/QĐ-UBND ngày 14/3/2017 phêduyệt Kiến trúc CQĐT tỉnh Tiền Giang phiên bản 1.0 giúp lãnh đạo tỉnh có cơ
sở đưa ra các quyết định đầu tư triển khai CQĐT kịp thời, chính xác; nâng caohiệu quả, chất lượng các DVCTT, triển khai ứng dụng CNTT trong các cơquan nhà nước tại tỉnh Tiền Giang ngày càng phát triển cả về chiều sâu vàchiều rộng
Nghị quyết 36a/NQ-CP đã định hình phát triển CPĐT giai đoạn
2015-2017, Chính phủ kịp thời cập nhật xu thế, vận động thực tiễn từ việc xây dựngCPĐT các bộ ngành, CQĐT ở các địa phương Khắc phục nhược điểm, kếthừa những thành quả đạt được; đồng thời cập nhật xu hướng mới phù hợpthực tiễn CPĐT, Nghị quyết 17/NQ-CP ngày 07/3/2019 về một số nhiệm vụ,giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, địnhhướng 2025 Theo đó, ngày 08/10/2019, Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giangban hành Kế hoạch số 328/KH-UBND xây dựng, phát triển chính quyền điện
tử, hướng tới chính quyền số của tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2019-2020, địnhhướng đến 2025 Tỉnh ủy Tiền Giang đề ra Chương trình hành động số 52-CTr/TU ngày 22/01/2020 thực hiện Nghị quyết 52-NQ/TW của Bộ Chính trị
về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia Cuộc cách mạng côngnghiệp lần thứ tư
Nhìn chung, tỉnh Tiền Giang đã khởi động việc xây dựng và phát triểnchính quyền điện tử từ rất sớm khi trung ương có chủ trương thực hiện Thời
Trang 37gian đầu, địa phương còn lúng túng do thiếu cơ sở pháp lý và cơ sở hạ tầngcông nghệ thông tin chưa đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở Hiện tại, việc đầu tư hạtầng phát triển chính quyền điện tử đã hoàn thiện từ tỉnh đến cơ sở: Tất cả các
cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện, xã trên địa bàn tỉnh đãđược trang bị máy tính đáp ứng nhu cầu công việc Tỷ lệ máy tính/cán bộcông chức: Đạt 01 máy/cán bộ công chức (đối với cấp tỉnh, huyện); đạt 0,8máy/cán bộ công chức (đối với cấp xã); Tỷ lệ máy tính kết nối Internet/tổng
số máy tính đạt 96,0% 100% các sở, ban ngành, UBND các huyện, thị xã,thành phố kết nối với mạng diện rộng của tỉnh bằng đường truyền số liệuchuyên dùng, tăng cường bảo mật thông tin, kết nối ổn định đáp ứng cơ bản
sử dụng vận hành các hệ thống thông tin đã triển khai Bên cạnh đó, đã dầnthay đổi nhận thức, thói quen, hành vi của công dân sống và làm việc trongmôi trường điện tử, hướng đến chuyển đổi số trong tương lai
Trang 38Tiểu kết chương 1
Có thể thấy rằng CPĐT là một xu thế phát triển tất yếu của các quốc giatrên toàn thế giới, bởi lợi ích thiết thực và hiệu quả của nó đối với người dâncũng như hoạt động của chính phủ và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia.Chính phủ điện tử hướng đến cung cấp dịch vụ cho người dân và doanhnghiệp ở mọi lúc Chính phủ điện tử 24/7 cho phép công dân tương tác vànhận dịch vụ từ chính phủ 24 giờ trong ngày và 7 ngày trong tuần, qua đó,giảm được chi phí thời gian và tiền của, giảm được nạn nhũng nhiễu trong độingũ cán bộ, công chức, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công Chínhphủ điện tử tạo ra phong cách lãnh đạo mới, phương thức mới, cung cấp dịch
vụ cho người dân và nâng cao năng lực quản lý điều hành đất nước
Với mục tiêu chính phủ đặt ra, việc xây dựng và phát triển chính quyềnđiện tử ở các địa phương đang trở nên sôi động Tiền Giang là một trongnhững tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long đang xây dựng CQĐT mang lại kếtquả đáng ghi nhận; trong đó không thể nhắc đến vai trò tuyên truyền, truyềnthông của báo chí địa phương
Chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quanđến truyền thông về chính quyền điện tử Tác giả luận văn đã đưa ra kháiniệm: Truyền thông, truyền thông về chính quyền điện tử; vai trò và nội dungcủa báo chí đối với hoạt động truyền thông CQĐT; tìm hiểu phương thứctruyền thông; tiêu chí đánh giá hoạt động truyền thông; quan điểm, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước về CQĐT,… Thông qua việc nghiên cứu, phân tíchcác nội dung trên, tác giả đã tạo được các thông tin khái quát nhất để chuẩn bịnghiên cứu thực trạng truyền thông về chính quyền điện tử tại chương 2
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG VỀ CHÍNH QUYỀN ĐIỆN TỬ
TRÊN BÁO CHÍ TỈNH TIỀN GIANG 2.1 Giới thiệu chung về báo chí tỉnh Tiền Giang
2.1.1 Báo Ấp Bắc
Tên báo Ấp Bắc gắn liền với sự kiện Chiến thắng Ấp Bắc (ngày02/01/1963) Địa danh Ấp Bắc thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh MỹTho (ngày nay là tỉnh Tiền Giang), nơi diễn ra trận đánh lớn nhất miền Nam
kể từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết Chiến thắng Ấp Bắc là trận đầuđánh bại chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” và là dấu hiệu phá sảnchiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và quân đội Sài Gòn
Báo Ấp Bắc trực thuộc Tỉnh ủy Tiền Giang, là cơ quan ngôn luận Đảng
bộ, chính quyền tỉnh, có nhiệm vụ tuyên truyền chủ trương, đường lối, chínhsách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn tin cậy để nhân dân phảnánh, bày tỏ nguyện vọng đến các cấp lãnh đạo tỉnh và trung ương
Báo Ấp Bắc: Phát hành 03 kỳ/tuần (thứ hai, thứ tư và thứ sáu), 12 trang
Số lượng phát hành: 5000 tờ/kỳ Ấn phẩm báo được phát hành tới các cơquan, đơn vị cấp tỉnh đến các chi bộ, chi hội cơ sở và một số địa chỉ ở cáctỉnh, thành phố trong nước Tỉnh đạt chỉ tiêu 100% xã, phường, thị trấn có báođến trong ngày
Báo Ấp Bắc điện tử (http://baoapbac.vn/): Phát hành bằng 2 ngôn ngữ(tiếng Việt và tiếng Anh), cập nhật thông tin thường xuyên trên 50 chuyêntrang, chuyên mục, trong đó sử dụng một phần tin, bài của báo in Báo điện tửđược đông đảo bạn đọc đón nhận với lượng truy cập 150.000 lượt/ngày.Ngoài ra, trên báo còn cung cấp nội dung báo in (đọc trên môi trường điện tử)
để hỗ trợ người dân ngoại tỉnh, ngoài nước có thể thụ hưởng các nội dung của
Trang 40báo Báo còn phát triển trên các nền tảng như Facebook, kênh Youtube, appdành cho điện thoại di động.
Những năm qua, Báo Ấp Bắc đã bám sát các chủ trương, chính sách củaNhà nước để đẩy mạnh công tác tuyên truyền có trọng tâm trọng điểm Từ khi
có chủ trương xây dựng và phát triển chính quyền điện tử trên địa bàn tỉnh,Báo Ấp Bắc đã tích cực vào cuộc và có những đóng góp vào thành côngchung của chương trình
2.1.2 Đài Phát thanh - Truyền hình Tiền Giang
Đài Phát thanh - Truyền hình Tiền Giang tiền thân là Đài Phát thanhTiền Giang chính thức phát sóng vào ngày 16/9/1979, đánh dấu sự kiện báochí cách mạng Tiền Giang có thêm loại hình báo chí mới (báo nói) Đến năm
1995, Đài chính thức phát sóng truyền hình Từ đây, Đài PTTH Tiền Gianghoạt động trên cả hai lĩnh vực phát thanh và truyền hình, thực hiện chức năng,nhiệm vụ “Là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và là diễn đàn của nhân dânTiền Giang Đài lập kênh thông điện tử, Fanpage và kênh Youtube lan tỏathông tin trên môi trường Internet
Hiện nay, kênh Phát thanh Tiền Giang đang phát sóng chương trình phátthanh với thời lượng 18 giờ/ngày, có 4 nhóm nội dung chính, gồm: Cácchương trình chính luận, chương trình khoa giáo, chương trình giải trí,chương trình nhân đạo xã hội và thông tin kinh tế, được phát sóng trên tần số
FM 96,2MHz với thời lượng 18 giờ/ngày Phạm vi phủ sóng các tỉnh miềnTây và miền Đông Nam Bộ Ngoài ra, chương trình phát thanh của Đài cònđược truyền dẫn phát sóng trên vệ tinh Vinasat 1 và phát trực tuyến trênwebsite của đơn vị tại địa chỉ http://www.thtg.vn/
Kênh Truyền hình Tiền Giang đang phát sóng chương trình truyền hìnhvới thời lượng 24 giờ/ngày, có 4 nhóm nội dung chính, gồm: Các chươngtrình chính luận, chương trình khoa giáo, chương trình giải trí, chương trình