1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

luận văn thạc sĩ quản trị nội dung chuyên đề truyền hình của đài PT TH cà mau​

126 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 297,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua kỹ năng phân tích những điểm khác biệt, đổi mới trong quytrình sản xuất truyền hình số; thông qua phương pháp khảo sát, phân tích,đánh giá thực trạng về quy trình sản xuất chươ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN NGỌC LƯU LY

QUẢN TRỊ NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN

HÌNH CỦA ĐÀI PT-TH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Cà Mau - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRẦN NGỌC LƯU LY

QUẢN TRỊ NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN

HÌNH CỦA ĐÀI PT-TH CÀ MAU

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học định hướng ứng dụng Mã số:

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu phân tích và đánh giá của luận văn hoàn toàn dựa trên cơ sở thực tế tìmhiểu, nghiên cứu, trung thực, khách quan, chưa từng được công bố ở bất kỳcông trình nào khác Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình của mình

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Lưu Ly

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cám ơn PGS.TS Vũ Quang Hào, người đã địnhhướng cho tôi trong lựa chọn đề tài và tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu hoànthành luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Viện Đào tạo Báo chí vàTruyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốcgia Hà Nội đã giảng dạy và giúp cho tôi có những kiến thức khoa học về quảntrị nội dung chuyên đề truyền hình trong thời đại số hóa.

Tôi xin trân trọng cám ơn lãnh đạo Phòng Thời sự - Chuyên đề, BanGiám đốc Ðài PT-TH Cà Mau đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luậnvăn này

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Lưu Ly

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do lựa chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 14

7 Bố cục của luận văn 15

Chương 1 CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH - LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ 16

1.1 Các khái niệm cơ bản 16

1.1.1 Chương trình truyền hình 16

1.1.2 Nội dung chuyên đề truyền hình 18

1.1.3 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 19

1.2 Chương trình chuyên đề truyền hình: Đặc điểm và tiêu chí xây dựng nội dung chương trình 22

1.2.1 Đặc điểm của các chuyên đề truyền hình 22

1.2.2 Tiêu chí để xây dựng nội dung chuyên đề truyền hình 24

1.3 Vai trò của quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 24

1.3.1 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình giúp định hướng, tư tưởng trong công tác tuyên truyền 24

1.3.2 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình cung cấp thông tin, kiến thức, giải trí cho công chúng 26

1.3.3 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình góp phần nâng cao vị thế của Đài truyền hình 27

1.3.4 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình giúp Đài truyền hình có cơ hội phát hiện, phát triển những đề tài sâu, kịp thời hơn 28

Trang 6

1.4 Nội dung, phương thức quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 28

1.4.1 Nội dung quản trị 28

1.4.2 Phương thức quản trị 33

Tiểu kết chương 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH TẠI ĐÀI PHÁT THANH -TRUYỀN HÌNH CÀ MAU 36

2.1 Giới thiệu về Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau và Phòng Thời sự - Chuyên đề 36

2.1.1 Đôi nét về Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau 36

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Phòng Thời sự - Chuyên đề 38

2.2 Các khía cạnh quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 38

2.2.1 Quản trị số lượng các chuyên đề truyền hình 38

2.2.2 Quản trị mục tiêu nội dung chuyên đề truyền hình 40

2.2.3 Quản trị kế hoạch sản xuất nội dung chuyên đề truyền hình 49

2.2.4 Quản trị quy trình sản xuất nội dung chuyên đề truyền hình 50

2.2.5 Quản trị phản hồi nội dung chuyên đề truyền hình 54

2.3 Phương thức quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 55

2.3.1 Quản trị bằng chế độ thông tin, báo cáo 55

2.3.2 Quản trị bằng nội quy, quy chế làm việc tại cơ quan 55

2.3.3 Quản trị bằng chế độ kiểm tra, giám sát 55

2.3.4 Quản trị bằng chế độ chính sách 56

2.4 Đánh giá về kết qủa quản trị nội dung chuyên đề truyền hình của Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau 57

2.4.1 Thành công và nguyên nhân của thành công 57

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 62

Tiểu kết chương 2 68

Chương 3 ĐỀ XUẤT HƯỚNG QUẢN TRỊ NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH CỦA ÐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH CÀ MAU 70

Trang 7

3.1 Vấn đề đặt ra trong quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 70

3.1.1 Nhu cầu tiếp nhận của công chúng Cà Mau đối với chuyên đề truyền hình 70

3.1.2 Vấn đề đặt ra trong sản xuất nội dung chuyên đề truyền hình 71

3.2 Giải pháp và khuyến nghị góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị nội dung chuyên đề truyền hình của Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau 74

3.2.1 Giải pháp quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 74

3.2.2 Khuyến nghị về quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 88

Tiểu kết chương 3 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

PHỤ LỤC 97

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: 27 chuyên đề truyền hình định kỳ trên sóng Đài PT-TH Cà Mau 44

Bảng 4: Sắp xếp các chuyên đề theo hướng mới 78

Bảng 5: Format “Tạp chí Xây dựng Đảng và Chính quyền” 79

Bảng 6: Format “Hộp thư truyền hình” 84

Bảng 7: Format “Mái ấm An cư” 88

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản trị nội dung chuyên đề truyền hình 37

của Đài PT-TH Cà Mau. 37

Biểu đồ 2.2: Sự hài lòng của khán giả đối với các chuyên đề truyền hình 46

Sơ đồ 2.2 Quy trình quản trị kế hoạch sản xuất nội dung chuyên đề truyền hình của Phòng Thời sự - Chuyên đề 50

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Truyền hình là một loại hình báo chí bên cạnh những đặc điểm chungcủa báo chí nó còn có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của truyềnhình Đó là tính thời sự Bên cạnh chương trình thời sự, có một mảng nộidung không bao giờ thiếu được trên sóng truyền hình đó chính là chuyên đề

“Hệ thống chương trình này rất đắc dụng trong việc phản ánh hiện thực khách quan và có đối tượng công chúng xác định, nó đáp ứng nhu cầu phân tích, lý giải, bình luận và góp phần quan trọng tạo nên tính định kỳ của tổng thể kênh sóng Các chuyên đề bù đắp phần lớn sự thiếu hụt trong cấu trúc thông tin về các mặt, các lĩnh vực, các vấn đề của thực tiễn mà các nội dung thời sự và văn nghệ chưa giải quyết được hoặc đáp ứng nhu cầu của một nhóm đối tượng chuyên biệt.” theo TS Bùi Chí Trung.

Với các Đài Truyền hình địa phương, chuyên đề truyền hình (CĐTH)còn đóng một vai trò quan trọng khác là làm cho kênh sóng thực sự sinh độnghơn và tạo được sự chú ý của khán giả bởi những vấn đề thực tiễn có liênquan trực tiếp đến nơi họ sinh sống

Dù có nhiều chương trình mới ra đời, nhưng chuyên CĐTH luôn được ĐàiPhát thanh - Truyền hình (PT-TH) Cà Mau phát sóng định kỳ Nếu chương trìnhthời sự cập nhật những tin tức vừa diễn ra thì trong chuyên đề nội dung đượcphản ánh giúp người xem có cái nhìn đa chiều về các lĩnh vực của đời sống xãhội Chuyên đề luôn giúp cho khán giả hiểu về con người, vùng đất Cà Mau.Đồng thời, góp phần quan trọng trong công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục,

tư tưởng, định hướng thẩm mỹ, đạo đức lối sống cho công chúng, nâng cao đờisống văn hoá, tinh thần của Nhân dân trong tỉnh; phục vụ đắc lực cho sự nghiệpđổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 10

Mặt tích cực của xây dựng phát sóng chuyên đề đã rõ nhưng từ trướcđến nay, trong thực tiễn hoạt động, Đài chưa quan tâm nhiều đến quản trị nộidung các chuyên đề Xem đây là những chương trình phối hợp với ngành nêntuyên truyền nội dung gì phần lớn do ngành quyết định Nếu không thực hiệnđúng sẽ ảnh hưởng đến sự ký kết hợp đồng giữa hai bên từ đầu năm Quản trịnội dung chưa được chú trọng nên đã không phát huy được hiệu quả trongnâng cao chất lượng phát sóng các chuyên đề trong thời gian qua Mặc dù cácchuyên đề vẫn lên sóng, nhưng công chúng đã có sự thay đổi trong lựa chọncác kênh phát sóng, chương trình để xem, thông tin để đọc Sự cạnh tranh vềcông chúng không chỉ giữa các chương trình trong cùng hệ thống PT-TH màcòn với báo online, mạng xã hội Các phương tiện truyền thông hiện đại đãtác động lên các nhóm đối tượng công chúng, điều đó đặt ra cho những ngườisản xuất các CTTH nói chung, CĐTH nói riêng thách thức không nhỏ.

Làm thế nào để các CĐTH vẫn nhận được sự quan tâm của khán giả.Trong khi chương trình thời sự, chương trình giải trí của Đài PT-TH Cà Mau,vẫn có lượng khán giả nhất định, đối với các CĐTH thì tỉ lệ người xem khôngcao theo kết quả khảo sát của Cục Thống kê tỉnh Cà Mau Ngoài nguyên nhânđược đề cập ở trên, còn có lý do là từng chuyên đề được khai thác nghiêng vềmột chủ đề, lĩnh vực cụ thể vô hình chung chỉ hướng tới một đối tượng khán giả

Dù là chương trình chính luận, nhưng có một điểm khác biệt so vớichương trình thời sự là CĐTH có kết cấu mở và cơ chế thực hiện, phát sóngthoáng hơn Do đó, các doanh nghiệp có thể hợp đồng tài trợ, quảng cáo trongnội dung chuyên đề nếu thấy phù hợp Điều này giúp cho sản phẩm, thươnghiệu doanh nghiệp dễ dàng đến với người tiêu dùng, mà Đài cũng có thêmnguồn thu Đây cũng là vấn đề quan trọng để Đài tiến tới tự chủ tài chính theo

lộ trình của Chính phủ đã đề ra vào năm 2020, nhưng vẫn đảm bảo đời sốngcủa viên chức, người lao động được ổn định và ngày một nâng cao

Trang 11

Xuất phát từ yêu cầu thiết thực và khách quan đó, tôi chọn đề tài

“Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình của Đài PT-TH Cà Mau” để

nghiên cứu chỉ ra thực trạng quản trị nội dung CĐTH ở Phòng Thời sự Chuyên đề, Đài PT-TH Cà Mau Đồng thời đề xuất những giải pháp quản trịnội dung các chuyên đề trong thời gian tới

-2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Hiện những tài liệu về sản xuất CTTH chuyên đề được nghiên cứu bởicác học giả, tác giả được chia thành hai nhóm vấn đề như sau:

- Nhóm 1 các vấn đề lí luận lí thuyết về CĐTH, sản xuất CTTH

1 Thạc sĩ Phạm Thị Sao Băng (2005), Giáo trình công nghệ sản xuất chương trình truyền hình, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội.

Giáo trình đề cập đến quy trình chung sản xuất một CTTH

2 Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn (1995-2005), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa Hà Nội.

“Chương trình truyền hình” được định nghĩa là một phân đoạn của nộidung dự định để phát sóng trên truyền hình, mà không phải là một đoạn quảngcáo thương mại, quảng cáo kênh hay quảng cáo phim CTTH có thể hư cấu(như trong những phim hài kịch và phim truyền hình), hoặc không hư cấu(như trong tài liệu, tin tức và truyền hình thực tế) Nó có thể là chuyên đề(như trong trường hợp của một bản tin trên Đài địa phương và một số bộ phimđược thực hiện cho truyền hình), lịch sử (như trong trường hợp của nhiềuphim tài liệu và phim hư cấu) Chúng có thể cùng chủ yếu là giảng dạy, giáodục, giải trí hay như trường hợp trong tình huống hài kịch và các game show

3 Đinh Văn Hường (2011), Các thể loại thông tấn báo chí, NXB Đại

học Quốc gia Hà Nội

Cuốn sách gồm 6 phần trong đó, tác giả đã dành 4 phần để trình bày các vấn đề lý luận chung về thể loại báo chí, tập trung 3 thể loại: tin, phỏng

Trang 12

vấn và tường thuật Bên cạnh đó, tác giả còn đưa ra những thí dụ cụ thể đểphân tích, chứng minh các thể loại báo chí.

4 Tác giả Trần Bảo Khánh (2003), “Sản xuất chương trình truyền hình”, Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội.

Nội dung cuốn sách đã nói sâu về việc tổ chức sản xuất một CTTH, baogồm đầy đủ các thể loại: Tin, phóng sự truyền hình, chương trình truyền hìnhthực tế… Cuốn sách cung cấp những kiến thức sâu sắc về các khâu để cho rađời một sản phẩm báo chí truyền hình hoàn chỉnh

5 PGS TS Dương Xuân Sơn (2009), Giáo trình Báo chí truyền hình,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội

Trong chương 7 tác giả giới thiệu về “Phương thức sản xuất chươngtrình truyền hình”, cụ thể hóa ở từng loại hình chương trình: Trực tiếp,chương trình qua băng từ và chương trình cầu truyền hình Tại đây, quy trình

tổ chức sản xuất chương trình với từng bước tiến hành cụ thể đã được tác giả

sơ đồ hóa, giúp người đọc hình dung được tương đối đầy đủ về quá trình triểnkhai thực hiện một CTTH Bên cạnh, tác giả nói sâu về tin, phóng sự, phỏngvấn, phim tài liệu truyền hình, những thể loại gần gũi với CTTH chuyên đề

6 GS.TS Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị

Quốc gia Hà Nội

Về lý luận hoạt động tổ chức sản xuất CTTH, tác giả đã giới thiệu mộtcách tương đối khái quát về lĩnh vực truyền hình trong chương 5 Trong 15trang sách, ngoài việc chỉ ra những đặc điểm riêng có, vừa được xem là thếmạnh cũng là điểm yếu của thể loại báo hình, cùng lịch sử phát triển củatruyền hình thế giới và Việt Nam, GS.TS Tạ Ngọc Tấn đã giới thiệu về kỹthuật sản xuất các CTTH với quy trình, các hạng mục công việc và yêu cầutương ứng của nó ở từng thể loại chương trình

Trang 13

7 Nhóm tác giả Bùi Chí Trung (chủ biên), Định Thị Xuân Hòa (đồng

chủ biên), 2015, “Truyền hình hiện đại – Những lát cắt 2015-2016”, Nhà

xuất bản đại học quốc gia Hà Nội

Cuốn sách là đáp án, là những góc nhìn đa chiều về truyền hình hiệnđại, truyền hình truyền thống, truyền hình trong tương lai Mỗi góc nhìn đó vềtruyền hình được luận giải bởi những lát cắt khác nhau

8 TS Bùi Chí Trung, tác giả tập bài giảng “Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề”.

Theo đó, tác giả đã trình bày các vấn đề chính của báo truyền hình:Khái niệm cơ bản về CTTH chuyên đề, đặc trưng, đặc điểm, các thể loạithường dùng, quy trình sản xuất cho đến các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản đểsáng tạo nội dung Công trình là những nghiên cứu chung, không đi sâu vàonhóm đề tài cụ thể nào nên cũng không trùng lặp với đề tài luận văn này

- Nhóm 2 các vấn đề nghiên cứu cụ thể về CĐTH (chủ yếu là luận văn)

và một số chương của sách

1 Tác giả Nguyễn Ngọc Anh, Luận văn thạc sĩ Tổ chức sản xuất

chương trình chuyên đề ở Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương.

Thông qua tiếp cận thực tiễn hiện tại của các Đài PT-TH Bắc Giang,Bắc Ninh về các chương trình chuyên đề: Xây dựng Đảng, Nông nghiệp nôngthôn, Diễn đàn cử tri, Tạp chí kinh tế, Trang văn học nghệ thuật để phântích những mặt được, chưa được trong quy trình tổ chức sản xuất Đưa ranhững đề nghị, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác tổchức sản xuất chương trình chuyên đề ở các Đài PT-TH địa phương

2 Tác giả Bùi Thị Bích Hường (2018) Luận văn thạc sĩ Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện,

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tác giả đã chỉ ra và phân tích những ưu điểm, hạn chế, thực trạng chấtlượng CTTH chuyên đề qua khảo sát tại Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự

Trang 14

(Ban Chuyên đề trước đây) - Đài Truyền hình Việt Nam Luận văn đề xuấtmột số giải pháp khắc phục làm cơ sở cho việc đổi mới cách thức sản xuất,nội dung, hình thức thể hiện và các giải pháp cơ bản để những người làmtruyền hình tham khảo và thực hiện CTTH chuyên đề đạt chất lượng cao Từ

đó góp phần nâng cao chất lượng CTTH chuyên đề nói chung và các sảnphẩm tại Trung tâm Phim tài liệu và Phóng sự (Ban Chuyên đề trước đây) -Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng

3 Tác giả Lê Thị Thanh Nhàn (2017), Luận văn thạc sĩ Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề về biên cương, hải đảo, Đại học

Quốc gia Hà Nội

Có khá nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức sản xuất CTTH và côngtác tuyên truyền về biên cương, hải đảo trên sóng truyền hình Tuy nhiên, tínhđến thời điểm tác giả làm luận văn chưa được tiếp cận với một công trìnhnghiên cứu nào ở mức độ khóa luận tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ hay Tiến sĩ

về vấn đề sản xuất CTTH mang tính chuyên biệt về biên cương, hải đảo Dovậy, tác giả đã nhận diện các điểm mạnh, điểm yếu của mô hình sản xuất ởtrung phương, địa phương, của các đơn vị xã hội hóa làm cơ sở quan trọng, đềxuất những định hướng thay đổi, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cácCTTH chuyên đề về biên cương, hải đảo

Căn cứ điều kiện sản xuất đặc thù cùng với những kinh nghiệm hay rút

ra từ các mô hình tổ chức sản xuất hiện có, tác giả luận văn đề xuất một quytrình gồm 14 bước để tối ưu hóa hiệu quả sản xuất Quy trình này cho phépkhắc phục những hạn chế hiện nay, tập trung vào một số khâu trọng yếu như

kế hoạch, kịch bản, điều độ sản xuất Tất nhiên, để thực hiện được quy trìnhnày còn liên quan đến các giải pháp lựa chọn nhân sự, xây dựng kế hoạch vàcác phương án về vật tư khác

Trang 15

4 Tác giả Nguyễn Vũ Trung (2018) với 3 chương trong Luận văn Thạc

sĩ Vấn đề đổi mới quy trình sản xuất truyền hình của đài phát thanh và truyền hình địa phương trong lộ trình số hóa 2020, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Thông qua kỹ năng phân tích những điểm khác biệt, đổi mới trong quytrình sản xuất truyền hình số; thông qua phương pháp khảo sát, phân tích,đánh giá thực trạng về quy trình sản xuất chương trình của các Đài PT-TH địaphương qua khảo sát Đài PT-TH Hải Phòng và Lào Cai, làm rõ sự đổi mới -những ưu điểm - những hạn chế còn tồn tại trong quy trình sản xuất chươngtrình và các thách thức của Đài PT-TH địa phương khi chuyển sang số hóa;đồng thời đưa ra các kiến nghị, giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quảquy trình sản xuất chương trình của các Đài PT-TH địa phương trong lộ trình

số hóa, phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của truyền hình trong nước vàquốc tế

+ Tác giả Hồ Minh Trử (2006) trong Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lượng và hiệu quả chương trình truyền hình địa phương Đồng bằng sông Cửu Long”, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Nội dung luận văn đã khái quát sự ra đời và vai trò xã hội của Đài

PT-TH Cần Thơ, Đồng Tháp, Vĩnh Long, từ đó nghiên cứu phương pháp đổi mới

và nâng cao chất lượng chương trình của các Đài PT-TH địa phương vùngĐồng bằng sông Cửu Long Qua khảo sát Đài PT-TH Vĩnh Long đưa ranhững đánh giá về hiệu quả phục vụ của CTTH đối với đời sống xã hội Bêncạnh những vấn đề lý luận, đề tài này còn có khả năng góp phần làm sáng tỏhàng loạt vấn đề thực tiễn đang được đặt ra một cách hết sức bức xúc tronghoạt động của loại hình báo chí truyền hình tại các địa phương, mà nhất làtrong điều kiện đặc thù của Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay

+ “Chương trình truyền hình chuyên đề về người yếu thế của Đài Truyền hình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Xoan.

Trang 16

Luận văn đã bám sát trục nghiên cứu được định hướng Từ cư sở lýluận báo chí học, luận văn đã xây dựng được cơ sở lý luận liên quan đến vấn

đề nghiên cứu Ðó là vai trò của các CTTH chuyên đề về người yếu thế trong

sự phát triển nội dung trên các kênh truyền hình nói chung Trên cơ sở nhữngvấn đề lý luận đã xây dựng, luận văn đã khảo sát, đánh giá thực trạng hoạtđộng của các chương trình về người yếu thế của Ðài Truyền hình Việt Nam,dựa trên khảo sát một số chương trình tiêu biểu như Trái tim cho em, Cuộcsống vẫn tươi đẹp, Tạp chí Dân tộc Phát triển…

Luận văn đã chỉ rõ ưu nhược điểm, đặc biệt là nguyên nhân và đưa ranhững kiến giải cho vấn đề còn tồn tại Cùng với việc khảo sát ý kiến phảnhồi của công chúng thụ hưởng và phỏng vấn biên tập viên, tổ chức sản xuấtcác chương trình, làm căn cứ cho việc đề xuất, giải pháp khắc phục nhượcđiểm Ðồng thời, đưa ra một vài dự báo về xu hướng phát triển phù hợp vớithực tế truyền thông trong tương lai

Như đã thấy đề tài các luận văn đã được bảo vệ phần lớn là tập trungvào một lĩnh vực mà chuyên đề thực hiện, còn ở luận văn này, chúng tôi lạinghiêng nhiều sang vấn đề quản trị nội dung các chuyên đề thuộc nhiều lĩnhvực khác mà Đài PT-TH Cà Mau đang thực hiện

Trong số nhiều công trình nghiên cứu về báo chí truyền thông, về sảnxuất các CTTH (trong đó có chuyên đề) chúng tôi đã điểm ở trên, Tác giả

Nguyễn Ngọc Anh, nghiên cứu Tổ chức sản xuất chương trình chuyên đề ở Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương, tác giả Bùi Thị Bích Hường làm về Sản xuất chương trình truyền hình chuyên đề trong bối cảnh truyền thông đa phương tiện, chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập quản trị nội dung CĐTH

Trang 17

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản trị CĐTH, từ đó soi chiếuvào hệ thống chuyên đề của Đài PT-TH Cà Mau để nhận diện những vấn đề vềquản trị nội dung.

- Khảo sát thực trạng sản xuất nội dung CĐTH, thông qua các phỏngvấn sâu, đánh giá mặt được và hạn chế của quản trị CĐTH trong thời gian

qua, lấy đó làm căn cứ để đề xuất những khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng CĐTH trong thời gian tới

- Đặt ra một số vấn đề cần thảo luận trong việc quản trị nội dung hệ thống chuyên đề ở Đài PT-TH Cà Mau

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về CTTH, tiêu chí để xây dựngnội dung CĐTH, nhận diện và đánh giá vấn đề quản trị nội dung CĐTH của ĐàiPT-TH Cà Mau

- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế ở các chuyên đề của Đài PT-TH CàMau trong tiến trình thực thi quản trị nội dung chuyên đề

- Đề xuất hướng quản trị nội dung CĐTH trong môi trường thông tin đadạng như hiện nay tại Đài PT-TH Cà Mau

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình quản trị nội dung CĐTH của Đài PT-TH Cà Mau thông qua

sự thay đổi về cách thức tổ chức sản xuất chuyên đề

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Khảo sát các CĐTH được sản xuất ở Đài PT-TH Cà Mau từ tháng 1 - 12/2019

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận khoa học

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, cụ thể là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ

Trang 18

nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng; quan điểm của Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng; quan điểm của Đảng về nhiệm vụ, vai tròcủa báo chí trong đời sống xã hội Ngoài ra, tác giả còn dựa vào một số khung

lý thuyết về báo chí để làm căn cứ chung trong quá trình nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp quan sát, phân tích nộidung (cả định tính và định lượng) để nghiên cứu đề tài theo mục đích, yêu cầu

đề ra Do số lượng chuyên đề nhiều, sẽ lựa chọn vài chuyên đề thuộc các lĩnhvực khác nhau để tổng hợp, phân tích, nhận xét, đánh giá chất lượng, phươngthức thực hiện như thế nào, để xác định một cách tổng quan nội dung cácchuyên đề đã chọn khảo sát

- Phỏng vấn sâu những người liên quan đến quản trị nội dung CĐTHnhằm làm rõ hơn thực trạng tiếp cận của công chúng về các chuyên đề hiện nay.Đối với người quản lý, sự định hướng chính trị, quản lý Nhà nước, quản trị cácchuyên đề Đối với phóng viên tìm hiểu phương pháp sản xuất các

CĐTH Đối với người xem hài lòng và chưa hài lòng về chuyên đề Từ đó,đánh giá chất lượng, đề xuất những dự định cải tiến nội dung, nâng cao chấtlượng các chuyên đề thông qua quản trị nội dung

- Điều tra khảo sát đối với tất cả các CĐTH của Đài PT-TH Cà Maunhằm nắm bắt những thông tin phản hồi của công chúng làm cơ sở quản trịnội dung

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Trang 19

CĐTH của Đài PT-TH Cà Mau, luận văn có thể gợi mở bước đầu một số vấn

đề lý luận về tiến trình thực thi quản trị nội dung chuyên đề, vốn là vấn đề còn

ít được đề cập đến trong các tài liệu báo chí học ở nước ta Trong khi đây lại

là vấn đề cần thiết có tính định hướng thực tiễn cho việc tổ chức sản xuất tạicác Đài PT-TH Mặt khác, luận văn cũng đặt ra một số vấn đề mang tính lýluận xuất phát từ thực tiễn của một số Đài PT-TH địa phương trong quá trình

tổ chức sản xuất một loại sản phẩm báo chí không mới nhưng đang gặp nhiềukhó khăn

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Những kết quả nghiên cứu của luận văn này cho thấy hàng loạt vấn đềthực tiễn mà Đài PT-TH Cà Mau phải đối diện để xử lý trong quá trình quảntrị CĐTH Đồng thời đây là những gợi mở có căn cứ cho các ê kíp sản xuấtcũng như cho những người giữ vai trò quản trị nội dung chuyên đề ở một ĐàiPT-TH địa phương Nó sẽ giúp ích cho một số Đài PT-TH trong khu vực nhậndiện được những khó khăn thuận lợi và tìm hướng đi cụ thể cho mình về mộtphạm vi sản xuất nội dung vốn cần đầu tư nhân lực cũng như tài chính đáng

kể, đó là sản xuất CĐTH

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Chuyên đề truyền hình - Lý luận và phương thức quản trị.Chương 2: Thực trạng quản trị nội dung chuyên đề truyền hình tại ĐàiPT-TH Cà Mau

Chương 3: Đề xuất hướng quản trị nội dung chuyên đề truyền hình củaĐài PT-TH Cà Mau

Trang 20

Chương 1 CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH - LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG THỨC QUẢN TRỊ

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Chương trình truyền hình

Khái niệm “truyền hình” được định nghĩa trong “Từ điển tiếng Việt:

“Truyền hình ảnh, thường đồng thời có cả âm thanh đi xa bằng radio hoặc bằng đường dây” [30, tr.1124]

Trong tiếng Anh, chương trình là “programme”, CTTH là “programmetelevision” CTTH được hiểu, được phân bổ theo các kênh truyền hình vàđược thể hiện bằng những nội dung cụ thể qua các chương trình bằng các thểloại tác phẩm truyền hình

Thuật ngữ “Chương trình truyền hình” được tiếp cận dưới nhiều góc độ

khác nhau GS.TS Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “Thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất, người

ta dùng chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần, trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát đi theo định kỳ” [37, tr.142] Với nghĩa này

nó bao hàm quá trình sáng tạo ra tác phẩm từ nhiều công đoạn khác nhau.Như vậy ở góc độ nào đó chương trình cũng có thể hiểu là cách gọi cho mộtsản phẩm hoàn chỉnh Từ chương trình bao hàm nhiều vấn đề: nội dung, hìnhthức thể hiện, đối tượng hướng tới, kết quả đạt được

Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn: “Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm

Trang 21

biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [34, tr.113]

Như vậy, các quan niệm trên tương đối thống nhất với đề xuất trong từđiển Tiếng Việt về cách hiểu “chương trình” Quan niệm của PGS.TS DươngXuân Sơn là sự cụ thể hóa cách hiểu thứ hai về thuật ngữ “chương trình

truyền hình” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn Từ các quan điểm, có thể hiểu Chương trình là toàn bộ những nội dung dự kiến hành động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định Chương trình là một loạt các hoạt động được thực hiện với sự hỗ trợ của các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể cho các nhóm khách hàng, nhóm đối tượng đã được định sẵn Tác giả Trần Bảo Khánh trong cuốn Sản xuất các chương trình truyền hình viết “Chương trình truyền hình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [18, tr 30] và “Chương trình tạo thành chu kỳ khép kín những mắt xích trong chuỗi giao tiếp” [18, tr 30] Điều này có thể được lý

giải là bởi CTTH được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thể Cũngtheo tác giả Trần Bảo Khánh, CTTH đề cập đến các vấn đề của đời sống xãhội không phải một cách ngẫu nhiên như vẫn diễn ra, mà nó thường truyền tảicác thông tin từ ngày này sang ngày khác, nhằm phục vụ một công chúng xácđịnh [18, tr 30]

Như vậy, Chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và các cán bộ kỹ thuật dịch vụ Đồng thời đó cũng là quá trình giao tiếp truyền thông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hội Những thông tin mà nó cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì vậy phải được lựa chọn, sắp xếp hợp lý để khán giả có thể tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu Mở rộng

ra, sự lựa chọn đó bao gồm cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp

Trang 22

thể hiện, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của con người Và chính sự lựa chọn đó

sẽ quy định danh mục chương trình được lên sóng trên các Đài truyền hình.

1.1.2 Nội dung chuyên đề truyền hình

Trong các tài liệu tham khảo, chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về

CĐTH Theo Từ điển tiếng Việt, “chuyên đề là vấn đề chuyên môn có giới hạn, được nghiên cứu riêng” [30, tr.187] Như vậy, khái niệm “chuyên đề”

được hiểu bao gồm “chuyên” và “đề” Trong đó, “chuyên” là chuyên sâu,chuyên biệt; “đề” là vấn đề, đề tài, chủ đề

Từ phân tích trên cho thấy “chuyên đề” là vấn đề chuyên môn, chuyênbiệt, chuyên sâu về một vấn đề, chủ đề hay đề tài nào đó, được biểu hiệnthông qua nhiều góc độ, nhằm làm sâu, làm rõ bản chất, sự việc, hiện tượngđược nêu ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, được các Đài chỉ đạo, tổchức thực hiện phát định kỳ trên sóng truyền hình

Sự ra đời tất yếu của CĐTH nhìn từ hai góc độ Thứ nhất, từ phía cơquan báo chí truyền hình: CĐTH là khái niệm chỉ nhiệm vụ chuyên môn củanhà báo trong việc nắm bắt và phản ánh các chủ đề, lĩnh vực chuyên môn thựctiễn theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí Thứ hai, từ phía công chúngtiếp nhận: CĐTH là khái niệm dùng để chỉ cách thức cấu trúc thông tin về cácmặt, các lĩnh vực, vấn đề thực tiễn mà Đài Truyền hình phản ánh phục vụ cácnhóm đối tượng chuyên biệt

Dựa trên những khái niệm, có thể rút ra: Chuyên đề truyền hình là chuỗi tác phẩm truyền hình được phát sóng định kỳ, có nội dung chuyên sâu, chuyên biệt về một vấn đề, chủ đề hay đề tài nào đó, được phản ánh trên quan điểm, lập trường của cơ quan báo chí và hướng tới một đối tượng công chúng xác định.

CĐTH là những chương trình phản ánh hiện thực khách quan nhữngvấn đề mang tính thời sự Nội dung chuyên đề không mang tính hư cấu màphản ánh thực tiễn cuộc sống

Trang 23

CĐTH gồm các đề tài, thể loại truyền hình được xâu chuỗi lại nhằmphản ánh, làm rõ về một hay nhiều vấn đề, sự kiện được khán giả quan tâmmuốn tìm hiểu sâu.

Về nội dung CĐTH, Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Nội dung là mặt bên trong của sự vật cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện” [29,

tr.523] Có thể hiểu từ định nghĩa này, nội dung là những gì chứa đựng bêntrong đối tượng hay phương tiện truyền thông làm ra và hướng đến ngườidùng Kết hợp với nội dung một tác phẩm báo chí gồm nhiều yếu tố làm nêntrong đó có đề tài, chủ đề và chi tiết, là những yếu tố góp phần đem thông tin

đến cho công chúng được đề cập trong cuốn Tác phẩm báo chí của Phân viện Báo chí và Tuyên truyền Từ đó, có thể hiểu: Nội dung chuyên đề truyền hình

đó là thông tin, thông điệp (đề tài, chủ đề, chi tiết) về sự kiện, sự việc nào đó

được gửi đến công chúng qua loại hình truyền hình.

1.1.3 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình

Quản trị trong tiếng Anh có nghĩa là Administration Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản là trông coi, điều khiển”, “Trị là đưa vào khuôn khổ”,

“Quản trị có nghĩa là quản lí, điều hành công việc hàng ngày” [29, tr.840].

Nếu hiểu theo nghĩa này, quản trị là một khái niệm rất rộng, bao gồm ở nhiềulĩnh vực như quản trị quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trịkinh doanh (trong các tổ chức kinh tế)…

Mary Parker Follett (1868-1933) Nhà lý thuyết quản lý Hoa Kỳ trong lý

thuyết quản lý cổ điển đã cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”.

James Stoner (1935) - Giáo sư của Hệ thống quản lý tại Trường Quản trịKinh doanh Gabelli của Đại học Fordham đồng thời là Chủ tịch JamesA.F.Stoner Fordham trong Lãnh đạo Chất lượng Toàn cầu và tác giả Stephen

Robbins định nghĩa về quản trị: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh

Trang 24

đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra”.

Theo TS Hà Văn Hội trong bài viết “Khái niệm và bản chất của quản trị” đăng trên trang Web quantri.vn thì “Quản trị là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của những người khác; quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của

Ba yếu tố điều kiện cơ bản của quản trị, đó là:

Chủ thể quản trị: Là các nhân tố tạo ra các tác động quản trị, đối tượngquản trị tiếp

Mục tiêu đặt ra cho chủ thể quản trị và đối tượng: Đây là căn cứ để chủthể tạo ra các nhân tố tác động Chủ thể quản trị gồm một hoặc nhiều người.Đối tượng là một tổ chức, một tập thể hoặc thiết bị máy móc

Nguồn lực: Nguồn lực giúp chủ thể quản trị khai thác trong quá trìnhquản trị

Quản trị và quản lý là hai khái niệm dễ gây nhầm lẫn Theo Từ điển

Tiếng Việt, “Quản lý là trông coi và gìn giữ; là tổ chức và điều khiển các hoạt động của con người theo yêu cầu nhất định” [27, tr.844] Theo C.Mác

Trang 25

thì “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” Luận điểm này của C.Mác có thể áp dụng với mọi hoạt động

chung của con người trong xã hội Theo tác giả Vũ Quang Hào thì khái niệm

“Quản lý được hiểu là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện tác động của môi trường” [12, tr.2] Như vậy, quản lý là những tác động có mục tiêu,

có kế hoạch, đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định trong mối quan

hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý Hiệu quả của hoạt động quản lý phụ

thuộc vào cơ cấu của tổ chức Có thể rút ra: Quản trị và quản lý đều nói về công việc của người lãnh đạo khi vận hành một cơ cấu tổ chức nào đó Quản trị là toàn bộ quá trình đưa ra các quyết định về chính sách, quy tắc, mục tiêu Đây là các hoạt động cấp cao Quản lý là tiếp nhận, kết nối, thi hành điều phối để hướng tới mục tiêu của quản trị.

Từ các khái niệm về “chuyên đề”, “nội dung chuyên đề truyền hình”,

“quản trị”, tác giả rút ra khái niệm: Quản trị nội dung CĐTH là sự tác động

có tổ chức, mục đích của những người làm công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức sản xuất các CĐTH Quản trị nội dung CĐTH là thông qua lực lượng phóng viên, biên tập viên, quay phim, đạo diễn, kỹ thuật dựng, phát thanh viên… để làm ra thành phẩm các chuyên đề phát trên sóng truyền hình, không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin mà còn giúp khán giả có thêm kiến thức

từ những nội dung chuyên sâu.

Chủ thể của quản trị CĐTH là người quản lý, chỉ đạo, tổ chức sản xuấtcác chuyên đề Đối tượng là tập thể những người tham gia vào quá trình sảnxuất và thiết bị máy móc Nguồn lực giúp người lãnh đạo khai thác trong quátrình quản trị

Để thực hiện các chuyên đề, ngoài nhân lực còn phải có kinh phí Có

“thực mới vực được đạo”, kinh phí có thể do Đài hoặc do bên ngành phối hợp

Trang 26

chi trả, đây là yếu tố quan trọng trong quyết định chất lượng các CĐTH Dựatrên các yếu tố đó, người làm công tác quản trị sẽ phân công ê kíp thực hiệncác CĐTH Việc phân công người phụ trách nội dung CĐTH sẽ dựa vào trình

độ chuyên môn, kỹ năng làm nghề cốt sao phát huy được hiệu quả Với mụctiêu đặt ra là CĐTH sẽ mang lại những thông tin khán giả cần, nội dungphong phú, đa dạng, có sự cân đối hài hòa giữa thông tin, giáo dục và giải trí.Quản trị nội dung CĐTH là làm cho các sản phẩm báo hình được thực hiện tốt

về mặt nội dung, hình ảnh khi phát sóng Không chỉ một vài cá nhân đượcgiao nhiệm vụ thực hiện chuyên đề mang lại hiệu ứng tốt mà yêu cầu tất cảcác chuyên đề cần có sự đầu tư để chất và lượng được nâng lên Nếu vậy, cầnquản trị tốt nội dung CĐTH

1.2 Chương trình chuyên đề truyền hình: Đặc điểm và tiêu chí xây dựng nội dung chương trình

1.2.1 Đặc điểm của các chuyên đề truyền hình

Là một thể loại báo chí mang tính tổng hợp cao (có hình, có tiếng, cóchữ ), truyền hình còn có thể đến được với nhiều người, ở nhiều nơi khácnhau cùng lúc, nên tính chất báo chí nổi bật của truyền hình là tính xã hội vàdân chủ, một mặt hướng tới đông đảo khán giả, mặt khác dành cho chính khángiả tham gia ngôn luận Bên cạnh nhiệm vụ tuyên truyền, truyền hình còn là

vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như lĩnh vực phát triểnkinh tế - xã hội

- CĐTH được hình thành từ những thể loại báo chí như tin, phóng sự,phỏng vấn kết hợp lại với nhau Nếu là một thể loại, CĐTH sẽ thiếu sinh động,nhàm chán đối với khán giả

- CĐTH được ấn định thời lượng và thời gian phát sóng trong tuần hoặctrong tháng Nếu thời sự phát sóng hàng ngày thì CĐTH sẽ được lên kế hoạchphát sóng 1 tuần/kỳ, 2 tuần/kỳ, 1 tháng/kỳ đối với từng chuyên đề cụ thể Giờ phát sóng của CĐTH thường sau chương trình thời sự, tức là từ 20h00 trở đi

Trang 27

- Nếu chương trình thời sự với rất nhiều thông tin nóng hổi được sắpxếp theo trình tự thời gian, không gian, tính chất sự kiện thì CĐTH là cùng mộtnội dung sẽ được triển khai ở nhiều góc nhìn, khía cạnh giúp khán giả có cái nhìnsâu rộng, nhiều chiều Nội dung CĐTH không nhất thiết chuyển tải những gì vừadiễn ra mà cần tập trung vào vấn đề đó được diễn ra như thế nào, tại sao, tác độngcủa nó

- Đối với thời sự, khi có sự kiện, sự việc thì phóng viên được phân công

có mặt để ghi nhận, phản ánh, không câu nệ về sự chuẩn bị vì quan trọng là

thông tin nhanh Còn CĐTH, phóng viên phải nhìn nhận liệu vấn đề có thểphát triển thành chuyên đề hay không để có bước chuẩn bị khi thực hiện Cáccông đoạn lập đề cương dự kiến lời bình, hình ảnh kể cả ý tưởng khi xuất hiệnhiện trường, thu phát biểu, phỏng vấn nhân vật Tất nhiên, sẽ có những tìnhhuống ngoài dự kiến phát sinh trong quá trình thực hiện

- Đặc điểm nhận diện CĐTH đó hầu hết đều được sản xuất theo hình thức ghi hình phát sóng

- Được thực hiện bởi các phương tiện, điều kiện kỹ thuật hiện đại Sự tiếpcận thông tin kịp thời, rộng rãi, tiện lợi và hiệu quả ở tất cả các lĩnh vực đời sống xãhội Đặc biệt là những thành tựu của khoa học, công nghệ mà CĐTH mang đến chokhán giả đã tạo ra sự chuyển dịch không gian, đưa không gian từ xa đến gần hiện hữutrước khán giả một cách chân thực và sinh động

- Không chỉ là một phương tiện thông tin đại chúng, CĐTH còn được

ví như là những lớp học bổ ích cho từng đối tượng cụ thể Do đó, đòi hỏi CĐTHphải có tính định hướng, tính chuẩn mực và tính văn hóa

- Nếu chỉ xét trên phương diện quá trình làm ra một sản phẩm, ở báo in,mỗi tác phẩm, mỗi bài báo có thể là sản phẩm riêng, là sự sáng tạo riêng của mỗi

cá nhân, mỗi nhà báo Nhưng để sáng tạo một tác phẩm truyền hình còn

công phu hơn nhiều, đó là đứa con tinh thần của cả một tập thể Sản phẩm đó thể hiện ý kiến thống nhất của từng thành viên trong ê kíp, giữa người biên

Trang 28

tập và người quay phim Vì vậy, đối với báo in, nhà báo có thể viết đề cươngrồi viết luôn thành bài, còn ở CĐTH do tính chất đặc thù quy định, đề cương

đó được thể hiện ở kịch bản Kịch bản là xương sống cho một tác phẩm truyềnhình, đồng thời tạo ra sự thống nhất giữa đạo diễn và quay phim trong quátrình làm phim, sự ăn ý giữa hình ảnh và lời bình

1.2.2 Tiêu chí để xây dựng nội dung chuyên đề truyền hình

Thế mạnh của CĐTH là chuyển tải những thông tin có chiều sâu, hìnhảnh được đầu tư công phu đến khán giả Ở CĐTH, khán giả không chỉ tìmthấy những thông tin mình quan tâm mà còn được thưởng thức nghệ thuậthình ảnh truyền hình Đây là điểm khác biệt đối với chương trình thời sự(thông tin chỉ cần nhanh, nóng, không cầu kỳ về mặt nội dung, hình thức vàkhông có nhiều thời lượng để đề cập sâu vấn đề) Do đó, tiêu chí để xây dựngnội dung CĐTH:

- Đề tài chuyên đề cần nổi bật, được xã hội quan tâm (chọn đề tài)

- Dự kiến các bước triển khai thực hiện bằng cách lập đề cương chi tiết.Xây dựng cây vấn đề hay còn gọi là xây dựng vấn đề theo cấu trúc hình cây để đàosâu, kỹ vấn đề mình đề cập

- Lên kịch bản hình ảnh và ngôn ngữ chi tiết

- Chuyên đề phản ánh để lại dư âm, ấn tượng đối với khán giả Trong

đó, phát huy thế mạnh tương tác giữa người phóng viên và nhân vật để tạo sự thuhút và ấn tượng với người xem truyền hình

- Tuy chuyên sâu nhưng chuyên đề không nên dàn trải mà súc tích đểkhán giả không bị nhàm chán Nội dung có thể thu hút được sự tập trung chongười xem qua các thiết bị khác nhau như tivi, máy tính bảng, điện thoại

thông minh

1.3 Vai trò của quản trị nội dung chuyên đề truyền hình

1.3.1 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình giúp định hướng, tư tưởng trong công tác tuyên truyền

Trang 29

Trong công tác tuyên truyền, chúng ta thường nói đến tính định hướng,

tư tưởng là một trong những yếu tố rất quan trọng, góp phần nâng cao chấtlượng, hiệu quả tuyên truyền, bởi lẽ mục đích của tuyên truyền là nâng cao

nhận thức, để đi đến hành động đúng Bác Hồ đã dạy: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm Nếu không đạt mục đích đó, là tuyên truyền thất bại” Truyền hình là một trong những công cụ

đắc lực tuyên truyền cho các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước Vì vậy, quản trị nội dung CĐTH đúng định hướng,

tư tưởng là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác lãnh đạo,quản lý của truyền hình

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ:

“Tăng cường sự lãnh đạo của đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong các cơ quan báo chí Khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá, văn nghệ, nhất là xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu thấp kém, vì lợi ích vật chất cá nhân cục bộ”.

Định hướng chính trị tư tưởng đối với truyền hình phải báo đảm một sốvấn đề cơ bản sau: Thông tin nhanh, trung thực về mọi mặt của tình hình đấtnước và thế giới; Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuậttrong nước và thế giới theo đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí, gópphần nâng cao kiến thức, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của Nhân dân,bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển nền dân chủXHCN, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng cơ sở vật chất cho thời

kỳ quá độ lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc Phản ánh kịp thời và hướng dẫn dưluận xã hội; là diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân Pháthiện, biểu dương gương tốt, nhân tố mới; đấu tranh chống các hành vi viphạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác Quản trị tốt nội dungCĐTH chính là thực hiện đảm bảo các yêu cầu đề ra

Trang 30

1.3.2 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình cung cấp thông tin, kiến thức, giải trí cho công chúng

Những năm gần đây, truyền hình phải chịu sự tác động mạnh mẽ củatoàn cầu hóa và Internet Đây vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức khôngnhỏ đối với sự tồn tại và phát triển Nếu công chúng thường bị hấp dẫn bởinhững thông tin thời sự nóng hổi thì chuyên đề có thế mạnh riêng ở phân tíchchuyên sâu, tính lý giải, định hướng, dẫn dắt dư luận cao Ví dụ: 3 cậu bé nhớthương mẹ đã vượt gần 400km bằng xe đạp từ xã ấp Kiến Vàng A, xã ViệtThắng, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau lên TP HCM để tìm Thời sự đưa thôngtin về sự việc nhưng chuyên đề, qua đó, đề cập đến thực trạng nhiều gia đìnhnghèo ở các vùng quê Cà Mau phải “tha hương” khiến cho con cái khôngđược gần gũi cha mẹ dẫn đến nhiều vấn đề khác

Ngoài các nội dung phía ngành đưa ra, phóng viên phụ trách chuyên đềcòn đi sâu phản ánh, giới thiệu những đặc trưng văn hóa, phong tục tập quáncủa địa phương, những mô hình làm ăn điển hình, tiên tiến, xây dựng văn hóa

đô thị, xây dựng nông thôn mới… Các chuyên đề hướng dẫn khoa học, kỹthuật trong sản xuất, phát triển kinh tế, các chương trình tư vấn, chăm sóc sứckhỏe, chọn nghề lập thân, lập nghiệp …

Sự khác biệt của chuyên đề đó chính là không chỉ thông tin mà còn

mang đến cho công chúng kiến thức “Nhu cầu của độc giả là vô cùng và việc biết một thông tin nào đó không thể ngăn cản họ muốn biết thêm nữa”, Rick

Stengel – Tổng Biên tập điều hành của Time cho biết

Truyền hình có sự khái quát triết lý của báo in, tính chuẩn xác cụ thểbằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh, phát thanh, tính hình tượng của hộihọa, cảm xúc tư duy của âm nhạc Quản trị tốt nội dung CĐTH khán giả sẽtìm thấy ở đó thông tin, kiến thức, giải trí

“Tạp chí du lịch” (“Đất và người Cà Mau”) giúp khán giả chưa có điềukiện đến tận nới thì có thể du lịch qua màn ảnh nhỏ Chuyên đề được sản xuất

Trang 31

có sự đầu tư kỹ càng từ khâu lên ý tưởng kịch bản - ra hiện trường - hậu kỳ.Phóng viên biên tập đã kết hợp nhiều thể loại báo chí như phóng sự, phỏngvấn Trong đó, rất chú trọng xuất hiện hiện trường, tương tác với nhân vật,bên cạnh yếu tố nghệ thuật của hình ảnh… nhằm giới thiệu đến khán giả cácđịa điểm tham quan, di tích lịch sử; đình, chùa, miếu mạo, phong tục tậpquán… Qua lăng kính của người quay phim, người xem sẽ hiểu thêm về đặcđiểm hình thành, phát triển của những điểm dừng chân lý tưởng Về Cà Mau,

du khách không chỉ được khám phá, trải nghiệm, hòa mình vào thiên nhiên

mà còn được thưởng thức những món ngon từ rừng, biển và đặc sản do ngườidân làm ra Tính cách phóng khoáng, cởi mở của dân Nam Bộ được thể hiệnmột phần qua cách ăn uống của họ Chuyên đề hấp dẫn khán giả ở sự chânthực, khách quan, sinh động

Không chỉ xem tivi, giờ đây, phương thức truyền tải với sự hỗ trợ củaInternet đã giúp khán giả được tiếp cận thông tin mọi lúc mọi nơi theo nhucầu, sở thích và điều kiện của cá nhân Chỉ cần qua điện thoại di động, máytính bảng có thể xem các CĐTH của Đài PT-TH Cà Mau tại địa chỉwww.ctvcamau.vn, App CTV Online, YouTube, Facebook

1.3.3 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình góp phần nâng cao vị thế của Đài truyền hình

Đài PT-TH là công cụ rất đắc lực phục vụ công tác tư tưởng - tuyêntruyền của Đảng và Nhà nước, diễn đàn của Nhân dân Quản trị nội dungCĐTH không chỉ giúp cho công tác thông tin, tuyên truyền luôn đảm bảođúng định hướng mà Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo mà còn đòi hỏi phải khôngngừng được đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin cũng như hìnhthức thể hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của khán giả

Thời điểm ít kênh truyền hình, báo mạng điện tử chưa phổ biến, khángiả trong tỉnh thường xuyên theo dõi các CTTH, CĐTH Đài PT-TH Cà Mau.Nhưng càng về sau, không ít khán giả chuyển sang đối tượng cung cấp thông

Trang 32

tin khác, như: Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình Thành phố Hồ ChíMinh, Đài PT-TH Vĩnh Long, các báo Online, mạng xã hội Đó là lý do đểcông tác quản trị CĐTH của PT-TH Cà Mau phải chú trọng về yếu tố đổi mớiphù hợp với thị hiếu công chúng không chỉ nhanh mà còn hấp dẫn, bổ ích.Làm được điều này, vị thế của Đài càng được nâng lên.

1.3.4 Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình giúp Đài truyền hình

có cơ hội phát hiện, phát triển những đề tài sâu, kịp thời hơn

Để thấy tác động của chuyên đề đối với khán giả truyền hình ta có thểđặt trong mối tương quan với chương trình thời sự Nếu thời sự là nhữngthông tin được chú ý do vừa diễn ra (xảy ra), thì chuyên đề là những vấn đềđược phát triển từ tin tức thời sự hoặc được phóng viên phát hiện mới

Tin tức “có nhanh đến đâu thì chỉ 2 ngày sau người ta đã không còn nói tới nó nữa” dẫn lời Rick Stengel – Tổng Biên tập điều hành của Time Do đó,

quản trị nội dung chuyên đề là thông qua những tin tức ban đầu, phóng viên cóthể phát triển sâu hơn đối với những nội dung có “vấn đề”, góp phần đưa ranhững cái nhìn đa chiều từ các nhân vật khác nhau Điều đó rất có ích cho khángiả bởi cơ hội phân tích, mổ xẻ vấn đề linh hoạt và sâu sắc hơn Gặp đề tài hay,

dư luận quan tâm phóng viên cần đề xuất với lãnh đạo cho khai thác tận gốc rễ

để vấn đề được giải quyết một cách thỏa đáng Đây chính là điểm nhấn trongcông tác quản trị, là cách để thu hút khán giả theo dõi CĐTH

1.4 Nội dung, phương thức quản trị nội dung chuyên đề truyền hình

1.4.1 Nội dung quản trị

- Quản trị mục tiêu nội dung chuyên đề truyền hình

Từ định nghĩa về quản trị nội dung CĐTH là tiến trình hoạt động có tổchức, mục đích của chủ thể quản trị là Phòng Thời sự - Chuyên đề, Đài PT-

TH Cà Mau thông qua nỗ lực của những người sản xuất, phát sóng cácchuyên đề trên sóng truyền hình Mục đích nhằm cung cấp cho khán giảnhững thông tin, hình ảnh đa chiều về các vấn đề, sự kiện diễn ra trong cuộc

Trang 33

sống hàng ngày Quản trị mục tiêu về nội dung chuyên đề chính là xác định vàlựa chọn mục tiêu phát triển nội dung chuyên đề của Đài Truyền hình Đểthực hiện tốt nội dung này, CĐTH cần được phân biệt với các nhóm chươngtrình khác bằng những đặc trưng cụ thể.

Thứ nhất, Tính chuyên sâu: Đây là thế mạnh của CĐTH bởi sự giảm sút

về chất lượng thông tin của đa loại hình phương tiện truyền thông cũng như

sự phát triển của số lượng kênh thông tin và áp lực cạnh tranh cũng đồng thờikéo theo Trong khi đó CĐTH có khả năng đi sâu phân tích, đánh giá đachiều, lý giải sâu rộng về các vấn đề được xã hội quan tâm Nó không cậpnhật bằng thời sự nhưng hàm lượng thông tin cao Hơn thế, nó còn thể hiện rõràng nhất ý kiến, thái độ, quan điểm của nhóm tác giả và người làm truyềnhình, từ đó tăng tính thuyết phục của thông tin

Thứ hai là Tính định kỳ: Nếu thời sự chỉ vài giờ là phát sóng thì CĐTH

định kỳ hàng tuần, 2 tuần, hàng tháng Tính định kỳ tạo thói quen cho ngườixem trong tiếp nhận thông tin

Thứ ba là Hướng tới đối tượng công chúng cụ thể Có nhiều đối tượng

công chúng nhưng ở họ đều có mối quan tâm chung nhất định Và mối quantâm đó đã trở thành sợi dây liên kết họ với nhau, hình thành những nhómkhán giả đặc thù chuyên theo dõi một CĐTH cụ thể nào đó

Thứ tư là Sử dụng đa dạng các thể loại của báo hình Có thể sử dụng

một hoặc nhiều thể loại báo chí như tin, phóng sự, phỏng vấn, tọa đàm trongCĐTH nhưng vẫn có một thể loại chủ đạo Việc sử dụng một thể loại sẽ làmcho CĐTH không sinh động, hấp dẫn, thu hút người xem và ngược lại

Từ những đặc trưng cơ bản trên, CĐTH được coi là bộ khung cơ bảnhình thành nên tổng thể cấu trúc kênh sóng Chúng cũng được xem là nềntảng cơ bản tạo nên bản sắc hay còn gọi là định vị sự khác biệt của ĐàiTruyền hình

- Quản trị kế hoạch sản xuất nội dung chuyên đề truyền hình

Trang 34

Kế hoạch sản xuất nội dung CĐTH là tập hợp những hoạt động, côngviệc được sắp xếp theo trình tự nhất định để đạt được mục tiêu đã đề ra Đểthực hiện CĐTH giữa Đài và ngành phối hợp thường lên kế hoạch tuần,tháng, năm… tùy theo nội dung và tần suất phát sóng của các chuyên đề Lập

kế hoạch là chức năng rất quan trọng đối với quản trị bởi vì nó gắn liền vớiviệc lựa chọn mục tiêu và quy trình sản xuất nội dung CĐTH

Sau khi có kế hoạch, phóng viên sẽ lập đề cương triển khai thực hiện,

kế đến là khâu tiền kỳ - hậu kỳ, thành phẩm, phát sóng Để CĐTH lên sóng là

sự nỗ lực của cả một tập thể phối hợp ăn ý từ lúc còn là kế hoạch đến khi hìnhthành nội dung hoàn chỉnh Do sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa cáckênh truyền hình nên các CĐTH cần có thế mạnh riêng và trả lời được cáccâu hỏi:

Cái gì? (Nội dung đề cập)

Như thế nào? (Thể loại, hình thức)

Cho ai? (Cho toàn thể công chúng hay một đối tượng riêng biệt)

Khi nào? (Vào thời gian nào phù hợp nhất và vào lúc bắt buộc)

Tại sao (Theo nhu cầu xã hội)

CĐTH cần qua các bước: Có kế hoạch thực hiện cho từng chuyên đề cụthể Bố cục chuyên đề là sự phân bổ, sắp xếp tin bài vào các vị trí xác định, saocho công chúng theo dõi thuận lợi nhất, nhanh nhất và rõ nét nhất trong tiếp cậnthông tin, kiến thức Dựa vào thời gian phát sóng để phân ra các CĐTH riêngbiệt Việc phân bổ chuyên đề trở thành phương pháp thu hút sự chú ý của côngchúng truyền hình Thông qua các chuyên đề, thể loại cùng với hoàn cảnh thực tếcủa người xem, việc phân bổ này xuất phát từ mục tiêu đảm bảo cho sự tác độngcủa chương trình và công chúng một cách mạnh mẽ nhất

Hiện tại, với sự phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ, cácCTTH đã được chuyên biệt hóa và phát qua nhiều kênh khác nhau, từ mànhình tivi truyền thống đến điện thoại thông minh vì thế thách thức của

Trang 35

những người quản trị kế hoạch sản xuất nội dung ngày càng lớn Nhất là trongđiều kiện kinh tế “thắt lung buộc bụng” nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượngnội dung CĐTH không được giảm.

- Quản trị quy trình sản xuất nội dung chuyên đề truyền hình

Đối với một Đài Truyền hình, quá trình sản xuất bắt đầu bằng việc sángtạo các tác phẩm truyền hình Các tác phẩm này do phóng viên là người trực tiếpsáng tạo Nó thể hiện bản lĩnh chính trị, năng lực và trách nhiệm xã hội của nhàbáo truyền hình Uy tín, ảnh hưởng của một Đài Truyền hình trước hết được quyđịnh bởi khả năng nắm bắt thực tiễn, phát hiện những vấn đề nổi cộm, có ý nghĩa

và phản ánh chúng một cách kịp thời tới khán giả, góp phần nâng cao nhận thức,

mở rộng hiểu biết và định hướng tư tưởng cho công chúng Toàn bộ những côngviệc sáng tạo của người phóng viên và ê kíp thực hiện nhằm tạo ra tác phẩmtruyền hình chính là quy trình sản xuất nội dung CTTH

Mặc dù là mảng nội dung quan trọng của bất cứ kênh truyền nào nhưngtrong các cách phân chia loại hình CTTH, chưa có khái niệm “chuyên đề”.Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất, “chuyên đề” đều đã có mặt trên các kênhsóng truyền hình thế giới cũng như ở Việt Nam Vì vậy cho đến nay, tiêu chí

để phân loại CTTH chưa thống nhất Tài liệu Sản xuất các chương trình truyền hình của tác giả Trần Bảo Khánh giới thiệu cách phân loại CTTH của

một số nước phát triển: loại sản xuất trực tiếp với hai tiểu loại là sản xuấttrong studio và sản xuất ngoài trời; loại sản xuất có hậu kỳ

Căn cứ vào phương thức sản xuất chương trình, GS.TS Tạ Ngọc Tấn

phân biệt: Chương trình truyền hình trực tiếp, chương trình sản xuất qua băng từ và chương trình phim truyện [37, tr.144-145].

Trong giáo trình Báo chí truyền hình PGS TS Dương Xuân Sơn nhận định: Dựa vào khả năng kỹ thuật và công nghệ, có thể phân chia các loại phương thức sản xuất chương trình truyền hình: Chương trình bằng băng từ, chương trình phim nhựa, chương trình phát trực tiếp.

Trang 36

Các chương trình này có thể được thực hiện nơi bối cảnh xảy ra, cũng

có thể được thực hiện ở trường quay, giống như thực hiện một tác phẩm điệnảnh Riêng chương trình sản xuất bằng phim nhựa, vì giá thành rất cao nênhầu như không được sử dụng trong truyền hình Vì vậy, trong sản xuất CTTHthường có hai loại: băng từ và trực tiếp Ngày nay, băng từ đã được thay thếbằng các file dễ dàng trong ghi hình và lưu trữ (ổ cứng máy tính)

CĐTH là kết quả của quá trình sáng tạo từ nhiều công đoạn Quản trịphải CĐTH bao quát được kế hoạch, chính sách cho các công đoạn cụ thể củaquá trình sản xuất đó là: Bước 1: Khảo sát thực tế, xác định đề tài và khả năngthực hiện; Bước 2: Viết đề cương kịch bản; Bước 3: Duyệt đề cương kịch bản;Bước 4: Sản xuất tiền kỳ và hậu kỳ; Bước 5: Dựng thô và viết lời bình; Bước6: Duyệt lời bình; Bước 7: Hoàn thiện tác phẩm; Bước 8: Duyệt tác phẩm;Bước 9: Phát sóng; Bước 10: Theo dõi phản hồi

- Quản trị thông tin phản hồi về nội dung chuyên đề truyền hình

Thông tin là quá trình trao đổi giữa người gởi và người nhận Phản hồi

theo Từ điển Tiếng Việt là “quay trở về, tác dụng trở lại hay liên hệ theo chiều ngược, giữa đầu ra và đầu vào của một hệ thống” [29, tr.780].

Quản trị thông tin phản hồi tức là người làm công tác quản trị nắm bắtđược sự phản hồi thông tin từ cấp dưới để kịp thời động viên, hỗ trợ, địnhhướng, điều chỉnh… Sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trịgiúp cho các bên hiểu nhau cùng hướng đến mục tiêu nâng cao kết quả vàhiệu quả làm việc

Quản trị thông tin phản hồi còn là sự thu thập cẩn thận các thông tinhoặc một vài khía cạnh về chất lượng, hiệu quả các CĐTH phát sóng Mộttrong nhưng phương pháp để tiếp nhận thông tin phản hồi về nội dung CĐTH

là điều tra xã hội học khán giả Mục đích của điều tra xã hội học giúp nắm bắt

dư luận, đón nhận những thông tin phản hồi nhằm phân tích nhu cầu, các yếu

Trang 37

tố tác động đến việc duy trì và thay đổi nhu cầu của khán giả, tiếp nhận những

ý kiến của người dân làm cơ sở điều chỉnh, đổi mới nội dung tuyên truyền Không chỉ phát trên sóng truyền hình, các chuyên đề còn được đưa lên

Website, YouTube, Facebook… đây cũng chính là nơi tiếp nhận thông tinphản hồi của khán giả hiệu quả Ngoài ra, người dân có thể gặp trực tiếp hoặcgọi điện thoại cho Tổ Tiếp chuyện Bạn nghe và xem Đài, Phòng Thời sự -Chuyên đề có thể chia sẻ, đóng góp ý kiến về các vấn đề mình quan tâm

Mối quan hệ qua lại giữa màn ảnh nhỏ và công chúng là cơ sở để xâydựng các CĐTH thu hút khán giả

1.4.2 Phương thức quản trị

Quản trị CĐTH cũng nằm trong phương thức quản trị của Đài PT-TH Đó

là bằng các biện pháp, cách thức để điều hành việc sản xuất các nội dung chuyên

đề đi đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,thông tin chuyên sâu, hữu ích, bảo đảm sự tin cậy, có tính định hướng, thậm chídẫn dắt công chúng Cụ thể của phương thức quản trị như sau:

- Quản trị bằng chế độ thông tin, báo cáo

Báo cáo là thể hiện tình hình, kết quả thực hiện công việc của đối tượngquản trị nhằm giúp cho chủ thể quản trị có thông tin để đánh giá, điều hành vàđưa ra nhưng quyết định quản lý phù hợp Đối với CĐTH, đó là đăng ký đề tài,làm đề cương, trình lãnh đạo thực hiện, phát sóng… Trong suốt quá trình đó, cần

có chế độ thông tin, báo cáo giữa những người thực hiện với các cấp lãnh đạo để

có những quyết định điều chỉnh phù hợp khi có những tình huống phát sinh.Thông tin, báo cáo trong quản trị nội dung CĐTH là những yêu cầu cụ thể vềviệc thực hiện báo cáo, do lãnh đạo cơ quan quy định và mang tính bắt buộc đốivới những người thực hiện ở phòng chuyên môn Thông tin, báo cáo thông quahọp giao ban, email, văn bản, chat group nội bộ, gọi điện thoại…

- Quản trị bằng nội quy, quy chế làm việc của cơ quan

Trang 38

Để cơ quan hành chính sự nghiệp hoạt động hiệu quả phải có nội quy,quy chế làm việc Điều đó gắn với trách nhiệm của mỗi người trong thực hiện

và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Trong quản trị nội dung CĐTH, thôngqua nội quy, quy chế làm việc của Đài, của Phòng Thời sự - Chuyên đề đểphân công và đánh giá hoạt động sản xuất và phát sóng các chuyên đề

- Quản trị bằng chế độ kiểm tra, giám sát

Thông qua chế độ kiểm tra, giám sát lãnh đạo phòng sẽ nắm được tiến

độ thực hiện nhiệm vụ của các thành viên để đảm bảo đúng tôn chỉ, mục đích

là cơ quan ngôn luận của Đảng và Nhà nước, là diễn đàn của Nhân dân CàMau Qua đó kịp thời phát hiện, động viên phát huy những yếu tố mới cũngnhư chấn chỉnh và xử lý các tình huống ngoài dự kiến, để nội dung CĐTHtrên sóng phù hợp, kịp thời

- Quản trị bằng chế độ chính sách

Theo tác giả Bùi Chí Trung trong Kinh tế báo chí: “Hoạt động của các

cơ quan báo chí trong qúa trình sử dụng con người, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính… để đi đến hiệu quả tối đa mà các cơ quan báo chí nói riêng và công nghiệp truyền thông nói chung có thể đạt được.” Từ định nghĩa có thể thấy suy ra hiệu quả trong hoạt động kinh tế báo chí sẽ góp phần quan trọng

trong quản trị nội dung CĐTH bằng chế độ chính sách Thông qua chính sáchtiền lương, tiền thưởng, nguồn thu nhập chính bảo đảm cho đời sống của độingũ phóng viên, biên tập viên, kỹ thuật viên và gia đình Trả lương, thưởngđúng là đầu tư cho phát triển lực lượng này, tạo động lực nâng cao năng suấtlao động và hiệu quả làm việc

Quản trị CĐTH thành công là sự kết hợp giữa các phương thức mộtcách khéo léo, phù hợp, nhằm tác động vào tâm lý, tình cảm, tạo sự phấn khởitrong lực lượng lao động Từ tác động về tinh thần, dẫn đến hiệu quả côngviệc được nâng cao

Trang 39

Tiểu kết chương 1

Chuyên đề là một mảng nội dung phát sóng quan trọng của các ĐàiTruyền hình từ trung ương đến địa phương Thế nhưng, với xu hướng côngnghệ truyền hình đổi mới không ngừng cùng với các ứng dụng trên môitrường mạng Internet, thiết bị di động… đặt ra một thách thức cho nhữngngười quản trị CĐTH đó là làm thế nào để khán giả vẫn quan tâm theo dõi nộidung phát sóng

Trên tinh thần đó, trong Chương 1 của luận văn này, tác giả đã đi sâuvào tìm hiểu những kiến thức căn bản về CTTH, CĐTH, quản trị nội dungCĐTH, phương thức quản trị nội dung CĐTH Toàn bộ hệ thống kiến thứcnày sẽ là nền tảng, cơ sở để tác giả đi sâu vào khảo sát, phân tích và đánh giámột cách cụ thể về quá trình quản trị nội dung CĐTH tại Phòng Thời sự -Chuyên đề, Đài PT-TH Cà Mau ở chương tiếp theo

Trang 40

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ TRUYỀN HÌNH

TẠI ĐÀI PHÁT THANH -TRUYỀN HÌNH CÀ MAU

2.1 Giới thiệu về Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau và Phòng Thời sự - Chuyên đề

2.1.1 Đôi nét về Ðài Phát thanh - Truyền hình Cà Mau

Sau giải phóng, vào ngày 10/3/1976, tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu được đổitên thành tỉnh Minh Hải Đài Tiếng nói Nhân dân Minh Hải được thành lậptheo Quyết Định số 353/QĐ.UB ngày 04/7/1977 của UBND tỉnh Minh Hải.Vào lúc 5h sáng ngày 19/8/1977, tại thị xã Minh Hải (trước đó là thị xã BạcLiêu) với 18 người, 1 chiếc máy phát thanh 1KW và 1 anten cao 30m, Đài đãchính thức phát đi tiếng nói đầu tiên

Từ khi thành lập, Đài Tiếng nói Nhân dân Minh Hải từng bước pháttriển sự nghiệp Truyền thanh rồi Phát thanh phục vụ hiệu quả nhiệm vụ chínhtrị, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Đến cuối năm 1988, Đài Tiếng nói Nhân dân Minh Hải đổi tên thànhĐài PT-TH Minh Hải và chính thức phát trên sóng truyền hình

Ngày 01/01/1997 tái lập tỉnh, Đài PT-TH Minh Hải được tách thành 2Đài: Đài PT-TH Bạc Liêu và Đài PT-TH Cà Mau

Từ 18 người vào năm 1977, đến nay Đài có 140 người được đào tạocăn bản về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ Từ sản xuất mỗi ngày mộtchương trình thời sự, nay sản xuất hàng chục bản tin gồm thời sự, thể thao,sức khỏe, thị trường, thời tiết, các chuyên đề, chương trình văn nghệ, giải trí,tình huống pháp luật (tiểu phẩm)… trên cả 2 làn sóng PT-TH Trong năm

2017, Đài chuyển phát sóng truyền hình sang chuẩn HD Cùng với việc duytrì và nâng cao chất lượng các chương trình đã có, nhiều năm trở lại đây Đài

mở thêm một số chương trình mới cả trên sóng PT-TH

Ngày đăng: 21/02/2021, 09:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w